Nguyên tắc, phương pháp, hình thức thiết kế và tổ chức dạy học theo dự án trong các chủ đề Địa lí nói chung và trong chủ đề “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ” nói riêng.. Phương pháp t
Trang 13
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT
HS Học sinh
GV Giáo viên PPDH Phương pháp dạy học THPT Trung học phổ thông SGK Sách giáo khoa HSG Học sinh giỏi GDPT Giáo dục phổ thông PPDHDA Phương pháp dạy học dự án
Trang 24
MỤC LỤC
Trang
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
A.I Lý do chọn đề tài………
A.II Mục tiêu nghiên cứu………
A.III Đối tượng nghiên cứu………
A.IV Thời gian nghiên cứu………
A.V Nhiệm vụ nghiên cứu………
A.VI Phương pháp nghiên cứu………
A.VII Cấu trúc đề tài………
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ B.I THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ………
B.I.1 Cơ sở lý luận………
B.I.1.1 Quan điểm chung………
B.I.1.2 Khái niệm dạy học dự án………
B.I.1.3 Đặc điểm của dạy học theo dự án………
B.I.1.4 Các dạng của dạy học theo dự án………
B.I.1.1.5 Tiến trình thực hiện dạy học dự án………
B.I.1.1.6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án………
B.I.1.1.7 Mục tiêu của dạy học theo dự án………
B.I.2 Cơ sở thực tiễn………
B.I.2.1 Nhóm nguyên nhân chủ quan………
B.I.2.2 Nhóm nguyên nhân khách quan………
B.II CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ………
B.II.1 Nguyên tắc, phương pháp, hình thức thiết kế và tổ chức dạy học theo dự án trong các chủ đề Địa lí nói chung và trong chủ đề “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ” nói riêng ………
B.II.1.1 Nguyên tắc thiết kế ………
B.II.1.2 Phương pháp thiết kế và tổ chức dạy học theo dự án trong các chủ đề Địa lí 10 nói chung và chủ đề “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý”………
B.II.1.3 Hình thức thiết kế chủ đề Địa lí nói chung cũng như chủ đề “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý” có sử dụng phương pháp DHDA…
B.II.2 Sử dụng phương pháp dạy học theo dự án để thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ”………
B.III HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ………
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ………
D PHỤ LỤC ……….………
D.I PHỤ LỤC 1 ……….………
D.II PHỤ LỤC 2 ……….………
3 3 4 4 4 4 5
5
5 5 5 6 7 8 9 10 10 10 10 11 11 11 11
11
11
30
33
35
38
Trang 35
A ĐẶT VẤN ĐỀ A.I Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, chương trình giáo dục phổ thông có nhiều thay đổi, đặc biệt là việc tăng cường dạy học theo chủ đề Công văn Số: 5555/BGDĐT-
GDTrH ra ngày 08/10/2014 đã nêu rõ: “Thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng các chủ đề dạy học ” Các chủ đề dạy học được xây dựng trên cơ sở
lựa chọn các bài học có mối quan hệ chặt ch với nhau Điều này s giúp cho nội dung môn học trở nên phong phú hơn, khả năng liên hệ thực tiễn đời sống dễ dàng hơn rất phù hợp với bộ môn Địa lí - Một môn khoa học xã hội có tính logic cao
và khả năng liên hệ thực tiễn lớn Tuy nhiên, việc lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với từng nội dung chủ đề, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường đặc biệt là phù hợp với đối tượng học sinh là trăn trở của nhiều giáo viên
Năm học 2019 - 2020, tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy Địa lí lớp 10 Khối lớp này có 2 chủ đề, được nhóm giáo viên Địa lí trường trung học phổ thông Đặng Thúc Hứa xây dựng bao gồm: chủ đề Thủy quyển được giảng dạy ở học kì I và chủ
đề Một số quy luật Địa lý được giảng dạy ở học kì II Để thực hiện các chủ đề trên, tôi đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nhưng phương pháp chủ yếu nhất là phương pháp dạy học theo dự án Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm Nó giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình Phương pháp dạy học theo dự án rất phù hợp với việc thiết
kế và tổ chức dạy học các chủ đề Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp DHDA hiện nay trong dạy học các môn nói chung và dạy học Địa lí nói riêng vẫn còn rất nhiều hạn chế như: số giáo viên áp dụng phương pháp này còn ít, việc áp dụng chưa thật chủ động và triệt để, đối tượng và nội dung áp dụng đôi khi chưa phù hợp
Ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu về phương pháp DHDA nhưng chủ yếu là trên cơ sở lí luận khoa học, có một số ít đề tài nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp DHDA vào một số tiết học và chủ đề dạy học nhưng tập trung chủ yếu ở chương trình Địa lí lớp 11 và 12 Trong khi chương trình Địa lí 10 lại có các chủ đề có thể sử dụng phương pháp này hiệu quả Một trong những chủ đề hay, phù hợp với việc thiết kế và tổ chức dạy học theo phương pháp DHDA đó là chủ
đề: “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ” uất phát từ thực tiễn trên và qua thực
tế giảng dạy môn Địa lí tại trường THPT Đặng Thúc Hứa đã mang lại hiệu quả
nhất định nên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Sử dụng phương pháp dạy học
Trang 46
theo dự án để thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề: “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ”- Địa lí lớp 10”
A.II Mục tiêu nghiên cứu:
- Nhằm đưa các nội dung thực tiễn của chủ đề: “Một số quy luật của lớp
vỏ Địa lý ”- Địa lí lớp 10” gắn kết nội dung học với cuộc sống thực tiễn nhằm phát
triển năng lực cho học sinh ở chương trình Địa lý THPT
- Rèn luyện cho học sinh phát triển kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến nội dung học tập và cuộc sống
- Rèn luyện nhiều kĩ năng: tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, làm việc theo nhóm
- Giúp nâng cao kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo
ra sản phẩm
A.III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Học sinh khối 10 trường THPT Đặng
Thúc Hứa
A.IV Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2018- tháng 12/2020
A.V Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu, phân tích thực trạng của việc đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra đánh giá hiện nay của môn Địa lý ở trường THPT
- Trên cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo dự án góp phần nâng cao và phát huy năng lực của học sinh hiện nay Từ đó vận dụng xây dựng kế hoạch dạy học
chủ đề: “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ”- Địa lí lớp 10” theo dạy học dự án
A.VI Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập, nghiên cứu, xử lý tài liệu Đây là phương pháp cần thiết trong việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng hầu như trong suốt đề tài với nguồn tài liệu được sử dụng gồm các dạng: văn bản, nghị định, nghị quyết về vấn đề giáo dục Ngoài ra còn có các tài liệu tập huấn chuyên môn của Bộ giáo dục
& đào tạo, tài liệu giáo dục thường xuyên, một số sách báo chuyên ngành của nhiều tác giả, một số trang web giáo dục… nhằm thu thập thông tin, số liệu liên quan đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
- Tổng hợp, phân tích, so sánh: dựa trên cơ sở số liệu, thông tin thu thập được thì phương pháp phân tích, tổng hợp,so sánh được sử dụng để xử lý các số liệu phục
vụ mục đích nghiên cứu thực trạng đổi mới dạy học môn Địa lý ở trường THPT để
từ đó áp dụng hiệu quả vào việc xây dựng các chủ đề day học Xử lý số liệu còn kết hợp với việc phân tích, tổng hợp và so sánh các đối tượng, các số liệu với nhau
để tìm ra nhận định, đánh giá của bản thân về vấn đề nghiên cứu Sản phẩm của việc xử lý này được phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa bằng bảng số liệu, sơ đồ tư duy…
Trang 57
- Quan sát: Quan sát khoa học là phương pháp tri giác đối tượng một cách có hệ thống để thu thập thông tin Trong quá trình thực hiện giáo viên là người trực tiếp quan sát học sinh tại lớp: thái độ, kỹ năng để rút ra những mặt mạnh và những mặt hạn chế cho phương pháp mình đang áp dụng Trên cơ sở đó mình tự biết và điều chỉnh để đạt được kết quả đề tài như mong muốn
- Thực nghiệm sư phạm: được dùng khi có kết quả điều tra,quan sát các hiện tượng giáo dục Để khẳng định kết quả của đề tài cúng tôi đã thực nghiệm sư phạm với lớp thực nghiệm và lớp không tực nghiệm.Ở lớp thực nghiệm chúng tôi tiến hành
áp dụng phương pháp dạy học dự án, còn những lớp còn lại chúng tôi vẫn dạy theo phương pháp truyền thống Sau đó chúng tôi tiến hành kiểm tra bài 15 phút cho hai lớp có hai phương pháp khác nhau, và lấy đó là cơ sở để đánh giá thái độ, ý thức, kiến thức học tập của các em học sinh Chính đó là kết quả đánh giá, khẳng định tính hiệu quả của đề tài nghiên cứu
- Điều tra, khảo sát: nhằm phục vụ cho nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng các cuộc nói chuyện dưới dạng hỏi đáp trực tiếp và lấy phiếu thăm dò của giáo viên và học sinh lớp 10 về hiệu quả của việc áp dụng
phương pháp dạy học dự án để xây dựng dạy học chủ đề: “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ”
A.VII Cấu trúc đề tài: Đề tài gồm có 4 phần:
B.I.1 Cơ sở lý luận:
B.I.1.1 Quan điểm chung:
Đổi mới chương trình giáo dục và cùng với đó là đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá đã thể hiện sự quyết tâm cải cách, đem lại những thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục Và ở khía cạnh hoạt động, tất cả những đổi mới này đều được biểu hiện sinh động trong mỗi giờ học qua hoạt động của người dạy và người học
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng
và phát triển phẩm chất, năng lực của người học Để có một giờ học tốt thì ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới phương pháp dạy học, người giáo viên
Trang 68
phải biết lựa chọn và sử dụng những phương pháp và hình thức dạy học thích hợp: Thích hợp với đặc thù môn học, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường đặc biệt là phù hợp với nội dung bài học và đối tượng học sinh Một trong những phương pháp dạy học tích cực, đem lại hiệu quả cao là phương pháp dạy học dự án (DHDA)
B.I.1.2 Khái niệm dạy học dự án:
Có nhiều khái niệm khác nhau về phương pháp dạy học dự án (DHDA): Theo K.Frey, học giả hàng đầu về dạy học dự án của Cộng hòa Liên bang Đức thì: Dạy học theo dự án (Project Based Learning - PBL) là một hình thức của hoạt động học tập trong đó nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất
về một nội dung làm việc, tự lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một
sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được Còn theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Singapore thì: “Học theo dự án (Project work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống”
B.I.1.3 Đặc điểm của dạy học theo dự án
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ
dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực
- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án
- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
- Tính tự lực cao của người học : Trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ
Trang 79
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết,
mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
B.I.1.4 Các dạng của dạy học theo dự án:
- Phân loại theo chuyên môn
+ Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học + Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau
+ Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường
- Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá
nhân Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
- Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV,
dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV
- Phân loại theo quỹ thời gian:
+ Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học
+ Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học
+ Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay
40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)
- Phân loại theo nhiệm vụ:
+ Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng
+ Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình
+ Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác
Trang 810
+ Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên
Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng
B.I.1.5 Tiến trình thực hiện DHDA
Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế nhiều tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án qua 4 giai đoạn sau: Quyết định, lập kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy hoc theo dự án theo 5 giai đoạn
- Quyết định chọn đề tài và xác định mục đích của dự án : GV và HS cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học viên lựa chọn và cụ thể hoá Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS Giai đoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến
- ây dựng kế hoạch thực hiện: trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm
- Thực hiện dự án : các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề
ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen k và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra
- Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội
- Đánh giá dự án: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các
dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài Hai giai đoạn cuối này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án
Trang 911
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế chúng có thể xen k và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc
dự án)
B.I.1.6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án
- Ưu điểm: Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của PPDH
này Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án:
+ Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội; + Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;
+ Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;
+ Phát triển khả năng sáng tạo;
+ Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;
+ Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;
+ Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;
+ Phát triển năng lực đánh giá
+ DHTDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
B.I.1.7 Mục tiêu của dạy học dự án:
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu dạy học theo dự án (DHTDA) là một phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, hướng người học đến việc lĩnh hội tri thức và kỹ năng thông qua các dự án có liên quan đến các vấn đề có thực trong cuộc sống gắn liền với nội dung dạy học Dạy học theo dự án giúp học sinh gắn lý thuyết với thực hành, tư duy với hành động, nhà trường với xã hội; kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học; phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm; phát huy khả năng sáng tạo; rèn năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp; rèn tính bền bỉ, kiên nhẫn; rèn năng lực cộng tác làm việc; phát triển năng lực đánh giá
B.I.2 Cơ sở thực tiễn:
Trang 1012
Với nhiều ưu điểm lớn như vậy nên phương pháp dạy học theo dự án (DHTDA) đã được áp dụng vào thực tế giảng dạy các môn học nói chung và môn Địa lí nói riêng Tuy nhiên với nhiều giáo viên Địa lí, phương pháp dạy học theo
dự án vẫn còn khá mới mẻ, việc áp dụng phương pháp này vào giảng dạy môn Địa
lí đặc biệt là áp dụng phương pháp này vào việc thiết kế và tổ chức dạy học các chủ đề Địa lí còn nhiều hạn chế Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau:
B.I.2.1.Nhóm nguyên nhân chủ quan:
Về phía giáo viên: Chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, nhiều giáo
viên chưa thấy rõ lợi ích to lớn của việc sử dụng phương pháp dạy học theo dự án đặc biệt là chưa nắm vững nguyên tắc, phương pháp, hình thức thiết kế và tổ chức dạy học theo dự án nói chung và dạy học theo dự án trong các chủ đề Địa lí nói riêng nhất là với các chủ đề Địa lí lớp 10 Bên cạnh đó còn có một số giáo viên chưa thật sự tâm huyết với nghề dạy học, ngại đổi mới, cho rằng việc thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề Địa lí theo phương pháp dạy học dự án (DHDA) phải tốn
nhiều thời gian, thậm chí là kinh phí
Về phía học sinh: Nhiều học sinh không thích học môn Địa lí hoặc coi môn
Địa lí chỉ là môn phụ Vì vậy mà tình trạng học chống đối hoặc không hợp tác với
giáo viên trong quá trình học diễn ra khá phổ biến
B.I.2.2 Nhóm nguyên nhân khách quan:
Do khó khăn về cơ sở vật chất như bàn ghế chưa đồng bộ, không cơ động, lớp học chật chội, đặc biệt là đồ dùng, phương tiện dạy học Địa lí ở các trường THPT còn thiếu thốn gây trở ngại lớn cho việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nhất là phương pháp dạy học theo dự án (DHDA)
B.II CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
B.II.1 Nguyên tắc, phương pháp, hình thức thiết kế và tổ chức dạy học theo
dự án trong các chủ đề Địa lí nói chung và trong chủ đề “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ” nói riêng
B.II.1.1 Nguyên tắc thiết kế: Việc thiết kế dạy học các chủ đề Địa lí nói chung và chủ đề “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ”nói riêng cần đảm bảo các nguyên tắc
sau:
- Đảm bảo phù hợp với nhu cầu của học sinh và do học sinh thực hiện
- Đảm bảo chuẩn tối thiểu về kiến thức, kĩ năng, thái độ
- Đảm bảo định hướng hình thành và phát triển năng lực ở học sinh
- Đảm bảo tính thực tiễn
- Đảm bảo tính tích hợp, liên môn
Trang 1113
B.II.1.2 Phương pháp thiết kế và tổ chức dạy học theo dự án trong các chủ
đề Địa lí 10 nói chung và chủ đề “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ”:
- Quyết định chủ đề và xác định mục tiêu của dự án
- Xây dựng kế hoạch và thực hiện dự án: câu hỏi định hướng, kế hoạch thực hiện, kế hoạch và công cụ đánh giá
kế dạy học chủ đề Địa lí khi áp dụng DHDA với cấu trúc được xây dựng cụ thể
B.II.2 Sử dụng phương pháp dạy học theo dự án để thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề “Một số quy luật của lớp vỏ Địa lý ”
CHỦ ĐỀ: M T SỐ QUY LUẬT CỦA L P VỎ ĐỊA LÝ
(Thời lượng: 2 tiết - TPPCT 42 & 43)
A N I DUNG CHI TIẾT
N I DUNG I
I Lớp vỏ địa lý: - Khái niệm
- Giới hạn
- Phân biệt lớp vỏ địa lí và lớp vỏ Trái Đất
II Một số quy luật:
1 Quy luật thống nhất và hoàn chỉnh:
Trang 1214
3 Quy luật phi địa đới:
a Quy luật đai cao:
b Quy luật đia ô:- Khái niệm- Nguyên nhân- Biểu hiện
B BẢNG MÔ TẢ MỨC Đ NHẬN THỨC VÀ CÂU HỎI/BÀI TẬP
Chủ đề: M T SỐ QUY LUẬT CỦA L P VỎ ĐỊA LÍ (2 tiết)
Nội
thấp
Vận dụng cao
luật địa đới và phi
địa đới của lớp vỏ
địa lí
- Giải thích được nguyên nhân hình thành các quy luật
- Phân tích được ý nghĩa của quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lí
- ác định được mối quan hệ giữa quy luật
địa đới và phi địa đới
vỏ địa lí
- Phân tích được tư liệu học tập
- Liên
hệ địa phương, Việt Nam
- Vỏ địa lí (còn gọi là vỏ cảnh quan) là lớp vỏ của Trái Đất, ở đó
có sự xâm nhập và tác động lẫn nhau của các lớp vỏ bộ phận (thuỷ
- Năng lực chuyên biệt:
+ Năng lực tư duy tổng hợp theo lãnh thổ
+ Năng lực sử dụng bản đồ, sơ đồ + Năng lực nghiên cứu và viết báo ccac0s
Trang 13+ Lớp vỏ địa lí đƣợc hình thành và phát triển theo những quy luật địa lí chung
Câu 2 Trình bày khái niệm của quy luật thống nhất và hoàn chỉnh, quy luật địa đới và phi địa đới của lớp vỏ địa lí
Gợi ý trả lời
- Quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lí: là quy
luật về mối quan hệ quy định lẫn nhau giữa các thành phần và mỗi
bộ phận lãnh thổ của lớp địa lí
- Quy luật địa đới:
Là sự thay đổi có quy luật của tất cả các thành phần địa lí và cảnh quan địa lí theo vĩ độ ( từ xích đạo về hai cực)
- Quy luật phi địa đới
Là quy luật phân bố không phụ thuộc vào tính chất phân bố theo địa đới của các thành phần địa lí và cảnh quan
Câu 3 Thế nào là quy luật địa ô và quy luật đai cao?
Gợi ý trả lời
- Quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lý: do tất cả
các thành phần của lớp vỏ địa lí đồng thời chịu tác động trực tiếp hoặc gián tếp của nội lực và ngoại lực Những thành phần này luôn xâm nhập vào nhau, trao đổi vật chất và năng lƣợng với nhau, khiến chúng có sự gắn bó mật thiết để tạo nên một thể thống nhất
Trang 14- Quy luật phi địa đới: do nguồn năng lượng trong lòng Trái Đất
Nguồn năng lượng này đã tạo ra sự phân chia bề mặt Trái đất thành lục địa, đại dương và địa hình núi cao
Câu 2 Em hãy giải thích nguyên nhân hình thành quy luật địa
ô và quy luật đai cao
Gợi ý trả lời
liền và biển, đại dương làm cho KH ở lục địa bị phân hóa từ đông sang tây; ngoài ra còn do ảnh hưởng của các dãy núi chạy theo
hướng kinh tuyến
- Nguyên nhân hình thành quy luật đai cao: do sự giảm nhanh
nhiệt độ theo độ cao cùng với sự thay đổi về độ ẩm và lượng mưa
và của mỗi bộ phận lãnh thổ của lớp vỏ địa lí
- Các thành phần TN này luôn xâm nhập vào nhau, trao đổi vật chất và năng lượng với nhau khiến chúng có sự gắn bó mật thiết để tạo nên một thể thống nhất và hoàn chỉnh
- Nếu một thành phần thay đổi s dẫn đến sự thay đổi của các thành phần khác
Câu 4 Nêu mối quan hệ giữa quy luật địa đới và phi địa đới Gợi ý trả lời:
- Quy luật địa đới và quy luật phi địa đới là những quy luật phổ
biến của lớp vỏ Địa lí
- Các quy luật phân hóa này trên thực tế không tác động riêng r ,
độc lập mà chúng tác động đồng thời, tương hỗ
- Tùy theo từng lúc, từng nơi mà quy luật này hay quy luật kia giữ
Trang 15Câu 1 Dựa vào Sơ đồ lớp vỏ địa lí của Trái đất và kiến thức
đã học, em hãy phân biệt lớp vỏ địa lí và lớp vỏ Trái Đất
phong hoá
Trung bình từ 5
km (ở đại dương) đến 70 km (ở lục
địa)
Thành phần vật chất
Là một hệ thống vật chất gồm nhiều thành phần cấu tạo: địa hình, khí hậu, nước, đất và sinh vật Giữa các thành phần
Trang 16Câu 2 Dựa vào Sơ đồ lớp vỏ địa lý của Trái đất và kiến thức
đã học, em hãy cho biết sự khác nhau giữa lớp vỏ lục địa và lớp vỏ đại dương
Gợi ý trả lời
- Lớp vỏ lục địa:
+ Thành phần cấu tạo: Gồm đá trầm tích, granit, badan
+ Độ dày trung bình: 35 - 40 km (ở miền núi cao đến 70 - 80 km)
- Ví dụ 1 Nguyên nhân: sự thay đổi lưu lượng dòng chảy vào mùa
mưa Kết quả: làm tăng lượng nước sông, lượng phù sa, tốc độ dòng chảy, mức độ xói lở
- Ví dụ 2 Nguyên nhân: biến đổi khí hậu từ khô hạn sang ẩm ướt
Kết quả: thay đổi chế độ dòng chảy, tăng quá trình xói mòn, thực
Sơ đồ lớp vỏ địa lí của Trái Đất
Trang 17vật phát triển mạnh, phá hủy đá, hình thành đất diễn ra nhanh
- Ví dụ 3 Nguyên nhân: rừng bị phá hủy
Kết quả: xói mòn, biến đổi đất; khí hậu biến đổi
Câu 4: Dựa vào kiến thức đã học, các hình 12.1;14.1;19.1;19.2,
em hãy hoàn thành bảng kiến thức sau:
Thành phần tự nhiên
Biểu hiện của quy luật địa đới
a Nhiệt độ:
(Kể tên các vòng đai nhiệt trên Trái Đất)
- Hai vòng đai lạnh ở các vĩ độ cận cực của hai bán cầu, nằm giữa đường đẳng nhiệt +100
- Ở bề mặt trái đất, khí áp được phân thành
7 đai khác nhau
- Trên trái đất có 6 đới gió chủ yếu: 2 đới gió Đông Cực, 2 đới gió Tây Ôn Đới, 2 đới gió Tín Phong
c Khí hậu
(Dựa vào hình 14.1, kể tên các đới khí hậu trên Trái Đất)
- Ở mỗi bán cầu có 7 đới khí hậu (cực, cận cực, ôn đới, cận nhiệt đới, nhiệt đới, cận
xích đạo và xích đạo)
d Đât và thảm thực vật
(Dựa vào hình 19.1;19.2, kể tên
- Các thảm thực vật có sự thay đổi từ cực
về xích đạo: đài nguyên, rừng lá kim, rừng
lá rộng và rừng hỗn hợp, thảo nguyên, rừng cận nhiệt ẩm, rừng và cây bụi lá cứng
Trang 1820
Bộ câu hỏi và bài tập
từng kiểu thảm thực vật và từng nhóm đất từ cực
về ích đạo)
cận nhiêt, hoang mạc và bán hoang mạc, xavan, rừng nhiệt đới ẩm, rừng xích đạo
- Từ cực về xích đạo lần lượt có các loại đất : đất cực, đ i nguyên, potzon, thảo nguyên, hoang mạc đỏ vàng cận nhiệt và
đỏ vàng
Câu 5: Dựa vào kiến thức đã học, các hình 18;19.11;19.1, em hãy hoàn thành bảng kiến thức sau:
a Quy luật đai cao
(Dựa vào hình 19.11, hãy nêu sự phân bố các vành đai đất và thực vật theo độ cao)
Ở sườn tây dãy Cap-ca:
- 0-500m: rừng lá rộng cận nhiệt, đất đỏ cận nhiệt
- 500-1200m: rừng hỗn hợp, đất nâu
- 1200-1600m: rừng lá kim, đất pốt dôn núi
- 1600-2000m: đồng cỏ núi, đất đồng cỏ núi
-2000-2800m: địa y và cây bụi đất sơ đẳng xen lẫn đá
- >2800m: băng tuyết
b Quy luật địa ô
(Quan sát hình 19.1, hãy cho biết:
Ở lục địa Bắc Mĩ, theo vĩ tuyên 400
B từ đông sang tây
có những kiểu thảm thực vật nào? Vì sao các kiểu thảm thực vật lại phân bố như vậy?)
- Rừng lá rộng và rừng hỗn hợp ôn đới; thảo nguyên cây bụi chịu hạn và đồng cỏ núi cao; rừng lá kim; thảo nguyên cây bụi chịu hạn và đồng cỏ núi cao; rừng lá kim