1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

TÀI LIỆU ĐÀO TẠO THỰC HÀNH HƯỚNG DẪN DU LỊCH CHUYÊN ĐỀ: DU LỊCH TÂM LINH THỜ PHẬT, THỜ MẪU ĐẠO GIA TIÊN NIỀM TIN TÍN NGƯỠNG

57 33 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Du Lịch Tâm Linh Thờ Phật, Thờ Mẫu - Đạo Gia Tiên Niềm Tin & Tín Ngưỡng
Người hướng dẫn TS. Thích Thanh Toàn
Trường học Học viện Phật Giáo TW
Thể loại tài liệu đào tạo thực hành
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP Vinh
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau những lần đi lễ chùa, đền cuối năm đầu năm, những lần được vinh dự dẫn khách du lịch đi lễ bái tâm linh, bản thân rút ra một điều: Cơ bản những người đi lễ có chăng đều theo tâm lý số đông, thích đến những nơi được nhiều người rỉ tai truyền miệng, đến những miền có chùa to tượng lớn...mấy ai trong đó đã quan tâm đến nơi ấy thờ tự ai, thần tích, thần phả như thế nào? Nơi mình lễ thuộc tín ngưỡng nào, giáo lý giáo luật giáo lệ ra sao? Nào phải ai cũng hiểu được vào nhà chùa phải vứt bỏ THAM SÂN SI, xóa bụi trần dục vọng, chỉ xin sức khỏe, tâm an. Nhà Phật không tạo giàu có và cũng không giáng họa cho ai. Muốn xin công danh tài lộc phải đến các Phủ, đền xin nương nhờ và cứu rỗi của thánh thần...Đâu phải ai cũng tìm hiểu, tại sao bậc Thần thánh có vay có trả ? đầu năm xin lộc, cuối năm trả lễ.

Trang 1

1

TÀI LIỆU ĐÀO TẠO THỰC HÀNH HƯỚNG DẪN DU LỊCH

CHUYÊN ĐỀ: DU LỊCH TÂM LINH THỜ PHẬT, THỜ MẪU - ĐẠO GIA TIÊN

NIỀM TIN & TÍN NGƯỠNG

Kính thưa Quý chư hữu xa gần

Sau những lần đi lễ chùa, đền cuối năm đầu năm, những lần được vinh

dự dẫn khách du lịch đi lễ bái tâm linh, bản thân rút ra một điều: Cơ bản những người đi lễ có chăng đều theo tâm lý số đông, thích đến những nơi được nhiều người rỉ tai truyền miệng, đến những miền có chùa to tượng lớn mấy ai trong đó đã quan tâm đến nơi ấy thờ tự ai, thần tích, thần phả như thế nào? Nơi mình lễ thuộc tín ngưỡng nào, giáo lý giáo luật giáo lệ ra sao? Nào phải ai cũng hiểu được vào nhà chùa phải vứt bỏ THAM SÂN SI, xóa bụi trần dục vọng, chỉ xin sức khỏe, tâm an Nhà Phật không tạo giàu có và cũng không giáng họa cho ai Muốn xin công danh tài lộc phải đến các Phủ, đền xin nương nhờ và cứu rỗi của thánh thần Đâu phải ai cũng tìm hiểu, tại sao bậc Thần thánh có vay có trả ? đầu năm xin lộc, cuối năm trả lễ

Ngẫm ra mới thấy, ngoài do cái Tâm chưa tịnh, lòng tham còn nhiều , cũng là do chưa được tiếp xúc kinh sách, chưa được nghe lời trí tuệ giảng giải

về tâm linh nên vẫn u mê sáng tối, đi nhưng chẳng biết đến đâu, đi như thế nào

Trang 2

2

để an lạc, hạnh phúc Xin chân thành cám ơn TS.Thích Thanh Toàn - Giảng sư cao cấp Học viện Phật Giáo TW, Phó VP Ban hướng dẫn Phật tử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã truyền bá cho hậu sinh những kiến thức cơ bản về đức tin mình theo đuổi

Sơ khảo: Thờ Phật, Thờ Mẫu & Đạo gia tiên - Tâm linh tín ngưỡng chỉ là cuốn bài giảng nội bộ mà bản thân viết lại sau khi sưu tầm, chỉnh sửa và biên soạn, để lúc có thời gian ngẫm nghĩ và học hỏi những điều chưa biết về tâm linh xung quanh ta

Với các bạn trẻ, xem qua cuốn sách này cũng là cách mà mình sẽ hiểu những thứ rất gần gũi song chưa bao giờ tìm hiểu, đặt câu hỏi tại sao nó lại là như thế ?

Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được

phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân gian Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu Sau này, vào thế kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị

mất đi và được thay thế bởi từ "Phật" Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên

âm thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật" ( Cần thông tin rõ

ràng về khác biệt của Tiểu thừa và Đại thừa Hiện nay sự phân bố của hai dòng này như thế nào ? vấn đề này sẽ trình bày trong tài liệu khác Trong đó, phân biệt sự khác nhau giữa 2 dòng này sẽ được trình bày tại phụ lục tham khảo cuối bài giảng )

Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo

và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái Đến cuối thế kỷ XVIII, vua Quang

Trang 3

3

Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các

đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua bốn giai đoạn:

· Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp;

· Thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh;

· Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái;

· Từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn phục hưng

Đại thừa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông

Thiền tông (còn được biết là Zen hayCh'an) là một tông phái Phật giáo do

nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ 6 "Thiền" là cách gọi tắt của "Thiền na" (Dhyana), có nghĩa là

"Tĩnh tâm", chủ trương tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nhằm đạt đến chân lý giác ngộ của đạo Phật Theo Thiền tông, "thiền" không phải là "suy nghĩ" vì suy nghĩ là "tâm vọng tưởng", làm phân tâm và mầm mống của sanh

tử luân hồi Cách tu theo Thiền tông đòi hỏi phải tập trung toàn bộ công sức và thời gian cộng với phải có khả năng đốn ngộ Yêu cầu đó chỉ có những kẻ căn

cơ cao mới có được nên người tu thiền thì nhiều nhưng người chứng ngộ quả thật rất là hiếm hoi Tuy nhiên lịch sử Thiền tông ở Việt Nam cũng có một lịch

sử rõ ràng hơn cả

Dòng thiền tu thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam do nhà sư Tỳ Ni Đa

Lưu Chi (Vinitaruci) lập ra Ông là người Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đến Việt

Nam vào năm 580, tu tại chùa Pháp Vân (hay chùa Dâu), thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh và truyền cho tổ thứ hai là Pháp Hiền Dòng thiền này truyền được đến 19 thế hệ Dòng thiền tu thứ hai do Vô Ngôn Thông, người Trung Quốc lập ra vào năm 820, tu tại chùa Kiến Sơ, thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội Dòng thiền này truyền được đến 17 đời Dòng thiền thứ ba

do Thảo Đường, người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành và được vua Lý Thánh Tông giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho mở đạo tại chùa Khai Quốc vào năm 1069 Dòng thiền này truyền được đến 6 đời Năm 1299, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, xuất gia và lên tu ở núi Yên Tử, thuộc huyện Uông Bí, Quảng Ninh, thống nhất

Trang 4

4

các thiền phái tồn tại trước đó và lập nên Thiền phái Trúc Lâm Sau này, một

số thiền phái khác xuất hiện như phái Tào Động dưới thời Trịnh-Nguyễn, phái Liên Tôn vào thế kỷ 16-19(có trụ sở tại chùa Bà Đá và chùa Liên Phái, Hà Nội), phái Liễu Quán (Liễu Quán là tên một vị tổ thuộc dòng Lâm Tế) vào thế kỷ

18 (miền Trung), phái Lâm Tế dưới thời nhà Nguyễn (miền Trung, và sau này phát triển ở miền Nam)

Thiền tông Việt Nam đề cao cái "tâm": "Phật ở tại tâm", tâm là Niết Bàn, hay

Phật Trần Nhân Tông viết trong bài phú Cư Trần Lạc Đạo:

"Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên Gia trung hữu bảo

hưu tầm mích, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền." dịch: "Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền."

Tịnh độ tông là một tông phái Phật giáo, chủ trương tu dựa trên tha lực của

Phật A Di Đà là chủ yếu, tuy nhiên vẫn có tự lực Phật Thích Ca có lần thuyết giảng: "Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm, nhưng nếu một hòn đá dù to đến mấy mà đặt trên bè thì nó cũng nổi"

Có một cõi cách biệt với lục độ, gọi là Thế giới Cực Lạc - Nơi không có sự luân

hồi, do đức Phật A Di Đà (tiếng Phạn: Amitabha) tạo nên Nơi đây hoa báu rất

nhiều, rất trang nghiệm, thanh tịnh, nhiều vị đại bồ tát nhứ Quán Thế Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát và bạn đồng tu => Môi trường rất tốt để tu chóng đạt vị quả Việc tu hành như viếng chùa, làm việc thiện để tích công phước đức, tụng danh Phật A Di Đà đến khi "Nhất tâm bất loạn", đọc các chú như Chú Đại Bi Do đây

là thời mạt pháp, yêu quỷ hoành hành, chúng sanh căn cơ thấp kém nên việc tu Tịnh Độ là điều tối cần thiết và đúng đắn Vì vậy Tịnh Độ tông là tông phái phổ biến khắp cõi Việt Nam Đi đến đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm câu

"Nam mô A Di Đà Phật" (có nghĩa là "Nguyện quy y đức Phật A Di Đà") Tượng Phật A Di Đà là tượng có mặt ở khắp mọi nơi và có mặt từ rất lâu đời

Mật tông: là một tông phái Phật giáo chủ trương sử dụng những phép tu tụng

niệm các mật chú để đạt đến chân lý giác ngộ Cũng còn gọi là Lạt Ma tông, Mật

tông là sự hợp nhất giới luật của thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada) và

nghi thức tác pháp của Kim Cương thừa Bước quyết định trong nghi thức này

là lễ Quán Đỉnh (Abhiseka) do một vị sư cả (guru hay "lạt ma") ban phép cho

người đệ tử được nhập thiền định tâm vào một vị Phật cụ thể bằng cách

đọc chân âm (mantra), suy niệm đồ hình Mạn đà la (mandala) và thực thi ấn quyết (mudra) để đạt đến độ thăng hoa loại bỏ ý niệm nhị nguyên (duality)

đặng nhập vào Chân Như, vào cõi Không Trạng thái đó được biểu tượng

bằng Kim cương chử (Vajra) Để làm chủ được các nghi thức tác pháp của Mật

Trang 5

3 đến thế kỉ thứ 7, Thiền tông Việt Nam mang đậm giáo nghĩa Tam Luận tông của Long Thọ, mà đặc biệt là tư tưởng Bát-nhã-ba-la-mật-đa của Long Thọ và Vô Trước Các thiền sư thuộc Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi không chỉ uyên thâm về Phật pháp mà nhiều vị rất có uy tín với triều đình và biểu thị rõ ý thức độc lập tự chủ của đất nước Các thiền sư Pháp Thuận, Ma Ha (thế kỉ thứ 10), Sùng Phạm (thế kỉ 12), đều làm cố vấn cho nhà vua không chỉ việc đạo

mà cả việc đời, việc ngoại giao Dòng Tì Ni Đa Lưu Chi còn kéo dài mãi đến thế

kỉ 19 Đặc biệt, các thiền sư dòng Tì Ni Đa Lưu Chi thường có hình thức tu tập

"Tổng Trì Tam Muội" (Dharani samadhi), một hình thức tu tập phổ biến của Mật giáo (Tantrism), dùng chân âm kết hợp với ấn quyết trong trạng thái đại

định để giữ được thân, khẩu, ý Ở Hoa Lư (Ninh Bình), một cột kinh Phật bằng

đá vào thế kỉ thứ 10 có khắc bài thần chú Phật Đỉnh Tối Thắng Đà La Ni

(Usnisavijaya dharani), một thần chú phổ biến của Mật tông, đã được phát

hiện

Khi vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa lẫn vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, pháp thuật, yểm bùa, trị tà ma, chữa bệnh,

Trên bước đường truyền bá và hội nhập, Phật giáo luôn luôn cố gắng thực hiện hai điều đó là khế lý và khế cơ Nếu thiếu đi một trong hai yếu tố này Phật giáo

sẽ chẳng còn là Phật giáo nữa Duy trì và phát triển hai yếu tố này, Phật giáo được truyền vào Việt Nam và các nước khác

Khế lý là nói về mặt tư tưởng nhờ khế lý nên dù ở thời gian và không gian nào, giáo lý Phật-đà vẫn hợp với chân lý, tư tưởng vẫn luôn luôn phong phú, sâu sắc

mà vẫn giữ được bản chất của mình và chỉ có một vị đó là vị giải thoát

Khế cơ thiên trọng về mặt lịch sử nhờ khế cơ nên dù trong hoàn cảnh và quốc

độ nào thì sự sinh hoạt, thể hiện, truyền đạt cũng luôn luôn đa dạng Tùy theo phong tục tập quán của mỗi quốc gia mà vẫn không hề mất gốc (Phật giáo) Nói một cách khác thì có thể tùy nghi phương tiện theo từng vùng miền để truyền

bá giáo lý Phật-đà nhưng không làm mất đi bản sắc của Phật giáo là ứng hợp với mọi tầng lớp và căn cơ chúng sanh

Trang 6

6

Tên gọi tuy có khác nhưng giáo lý vẫn là một nên gọi là khế lý, dù một mà không phải một, nên có lắm tên Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Thái Lan, v.v tất cả đều có tên chung là Phật giáo, bảo rằng giống cũng được nhưng bảo rằng không thì là sai Đây gọi là khế cơ là bản địa hóa, hay sắc thái Phật giáo của từng vùng miền

Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư người Việt bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam Phật giáo đã cùng sinh tồn cùng dân tộc Điểm này

dễ dàng nhận thấy trong những thời đại hưng thịnh của đất nước như Đinh,

Lê, Lý Trần đều là những lúc Phật giáo cũng song hành hưng thịnh và các vị thiền sư có vị trí quan trọng trong các triều đại đó Dù được bản địa hóa để quyện mình vào lòng dân tộc nhưng tam tạng kinh điển Phật giáo Việt Nam vẫn được truyền thừa trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam

Tính tổng hợp: Tổng hợp là một trong những đặc tính của lối tư duy nông

nghiệp, chính vì thế tổng hợp là đặc tính nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam

Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống

Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là thờ thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, bốn vị thần được thờ nhiều nhất

là Tứ pháp: Mây-Mưa-Sấm-Chớp Tuy nhiên bốn vị thần này đã được "Phật hóa" Các pho tượng này thường được gọi tượng Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi và Phật Pháp Điện, trên thực tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩn của một pho tượng Phật Nghĩa là đầy đủ 32 tướng tốt cùng 80 vẽ đẹp, mà một trong những nét tiêu biểu chính là tướng nhục kế, những khế ấn, và khuôn mặt đầy lòng từ mẫn v.v Các hệ thống thờ phụ này tổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa "tiền Phật, hậu thần" hay "tiền Phật, hậu Mẫu" Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh, Mẫu, thành hoàng thổ địa, anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa Đa số các chùa còn để cả bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất

Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo

Các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du nhập vào Việt Nam trộn lẫn với nhau Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi pha trộn với Mật giáo Nhiều vị thiền sư đời

Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đều giỏi pháp thuật và

có tài thần thông biến hóa Thiền tông còn kết hợp với Tịnh Độ tông như là trong việc tụng niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát

Các điện thờ ở chùa miền Bắc có vô cùng phong phú các loại tượng Phật, bồ tát, la hán của các tông phái khác nhau Các chùa miền Nam còn có xu hướng kết hợp Tiểu thừa với Đại thừa Nhiều chùa mang hình thức Tiểu thừa (thờ

Trang 7

7

Phật Thích Ca Mâu Ni, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa; bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni còn có các tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áo vàng còn có áo nâu, áo lam

Tổng hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác

Tín ngưỡng truyền thống đã tiếp nhận Phật giáo ngay từ đầu Công nguyên Sau

đó Phật giáo cùng tín ngưỡng truyền thống tiếp nhận Đạo giáo Rồi tất cả cùng tiếp nhận Nho giáo để làm nên "Tam giáo đồng nguyên" (cả ba tôn giáo có cùng một gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn giáo có cùng một mục đích)

Ba tôn giáo trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo lo tổ chức xã hội, Đạo giáo lo thể xác con người, Phật giáo lo tâm linh, kiếp sau của con người Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư" với Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào tâm thức mọi người Việt Ngoài ra Phật giáo Việt Nam còn được hòa trộn với tất cả các tôn giáo khác để hình thành Đạo Cao Đài vào thập niên 1920 với quan điểm là "Thiên nhân hợp nhất" và "Vạn giáo nhất lý"

Tính hài hòa âm dương

Sau tính tổng hợp, hài hòa âm dương là một trong những đặc tính khác của lối

tư duy nông nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Việt Nam làm cho Phật giáo Việt Nam có phần thiên về nữ tính

Các vị Phật Ấn Độ xuất thân là nam giới, khi vào Việt Nam bị biến thành "Phật ông - Phật bà" Phật Bà Quán Âm (biến thể của Quán Thế Âm Bồ Tát) là vị thần

hộ mệnh của vùng Nam Á nên còn được gọi là Quan Âm Nam Hải Ngoài ra người Việt còn có những vị Phật riêng của mình như Man Nương Phật Mẫu (tên khác: Phật Mẫu), Quan Âm Thị Kính (tên khác: Quan Âm Tống Tử), Quan Âm Diệu Thiện (tên khác: Phật Bà Chùa Hương, Bà chúa Ba)

Tính linh hoạt

Phật giáo Việt Nam còn có một đặc điểm là rất linh hoạt, mà nhà Phật thường gọi là "tùy duyên bất biến; bất biến mà vẫn thường tùy duyên" nghĩa là tùy thuộc vào tình huống cụ thể mà người ta có thể tu, giải thích Phật giáo theo các cách khác nhau Nhưng vẫn không xa rời giáo lý cơ bản của nhà Phật Ví dụ: Các vị bồ tát, các vị hòa thượng đều được gọi chung là Phật, Phật Bà Quan Âm (vốn là bồ tát), Phật Di Lặc (vốn là hòa thượng), Ngoài ra Phật ở Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa và dân dã: ông Bụt Ốc (Thích Ca tóc xoăn), ông Nhịn ăn mà mặc (chỉ Thích Ca Tuyết Sơn), Trên đầu Phật Bà Chùa Hương còn có lọn tóc đuôi gà rất truyền thống của phụ nữ Việt Nam

Phật giáo Hòa Hảo, hay còn gọi là Đạo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo

do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản

Trang 8

8

và chủ trương tu hành tại gia Phật giáo Hòa Hảo thể hiện rất rõ tính tổng hợp

và tính linh hoạt của Phật giáo Việt Nam Số tín đồ Đạo Hòa Hảo ước tính khoảng 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở đồng bằng Nam bộ

Thực chất Phật giáo Hòa Hảo là tiếp nối của một tông phái Phật giáo có từ gần một trăm năm trước ở đồng bằng Nam bộ có tên là Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên) sáng lập vào năm 1849 tại vùng Bảy Núi (tỉnh An Giang) Tiếp sau Phật Thày Tây An là Phật Trùm, Ngô Lợi (Đức Bổn Sư) rồi đến Huỳnh Phú Sổ Thời kỳ Huỳnh Phú Sổ là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của Phật giáo Hòa Hảo

Giáo lý là sự kết hợp của Tịnh Độ tông với Đạo Ông Bà Tôn chỉ là "Học Phật Tu Nhân", noi theo giáo lý Đức Phật mà tu sửa con người, tích cực thực hành thuyết "Tứ ân (ơn)": cha mẹ, đất nước, tam bảo (Phật-Pháp-Tăng), nhân loại Cách thức tu hành của Phật giáo Hòa Hảo rất đơn giản là "tu hành tại gia" Người "cư sĩ tại gia" cúng lạy vào hai buổi sớm mai và chiều tối với 16 lạy như một bài thể dục tòan thân ở "bàn thông thiên", ăn chay một tháng 4 ngày để cơ thể khỏe mạnh; thờ trần đỏ hoặc trần dà với ý nghĩa hòa hợp; không chấp nhận mê tín dị đoan (không đốt vàng mã, không cúng tà thần ); thực hành tiết kiệm triệt để như không dâng cúng thực phẩm cho Phật chỉ cúng bông hoa nước sạch, không ăn thịt trâu, chó, bò để giữ sức kéo ; không hình thức: không đúc tượng, không chuông mõ, "tử thì táng", không có hàng giáo phẩm và không có tổ chức đạo (trước năm 1947)

Phật giáo đã thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt nên dấu vết Phật giáo trong văn hóa Việt khá đậm nét Nhiều người Việt theo lệ ăn chay vào những ngày mồng một hay ngày rằm

CHÙA & BÀI TRÍ

Việt Nam hiện có 14.775 ngôi chùa, chiếm 36% tổng số di tích Việt

Nam Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo Tuy nhiên, một số chùa Việt Nam ngoài thờ Phật còn thờ thần (điển hình là thờ các vị thiền sư: Từ

Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Trần Nhân Tông và Lý Thần Tông), thờ tam giáo (Phật – Lão – Khổng), thờ Trúc Lâm Tam tổ

Để chỉ chùa thờ Phật, trong tiếng Việt còn có từ "chiền" (chữ Nôm: 廛 hoặc

) Một số người cho rằng từ "chiền" có thể có gốc từ cetiya của tiếng

Pali hay caitya của tiếng Phạn, cả hai dùng để chỉ điện thờ Phật

Theo câu tục ngữ Việt Nam "đất vua, chùa làng", các ngôi chùa đa số là thuộc

về cộng đồng làng xã Xây chùa bao giờ cũng là một việc trọng đại đối với làng quê Việt Nam Việc chọn đất xây chùa thường bị chi phối bởi quan niệm phong thủy "Xây dựng chùa, phải chọn đất tốt, ngày tốt, giờ tốt Đất tốt là nơi bên trái

Trang 9

9

trống không, hoặc có sông ngòi, ao hồ ôm bọc Núi hổ (hay tay hổ) ở bên phải phải cao dày, lớp lớp quay đầu lại, hoặc có hình hoa sen, tràng phướn, long báu hoặc có hình rồng, phượng, quy, xà chầu bái Đó là đất dương cơ ái hổ (nền dương có tay hổ) vậy Nước thì nên chảy quanh sang trái Nếu đảo ky, thì mạch nước lại vào ở phía trước Trước mặt có minh đường hay không có đều được

cả

Các Chùa Việt Nam thường được xây dựng bằng các thứ vật liệu quen thuộc như tre, tranh cho đến gỗ, gạch, ngói Nhưng người ta thường dành cho chùa những vật liệu tốt nhất có thể được Vật liệu cũng như tiền bạc dùng cho việc xây dựng chùa thường được quyên góp trong mọi tầng lớp dân cư, gọi là của

"công đức" Người ta tin là sẽ được hưởng phúc khi đem cúng vật liệu hay tiền bạc cho việc xây dựng chùa Trên những cột gỗ lim không bị mối mọt, một số chùa khắc rõ tên người đóng góp Ngoài ra các tên này cũng được ghi ở các bàn thờ bằng đá hoặc trên các đồ sành, sứ như bát hương, bình hoa, chân đèn trong một danh sách dài

Ngày bắt đầu xây dựng chùa cũng như ngày khánh thành đều là những thời điểm có ý nghĩa trong đời sống nhân dân làng quê Việt Nam Thường có những nghi lễ đặc biệt trong những ngày này

Chùa Việt Nam thường không phải là một công trình mà là một quần thể kiến trúc, gồm những ngôi nhà sắp xếp cạnh nhau hoặc nối vào nhau Tùy theo cách

bố trí những ngôi nhà này mà người ta chia thành những kiểu chùa khác nhau Tên các kiểu chùa truyền thống thường được đặt theo các chữ Hán có dạng gần với mặt bằng kiến trúc chùa

Do lịch sử truyền nhập Phật giáo ở đây, phần lớn chùa Việt Nam là chùa Đại Thừa (Mahayana) Do đó, ở nhà chính điện cũng như các tòa nhà khác trong chùa, chúng ta thấy nhiều tượng Phật (Buddha), Bồ Tát (Bodhisattva) cùng với tượng các thiên thần Phật giáo khác Đó là chưa kể sự có mặt những tượng thần của các tôn giáo khác và của tín ngưỡng dân gian Việt Nam truyền thống

Sự hiểu biết về các tượng trong ngôi chùa Việt Nam giúp chúng ta thấy rõ đặc điểm của Phật giáo Việt Nam

Chính điện bao giờ cũng là nơi trung tâm của sự thờ cúng trong chùa Ở đây có nhiều bàn thờ, và bàn thờ chính, ở giữa, thường được làm thành những bậc từ cao xuống thấp Không có một công thức chung cho sự bài trí tượng ở các chùa Việt Nam Vị trí của các tượng thay đổi một cách linh hoạt tùy theo từng ngôi chùa

Ở tầng cao nhất của bàn thờ giữa ở chính điện, sát vách, thường có ba pho tượng được gọi là "tam thế", tức tượng các vị Phật của ba thời gian: Quá khứ, Hiện tại và Vị lai Ba vị Phật này chỉ là đại biểu cho vô số Phật trong mọi thời gian và không gian, theo quan niệm của Phật giáo Đại Thừa

Trang 10

10

Phía dưới ba pho tượng tam thế, thường xếp ba pho tượng gọi là "Di Đà tam tôn", gồm tượng Phật A Di Đà (Amitabha) ở giữa, tượng Bồ Tát Quan Thế Âm (Avalokitesvara) ở bên trái và tượng Bồ Tát Đại Thế Chí (Mahasthamaprapta)

ở bên phải Tượng Phật A Di Đà thường có kích thước lớn hơn các tượng khác

Sự có mặt ở vị trí đặc biệt tượng Phật A Di Đà cùng với tượng các Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đã nói lên ý nghĩa quan trọng của tín ngưỡng Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam

Ở Việt Nam, không có một phái Tịnh Độ riêng biệt, nhưng tín ngưỡng Tịnh Độ phổ biến rộng rãi, làm thành một cơ tầng bình dân cho Phật giáo Theo tín ngưỡng này, người ta tin có một cõi Tịnh Độ hay Tây Phương cực lạc, nơi có Phật A Di Đà ngự trị, các Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đã tiếp dẫn linh hồn chúng sinh về nơi đó Người ta chỉ cần niệm tên Phật A Di Đà nhiều lần là

có thể vãng sinh ở cõi Tây Phương cực lạc Tên A Di Đà Phật đã trở thành lời chào nhau của các tín đồ Phật giáo Việt Nam

Cần nói thêm là trong chùa Việt Nam, tượng Đại Thế Chí chỉ được bày bên cạnh tượng A Di Đà, còn tượng Quan Thế Âm, hay Quan Âm, thì có nhiều kiểu

và có thể được đặt ở nhiều nơi Đó là vì tín ngưỡng Quan Âm ở Việt Nam có một vị trí độc lập, không phải lúc nào cũng gắn liền với tín ngưỡng Tịnh Độ A

Di Đà

Người Việt Nam coi Quan Âm là nữ thần cứu khổ cứu nạn, có thể giúp nhân dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, vượt qua các tật bệnh, tai ương Tín ngưỡng này có thể đã kết hợp với tín ngưỡng các nữ thần có nguồn gốc dân gian Quan

Âm được thờ ở chùa mà cũng có thể được thờ ở nhà

Trong các chùa Việt Nam, tượng Quan Âm có nhiều kiểu Tượng "Quan Âm tống tử" thể hiện một người phụ nữ bế một đứa bé, bên cạnh có con vẹt Tượng này gắn liền với câu chuyện dân gian kể rằng Thị Kính bị chồng là Thiện Sĩ nghi oan, đã cải trang làm trai, lấy tên là Kính Tâm, đi tu ở chùa Có một cô gái là Thị Mầu say mê Thị Kính nhưng bị cự tuyệt Về sau, Thị Mầu đã đem đứa con hoang mới sinh của mình vứt vào chùa, đổ oan cho Thị Kính là bố đứa bé Thị Kính đã nhẫn nhục, nuôi nấng đứa bé, và sau này, bà trở thành Bồ Tát Quan Âm Con vẹt là hậu thân của Thiện Sĩ

Tượng "Quan Âm Nam Hải" là tượng Quan Âm ở trên biển Người Trung Quốc

đã coi Potalaka, nơi ở của Avalokitesvara theo truyền thuyết Ấn Độ, là núi Phổ

Đà trên quần đảo Chu Sơn gần Hàng Châu Đến lượt, người Việt Nam lại đồng nhất Nam Hải, nơi ở của Quan Âm với biển Việt Nam

Trong các chùa Việt Nam còn có loại tượng Quan Âm có nhiều tay, được gọi là

"Quan Âm chuẩn đề" (Cundi-Avalokitesvara) Trong loại tượng Quan Âm nhiều tay, có kiểu "Thiên thủ thiên nhãn" (Sahasrabhuja-sahasranetra) với nghìn tay

Trang 11

11

nghìn mắt (ở giữa mỗi bàn tay có hình một con mắt) Pho tượng kiểu này ở chùa Bút Tháp (tỉnh Bắc Ninh) do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656 được coi là niềm tự hào của điêu khắc cổ Việt Nam

Trong chùa, các tượng Quan Âm tống tử, Quan Âm Nam Hải thường được bày trên các bàn thờ ở góc hai bên bàn thờ chính ở nhà thượng điện Tượng Quan

Âm nhiều tay có lúc đặt trên bàn thờ chính, cũng có lúc bày ở bàn thờ riêng Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp đặt ở gian bên cạnh của bàn thờ chính Ở một số chùa, tượng Quan Âm còn được đặt trong các động đắp bằng vôi vữa

Trên bàn thờ chính, dưới ba pho tượng Di Đà tam tôn đã nói ở trên, thường là tượng Phật Thích Ca Mầu Ni (Sakyamumi), với tượng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (Manjusri) ở bên trái và tượng Bồ Tát Phổ Hiền (Samantabhadra) ở bên phải Thích Ca ngồi trên tòa sen, còn Văn Thù và Phổ Hiền đứng trên tòa sen Cũng

có tượng Văn Thù ngồi trên lưng con sư tử màu xanh và Phổ Hiền ngồi trên lưng con voi màu trắng Bộ ba tượng này thể hiện cảnh Phật Thích Ca đang thuyết pháp Có khi, thay vào vị trí của Văn Thù và Phổ Hiền, là hai đệ tử của Thích Ca, Ca Diếp (Kasyapa) và A Nan Đà (Ananda)

Tượng Thích Ca trong chùa Việt Nam thường có một số kiểu khác nhau, diễn tả những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của Phật Tượng Tuyết Sơn biểu hiện thời kỳ Thích Ca tu khổ hạnh trong núi tuyết, tức Himalaya, có thân hình gầy guộc, ngực hiện rõ những chiếc xương sườn Việt Nam có nhiều pho tượng Tuyết Sơn đẹp, đặc sắc như các tượng ở chùa Tây Phương, chùa Mía

Tượng Nhập niết bàn (Parinirvana) là tượng Thích Ca nằm nghiêng, cánh tay chống lên đỡ lấy đầu, mắt lim dim Trong các chùa Việt Nam, kiểu tượng này hiếm, nhưng cũng có một số pho đẹp như ở chùa Mía hay chùa Trấn Quốc Kiểu tượng phổ biến là Thích Ca sơ sinh, đó là hình một chú bé với tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất Theo truyền thuyết, lúc Thích Ca ra đời, có chín con rồng (ở Ấn Độ là naga) phun nước tắm Vì thế, tượng Thích Ca sơ sinh ở Việt Nam thường đặt dưới một vòm chạm hình chín con rồng bay xung quanh, giữa những đám mây, với các hình chư thiên, tiên nữ và có khi cả bát bộ Kim Cương Kiểu tượng này được gọi là tượng Cửu Long (Chín rồng)

Tượng Thích Ca sơ sinh và tượng Cửu long thường được bày ở tầng dưới cùng của bàn thờ chính Hai bên tượng Thích Ca sơ sinh, người ta thường đặt tượng

Đế Thích (Indra) và tượng Phạm Vương, còn gọi là Phạm Thiên (Brahma) được đưa vào thần điện Phật giáo khá sớm

Trên các điêu khắc Phật giáo ở Gandhara và Mathura, đã có hình Indra và Brahma đứng ở hai bên đức Phật Cùng với sự lan truyền của Phật giáo, tín

Trang 12

Tuy nhiên, như ta thấy, ở một số nước châu Á, Indra có một vị trí quan trọng hơn Brahma trong tín ngưỡng của nhân dân Tín ngưỡng về Indra thường hòa lẫn vào tín ngưỡng dân gian Ở Việt Nam cũng vậy, từ xưa, Đế Thích không chỉ được thờ phụng bên cạnh Phạm Thiên mà còn có thể được thờ phụng riêng

Đã có những ngôi chùa dành riêng cho việc thờ Đế Thích, như chùa Vua ở Hà Nội

Trên bàn thờ chính ở nhà thượng điện, ngoài tượng Phật A Di Đà, Phật Thích

Ca, ở một số chùa, còn có tượng Phật Di Lặc (Maitreya) Tượng Di Lặc được tạo với bộ mặt tươi cười, áo phanh, để hở cái bụng to Người Việt Nam quen gọi Di Lặc là "ông vô lo"

Thật tương phản, khi tượng Di Lặc đặt bên cạnh tượng Tuyết Sơn, gày gò khắc khổ! Di Lặc đã có mặt từ lâu trong Phật điện Việt Nam Nhưng dường như trong Phật giáo Việt Nam, Di Lặc không có một vị trí bằng A Di Đà

Hầu hết các chùa đều có tượng A Di Đà nhưng không phải chùa nào cũng có tượng Di Lặc Ở Trung Quốc, có tín ngưỡng Tịnh Độ A Di Đà lẫn tín ngưỡng Tịnh Độ Di Lặc, nhưng ở Việt Nam, chỉ có tín ngưỡng Tịnh Độ A Di Đà mà không có tín ngưỡng Tịnh Độ Di Lặc

Trong nhà tiền đường, thường có hai tượng Hộ Pháp (Dvarapala), những thiên thần bảo vệ Phật Pháp, mặc giáp trụ, cầm vũ khí, đứng hoặc ngồi trên lưng sấu, một loại sư tử huyền thoại

Những tượng này thường được đắp bằng đất, phủ sơn, và có kích thước rất lớn, đầu gần chạm mái Vì vậy mà trong ngôn ngữ Việt Nam, có thành ngữ "to như Hộ Pháp" Trong một số chùa, ở nhà tiền đường, có bày tượng bát bộ Kim Cương (Vajrapani), tức tám vị thần bảo vệ của Phật, cũng mặc giáp trụ và cầm

vũ khí Đôi khi, ở nhà bái đường, còn có các bàn thờ mười vị Diêm Vương (Yama), được gọi là thập điện Diêm Vương, tức mười vị vua cai quản mười tầng địa ngục Bàn thờ mười Diêm Vương cũng có lúc được đặt sát tường ở hai bên nhà chính điện

Cảnh mười tầng địa ngục đôi khi được chạm trong những bức phù điêu hay đắp thành động, diễn tả cảnh những người có tội bị các quỷ Dạ Xoa (Yakasas) hành hình bằng nhiều cách, trước mặt các Diêm Vương Trong nhà bái đường,

có thể có một số bàn thờ khác, thờ Thổ Địa (Thần Đất), Long Vương, hay Đức

Trang 13

13

Ông, người bảo vệ tài sản của chùa Có người cho rằng người bảo vệ tài sản chùa này chính là Cấp Cô Độc (Anathapindika), người đã cúng nhiều tài sản cho Phật, nhưng nhiều người khác không nghĩ như vậy

Ở nhà tổ, ngoài tượng các vị sư từng trụ trì ở chùa, còn có bàn thờ đặt tượng

Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma), nhà sư Ấn Độ đến Trung Hoa vào khoảng đầu thế kỷ VI, được coi là người sáng lập Thiền Tông ở đây Vì Phật giáo Việt Nam thường tự coi là thuộc các phái Thiền nên đều thờ vị tổ thứ nhất này Tượng

Bồ Đề Đạt Ma thường có mũi cao, tóc quăn, râu quai nón

Ở các chùa có hai dãy hành lang, người ta thường bày tượng 18 vị La Hán (Arhat), mỗi bên 9 tượng Có chùa, như chùa Keo (tỉnh Thái Bình), các tượng

La Hán được bày ngay ở nhà tiền đường Riêng ở chùa Tây Phương (Hà Nội),

có những pho tượng đẹp bày ở hậu đường được coi là các tượng La Hán, nhưng căn cứ vào tên các vị này, như Gia Na Hòa Tu (Sanakavasa), Ba Tu Mật (Vasumitra), Phật Đà Nan Đề (Buddhanandi), Ca Tỳ Ma La (Kapimala), La Hầu

La Đa (Rahulata), Tăng Già Nan Đề (Sanghanandi), Cưu Ma La Đa (Kumarata), Chà Dạ Đa (Jayata) Chúng ta thấy đó là tên của các vị tổ (trong 28 vị) người

Ấn Độ mà Thiền Tông Trung Quốc truy nguyên và thừa nhận Nếu vậy, đây là tượng Tổ chứ không phải tượng La Hán

Do tính chất pha tạp của Phật giáo Việt Nam, trong các chùa, ngoài tượng các Phật, các Bồ Tát, La Hán hay các thiên thần Phật giáo, ta còn có thể gặp tượng các vị thần Đạo giáo như Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân hay Nam Tào, Bắc Đẩu

Đặc biệt là trong các chùa Việt Nam thường có các bàn thờ Mẫu, tức nữ thần

Mẹ Thờ Mẫu là một tín ngưỡng Việt Nam có nguồn gốc dân gian Có nhiều Mẫu, như Mẫu Thượng Ngàn (nữ thần Núi), Mẫu Thoải (nữ thần Nước), Mẫu Địa Phủ (nữ thần Đất) Một vị Mẫu có vị trí quan trọng trong tín ngưỡng Việt Nam là Mẫu Liễu, tức công chúa Liễu Hạnh, được coi là một trong "tứ bất tử" (Bốn vị thánh bất tử)(1) Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ trong nhiều đền nổi tiếng nhưng cũng được thờ trong nhiều chùa Chẳng hạn, ở chùa Mía (Hà Nội), bàn thờ Liễu Hạnh được đặt ngay ở nhà tiền đường

CHỮ VẠN - Ý NGHĨA - NGUỒN GỐC

Trong tinh thần nhằm cung cấp thêm dữ liệu thông tin cho độc giả về hình chữ Vạn trong Phật giáo, với chữ Vạn mà Hitler đã dùng làm biểu tượng của Đức Quốc Xã (Nazi), mà các chiều quay của nó chiều thuận kim đồng hồ (clockwise) và chiều ngược kim đồng hồ (counter-clockwise), chúng tôi mạnh

dạn lên bài viết này

Nhưng chúng tôi không bàn luận tính huyền thoại, truyền thuyết Từ chữ Vạn trong tiếng Anh - Swastika, có nguồn gốc từ tiếng Sankrit là Svastika, hình chữ

Trang 14

Các quốc gia Hindu giáo như Nepal, Ấn Độ thì dấu chữ Vạn (Swastika) thường được trang trí trước nhà hoặc các ngôi đền, trong các buổi lễ tôn giáo hoặc các

lễ thông thường khác như đám cưới hoặc các Festival Tuy nhiên chữ Vạn dùng trong Hindu giáo thường có dấu chấm ở các góc của nó

Ở châu Âu, chữ có nguồn gốc lịch sử rất cổ xưa được tìm thấy trên các đồ tạo tác từ các nền văn hoá châu Âu trước Công nguyên Một số hình Swastika ở trên mũ giáp của các chiến binh Hy Lạp khoảng niên đại 350-325 BC từ thời Taranto được tìm thấy ở Herculanum-Cabinet des Médailles, Paris

Chữ Swastika có gốc Sankrit này đã được sử dụng trong tiếng Anh từ năm

1871, thay cho từ gammadion (có gốc từ tiếng Hy Lạp) Các biểu tượng giống hình Swastika cũng đã xuất hiện trong những đồ trang trí thời đồ đồng và đồ sắt (Bronze & Iron Age) ở miền Bắc Caucasus (văn hoá Koban), ở Azerbaijan cũng như ở Skythians

Chữ Vạn (Swastika) xoay phải (right-facing) theo chiều kim đồng hồ hoặc xoay trái (left-facing) ngược chiều kim đồng hồ, thường được tìm thấy trong Hindu

Trang 15

Trong Hindu giáo, hai biểu tượng này (quay trái hoặc phải) đều nói lên hai hình thức của đấng tạo hoá Brahma: Xoay theo chiều phải nói lên sự phát triển (evolution: sự triển nở ra của vũ trụ) (Pravritti), xoay chiều trái nói lên sự thu lại của vũ trụ (involution - Nivritta) Nó cũng còn chỉ bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc và được dùng như biểu tượng của mặt trời của thần mặt trời Surya

Trong sách Three Ways of Asian Wisdom (Ba con đường minh triết Á Châu) của

tác giả Nancy Willson Ross, tác giả đã minh họa bằng hình ảnh về hình Swastika trong chương nghệ thuật của Phật giáo (The Art Of Buddhism) ký hiệu ảnh số 47 (hình ảnh Đức Phật thuyết pháp đầu tiên ở vườn Lộc Uyển được mô tả bằng một chiếc ngai nệm để trống (chú ý hình trên ngai để trống là một biểu tượng Mặt trời cổ xưa) từ Nagarjunakonda, thế kỷ thứ III sau Công nguyên

Tương tự như vậy thời nhà Đường, Hoàng hậu Võ Tắc Thiên cũng đã từng sáng tạo ra một chữ vạn đọc âm là “Nhật” ý tượng trưng cho mặt trời

Như vậy biểu tượng này mang nhiều ý nghĩa liên quan về mặt trời xuất phát từ chủ trương “cư Nho mộ Thích”, các vua Nguyễn đã dùng bộ Nhật (日), có nghĩa

là mặt trời để đặt tên cho các vua trước khi lên ngôi dựa vào “Kim sách” rồi mới làm lễ tấn tôn ngôi vị thiên tử

Trong nghệ thuật Phật giáo, biểu tượng này được hiểu theo tiếng Nhật: manji, nghĩa đen từ tiếng Trung Hoa là sự bất tử (Eternality), nói về pháp Manji (Dharma), là sự hài hoà vũ trụ Khi quay phía trái, nó tượng trưng cho Bi (lòng

từ bi - compassion), khi quay phía phải, nó tượng trưng cho Trí (trí tuệ, sự minh triết - Wisdom) và Dũng (sức mạnh - Strength)

Trang 16

Năm 1920, Hitler Hitle khi thành lập "Đảng công nhân Đức xã hội chủ nghĩa Quốc Gia", y cũng đã thiết kế lá cờ cho đảng Quốc xã gồm hình Thập ngoặc màu đen nằm nghiêng in trên một mảng tròn màu trắng Mảng tròn này là tâm của lá cờ màu đỏ, vốn là một kiểu trang trí trong nền văn hoá cổ thành Troia,

do Heinrich Schliemann người Đức đào được ở Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1873 Quốc huy của nước Ettoni và Phần Lan thời cận đại cũng có hình chữ thập ngoặc như thế Hitler còn nhìn thấy hình này trong các huy hiệu một vài đảng phái chính trị ở Áo chống người Do Thái Y cảm thấy rất thích thú và nói: “Màu

đỏ tượng trưng cho ý nghĩa Xã hội của phong trào chúng ta, màu trắng tượng trưng cho chủ nghĩa dân tộc, còn tượng trưng cho sứ mệnh đấu tranh đi tới thắng lợi của người Arian"

Sau đó y cho khâu hình chữ Thập ngoặc trên nền trắng tròn vào cánh tay áo của các đảng viên Quốc xã Lá cờ có hình chữ Thập ngoặc về sau trở thành lá

cờ chung cho nước Đức phát xít

Chẳng rõ Hitle có ngụ ý gì trong việc hình chữ Thập ngoặc quay sang phải hay không, hay cũng chẳng bận tâm tới việc quay sang phải hay trái Vả lại, cờ của Đức Quốc xã, chữ Vạn được in nghiêng

Dưới thời Pháp thuộc, năm 1941, có một câu chuyện rất buồn cười về một viên công sứ Pháp, đi từ Phủ Doãn lên đàn Nam Giao, khi ngang qua chùa Từ Đàm Huế, thấy các hình trang trí chữ Vạn xung quanh tường rào được trang trí nằm trong không gian có thể trông từ hai phía, ông ta đã nổi giận và bắt vị Trụ trì chùa phải xây phông ở phía sau để chỉ được nhìn về phía mặt chữ Vạn của Phật giáo Như vậy vấn đề tranh luận chữ Vạn quay phải hay quay trái đã xảy

ra từ lâu

Trang 17

17

Trong sách Phật học Quần Nghi (dịch giả Thích Minh Quang), Hoà thượng

Thích Thánh Nghiêm đã căn cứ từ nhiều kinh sách để nói về hình chữ Vạn Căn

cứ từ kinh Trường A Hàm, chữ Vạn là tướng đại nhân thứ 16 nằm trước ngực của Đức Phật

Trong kinh Tát Giá Ni Kiền Tử Sở Thuyết, quyển 6 nói đó là tướng tốt thứ 80

của Đức Phật Thích Ca, Thập Địa Kinh Luận, quyển 12 nói: “Bồ Tát Thích Ca lúc

chưa thành Phật trước ngực đã có tướng chữ vạn quay ngược ý chỉ công đức trang nghiêm Kim Cương”

Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm, quyển 3, nói tóc của Đức Phật cũng có năm tướng chữ vạn Sách Huệ Lâm Âm Nghĩa, Huệ Uyển Âm Nghĩa và kinh Hoa

Nghiêm và rất nhiều kinh sách khác đều có đề cập Hoà thượng nói: “Trong Phật giáo, không luận là xoay sang hữu hay xoay sang tả, chữ Vạn luôn tượng trưng cho lòng từ bi và trí tuệ quang minh của Đức Phật Xoay vòng tượng trưng cho Phật lực vận tác vô cùng, không ngừng, không nghỉ, cứu độ vô lượng chúng sinh trong mười phương Cho nên không cần phải chấp chặt, thắc mắc hình chữ Vạn nên xoay qua phải hay qua trái”

Vì không muốn có sự hiểu lầm giữa hình chữ Vạn của Phật giáo và hình chữ thập ngoặc của Hitle - Chủ nghĩa phát xít đã làm kinh hoàng nhân loại một thời, rất nhiều học giả, và các nhà tôn giáo học đã cố gắng đưa ra nhiều dữ liệu thông tin để làm sáng tỏ ý nghĩa cho biểu tượng này

Trên đây là những tình tiết liên quan đến chữ Vạn (Swastika ) mà chúng ta thường thắc mắc về chiều quay và mặt quay của chữ ấy, nhất là những du khách Âu Tây khi tham quan các chùa ở nước ta

Qua việc tìm kiếm dữ liệu, lược dịch, tóm tắt và ghi chép, chúng tôi đã cố gắng đưa thông tin và dữ liệu cho quý độc giả tham cứu hơn là bình luận Có lẽ lượng thông tin, dữ liệu chưa thật phong phú, rất mong quý độc giả và quý thiện tri thức hoan hỷ, cảm thông bằng cách chỉ rõ và bổ sung cho những tri thức được hoàn mỹ hơn

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI VÀO CHÙA

Chùa là nơi thờ Phật, bắt nguồn từ chữ Thù pa (tiếng Pali) hay là Stupa (tiếng Sansrit) Ấn Độ Chùa gắn liền với đời sống văn hóa và tinh thần của người Việt, được phát triển theo thời gian và phân hóa theo không gian Chùa Việt Nam có chùa làng và chùa nước Chùa nước thường là những nghôi chùa có lịch sử hình thành và phát triển sớm, có vị trí về phong thủy và phong cảnh đẹp, có quy mô lớn, có giá trị về văn hóa lịch sử tôn giáo và và thường là nơi tu hành của những tăng, ni Phật tử Chùa làng thươgnf có quy mô nhỏ hơn và là nơi sinh hoạt tâm linh trong làng Vì vậy, những ngôi chùa thường là những

Trang 18

Ngôi chùa Việt không những là một kiến trúc tôn giáo biểu hiện cho Phật giáo, tín ngưỡng Việt mà còn mang trong mình biết bao trầm tích của nghệ thuật cùng những giá trị văn hóa của người Việt Do đó khi tham gia vào các nghi lễ thờ cúng tại chùa cần lưu ý một số vấn đề sau:

Các hạng mục tham quan và lễ trong Chùa

Chùa là nơi thanh tịnh và là nơi tu hành của các vị cao tăng nên khi vào chùa

du khách phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định về ứng xử văn hóa như sau:

- Về trang phục: Khi vào chùa cần mặc quần áo dài, kín cổ, đi khẽ Tránh

mặc áo ngắn tay, áo sát nách, áo may ô, quần soóc, váy ngắn,… Đối với Phật tử thì phải mặc áo lễ khi đến điện thờ Phật trong chùa

- Về xưng hô: Với nhà sư thì xưng là A di đà Phật, bạch Thầy,… và xưng

mình là Con Xưng hô như vậy tức là nhìn thấy tăng mà tưởng nhớ thầy Thích

Ca Mâu Ni, mình xưng hô như vậy là đang xưng hô với Đức Thích Ca Nếu nhà

sư đó là Thầy hướng dẫn mình tu tập thì xưng hô là Thầy thì ngoài ý nghĩa trên còn mang nghĩa là Thầy dạy học đạo Khi thưa gửi gì với nhà sư thì đều chắp tay hình búp sen

- Về trình tự vào chùa:

+ Khi đi qua cổng Tam quan vào chùa nên đi vào cửa Giả quan ( bên phải) và đi ra bằng cửa Không quan (bên trái) Cửa Trung quan chỉ dành cho Thiên tử, bậc cao tăng, bậc khoa bảng đi vào chùa, và đi ra cũng theo cửa này Sau đó du khách có thể gặp sư trụ trì, sở dĩ là vì Chùa do sư trụ trì cai quản, có

sư, tăng - ni, chùa mới được giữ gìn và Đạo Phật mới được truyền lưu nên khi

vào chùa phải theo lệ: “Nhập gia vấn chủ, nhập tự kiến sư

Nghĩa là:

“Vào nhà hỏi chủ, đến chùa gặp sư

Trước thăm trụ trì, sau lễ Tam bảo”

Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta cũng không hoàn toàn là làm bước này khi đến chùa Sau khi, vấn đáp sư trụ trì, du khách tới nhà khách nơi có bàn để bày lễ dâng Phật, Thánh, Mẫu tại chùa đang tham quan

Trang 19

+ Phật điện: đặt lễ tại chính giữa Tam bảo, chắp tay hình búp sen, đứng hoặc quỳ, thành tâm cầu khẩn điều an lành

+ Sau đó đặt lễ ( nếu cần) và lần lượt kính lễ tại Ban Tổ, Nhà Mẫu và Ban vong

Cách sắm lễ và hành lễ trong Chùa

Việc sắm sửa lễ vật khi vào Chùa, có những quy định mà du khách cần tuân thủ

theo Đó là lễ vật bao gồm có lễ chay để dâng lên điện Phật: gồm có lục cúng (

hương, hoa, đăng, trà, quả, thực) Lễ vật chỉ cần có lục cúng mà không cần dâng tiền vàng, đồ mặn, đồ mã,…Không đặt tiền lên ban thờ, đĩa lễ mà bỏ vào hòm công đức ở ban chính, vì đây là tiền chi phí dầu đèn, hương hoa lễ Phật, tu bổ

di tích và nuôi chúng tăng Đồng thời cũng không nên bỏ tiền lên ban Phật, gài vào tay, thân tượng Phật, Thánh vì đó là hành vi bất kính

Lễ là mặn chỉ có thể sắm sửa nếu trong chùa có thờ các vị Thánh, và có ban thờ

Mẫu và chỉ dâng tại các ban này thôi Tuyệt đối không được dâng trên ban thờ Phật, Chư Bồ tát và Thánh Hiền

- Về cầu cúng: tại chùa chỉ cúng những nghi lễ Phật giáo như Phật đản, Vu Lan,

Mông sơn thí thực,…Ngoài ra có một số lễ cúng rước vong lên chùa nhằm thỏa mãn đời sống tâm linh cho người dân

- Khi cầu tay chắp thành hoa sen, đặt trước ngực " Tâm khởi bồ đề ", mắt hướng đến các ban, miệng niệm Phật cường độ âm vừa đủ, " Nhân tâm nghĩ quỷ thần xuất "

Một số vấn đề nhận biết cho du khách

- Về pháp khí, gồm có:+ Cờ Phật: là lá cờ hình chữ nhật, ghép các mảnh khác

màu nói lên sự hòa hợp của nhiều cá thể, nhiều dân tộc… trong đạo pháp của Phật giáo Thường có 10 mảnh tượng trưng cho thập phương chúng sinh, với 4 màu gọi là tứ đại tượng trưng cho hỏa, thủy, địa và phong

+ Chuông trong chùa: gồm có chuông treo và chuông gõ

Chuông treo: hình ống, có quai treo, thường được trang trí bằng hình

rồng uốn mình, chia làm 4 múi, cách nhau một vành đai, có núm gõ, trên chân

Trang 20

20

chuông thường khắc các bài văn có nội dung liên quan đến bản chùa hoặc kinh Phật, gọi là bài Minh chung

Chuông gõ: miệng chuông ngửa lên trên, đế chuông là vành khăn vải,

thường đặt cạnh mõ gỗ, để ở trước Phật điện, dành cho việc tụng kinh của các nhà tu hành hoặc khách thập phương

+ Mõ: có nhiều kích cỡ, gồm loại hình tròn và hình cá, thường làm bằng

gỗ, khoét rỗng lòng, dùng để gõ khi tụng kinh

+ Mộc: là miếng gỗ dùng đánh hiệu lệnh của chùa

+ Khánh: thường dùng khi rước đồ linh thiêng hay thỉnh khi các vị cao tăng đi lên Phật điện hành lễ hay lên Bảo tòa thuyết pháp

+ Tích trượng hay còn gọi là Trí trượng ( có nghĩa là người tu hành nương nhờ cây gậy này mà thêm thăng tiến và phát sinh trí tuệ) Trên đầu cây tích trượng có là 4 khâu, 12 vòng tượng trưng cho Tứ Đế ( Phật, Pháp, Tăng, Bảo) và Thập nhị nhân duyên

THỜ CÚNG GIA TIÊN

Trong quan niệm của người Việt, ban thờ trong mỗi gia đình – nơi thờ cúng gia tiên, tưởng nhớ tổ tiên là nơi trang nghiêm, tôn kính nhất Thế nhưng phong tục tốt đẹp từ ngàn đời này có những nguyên tắc sắp xếp, trang hoàng riêng

mà không phải ai cũng biết

Nơi thờ cúng ảnh hưởng đến gia vận?

Người xưa có câu “ẩm thủy đương tư tuyền nguyên đầu, thực mễ đang tư nông canh khổ, hữu tiền đang tư vô tiền thời, kiện khang đang tư phụ mẫu ân”, dịch nghĩa “khi uống nước thì phải nhớ đầu nguồn suối, ăn cơm phải nhớ lúc cày cấy vất vả, giàu có phải nhớ lúc nghèo khổ, khỏe mạnh phải nhớ đến ân của cha mẹ”

Người ta sinh ra có được sinh mệnh, được sống đến ngày nay là nhờ vào tổ tiên Tổ tiên giống như gốc cây đại thụ nuôi dưỡng để cành lá khỏe mạnh xanh tươi, tượng trưng cho con cháu phát triển Vì vậy, nếu không có tổ tiên duy trì nòi giống truyền từ đời này sang đời khác thì cũng không có con cháu ngày nay Tục thờ cúng tổ tiên chính là sự ghi nhớ công ơn và là cách để chăm chút cho cái gốc của mình, gốc có tốt thì cây mới phát triển ra hoa kết trái Người ta thường nói, tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu là như vậy

Ngoài ra, trong lịch sử tín ngưỡng người Việt, thờ cúng thần linh đã có từ lâu đời, do cuộc sống dựa chủ yếu vào tự nhiên nên người xưa lập đàn kính tế quỷ

Trang 21

Nhưng cũng không phải tùy tiện thích đặt thế nào thì đặt vì vậy, người xưa cho rằng chỉ cần nhìn vào nơi thờ cúng của gia đình cũng có thể biết gia chủ có tâm hay không Cái tâm ở đây không được đo bằng mâm cao cỗ đầy, vàng mã bao nhiêu mà là ở vị trí đặt bàn thờ, cách sắp xếp bàn thờ ra sao cho phù hợp, trang nghiêm và sạch sẽ

Quan niệm phong thủy thì cho rằng bàn thờ là nơi linh khí quy tụ, là chỗ để người trên dương thế liên hệ với người đã khuất, người chết thì thành thần, thần lại là trung gian giữa trời với người Từ đó có thể thấy, khí trường của ban thờ ảnh hưởng rất lớn đến người trong nhà Ban thờ sắp đặt đúng cách không chỉ khiến người đã khuất an định mà ở lại coi sóc phù hộ gia đình, nên ban thờ cũng có những quy tắc nhất định

Sắp đặt ban thờ theo quan niệm phong thủy

Ban thờ nên quay ra cửa chính, không nên ngược với hướng nhà có thể gây âm dương tương phản, dễ gây bất trắc, nô bộc phản bội hoặc con cái không hiếu thuận, tài vận và gia vận bị ảnh hưởng Ban thờ thần Phật thì nên đặt ở hướng chính hoặc quay bên trái, bên phải Ban thờ gia tiên tốt nhất nên đặt ở tầng một, gian chính giữa nhà, quay ra cửa lớn để khi vừa mở cửa vào đã nhìn thấy gia tiên, tiện bề chăm sóc

Số lượng thần Phật phải là số dương, do thần Phật thuộc dương vì vậy phải dùng số lẻ, không nên thờ cùng lúc quá nhiều thần Phật, hoặc thờ cùng lúc hai thần xung khắc nhau có thể gây loạn linh khí khiến người trong nhà tinh thần bất an, dễ gặp tai họa Nếu có đặt tượng thần Phật mà tượng ấy lại bị nứt thì nên nhanh chóng thay mới do tà khí có thể xâm nhập vào

Ban thờ có thờ chung thần Phật và bài vị tổ tiên thì thần Phật đặt ở bên trái, tổ tiên đặt ở bên phải, nếu đặt ngược lại sẽ gây âm thịnh dương suy không tốt cho phong thủy, trong nhà dễ gặp thị phi kiện tụng, bệnh tật không dứt Thông thường người ta đặt nơi thờ cúng tổ tiên trước rồi mới đến thần Phật

Trang 22

22

Tổ tiên được coi là chủ, thần Phật được coi là khách quý, nếu mời thần Phật trước rồi mới mời tổ tiên người xưa cho rằng như vậy khiến tổ tiên nhà mình không dám vào cửa Bài vị tổ tiên cũng không được đặt cao hơn của thần Phật Ban thờ phải có chỗ dựa lưng, tức kê sát vách tường để linh khí được hội tụ không bị tản mát

Bát hương thờ tổ tiên nên có tay cầm, bát hương thờ thần không nên có tay cầm Vật liệu bát hương tốt nhất là dùng bằng sứ, sau đó đến đồng, không nên dùng đá hoa cương

Bóng đèn phía trước không nên xung với ban thờ, không nên dùng đèn chiếu Ban thờ cũng không đặt ở vị trí dưới xà nhà, nếu không có vị trí tốt hơn thì phải làm trần, ngoài ra bên trên không được có máy móc như máy điều hòa, máy hút mùi, loa đài

Số lượng thờ thần Phật nhiều nhất là 3, không nên quá nhiều dễ gây bất an Bát hương nên dùng hình tròn không có chân đế, chất liệu bằng sứ là tốt nhất Bát hương thông thường không nên quá đầy tro, ngày 15 âm hàng tháng có thể rút bớt chân hương cho sạch sẽ

Bát hương thờ thần Phật nên cao hơn bát hương thờ tổ tiên, khi cắm hương thì nén hương nên cao hơn mắt người Khi đốt hương chỉ nên đốt một que, nếu

có điều cần khấn nguyện thì đốt ba que, không nên đốt nhiều hơn dễ khiến tà linh theo vào nhà Vật phẩm thờ cúng cũng cần chú ý một số điểm sau: thờ Phật và Quan Âm chỉ được dùng đồ chay do nhà Phật không ăn đồ tanh; thờ thần chủ yếu dùng hoa quả và phải là số lẻ 1, 3, 5, nếu cúng tổ tiên thì số lượng

là hai chữ số

Những điều cấm kị khi sắp xếp ban thờ

Người xưa quan niệm có rất nhiều cấm kị tại vị trí đặt ban thờ: Không được dựa vào trụ nhà, không được có cửa sổ bên cạnh (do không thể tụ được khí) Ban thờ cũng không được áp lưng vào nhà bếp vì có thể khiến chủ nhân dễ bị kích động, tính tình thất thường, nóng nảy, có bệnh về cột sống

Phía sau ban thờ đặc biệt không được có nhà vệ sinh, nhà tắm do có âm khí và

xú khí nặng, theo phong thủy dễ khiến “chư thần thoái vị”, chủ nhà dễ bị trúng phong, gặp ác mộng, đau lưng Sau bàn thờ cũng không được có thang máy, cầu thang, nếu không chủ nhân dễ bị tán tài, thương tật ở lưng

Bàn thờ không được đối diện với lò, bếp, nhà vệ sinh, kể cả hướng lệch sang bên cũng không tốt Nếu không còn vị trí nào khác để đặt ban thờ thì nên lấy bình phong che lại Phòng thờ không nên đặt ở nền đất vốn trước đây là nhà bếp, nhà vệ sinh do chất đất không tốt Trên ban thờ kị đặt các vật linh tinh,

Trang 23

23

dao kéo, thuốc men, không được dùng tủ thờ làm nơi cất giữ đồ đạc hoặc bể cá,

vô tuyến, loa đài

Vật liệu làm bàn thờ nên sử dụng gỗ long não, đàn hương và nên điêu khắc thủ công là tốt nhất do các loại gỗ này tránh mối mọt, có thể sử dụng từ đời này sang đời khác

Trên bàn thờ không nên đặt chậu cây cảnh mà chủ yếu dùng hoa tươi để thờ phụng, không nên dùng hoa nhựa Chủ nhà thường xuyên vệ sinh khu vực xung quanh, nên thắp hương vào sáng và tối Người xưa quan niệm rằng nếu khói hương bay thẳng lên là tốt, nếu cuốn thành vòng tròn hoặc tản mát là có

“ngoại linh đang tranh cướp” Nếu bát hương bàn thờ thần tự nhiên bốc cháy

là may mắn, nếu bát hương thờ tổ tiên cháy là điềm báo hung

Nếu ban thờ của nhà có thờ cả họ nội và họ ngoại thì họ nội đặt bên trái, họ ngoại đặt bên phải, nhưng phải dùng vạch sơn màu đỏ phân chia rõ ràng hoặc dùng tấm vách ngăn sơn đỏ để tránh tranh chấp nhau

Ban thờ không nên treo trên không, không có chỗ dựa lưng hoặc trên đường

đi Sở dĩ có quan niệm này vì người xưa cho rằng ban thờ là nơi cần được hội

tụ linh khí, khí trường bàn thờ sung mãn có thể khiến toàn gia đình được an lành hạnh phúc Nếu ban thờ treo trên không, không có chỗ dựa lưng hoặc ở nơi đi lại dễ khiến người trong nhà bất an, gia vận trồi sụt khó đoán

Ban thờ không được xung với đường đi: Ban thờ bị đường đi đâm thẳng vào

dễ gây bất an tổn hại đến cung tài lộc, nhân đinh của gia đình, dễ gây tai nạn ngoài ý muốn hoặc bệnh tật tấn công

Ban thờ ngược với hướng nhà dễ khiến người trong nhà bất hòa, dễ gặp bất trắc bệnh tật Nếu đặt ở vị trí quay sang trái hoặc sang phải nhà thì chủ nhân

dễ có tâm sự phiền muộn khó nói ra Nếu ban thờ đối diện với nhà vệ sinh thì người trong nhà gặp nhiều bệnh tật đau đớn

Nếu ban thờ đối diện với nhà bếp dễ khiến nguời trong nhà hay tranh cãi những việc nhỏ, tính tình nóng nảy Nếu phía trên ban thờ có xà nhà có thể khiến chủ nhân dễ bị đau đầu, cuộc sống vất vả Nếu đặt đối diện với cầu thang, chủ nhân dễ bị động dao kéo, tai nạn đổ máu Nếu đặt dưới cầu thang thì người trong nhà khó có cơ hội phát triển Nếu đặt trên nền đất lồi lõm không bằng phẳng có thể khiến chủ nhân gặp khó khăn trong mọi việc Nếu phía trên, dưới, trái, phải ban thờ có cửa sổ thì chủ nhân dễ bị tán tài

Ngày Tết là thời điểm quan trọng chuyển giao từ năm cũ sang năm mới, mọi người đều dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị đón Tết và cũng không được phép quên trang hoàng nơi thờ cúng Công việc này thông thường bắt đầu từ ngày 23/12

Trang 24

đủ một câu thể hiện sự mong ước khiêm tốn gồm mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài (cầu vừa đủ xài); quá mức đầy đủ một bậc mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung (cầu vừa đủ xài sung)…

Nói chung, mâm ngũ quả như vậy là một biến thái mà xu hướng chủ đạo là theo vần theo âm

Số Năm - Ngũ

Truy nguyên cội nguồn của mâm ngũ quả buộc chúng ta phải xem xét đến hai thành tố của tên gọi: ngũ (số 5) và quả (trái cây), rồi sau đó mới nói đến ngũ quả

Theo quan niệm cổ đại phổ biến trong khu vực chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, các quy luật phổ biến đều gộp vào con số 5: ngũ sắc, ngũ vị, ngũ âm, ngũ tạng, ngũ kim, ngũ quan, ngũ luân, ngũ cốc… Như vậy, số 5 là biểu hiện chung của sự sống và ở đây ngũ quả tự nó biểu trưng một hợp thành được coi là đầy

đủ của loại lễ vật dâng cúng là quả

Đối với cư dân nông nghiệp ngũ cốc (đạo/nếp hương, lương/gạo, thúc/đậu, mạch/ lúa mì, tắc/kê) là lương thực chủ đạo và ngũ quả (trái cây nói chung) là thứ yếu Theo sự xác tín đã trở thành tập tục phổ biến trong dân gian nên có thể “ngũ quả” nêu trên là “chuẩn” của năm thứ quả dùng làm lễ vật bởi lẽ việc dâng lễ vật nào đều có thể là cách biểu thị sự cầu mong của người dâng lễ Ở đây, đối với người nông dân thời cổ thì điều cầu mong lớn nhất là được mùa ngũ cốc

Quả - Trái

Trang 25

25

Quả hay trái cây là thứ lễ vật xuất hiện khá sớm trong việc cúng bái bên cạnh các loài thú hiến tế (heo, bò, dê: tam sinh; hoặc bình dân hơn: gà, vịt, tôm, cua, cá) Theo khoa nghi nhà Phật, trong danh mục lễ vật lục cúng hay thập cúng có hương (nhang), đăng (đèn), hoa, trà, quả, thực… Tuy nhiên, nghi lễ nhà Phật cũng không quy định rõ là quả gì

Quả/trái cây nói chung là biểu tượng của sự sung túc, dồi dào Vì quả thường chứa nhiều hạt được đồng nhất với quả trứng vũ trụ, biểu tượng cho mọi nguồn gốc, mọi sự khởi nguyên; biểu trưng quả (với hạt bên trong của nó) biểu thị cho sự phồn thực, sinh sôi và khao khát sự bất tử - hiểu theo nghĩa là

sự nối truyền dòng giống miên viễn Theo chiều hướng này, quả bao gồm cả ý nghĩa biểu trưng vượt lên trên nhịp điệu sinh tồn của vạn vật: sự xen kẽ luân hồi của sự sống và cái chết; giữa cuộc sống dưới đất (của hạt giống) và cuộc sống dương thế…

Trong văn hóa, cụ thể là trong văn học và nghệ thuật tạo hình, quả vừa là biểu trưng chung vừa là biểu trưng có ý nghĩa riêng - hoặc theo sự đồng âm của nó hoặc nó được xác định bởi các tình tiết văn học truyền kỳ, thần tiên… Lựu được biểu trưng cho sinh con (lựu khai bách tử), dưa hấu nhiều hạt cũng có ý nghĩa tương tự như lựu Mơ, đào, bầu, phật thủ… đều có ý nghĩa biểu trưng riêng, song đều hội ý chúc tụng cát tường, như ý

Tóm lại, mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết của người Việt là một “sản phẩm văn hóa” đã xác lập trong quá trình lịch sử lâu dài, được khuôn đúc theo quan niệm về “bộ ngũ hoàn hảo” và bắt nguồn từ cái nhìn liên tưởng mang tính chất trải nghiệm từ thực tế sinh trụ dị diệt của thực vật

Tập tục thú vị về tiễn – đón Táo quân

Người xưa cho rằng ngày Tết hết sức quan trọng do nó quyết định vận thế, sự nghiệp và tài lộc cho cả năm sau: Táo quân cai quản khói lửa ở hạ giới, lại thường ở trong bếp nên biết hết chuyện hay dở của gia đình trong cả năm, sau khi nghe thông báo xong Ngọc hoàng sẽ căn cứ vào đó để định đoạt, có thể là khen thưởng cũng có thể là quở phạt

Vì vậy, trước khi Táo quân lên thiên đình người ta bày lễ cúng để Táo quân

“nói tốt” cho nhà mình Tục xưa thường để bàn thờ, bài vị của Táo công treo trên tường nhà bếp, thần vị làm bằng giấy vẽ hình táo quân và một bát hương, cúng vào buổi sáng và buổi tối, nhưng ngày nay không còn phong tục này nữa

Đồ cúng táo quân thông thường là các loại kẹo bánh có vị ngọt, hi vọng thần ăn

đồ ngọt sẽ không bẩm báo những chuyện nhỏ nhặt với Ngọc đế Sau khi cúng

tế xong đem đồ ngọt bôi quanh miệng bếp, tượng trưng miệng thần quân dẻo ngọt không bẩm chuyện xấu của nhà mình với Ngọc hoàng Nếu nhà có trẻ nhỏ thì cúng thêm một con gà trống để mong đứa trẻ phát triển khỏe mạnh

Trang 26

26

Khi cúng tiễn thần bếp, người ta thường phải tắm rửa sạch sẽ, dùng muối, hoa, tinh dầu, lá bưởi hoặc các loại lá thơm làm nước tắm, sau khi tắm xong thay quần áo sạch sẽ rồi mới cúng

Có tiễn thần thì cũng có đón thần, ngày nay khi nghe thấy từ “đón thần”, có lẽ nhiều người liên tưởng đến đón thần tài, nhưng thực ra đón thần ở đây lại là tập tục quan trọng hơn so với tiễn thần Sau khi Táo quân được tiễn lên trời để bẩm báo với Ngọc hoàng, ngày 25/12 là ngày nghỉ, Ngọc hoàng sẽ dẫn quần thần xuống nhân gian thị sát vì vậy ngày này hết sức quan trọng

Người xưa quan niệm do ngày đó Ngọc hoàng xuống hạ giới nên trong mọi người đều rất cẩn trọng về phẩm cách của mình: Không đánh cãi chửi nhau, không nói bậy, không đòi – vay nợ, không phơi quần áo… Tuy vậy đây chỉ là quan niệm ngày xưa, ngày nay hầu như không còn nghi thức này nữa

Sau khi tiễn Táo quân xong mọi người mới bắt đầu được quét dọn, tục gọi là

“quét tàn tinh” nhưng nếu năm đó nhà có tang ma thì không được quét, kiêng khói bụi bay vào mắt người chết Việc quét dọn, kê lại đồ đạc lại toàn bộ nhà thường được thực hiện sau khi tiễn ông táo là do lúc này các thần đã về trời bẩm báo công việc, chỉ còn một số thần nhỏ ở lại “trực” để duy trì trật tự, nếu

có xê dịch làm đảo lộn đồ đạc thì cũng không mạo phạm đến thần

Sau quét dọn mới đến phần “lau rửa”, ngoài ý nghĩa làm vệ sinh môi trường xung quanh, lau chùi rửa sạch đồ đạc trong gia đình còn có ý nghĩa quan trọng hơn đó là sự thanh tịnh trong thâm tâm, phản tỉnh những sai lầm trong cả năm Người xưa cho rằng nếu chỉ chăm chút bề ngoài mà không coi trọng sự thay đổi hướng thiện trong tâm hồn thì hiệu quả trừ bỏ những cái xấu của năm

cũ có làm cũng như không

Đặc biệt là những người trong năm ấy gặp nhiều sự cố phát sinh khiến công việc và cuộc sống không như ý muốn, tự cho rằng mình gặp đen đủi, muốn tìm cách để thay đổi tương lai, hi vọng năm mới tốt đẹp hơn sẽ nhân cơ hội này phản tỉnh cũng như tổng kết sai lầm trong cả năm, rút ra kinh nghiệm để năm mới thuận lợi hơn

Cách trang hoàng ban thờ trong ngày Tết

Phần quan trọng nhất là ban thờ tổ tiên, do đây là nơi được coi là nơi linh thiêng, ngày thường không được tùy ý động chạm di chuyển mà chỉ lau chùi sạch sẽ, người xưa cho rằng nếu xê dịch sẽ làm kinh động đến chỗ của thần, thần không được an vị thì không muốn ở lại lâu, không chăm sóc cho nhà mình được Ngày nay do thời gian có hạn hoặc một số kiêng kị không được lưu truyền trong dân gian nên không còn nhiều người biết cách dọn ban thờ theo như phong tục cổ nhân

Trang 27

27

Trước khi dọn ban thờ, người xưa thường phải tắm rửa sạch sẽ, chuẩn bị đĩa hoa quả đặt lên, sau đó thắp một nén hương thông báo cho tổ tiên và thần linh biết ngày hôm nay sẽ thu dọn ban thờ, mời tổ tiên và thần linh tạm lánh sang một bên để con cháu thực hiện công việc Sau đó gia chủ chuẩn bị một chiếc bàn bên trên trải vải hoặc giấy đỏ để đặt bài vị, nếu bàn thờ có đặt chung bài vị gia tiên với các thần thì phải để ra hai chỗ khác nhau, không được lẫn lộn Đợi sau khi hương cháy hết rồi mới bắt đầu công việc

Khi lau rửa bài vị của tổ tiên thì phải dùng nước ấm, không được dùng nước lạnh Khi làm vệ sinh, nếu có bài vị của thần Phật thì lau trước, sau đó đổ nước mới để lau bài vị của tổ tiên, tuyệt đối không lau bài vị của tổ tiên trước Người xưa quan niệm như vậy là bất kính, mạo phạm với thần phật, thần phật có ngôi

vị cao hơn nên dễ khiến tổ tiên bị chèn ép

Sau khi lau bài vị xong mới đến phần dọn bát hương, công việc này cũng rất quan trọng, ngày nay đa phần mọi người đều rút chân hương rồi cầm bát hương đổ hết tro ra ngoài, theo người xưa như vậy rất dễ gây “tán tài”, vì vậy người ta dùng chiếc thìa nhỏ xúc từng thìa đổ ra ngoài rồi mới rửa sạch bát hương đặt sang một bên

Khi bát hương khô ráo, nếu là bát hương thờ thần phật thì dùng bảy tờ tiền vàng, bát hương của tổ tiên thì dùng ba tờ tiền vàng đốt hơ quanh, cháy một nửa thì bỏ vào trong, đợi tiền vàng cháy hết thì đổ tro vào một lần, như vậy gọi

là “ra nhỏ vào lớn”, ý là “tiền ra nhỏ giọt, tiền vào như thác đổ”, nếu lúc đầu đổ

ra hết sau đó múc từng ít một vào thì gọi là “vào nhỏ ra lớn”, tức “tiền ra thì nhiều mà tiền vào thì ít”

Ngày nay có nhiều người đem tro bát hương đổ cũ ra sông, thay vào bát hương tro mới, nhưng người xưa thì dùng chiếc rổ mắt nhỏ để lọc tro cũ, lọc xong lại

đổ vào bát hương chứ không đổ đi Việc lọc tro cũng phải bắt đầu từ bát hương thờ thần phật

Sau khi lau rửa sạch sẽ, người ta sẽ đem bài vị thần Phật và tổ tiên đặt lại chỗ

cũ và công đoạn này cũng rất phức tạp Trước hết phải chuẩn bị một chiếc lò nhỏ trong có đốt than hoa, đặt dưới bàn thờ khoảng 15 phút, sau đó đốt bảy tờ tiền vàng làm dấu hơ ở bốn hướng trên dưới trái phải, ý là dùng lửa để khai quang, làm sạch, tiền vàng chưa cháy hết thì bỏ vào lò than hoa

Đốt tiếp bảy tờ tiền vàng làm sạch vị trí muốn đặt tượng/bài vị thần Phật và bát hương sau đó mới đặt các đồ vật vào vị trí cố định Sau khi đặt xong thì đốt

12 que hương cắm theo thứ tự hướng thời gian, que thứ nhất cắm ở vị trí 1h, khi cắm thì đọc “niên niên thị hảo niên”, tức mỗi năm đều là năm tốt; que thứ hai cắm ở vị trí 2h, khi cắm đọc “nguyệt nguyệt thị hảo nguyệt”, tức mỗi tháng đều là tháng tốt; cây thứ ba cắm ở vị trí 3h, khi cắm đọc “nhật nhật thị hảo

Trang 28

28

nhật”, tức mỗi ngày đều là ngày tốt; cây thứ tư cắm ở vị trí 4h, khi cắm đọc

“thời thời vị hảo thời”, tức mỗi giờ đều là giờ tốt; cứ tuần tự như vậy cho đến thời điểm vị trí 12h Các vị trí bài vị, bát hương của tổ tiên và bà tổ cô cũng làm như vậy

Trên đây là tập tục của người xưa ghi chép lại trong các thư tịch cổ, những công việc tỉ mỉ khi chăm sóc bàn thờ gia tiên cũng là cách để tăng thêm phần không khí ngày Tết Nhưng ngày nay, do cuộc sống bận rộn nên không hẳn tất

cả những tập tục trên còn phù hợp Xin nêu lại tập tục cổ nhân như một cách

để bạn đọc tham khảo, thêm phần hiểu biết về phong tục tập quán của người xưa trong những ngày xuân đang tới với hi vọng mọi người sẽ gặp những may mắn mới, thành công mới

Đọc thêm 1: Cúng gia tiên, cách Lễ, cách bái lạy

I Nghi-Thức Cúng Gia-Tiên

Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc

“đông bình tây quả,” rượu, và nước Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy

II Định-Nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy

a Cúng

Khi có giỗ Tết, gia-chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ-bàn, chén bát, đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu-kính, biết ơn, và cầu phước-lành Đây là nghĩa rộng của cúng Trong nghĩa bình-thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy,và vái

b Khấn

Khấn là lời cầu-khẩn lầm-rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ quan đến các chi-tiết về ngày tháng năm, nơi-chốn, mục-đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời hứa

Ngày đăng: 26/12/2021, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w