Ở Việt Nam, thuật ngữ bão thường được hiểu là bão nhiệt đới, là hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm chỉ xuất hiện trên các vùng biển nhiệt đới, thường có gió mạnh và mưalớn. Tuy thế, thuật ngữ này rộng hơn bao gồm cả các cơn dông và các hiện tượng khác hiếm gặp ở Việt Nam như bão tuyết, bão cát, bão bụi...
Trang 1NGHIỆP VỤ HƯỚNG DẪN DU LỊCH
Bài tập 2: Giải thích các hiện tượng bão, lụt, động đất, tuyết rơi và sự lở tuyết,
sự hình thành karst đá vôi, màu của các loại nước biển và các hệ sinh thái rừng,
hệ sinh thái biển ở Việt Nam Có trích dẫn tài liệu tham khảo chính xác
I HIỆN TƯỢNG BÃO
1.1 Khái niệm bão
Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời tiết cực đoan
Ở Việt Nam, thuật ngữ "bão" thường được hiểu là bão nhiệt đới, là hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm chỉ xuất hiện trên các vùng biển nhiệt đới, thường có gió mạnh và mưalớn Tuy thế, thuật ngữ này rộng hơn bao gồm cả các cơn dông và các hiện tượng khác hiếm gặp ở Việt Nam như bão tuyết, bão cát, bão bụi
1.2 Giải thích hiện tượng Bão
Bão là xoáy thuận quy mô synop (500–1000 km) không có front, phát triển trên miền biển nhiệt đới hay cận nhiệt đới ở mực bất kỳ và có hoàn lưu xác định Trong không gian ba chiều, bão là một cột xoáy khổng lồ, ở tầng thấp (khoảng 0–3 km) không khí nóng ẩm chuyển động xoắn trôn ốc ngược chiều kim đồng hồ (ở Bắc Bán Cầu) hội tụ vào tâm, chuyển động thẳng đứng lên trên trong thành mắt bão và toả ra ngoài ở trên đỉnh theo chiều ngược lại Ở chính giữa trung tâm của cơn bão không khí chuyển động giáng xuống, tạo nên vùng quang mây ở mắt bão
Các thành phần chính của bão bao gồm:
- Các dải mưa ở rìa ngoài: Thành mắt bão là tường mây bao quanh mắt bão bao gồm các đám mây dông phát triển lên rất cao Đây là khu vực có gió mạnh nhất và gây mưa lớn nhất trong bão
Trang 2- Mắt bão nằm ở chính giữa: Thành mắt bão là tường mây bao quanh mắt bão bao gồm các đám mây dông phát triển lên rất cao Đây là khu vực có gió mạnh nhất và gây mưa lớn nhất trong bão
- Thành mắt bão nằm ngay sát mắt bão: Thành mắt bão là tường mây bao quanh mắt bão bao gồm các đám mây dông phát triển lên rất cao Đây là khu vực có gió mạnh nhất và gây mưa lớn nhất trong bão
Giá trị khí áp nhỏ nhất tại tâm bão và tăng dần ra phía rìa bão Càng vào gần tâm, cường độ gió bão càng mạnh, khu vực tốc độ gió mạnh nhất cách tâm bão khoảng vài chục km Vào vùng mắt bão gió đột ngột yếu hẳn, tốc độ gió gần bằng không Khi qua khỏi vùng mắt bão gió lại đột ngột mạnh lên nhưng có hướng ngược lại, đây chính là tính chất ảnh hưởng nguy hiểm nhất của bão
Một số khái niệm khác về Bão:
- Bão mạnh là bão đạt từ cấp 10 đến cấp 11
- Bão rất mạnh là bão đạt từ cấp 12 trở lên
- Bão đổ bộ là khi tâm bão đã vào đất liền
- Bão tan là bão đã suy yếu thành vùng áp thấp, sức gió mạnh nhất dưới cấp 6
- Vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão hoặc áp thấp nhiệt đới là vùng có gió mạnh từ cấp 6 trở lên do bão hoặc áp thấp nhiệt đới gây ra
- Bão xa: khi bão hoạt động ở phía đông kinh tuyến 120o Đông, phía nam vĩ tuyến 05o Bắc và phía bắc vĩ tuyến 22o Bắc nhưng có khả năng di chuyển vào Biển Đông trong 24 giờ tới
- Bão trên Biển Đông: khi tâm bão vượt qua kinh tuyến 120o Đông, vĩ tuyến 05o Bắc và vĩ tuyến 22o Bắc vào Biển Đông hoặc bão phát sinh trên Biển Đông, có vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta trên 1.000 km, hoặc khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta từ 500 đến 1.000 km và chưa có khả năng di chuyển về phía đất liền nước ta trong 24 giờ đến
48 giờ tới
- Bão gần bờ: khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta
Trang 3giờ đến 48 giờ tới, hoặc khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta từ 300 đến dưới 500 km và chưa có khả năng di chuyển về phía đất liền nước ta trong 24 giờ đến 48 giờ tới
- Bão khẩn cấp: khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước
ta từ 300 đến 500 km và có khả năng di chuyển về phía đất liền nước ta trong 24 giờ đến 48 giờ tới hoặc khi vị trí tâm bão cách điểm gần nhất thuộc bờ biển đất liền nước ta dưới 300 km;
Hoặc khi bão đã đổ bộ vào đất liền nước ta và sức gió mạnh nhất vẫn còn từ cấp 8 trở lên, hoặc khi bão đã đổ bộ vào nước khác nhưng sức gió mạnh nhất vẫn còn từ cấp 8 trở lên và có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta trong 24 giờ đến 48 giờ tới
- Tin cuối cùng về cơn bão: khi bão đã tan hoặc bão di chuyển ra ngoài Biển Đông nhưng không có khả năng quay trở lại Biển Đông trong 24 giờ tới, hoặc bão đã đổ
bộ vào nước khác và không còn khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta
Tài liệu tham khảo: http://phongchonglutbaotphcm.gov.vn
2 HIỆN TƯỢNG LỤT
2.1 Khái niệm
Lụt là hiện tượng nước trong sông, hồ tràn ngập một vùng đất Lụt cũng có thể dung để chỉ ngập do thủy chiều, nước biển dâng do bão Lụt có thể xuất hiện khi nước trong sông, hồ tràn qua đê hoặc gây vỡ đê làm cho nước tràn vào các vùng đất được đê bảo vệ Trong khi kích thước của hồ hoặc các vực nước có thể thay đổi theo mùa phụ thuộc vào dáng thủy (hướng dòng chảy) tuyết tan, nó không
có nghĩa là lũ lụt trừ khi hiện tượng nước này tràn ra gây nguy hiểm cho các vùng đất như làng, thành phố hoặc khu định cư khác
2.2 Các loại lụt điển hình và nguyên nhân
a Lụt ven sông
- Lụt chậm: Do mưa kéo dài (thường gặp ở các vùng nhiệt đới) hay do tuyết tan nhanh (thường ở vùng ôn đới) làm lượng nước đổ xuống vượt mức chứa của
Trang 4kênh đào hay sông ngòi Mưa rào, mưa bão, áp thấp nhiệt đới là những nguyên nhân khác của lụt chậm
- Lụt nhanh: sảy ra nhanh chóng và thường là do các cơn bão mạnh mưa lớn gây ra
b Lụt hạ lưu: Thường do ảnh hưởng kết hợp: sức gió mạnh của bão làm cho triều
cường dâng cao
c Lụt ven biển : Do những cơn bảo biển dữ dội hay thảm họa khác như song thần
d Lụt do thảm họa: Các nguyên nhận khác như vỡ đê, động đất, núi lửa cũng có
thể dẫn đến lụt
e Lụt do con người: Tại nạn do con người gây ra với kênh đào hoặc đường ống
f Lý do khác: Lụt sảy ra do nước tích lại trên một bề mặt không có khả năng thấm
nước Ví dụ: mưa sẽ làm ẩm mặt đất nhưng mưa kéo dài làm giảm và làm mất khả năng thấm nước của đất nên nước sẽ đọng lại trên mặt đất Nếu mưa kéo dài lượng nước sẽ tăng trong khi lượng nước mất đi do bay hơi không đáng kể dần dần sẽ gây
ra lụt hoặc có thể gây ra lụt khi nhiều cơn bão tràn qua
- Ảnh hưởng đến nước sinh hoạt nói riêng và nguồn nước nói chung: nước bị
ô nhiễm do nước mang theo nhiều chất thải từ cống, rãnh, ao hồ tràn lên đường phố, nhà, khu vực các vòi nước công cộng… gây khan hiếm nước uống và nhiều tình trạng khác…
- Bệnh cho người và động vật: do về sinh kém, do các bệnh truyền nhiễm
Trang 5lan, bởi đa số dịch bệnh đều truyền trong nước nhanh hơn là trong không khí, ví dụ như dịch tả
- Bệnh hại trong nông nghiệp: gây ngập các khu vực trồng trọt nên có thể làm giảm năng suất, là nguyên nhân gây ra mất mùa, gây khan hiếm lương thực nhiều loài thực vật không có khả năng chịu úng sẽ bị chết
2.4 Cách đối phó
Hệ thống đê điều phải luôn được cải tạo tu bổ đảm bảo an toàn tránh tình trạng vỡ đê, đê điều, mương, cỗng, rảnh phải luôn đảm bảo khơi thông thoát nước tốt
Xây dựng hệ thống thoát nước bằng bê tông để đảm bảo thoát nước tốt nhất hiệu quả nhất
Phải có hệ thống dự báo thời tiết đưa những tin tức kịp thời hoặc dự báo trước để kịp thời có những biện pháp phòng trống
Luôn đề cao cảnh giác, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân về lụt, cũng như cung cấp thong tin về những biện pháp kịp thời khi sảy ra tình trạng lụt
Trồng cây phủ xanh đất trống đồi trọc
Bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp, hạn chế chất thải khí thái gây ảnh hưởng tới hiện tượng nhiệt độ trái đất tang làm tan bang ở bắc cực……
3 HIỆN TƯỢNG ĐỘNG ĐẤT
3.1 Khái niệm
Trong quan niệm thông thường thì động đất được hiểu là các rung chuyển đủ mạnh trên diện tích đủ lớn, ở mức nhiều người cảm nhận được, có để lại các dấu vết phá hủy hay nứt đất ở vùng đó Về mặt vật lý, các rung chuyển đó phải có biên
độ đủ lớn, có thể vượt giới hạn đàn hồi của môi trường đất đá và gây nứt vỡ Nó ứng với động đất có nguồn gốc tự nhiên, hoặc mở rộng đến các vụ thử hạt nhân
Trang 6Chú ý rằng các địa chấn kế tại các trạm quan sát địa chấn được thiết kế để ghi nhận các động đất dạng như vậy, và lọc bỏ các chấn động do dân sinh gây ra
• Những trận động đất xảy ra tại ranh giới được gọi là động đất xuyên đĩa,
• Những trận động đất xảy ra trong một đĩa hiếm hơn được gọi là động đất trong đĩa
Động đất xảy ra hằng ngày trên Trái Đất, nhưng hầu hết không đáng chú ý
và không gây ra thiệt hại Động đất lớn có thể gây thiệt hại trầm trọng về tài sản và nhân mạng bằng nhiều cách Tác động trực tiếp của trận động đất rung cuộn mặt đất thường gây ra nhiều thiệt hại nhất Các rung động này có biên độ lớn, vượt giới hạn đàn hồi của môi trường đất đá hay công trình và gây nứt vỡ Tác động thứ cấp của động đất là kích động lở tuyết, động đất, sóng thần, nước triều giả, vỡ đê Sau cùng là hỏa hoạn do các hệ thống cung cấp năng lượng điện , ga bị hư hại
Trong hầu hết trường hợp động đất tự nhiên là chuỗi các vụ động đất có cường độ khác nhau, kéo dài trong thời gian nhất định, cỡ vài ngày đến vài tháng Trong chuỗi đó thì trận động đất mạnh nhất gọi là động đất chính còn những lần yếu hơn thì gọi là dư chấn du chấn trước động đất chính gọi là tiền chấn còn sau động đất chính gọi là "Aftershock”
Năng lượng của động đất được trải dài trong một diện tích lớn, và trong các trận động đất lớn có thể trải hết toàn cầu Các nhà khoa học thường có thể định được điểm mà các sóng địa chấn được bắt đầu Điểm này được gọi là chấn tiêu hình chiếu của điểm này lên mặt đất được gọi là chấn tâm
Các trận động đất xảy ra dưới đáy biển có thể gây ra lở đất hay biến dạng đáy biển làm phát sinh sóng thần
3.2 Lý giải hiện tượng
Theo nghĩa rộng thì động đất dùng để chỉ các rung chuyển của mặt đất Chúng gây
ra bởi các nguyên nhân:
a Nội sinh - Liên quan đến vận động phun trào núi lửa, vận động kiến tạo ở các
đới hút chìm các hoạt động đứt gãy
Trang 7• Các nhà khoa học cho rằng thạch quyển được hình thành từ 7 mảng lớn và các mảng nhỏ, bao gồm cả phần lục địa và phần đáy đại dương trong khi di chuyển của các mảng kiến tạo có thể xô vào nhau ,
• Khi 2 mảng lục địa xô vào nhau ở chỗ tiếp xúc của chúng ven bờ các mảng ,
đá sẽ bị nén ép lại và nhô lên hình thành các dãy núi Đó cũng là nguyên nhân xảy
ra động đất
• Khi 2 mảng kiến tạo tách xa nhau ở các chỗ tách thì macma nóng chảy sẽ nhô lên tạo ra các dãy núi ngầm và kèm theo các hiện tượng động đất hoặc núi lửa phun trào
b Ngoại sinh - Thiên thạch va chạm vào trái đất, các vụ trượt lở đất đá với khối
lượng lớn
c Nhân sinh: Hoạt động của con người gồm cả gây rung động không chủ ý, hay
các kích động có chủ ý trong khảo sát hoặc trong khai thác hay xây dựng, đặc biệt
Tầng không khí càng trên cao thì nhiệt độ lại càng thấp, hơi nước ở những đám mây trực tiếp kết dính thành những bông tuyết nhỏ, khi những bông tuyết này nhiều lên sẽ nặng, khiến không khí lưu thông không thể “kéo” và rơi xuống mặt đất tạo nên hiện tượng tuyết rơi Nếu như có luồng không khí tương đối mạnh lưu thông trên luồng không khí này thì những bông tuyết càng lớn hơn khi rơi xuống đất Thông thường bông tuyết được sản sinh ở phần lạnh nhất của đám mây
Như vậy, tuyết hình thành từ những hạt nước nhỏ li ti kết thành những hạt vật chất Không giống mưa được tạo thành bởi những phân tử nước nhỏ gặp nhiệt
độ thấp kết tạo thành hạt mưa, các tinh thể nước đá kết lại ở nhiệt độ thấp hơn,
Trang 8đóng thành băng ngay lập tức và tạo thành bông tuyết Khi đủ nặng sẽ rơi xuống mặt đất Sự định dạng tinh thể tuyết phụ thuộc vào cấu trúc phân tử nước (góc 60° hay 120°) và nhiệt độ không khí Dưới nhiệt độ thấp, tinh thể tuyết hình lăng trụ được hình thành, ở nhiệt độ cao hơn là hình ngôi sao Đây là 2 dạng cơ bản, ngoài
ra, sự va chạm của chúng còn tạo ra các tinh thể mới (có hơn 6000 kiểu tinh thể)
Một số thông tin khác về tuyết:
- Vì sao bông tuyết có hình lục giác? Một bông tuyết có cấu tạo cơ bản từ
nhiều phôi băng Mỗi phôi băng lại do 5 phân tử nước kết hợp với nhau tạo thành Trong đó, 4 phân tử nằm ở 4 góc của khối tứ diện, còn phân tử thứ 5 nằm ở trung tâm Một bông tuyết gồm nhiều phôi băng kết hàng lại với nhau Mỗi hình tròn là một phân tử nước Đỉnh của hình tứ diện này nối với đáy của tứ diện kia tạo thành hình lục giác trong kết cấu của bông tuyết
Tuy nhiên, nếu chỉ đơn giản là kết hợp các phôi nước ở trạng thái tĩnh thôi thì chưa hẳn đã có những bông hoa tuyết đối xứng Các nhà khoa học cho biết, khi bay trong không trung, bản thân bông tuyết luôn xoay quanh trục của chính nó, vì vậy
nó rất cân xứng và luôn giữ được hình dạng lục giác trong quá trình vận động Ngoài ra, các hình dạng phổ biến của bông tuyết là dạng ngôi sao, dạng lăng trụ và hỗn hợp
- Nhiệt độ và không khí như thế nào để có tuyết? Nhiệt độ trên 0 độ C chắc
chắn không có tuyết, nhưng dù thời tiết rất lạnh, có thể xuống dưới 0 độ C mà
không khí khô thì cũng không thể thấy tuyết rơi
Tuyết chỉ rơi khi trong không khí còn một lượng hơi nước nhất định, khi trời không quá lạnh (vài ngày trước khi có tuyết rơi bầu trời thường giăng mây âm u) Không khí càng lạnh, bầu trời càng giữ được ít hơi nước bởi vì hầu hết hơi nước đã ngưng tụ hoặc thăng hoa thành mưa hay tuyết ở nhiệt độ cao hơn, do đó không còn
đủ nước để đông tụ thành tuyết Ngoài ra, để có tuyết rơi thì nhiệt độ thấp nhất định là dưới -10 độ C, ở trên các đám mây sẽ bắt đầu xuất hiện các tinh thể tuyết, chúng kết hợp lại với nhau tạo thành các đám tuyết rơi xuống đất
Trang 9- Vì sao bông tuyết có màu trắng ? Bông tuyết màu trắng đơn giản là khi tia
sáng mặt trời xâm nhập vào một hạt tuyết, nó sẽ nhanh chóng bị tán xạ bởi vô số những tinh thể băng và túi khí bên trong; gần như toàn bộ tia sáng bị bật ngược trở lại và ra khỏi hạt tuyết vì thế tuyết giữ nguyên màu sắc của ánh sáng Mặt trời là màu trắng
- Vì sao tuyết tan lạnh hơn khi tuyết rơi? Lý do khá dễ hiểu là trong quá
trình tuyết tan, cần phải hấp thu rất nhiều nhiệt lượng, do đó không khí càng trở nên lạnh hơn Ngược lại, khi tuyết rơi hoặc nước kết băng, nước và tuyết sẽ phóng thích một số nhiệt lượng ra bên ngoài Do đó, ta cảm thấy thời tiết trở nên ấm hơn trước đó Thực ra cảm giác nóng hay lạnh chủ yếu quyết định bởi việc cơ thể con người tỏa ra nhiệt lượng hay hấp thu nhiệt lượng Khi tuyết tan, cần phải hấp thụ một lượng lớn nhiệt lượng, không khí liền bị làm lạnh đi, cơ thể con người lại bị không khí làm lạnh Hay nói cách khác là lúc đó tuyết hấp thụ nhiệt lượng từ không khí, không khí lại lấy nhiệt lượng từ con người, con người đương nhiên là cảm thấy lạnh Ngược lại, khi tuyết rơi, thậm chí là khi tuyết đóng băng, nước sẽ tỏa ra nhiệt lượng, không khí cũng sẽ không quá lạnh nữa
Theo các nhà khoa học, 1g băng tan chảy thành nước ở 0 độ C cần hấp thu 334,4 micron (80kcal) nhiệt lượng, cho nên khi một vùng lớn tuyết tan thì nhiệt lượng cần hấp thu cũng phải tương đương
-Tại sao tuyết lại rơi nhiều trong khi Trái Đất đang ấm lên? Trên thực tế,
Trái đất đang ấm lên không có nghĩa tất cả mọi điểm trên nó cũng vậy Nước tồn tại trên Trái đất ở cả ba dạng khác nhau: lỏng, rắn và hơi Theo chu kỳ tuần hoàn thông thường của nước, nước ở đại dương bốc hơi lên, ngưng tụ thành mây, mây sẽ tạo mưa và mưa sẽ thấm xuống đất rồi chảy ra sông, biển Khi nhiệt độ tăng, nước
ở sông, biển, đại dương sẽ bốc hơi nhiều hơn và chúng ta sẽ có nhiều mây hơn, dẫn tới mưa và tuyết sẽ rơi xuống nhiều hơn tại một số nơi Do vậy, hiện tượng ấm lên của Trái đất cũng là một trong các nguyên nhân cơ bản tạo ra các trận lũ lụt “nặng” ngày nay
4.2 Sự lở tuyết
Trong một khu vực có nhiều tuyết, tuyết trên mặt đất sẽ tạo thành các lớp tuyết Các lớp tuyết có đặc tính khác nhau do hình dạng của các tinh thể trong lớp Chẳng hạn như các tinh thể lục giác có tính liên kết cao hơn các tinh thể hình kim do vậy
Trang 10nó tạo nên một lớp tuyết có độ ổn định cao Ngoài ra, khi hơi nước và sương kết hợp với các tinh thể tuyết sẽ tạo nên “sương muối” Sương muối “nặng” sẽ lắng đọng tọa thành bông tuyết – tạo ra lớp tuyết không ổn định Các lớp tuyết cũng bị thay đổi do các tác động của thời tiết :
-Nếu mặt trên của lớp tuyết bị tan và đóng băng lại sau đó, nó sẽ tạo nên lớp băng trơn
-Nếu không khí trên mặt tuyết dạng sương, nó sẽ tạo ra tinh thể sương muối nhẹ -Nếu lớp tuyết trên mặt tan ra và đóng băng lại nhiều lần, nó sẽ tạo ra một bề mặt với nhiều lỗ hổng không khí bên trong
Mặt khác, sự thay đổi trong lớp tuyết cũng xảy ra do sự chênh lệch nhiệt độ giữa các lớp tuyết trên và dưới Lớp tuyết ở đáy có nhiệt độ gần 0 độ C (nhiệt độ từ mặt đất) trong khi lớp tuyết phía trên có nhiệt độ sát với nhiệt độ trong không khí Trong một lớp tuyết mà có sự chênh lệch lớn về nhiệt độ thì nó sẽ tạo ra các tinh thể phẳng Một lớp tuyết mà tồn tại nhiều tinh thể phẳng chính là một mối nguy hiểm không báo trước
4.2.1 Sự hình thành tuyết lở
Một vụ tuyết lở gồm có ba yếu tố : tuyết, bề mặt dốc và tác động
Nếu các lớp tuyết yếu ở gần bề mặt, nó sẽ tạo ra một thác tuyết dạng chữ V dọc theo triền núi và có độ bám dính không cao – như dạng một đụn cát,khi có tác động mạnh, tuyết sẽ sụt lở Nếu lớp tuyết yếu ở sâu trong lớp băng tuyết nó sẽ gây
ra một trận lở sàn – mức độ nguy hiểm cao hơn Mức độ của một trận tuyết lở sàn phục thuộc vào độ sâu của lớp tuyết yếu, lớp tuyết yếu càng ở sâu thì trận tuyêt lớ càng có cường độ mạnh
Các trận tuyết lở thường xuất hiện ở sườn núi có độ dốc 25 – 60 độ so với mặt độc Dưới mức dốc 25 độ thì không đủ điều kiện tạo ra tuyết lở, còn trên 60 độ thì thường xuyên xảy ra hiện tượng sụt tuyết nhỏ nên không thể có tuyết lở Thông thường độ dốc từ 35-45 là lý tưởng cho các trận lở tuyết
Trang 11
Sự thay đổi của thời tiết là nguyên nhân chính gây ra các trận lở tuyết Một khi bắt đầu nó sẽ chia ra 3 phân đoạn:
+Khu vực bắt đầu: thường trên dòng cây hoặc sườn núi nơi mà các ụ tuyết vỡ ra +Trên đường di chuyển : dọc theo sườn núi, cuốn theo các vật cản trên đường đi +Kết thúc : nơi mà tuyết và các vật cản dừng lại
Khi tuyết dừng lại, nó nhanh chóng đông cứng lại rắn chắc như bê tông do vậy gây
ra nhiều khó khăn trong việc cứu hộ
4.2.2 Kiểm soát và ngăn chặn tuyết lở
Tuyết lở là mối đe dọa lớn đối với cuộc sống con người về cả tính mạng và tài sản, nó còn phá hoại nhiều công trình, nhà cửa, gây tắc nghẽn hệ thống giao thông, ảnh hưởng đến nền kinh tế địa phương Do vậy, các tổ chức thường xuyên kiểm tra và áp dụng các kỹ thuật nhằm phòng tránh tuyết lở Một kỹ thuật thường được áp dụng đó là cố tình tạo ra các vụ sụt tuyết nhỏ Các nhà khoa học sẽ nghiên cứu các lớp băng tuyết bằng cách sử dụng sóng rada sau đó họ sử dụng chất nổ để tạo nên các vụ sụt lở Mặt khác, họ cũng có thể dùng phương pháp trượt tuyết dọc theo đường nứt gãy
Một phương pháp khác đó là ngăn chặn các điều kiện dẫn đến tuyết lở hoặc cản trở dòng chảy của tuyết Ở một vài nơi, họ bố trí các rào chắn, lưới và các chướng ngại vật ngăn gió, cản trở việc hình thành các lớp tuyết dày Tuy nhiên, tuyết lở vẫn có thể xảy ra dù có các phương pháp phòng ngừa do vậy điều quan trọng nhất là sớm
có các thông báo kịp thời khi xảy ra tuyết lở
5 SỰ HÌNH THÀNH KARST ĐÁ VÔI
5.1.Các khái niệm liên quan
- Thuật ngữ Karst dùng để chỉ một loại đá đặc biệt có đặc tính nổi trội là có thể hoà tan trong nước tạo thành các hang hốc, lỗ hổng
Karst (tiếng Đức: Karst) là hiện tượng phong hóa đặc trưng của những miền núi đá vôi bị nước chảy xói mòn Sự xói mòn không phải do cơ chế lực cơ học, mà chủ yếu là do khí điôxít cacbon (CO2) trong không khí hòa tan vào nước, cộng với các ion dương của hyđrô (H+) tạo thành axít cacbonic Axít cacbonic là thủ phạm
Trang 12chính trong quá trình ăn mòn đá vôi Sản phẩm tự nhiên của quá trình phong hóa karst là các hang động với các nhũ đá, măng đá, sông suối ngầm, Các sản phẩm
tự nhiên nổi tiếng tại Việt Nam là: vịnh Hạ Long, động Phong Nha (Quảng Bình),
hồ Thang Hen (Cao Bằng), động Hương Tích (chùa Hương Hà Tây)
(Từ Karst là tên gọi cho Kras, một khu vực ở Slovenia dọc theo bờ biển Adriatic và nằm trên một cao nguyên đá vôi)
- Địa hình karst là địa hình của các kiểu phân rã đặc trưng thông thường được đánh dấu bởi các hệ thống thoát nước theo hang động ngầm dưới đất Đây là các khu vực mà ở đó nền đá có lớp bị hòa tan hoặc các lớp, thông thường (nhưng không phải luôn luôn) là đá cacbonat chẳng hạn như đá vôi hay đôlômít Trong những chỗ như thế có rất ít hoặc thậm chí không có hệ thống thoát nước trên bề mặt
5.2 Giải thích sự hình thành karst đá vôi
a Quá trình hình thành đá vôi
Đá vôi chủ yếu hình thành trong môi trường biển nông và ấm, do kết tủa dần
từ nước biển chứa nhiều CaCO3 hoặc do tích tụ dần từ vỏ, xương, xác nhiều loài sinh vật biển Ban đầu, đá vôi được tích tụ dần thành những lớp dầy, mỏng, mầu sắc khác nhau, hầu như nằm ngang ở dưới đáy biển Dần dần, do những vận động địa chất mà các lớp đá vôi được nâng lên, ép nén, uốn lượn Thêm nữa, đá vôi còn
bị dập vỡ, nứt nẻ, tạo điều kiện cho nước mưa thấm xuống sâu, thúc đẩy quá trình karst hóa
b Quá trình Karst hoá
- Karst là kết quả của quá trình tương tác (chủ yếu là hòa tan) giữa đá vôi, nước, khí cácboníc và các yếu tố sinh học khác Quá trình karst hóa đòi hỏi một thời gian dài, thậm chí hàng triệu năm, thì cảnh quan karst bây giờ mới hình thành Việt Nam có đầy đủ điều kiện thuận lợi để quá trình karst hóa diễn ra mạnh, đó là:
- Có nhiều đá vôi trong các thành tạo địa chất, từ rất cổ (hơn 570 triệu năm trước) đến rất trẻ (ngày nay) Đáng kể nhất là các tầng đá vôi hình thành vào các khoảng thời gian cách đây 500-520 triệu năm, 380 triệu năm, 350-280 triệu năm và 235 triệu năm, tổng bề dầy lên đến trên 10.000 m Hoạt động địa chất diễn ra mạnh nên
Trang 13phần lớn đá vôi bị dập vỡ, nứt nẻ tạo môi trường thuận lợi cho nước và khí lưu thông
Hòa Bình (1.862 mm/năm), Lai Châu (2.085 mm/năm), Tam Đường (2.500 mm/năm), Hòn Gai (1.995 mm/năm), Kẻ Bàng (2.300 mm/năm) v.v Các vùng Sơn
La, Mộc Châu mưa tuy ít cũng xấp xỉ 1.500 mm/năm
- Thế giới sinh vật rất phát triển trong điều kiện nhiệt ẩm cao, giải phóng nhiều khí CO2 cần thiết cho quá trình karst hóa
c Phản ứng hoá học trong hình thành Karst
Sự tạo thành của địa hình karst nói chung là kết quả của nước mưa có chứa lượng cacbonic hòa tan (hay còn gọi là mưa axít nhẹ), tác động lên nền đá vôi hay đôlômít và hòa tan một phần các chất chứa trong các loại đá này theo thời gian Quá trình hòa tan dưới bề mặt đá sẽ diễn ra nhanh hơn nếu đá có nhiều khe nứt và tạo ra địa hình với các đặc trưng đặc biệt, bao gồm các hố sụt hay thung lũng (các lòng chảo khép kín), các đường thông thẳng đứng, các dòng suối đột ngột biến mất Sau một thời gian đủ lớn, các hệ thống thoát nước ngầm phức tạp này (chẳng hạn các tầng ngậm nước karst) và các hệ thống hang động có phạm vi rộng có thể được tạo ra
Axít cacbonic tham gia vào quá trình này được tạo ra khi các hạt mưa đi qua khí quyển đã lôi theo khí CO2 và hòa tan nó trong nước Khi mưa rơi xuống mặt đất, nó ngấm qua các lớp đất, thu thập thêm CO2 để tạo ra dung dịch axít cacbonic yếu:
H2O + CO2 → H2CO3
CaCO3 → Ca2+ + CO32–
CO32– + H2CO3 → 2 HCO3–
CaCO3 + H2CO3 → Ca2+ + 2 HCO3–
Nước có tính axít yếu này bắt đầu hòa tan đá từ vị trí các khe nứt và các lớp
đá trong các tầng đá vôi Theo thời gian các khe nứt này mở rộng dần và nền đá vẫn tiếp tục bị hòa tan Các khoảng rỗng trong các lớp đá tăng dần về kích thước
Trang 14và bắt đầu phát triển hệ thống thoát nước ngầm, cho nhiều nước hơn đi qua và làm tăng tốc độ hình thành các đặc trưng karst ngầm
d Quá trình lưu chuyển nước karst
Trong tự nhiên nước tồn tại ở nhiều trạng thái, lưu chuyển trong một chu trình kín là:
Hơi nước (không khí, mây) → mưa → nước trên mặt đất (sông, suối, ao, hồ, biển và các khối băng), nước dưới đất (trong đới thông khí gần mặt đất, nước ngầm dưới sâu và nước dính bám vào thảm thực vật) → bốc hơi
Nước mặt và nước dưới đất quan hệ mật thiết với nhau Khi di chuyển, một phần nước mặt thấm qua lớp đất phủ xuống dưới đất Ngược lại, nước ngầm cũng
có thể xuất lộ trên mặt đất, nhập vào sông suối, đổ ra biển Quá trình lưu chuyển nước karst còn có một số đặc trưng riêng, đó là: - Nguồn nước mặt rất khan hiếm, trừ những thung lũng lớn, thấp, có lớp đất phủ tương đối dày, đóng vai trò như một màn chắn, ngăn không cho nước mặt thấm chảy xuống dưới Đây chính là miền thoát của hệ thống nước ngầm karst, thường gặp hang có nước chảy ra - Ở những nơi cao, do không có lớp đất phủ chắn lọc nên nước mưa thường thấm thẳng xuống dưới, qua hệ thống các khe nứt, hang hốc, lỗ hổng Chính vì thế mà nước ngầm karst rất dễ bị ô nhiễm - Nước ngầm karst chủ yếu tập trung và di chuyển trong hệ thống các khe nứt và hang động ngầm Theo chiều thẳng đứng từ trên xuống, có thể phân chia ra 3 đới:
(1) đới hấp thụ nước mặt
(2) đới nước chảy thẳng đứng
(3) đới nước chảy ngang, chảy ra các sông, suối nước mặt ở các thung lũng lớn (mực nước này còn gọi là cơ sở xâm thực địa phương, quyết định độ sâu karst hóa của khu vực)
Một phần nước mặt thấm xuống sâu cung cấp cho hệ thống nước ngầm karst - Nước ngầm karst lưu chuyển khá nhanh, từ miền cấp đến miền thoát chỉ mất vài giờ đến 1-2 ngày, và do vậy nó thường có thành phần hóa học giống nước mưa Cũng do vậy mà mực nước ngầm karst thường dao động rất lớn, và các thung lũng đá vôi thường bị úng ngập khi mưa lớn nhưng sau đó lại trở nên khô hạn rất
Trang 15nhanh - Mỗi hệ thống hang động ngầm chỉ có khả năng vận chuyển một lượng nước nhất định Khi mưa lớn, nước mặt dồn tụ lại nhanh, nhiều khi vượt quá khả năng này, vì vậy hay xảy ra úng ngập ở xung quanh các cửa hang thu nước
5.3 Các dạng địa hình Karst phổ biến
a Karren - là những địa hình karst rất phổ biến, gồm các hố, hốc, khe, rãnh v.v., hình thù kỳ dị, kích thước từ rất nhỏ (1-2 mm) đến khá lớn (5-10 m), lởm chởm, sắc nhọn, rất khó đi lại
b Phễu, lũng karst - là những nơi địa hình dạng phễu, kích thước hàng chục đến hàng trăm mét Phễu do sập đổ vòm hang thường có vách đứng, đáy có hang, hốc hút nước mặt, một phần bị phủ bởi sét, mùn cây và tảng lăn đá vôi
c Thung lũng karst - là những lũng karst kéo dài hàng chục kilômét, rộng có khi hàng nghìn mét, đáy có thể có nguồn lộ nước ngầm và dòng chảy mặt
tiêu nước Khi mưa lớn, nước các nơi đổ về, các hang này bị lấp tắc, không tiêu thoát kịp thì có thể xảy ra ngập úng như thấy ở Nậm La, Nậm Muội (Sơn La)
e Cánh đồng karst - là những cánh đồng bằng phẳng, có thể có dòng chảy mặt, gặp ở Thuận Châu (Sơn La), Tam Đường (Lai Châu), Quản Bạ (Hà Giang)
f Đồng bằng gặm mòn - có địa hình tương đối bằng phẳng, trên có các núi sót, gặp ở Cao Phong (Hòa Bình), Nà Sản, Mộc Châu, Mai Sơn (Sơn La) v.v
g Các dạng địa hình karst nổi cao - gồm các đỉnh, dãy, khối, tháp v.v., kích thước thay đổi, hình thù hết sức đa dạng, nổi cao giữa các dạng địa hình thấp
5.4 Cảnh quan Karst ở Việt Nam có 3 kiểu tiêu biểu:
các lũng, thung lũng xen giữa các đỉnh, dãy, cụm đỉnh nổi cao
Bình, Thanh Hóa v.v.) gồm các khối đá vôi sót nổi cao trên đồng bằng
c Cảnh quan karst Hạ Long là kiểu karst hỗn hợp có nguồn gốc lục địa bị biển xâm lấn, với vô số đảo nổi trên mặt nước biển