Có ba khía cạnh đối với cạnh tranh dựa trên thời gian phải được quản lý một cách chặt chẽ và tích hợp nếu tổ chức muốn trở nên nhanh nhẹn và nhạy bén hơn - và có lợi hơn: ●Thời điểm đưa
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong vài thập niên trở lại đây, dịch vụ logistics đã phát triển nhanh chóng và mang lại những kết quả rất tốt đẹp ở nhiều nước trên thế giới, điển hình như: Hà Lan, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Mỹ Dịch vụ logistics là ngành dịch vụ xuyên suốt quátrình sản xuất, phân phối lưu thông hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế Đây là một công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường
Dịch vụ Logistics là một quá trình “trọn gói” từ việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát hàng hóa đến nơi tiêu thụ cuối cùng là người tiêu dùng, nhằm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, an toàn, liên tục
và hiệu quả với chi phí thấp
Logistics bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau từ vận tải, xếp dỡ, kho bãi Cả nước hiện có 600 DN hoạt động trong lĩnh vực này Logistics với nhiều loại hình dịch vụ khác nhau góp phần giảm giá thành hàng hóa xuất khẩu, tăng cạnh tranh củahàng hóa và dịch vụ, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu
Một phân hệ hoàn chỉnh, cung cấp đầy đủ các thông tin về hàng hóa, nguyên vật liệu, sản phẩm trên toàn bộ hệ thống kho của công ty Doanh nghiệp có bao nhiêu kho tùy ý, nhưng sẽ không có gì bị bỏ quên Phân hệ này là công cụ hỗ trợ đắclực cho nhiệm vụ nhập, xuất, di chuyển nội bộ, kiểm kê và thực hiện các chức năng nghiệp vụ theo yêu cầu của doanh nghiệp
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự tăng củahoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư, dịch vụ logistics tại Việt Nam đang có bước phát triển mạnh mẽ và là một trong những ngành có tiềm năng phát triển rất lớn Gianhập ƯTO, bước vào sân chơi toàn cầu, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
logistics sẽ có cơ hội phát triển nhanh Tuy nhiên cũng sẽ có những khó khăn, thách
Trang 3thức bởi hiện nay quy mô của phần lớn các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn nhỏ, tiềm lực tài chính yếu nguồn nhân lực cũng hạn chế nhiều mặt, thiếu kinh nghiệm thương trường đồng thời theo cam kết gia nhập WTO, các công ty 100 % vốn nước ngoài sẽ được phép hoạt động tại Việt Nam Vì vậy, trong thời gian tới trong ngành dịch vụ logistics ở nước ta sẽ hứa hẹn sự cạnh tranh rất gay gắt Đi sâu nghiên cứu vấn đề này, em chọn đề tài: “Phân tích quy trình dịch vụ Logistics của doanh nghiệp Honda nhằm tăng lợi thế cạnh tranh dựa trên thời gian” Em cũng đã từng đi thực tế tại doanh nghiệp này.
Mục tiêu nghiên cứu
Để làm rõ đề tài, em tập trung đi vào nghiên cứu hai vấn đề sau:
- Cơ sở lý luận về cạnh tranh dựa trên thời gian nhằm giảm thời gian dẫn, thời gian chết để rút ngắn quy trình cho doanh nghiệp nhằm tiết kiệm được chi phí
- Thực trạng quy trình dịch vụ logistics của công ty Honda
Trang 4I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH DỰA TRÊN THỜI GIAN
1 Chu kỳ của tiền mặt
Chu kỳ tiền mặt được hiểu là thước đo tổng số tiền mặt bị khóa trong đường ống từ khi vật liệu hoặc linh kiện được mua từ nhà cung cấp đến khi thành phẩm được bán và tiền nhận được từ khách hàng
Một trong những đặc điểm đáng ngạc nhiên của chu kỳ tiền mặt là chu kỳ đó
có thể kéo dài bao lâu đối với nhiều công ty Đáng ngạc nhiên hơn nữa là thực tế là rất nhiều công ty không đo lường và quản lý các đường ống này
Chu kỳ tiền mặt, bao gồm: thời gian dẫn đầu mua sắm; thời gian vận chuyển; thời gian dành cho sản xuất, lắp ráp và vận hành; thời gian xử lý đơn hàng; thời giangiao hàng; và tất nhiên, thời gian chết và nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm đang ngồi yên như hàng tồn kho
Nếu thời gian trong đường ống có thể được nén lại, thì có khả năng cả chi phí
cố định và chi phí biến đổi đều có thể được giảm xuống do hồ sơ chi phí được thu hẹp Kết quả cuối cùng là lợi nhuận trên mỗi đơn vị lớn hơn, với khả năng, trong một thị trường nhạy cảm với thời gian, doanh số bán hàng lớn hơn
Có ba khía cạnh đối với cạnh tranh dựa trên thời gian phải được quản lý một cách chặt chẽ và tích hợp nếu tổ chức muốn trở nên nhanh nhẹn và nhạy bén hơn -
và có lợi hơn:
●Thời điểm đưa ra thị trường - doanh nghiệp mất bao lâu để nhận ra một cơ hội thị trường, chuyển điều này thành một sản phẩm hoặc dịch vụ và đưa nó ra thị trường?
●Thời gian phục vụ - mất bao lâu để nắm bắt được đơn đặt hàng của khách hàng và cung cấp hoặc cài đặt sản phẩm để làm hài lòng khách hàng?
●Thời gian để phản ứng - mất bao lâu để điều chỉnh đầu ra của kinh doanh trước nhu cầu biến động? Có thể bật hoặc tắt nhanh không?
Trang 5Thời điểm đưa ra thị trường:
●Chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn Điều này làm cho thời gian trở nên quan trọng
●Một DN tham gia muộn sẽ bỏ lỡ cơ hội bán hàng có thể bị các đối thủ cạnh tranh nắm bắt
●Một số công ty có thể nhận thấy rằng ngay khi các lô hàng của họ vào thị trường đang tăng nhanh, nhu cầu đã giảm xuống - có thể là do sự xuất hiệncủa công nghệ tiếp theo hoặc đề nghị cạnh tranh Kết quả có khả năng xảy ra
là công ty sẽ bị bỏ lại hàng tồn kho cũ hoặc lỗi thời, dẫn đến giảm giá hoặc thậm chí xóa sổ
Một trong những chìa khóa để đẩy nhanh thời gian tung ra thị trường là khả năng càng gần khách hàng càng tốt
●Hiểu biết về thị trường là điều kiện tiên quyết để đổi mới - nếu chúng
ta chậm “đọc” thị trường, thì việc chúng ta thiết kế và sản xuất sản phẩm nhanh đến đâu cũng không thành vấn đề
●Do đó, DN cần nghiên cứu thị trường liên tục để sẵn sàng đánh giá phản ứng của khách hàng ngay từ khi sản phẩm được tung ra thị trường và chuẩn bị sửa đổi sản phẩm nhiều lần nếu cần
Thời gian phục vụ:
●Thời gian phục vụ có thể được định nghĩa là thời gian trôi qua từ khi khách hàng bắt đầu đặt hàng cho đến khi giao hàng hoặc lắp đặt cuối cùng
●Chu kỳ đặt hàng ngắn có thể mang lại lợi thế cạnh tranh đáng kể
●Kết hợp chặt chẽ với nhu cầu của khách hàng để có thời gian giao hàng ngắn hơn là yêu cầu đối với độ tin cậy
Trang 6●Quy trình bốn bước sau có thể được sử dụng để tạo lợi thế:
●Trong một môi trường mà nhiều tổ chức đang tìm cách giảm thiểu hàng tồn kho của họ và quản lý trên tiêu chí JIT, các nhà cung cấp phải có khảnăng đảm bảo thời gian giao hàng - ngay cả khi khoảng thời gian thu hẹp tới một giờ
Thời gian để phản ứng:
●Sự thay đổi lên xuống đáng kể của nhu cầu hầu như không thể đoán trước được Nhiều sự thay đổi trong số này là do các hành động cạnh tranh, một số là do sự thay đổi về thị hiếu hoặc trào lưu của khách hàng, và một số là do tự gây ra hậu quả của hoạt động khuyến mại hoặctương tự
●Quản lý logistics trong những điều kiện này là không dễ dàng
và khả năng xảy ra tình trạng hết hàng hoặc ngược lại, tồn kho quá mức
B3: Có thể loại bỏ, giảm bớt hoặc chạy song song các hoạt động không gia tăng giá trị hay không?
B4: Tạo nhóm hoàn thành đơn hàng và đặt mục tiêu cải tiến quy trình
Trang 7Lý do tại sao rất nhiều hoạt động logistics phụ thuộc vào dự báo là thời gian thực hiện quá lâu
●Thời gian dẫn càng dài, doanh nghiệp càng tiến xa hơn cần dự báo
●Thời gian dẫn đầu ở đây đề cập đến thời gian cần thiết để đáp ứng với
sự thay đổi tăng hoặc giảm của nhu cầu Ví dụ, nếu có thời gian chờ bổ sung lâu cho nguyên liệu thô hoặc vật tư đóng gói, chúng tôi buộc phải cố gắng dự báo nhu cầu trong thời gian đó
Vấn đề là độ chính xác của dự báo có xu hướng thay đổi trực tiếp theo thời gian thực hiện
●Thời gian thực hiện càng dài, sai số dự báo càng lớn - thực sự thì sai
số có xu hướng tăng lên tương ứng với thời gian DN phải dự báo càng xa, và tất nhiên sai số dự báo là một trong những yếu tố quyết định chính đến nhu cầu về an toàn
2 Các chiến lược giảm thời gian dẫn
Rõ ràng là các bên có thể thu được một số lợi ích đáng kể nếu thời gian vận hành có thể được giảm bớt
Không chỉ giảm thời gian dẫn giải phóng vốn lưu động mà còn có thể cho phép phản ứng nhanh hơn và linh hoạt hơn
Để quản lý thời gian dẫn một cách chiến lược đòi hỏi sự hiểu biết về đặc điểmcủa mỗi sản phẩm Bởi, với hầu hết các sản phẩm sẽ không có cùng một thời gian dẫn mà là nhiều thời gian dẫn
Các nhà quản lý logistics tính toán giảm thời gian dẫn dựa trên phần tử di chuyển chậm nhất trong chuỗi để xác định tổng chiều dài đường ống (chu kỳ tiền mặt)
Phương pháp này là một dạng phân tích đường dẫn quan trọng trong nỗ lực đó
để rút ngắn thời gian đường ống nên tiếp tục bằng cách giảm thời gian dẫn dài nhất
Trang 8trong chuỗi Nó rất hữu ích để phân biệt giữa thời gian theo chiều ngang; và thời gian thẳng đứng
Thời gian theo chiều ngang là thời gian dành cho quá trình Đó có thể là thời gian vận chuyển, thời gian sản xuất hoặc lắp ráp, thời gian xử lý đơn hàng Có thể không nhất thiết phải là lúc giá trị khách hàng đang được tạo ra, nhưng ít nhất là điều gì đó đang diễn ra Còn một loại thời gian khác là thời gian thẳng đứng; đây là lúc không có gì xảy ra và do đó vật liệu hoặc sản phẩm đang đứng yên dưới dạng hàng lưu kho Không có giá trị nào được thêm vào trong thời gian dọc, chỉ có chi phí
Thời gian theo chiều ngang có thể là các quá trình thu thập nguyên liệu khác nhau, kéo sợi, đan, nhuộm, hoàn thiện, may, v.v để hoàn thành từ đầu đến cuối Điều này rất quan trọng, bởi vì thời gian theo chiều ngang xác định thời gian mà hệ thống cần để đáp ứng với sự gia tăng nhu cầu Do đó, nếu có sự gia tăng đột ngột về nhu cầu thì sẽ mất nhiều thời gian để sản lượng tăng lên một tầm cao mới Ngược lại, nếu nhu cầu suy giảm thì biện pháp quan trọng sẽ là khối lượng đường ống - tức
là tổng thời gian theo chiều ngang và chiều dọc (đứng) Do vậy, để giảm thời gian dẫn thì doanh nghiệp cần phân tích rất chi tiết bản đồ thời gian để giảm thời gian chết (đứng)
3 Thời gian giá trị gia tăng / thời gian không giá trị gia tăng
Một trong những lý do khiến các đường ống logistics có xu hướng dài hơn được lý giải bởi thời gian sản xuất và vận chuyển thực tế là do chúng ta tiêu tốn quá nhiều thời gian cho những gì chúng ta tính, và các hoạt động này không làm giatăng giá trị
Đây là những hoạt động trong đó, nếu có thể tìm ra cách để giảm thời gian dành cho chúng hoặc thậm chí loại bỏ chúng, sẽ không có sự giảm giá trị đáng kể nào từ quan điểm của khách hàng
Trang 9Ví dụ: Thời gian xử lý một đơn đặt hàng hay quản lý để giảm lượng hàng trong kho, miễn là không dẫn đến tình trạng hết hàng nhiều hơn, sẽ không làm giảm giá trị của khách hàng mặc dù chắc chắn nó sẽ làm giảm chi phí.
Điểm khởi đầu tốt cho các dự án rút ngắn thời gian là phân tích đường dẫn từ đầu đến cuối, phân loại từng bước trong chuỗi về việc liệu giá trị khách hàng đang được tạo ra ở bước đó hay chỉ đơn thuần là chi phí
Công nghệ sản xuất hiện đại, tự động hóa cho phép sản phẩm được sản xuất trong thời gian ngắn và nguy cơ tồn kho tang cao
Cần tái thiết kế quy trình logistics để tìm cách giảm các thành phần không gia tăng giá trị trong tổng thời gian vận hành
Có thể có những tác động chi phí cần được cân nhắc trong sự cân đối, nhưng thường xuyên hơn việc không tăng tốc các quy trình, dẫn đến việc giảm đáng kể chi phí tổng thể cũng như giảm tổng hàng tồn kho của hệ thống
4 Tái thiết kế quy trình logistics
Có quan điểm cho rằng, Tái thiết kế quy trình kinh doanh là một mốt quản lý khác với trọng tâm chủ yếu là giảm chi phí và tổng chi phí Đây là một điều đáng tiếc, vì tái thiết kế quy trình kinh doanh, về cơ bản là đơn giản hóa và giảm các hoạt động không gia tăng giá trị, để cung cấp cho các tổ chức tìm cách đáp ứng nhiều hơnnhu cầu của khách hàng
Doanh nghiệp có nhiều hệ thống và thủ tục, không phải lúc nào cũng ăn khớp với nhau, và chắc chắn lượng thời gian liên quan từ đầu đến cuối đã tăng lên đáng
kể Thách thức đối với việc tái thiết kế quy trình hậu cần là tìm cách đơn giản hóa các hệ thống này
Tự động hóa và công nghệ đã hỗ trợ rất nhiều trong việc tăng tốc các quy trình logistics, nhưng không nhất thiết phải đơn giản hóa chúng
Trang 10Có thể tìm thấy cơ hội nén thời gian thông qua việc loại bỏ các giai đoạn trong một chuỗi phân phối đa cấp độ
Logic ban đầu của sự sắp xếp này là chi phí vận tải có thể được giảm thiểu bằng cách vận chuyển số lượng lớn và các thị trường xa nên duy trì hàng lưu kho để trang trải thời gian vận chuyển dài Việc giữ lại kho trung gian hiếm khi làm tăng thêm giá trị của khách hàng (chỉ khi một số hình thức hoạt động chia nhỏ, đóng gói hoặc cấu hình cuối cùng có liên quan) Loại bỏ các bước này sẽ làm giảm tổng chi phí kiểm kê, xử lý và kho hàng của hệ thống, và tất nhiên sẽ giảm thời gian thực hiện Trong khi chi phí vận chuyển có thể tăng, lợi ích chung từ cả quan điểm dịch
Chìa khóa để giảm khoảng cách thời gian dẫn không chỉ nằm ở việc giảm tổng thời gian của đường ống mà còn ở việc đạt được cảnh báo sớm hơn về các yêu cầu của khách hàng
Cạnh tranh dựa trên thời gian hiện đang được chấp nhận rộng rãi như một cơ
sở mạnh mẽ để đạt được lợi thế trong các thị trường đầy biến động và trong một môitrường được đặc trưng bởi việc rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm
II THỰC TRẠNG QUY TRÌNH DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA CÔNG TY HONDA
1.Giới thiệu về Honda
Tên tuổi Honda không chỉ quen thuộc với người Việt Nam mà còn là một thương hiệu nổi tiếng trên khắp thế giới bởi đây là một hãng xe Nhật Bản có lịch sử hình thành – phát triển đầy thăng trầm và đáng nể Nhãn hiệu xe máy Honda gắn
Trang 11liền với tên tuổi và cuộc đời của một người đàn ông đầy đam mê và nhiệt huyết, ông chính là Soichiro Honda Từ ước mơ và sự thành công của mình ông đã có những đóng góp to lớn trong việc “đưa những phương tiện di chuyển của con người lên một tầm cao mới”
Thương hiệu Honda được sáng lập bởi Soichiro Honda Ông sinh ngày
17/11/1906 tại Yamahigashi, làng Komyo (nay là Tenryu) Năm 1980, Soichiro Honda được bình chọn vào danh sách “Top 25 nhân vật tiêu biểu của năm” và được
ví như “Henry Ford của Nhật Bản” bởi Tạp chí People danh tiếng của Mỹ
Niềm đam mê với ô tô của Soichiro Honda đã sớm được hình thành từ nhỏ, khởi đầu là lòng yêu thích nghề cơ khí bởi cha của ông chính là một thợ rèn Năm 15tuổi, Soichiro Honda mới có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với những chiếc ô tô nhờ theo cha làm giúp việc tại một cửa hàng sửa chữa ô tô có tên là Art Shokai
Những người có cơ hội tiếp xúc với Soichiro Honda đều đánh giá ông là một người có gu thẩm mỹ tốt, nhất là trong cách ăn mặc
Trong công việc, Soichiro Honda là một người rất khắt khe, nóng tính và công
tư phân minh Chính những tính cách này đã giúp ông trở có thể gầy dựng được một
đế chế hùng mạnh
Đầu những năm 1940, hãng Honda được thành lập nhưng chưa phải là một tên tuổi lớn Lúc này hãng chỉ đơn thuần là một công ty kinh doanh motor máy Thử thách đầu tiên mà ông Soichiro Honda gặp phải chính là làm sao để tiêu thụ một số lượng lớn những động cơ hai thì dư thừa sau thế chiến thứ II – do chính phủ đề nghị.Đây thật sự là một bài toán khó vì loại động cơ này vào thời đó khá hiện đại và đắt tiền, sử dụng lại rất hao tốn nhiên liệu trong khi sự tàn phá của chiến tranh làm cho nguồn cung nhiên liệu cho người dân rất hạn chế Sau nhiều đêm suy nghĩ, cuối cùng ông Soichiro Honda đã có một quyết định táo bạo Ông đem những động cơ kia cải tiến lại để gắn vào những chiếc xe đạp, như thế giá thành sẽ hạ và dễ tiêu thụ hơn Bắt tay vào kế hoạch, đến tháng 10 năm 1946, xưởng sản xuất ở Hamamatsu đãhoàn thiện sản phẩm “mô tô đầu tiên” có cả pedal và bàn đạp nổ Riêng để đối phó