1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tại sao nói “quy chế pháp lí hành chính của người nước ngoài ở Việt Nam hạn chế hơn so với công dân Việt Nam”? Anhchị hãy lấy và phân tích ví dụ chứng minh cho nhận định trên; Anhchị hãy phân biệt hộ chiếu và thị thực theo quy định pháp luật hiện hành.

10 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài ở Việt Nam hạn chế hơn so với công dân Việt Nam: Về lĩnh vực hành chính chính trị, năng lực pháp lí hành chính của người nước ngoài so với công dân Việt Nam hạn chế hơn: không có quyền bầu cử, ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước như công dân Việt Nam; không có quyền tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước với tư cách là cán bộ, công chức; không có quyền tự do cư trú, đi lại. Về lĩnh vực kinh tếxã hội: đối với quyền tự do lao động, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam mặc dù có quyền lao động nhưng họ không được tự do chọn lựa nghề nghiệp; đối với quyền tự do kinh doanh, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam chỉ được kinh doanh trong một số ngành nghề nhất định theo pháp luật Việt Nam; đối với quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch, người nước ngoài thì không được xây dựng nhà ở ở Việt nam, nếu muốn phải có sự đồng ý từ phía Việt Nam thì mới được thực hiện.

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHÂN

MÔN: Luật hành chính

1 Tại sao nói “quy chế pháp lí hành chính của người nước ngoài ở Việt Nam hạn chế hơn so với công dân Việt Nam”? Anh/chị hãy lấy và phân tích

ví dụ chứng minh cho nhận định trên (2 điểm)

Để hiểu vì sao nói “quy chế pháp lí hành chính của người nước ngoài ở Việt Nam hạn chế hơn so với công dân Việt Nam” trước hết, em xin trình bày các khái niệm như sau:

Người nước ngoài là người có quốc tịch của một quốc gia khác đang lao động,

học tập, công tác, sinh sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoản 5, điều 3 luật quốc tịch Việt Nam 2008: “Người nước ngoài cư trú

ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc

tạm trú ở Việt Nam”)

Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam (Khoản 1 Điều 17 Hiến Pháp năm 2013: “Công dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người

có quốc tịch Việt Nam”; Điều 1 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008: “Ở nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch… Mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam”)

Quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài là tổng thể quyền và nghĩa

vụ của họ trong quản lý hành chính nhà nước, được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác (Điều 48,49 Hiến pháp năm 2013, Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam ngày 28/04/2000, Pháp lệnh ưu đãi miễn trừ ngoại giao năm 1993 dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam)

Quy chế pháp lý hành chính của công dân là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của

công dân trong quản lý hành chính nhà nước được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được đảm bảo thực hiện trong thực tế

Trang 2

Nhìn chung, quy chế pháp lý hành chính của người nước ngoài ở Việt Nam hạn chế hơn so với công dân Việt Nam:

Về lĩnh vực hành chính - chính trị, năng lực pháp lí hành chính của người nước

ngoài so với công dân Việt Nam hạn chế hơn: không có quyền bầu cử, ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước như công dân Việt Nam; không có quyền tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước với tư cách là cán bộ, công chức; không

có quyền tự do cư trú, đi lại

Về lĩnh vực kinh tế-xã hội: đối với quyền tự do lao động, người nước ngoài cư

trú ở Việt Nam mặc dù có quyền lao động nhưng họ không được tự do chọn lựa nghề nghiệp; đối với quyền tự do kinh doanh, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam chỉ được kinh doanh trong một số ngành nghề nhất định theo pháp luật Việt Nam; đối với quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch, người nước ngoài thì không được xây dựng nhà ở ở Việt nam, nếu muốn phải có sự đồng ý từ phía Việt Nam thì mới được thực hiện

Về lĩnh vực văn hóa-xã hội: đối với quyền học tập, người nước ngoài cư trú ở

Việt Nam được vào học tại các trường học Việt Nam trừ một số trường đại học, trường chuyên nghiệp hoặc một số ngành học trong các trường có liên quan đến

an ninh, quốc phòng

Nguyên nhân của sự hạn chế này là bởi nguyên tắc quốc tịch bảo đảm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam được quy định trong Luật quốc tịch của

nước Việt Nam Theo Điều 1 Luật Quốc Tịch Việt Nam năm 2008: “Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam” Như vậy người nước ngoài là

người không có quốc tịch Việt Nam cho nên quyền và nghĩa vụ đối với Nhà nước Việt Nam có sự khác biệt và hạn chế hơn so với Công dân Việt Nam vì lý

do nhằm bảo đảm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, bảo đảm an

Trang 3

việc tham gia vào quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở những quyền và nghĩa

vụ của họ theo quy định của pháp luật Việt Nam

Ví dụ: Người nước ngoài không được hưởng quyền bầu cử, ứng cử vào cơ quan

quyền lực nhà nước bởi quyền tham gia bầu cử, ứng cử là quyền và nghĩa vụ của

công dân đã được quy định tại Điều 27 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu

cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân” Quyền bầu cử, là một quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp,

pháp luật quy định, bảo đảm thực hiện Bầu cử là một thể chế dân chủ đã có từ lâu Nhà nước ta là nhà nước của dân, do nhân dân và vì nhân dân bởi nhân dân

tổ chức ra nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước, trực tiếp

bỏ phiếu tín nhiệm bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước, góp phần tham gia việc thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội Quyền ứng cử cũng là quyền cơ bản của công dân, thể hiện được tính chất trực tiếp của việc công dân tham gia vào quản lý nhà nước (ứng cử vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước

để có thể trực tiếp quản lý, xây dựng đất nước) Như vậy, người nước ngoài không phải công dân Việt Nam nên không được hưởng quyền này vì lí do đảm bảo độc lập, chủ quyền quốc gia, một nhà nước của dân do dân, vì dân

2 Anh/chị hãy phân biệt hộ chiếu và thị thực theo quy định pháp luật hiện hành (2 điểm)

Chúng ta có thể phân biệt hộ chiếu và thị thực theo quy định pháp luật hiện hành dựa trên những tiêu chí như sau:

Về khái niệm, pháp luật hiện hành quy định:

Khoản 3 Điều 2 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019:

“Hộ chiếu là giấy tờ thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp cho công dân Việt Nam sử dụng để xuất cảnh, nhập cảnh, chứng minh quốc tịch và nhân thân.”

Trang 4

Khoản 11 Điều 3 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước

ngoài tại Việt Nam năm 2014: “Thị thực là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, cho phép người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam” Theo Luật Xuất nhập cảnh của công dân Việt Nam 2019 (Điều 6), có 4 loại hộ chiếu bao gồm: hộ chiếu phổ thông - loại hộ chiếu phổ biến cho mọi công dân Việt Nam; hộ chiếu công vụ - được cấp cho các quan chức chính phủ khi ra nước ngoài thực hiện công vụ của nhà nước giao; hộ chiếu ngoại giao - dành

cho những người giữ chức vụ cấp cao trong hệ thống cơ quan của Đảng và Nhà nước như Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch UBND cấp tỉnh trở lên; Bộ trưởng, Thứ trưởng của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

Theo Điều 8 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 (sửa đổi 2019), có 27 loại thị thực (NG1, NG2, NG3, )

Về nơi cấp, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu phổ thông và nhận kết quả

tại Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương nơi thường trú hoặc tạm trú (Điều 4 và Điều 5 Thông tư số 29/2016/TT-BCA của Bộ Công An, ngày 06/7/2016 hướng dẫn việc cấp, sửa đổi, bổ sung hộ chiếu phổ thông ở trong nước cho công dân Việt Nam) Hộ chiếu công vụ, ngoại giao do Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và Sở Ngoại vụ, ở nước ngoài là cơ quan

đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan khác được ủy quyền

thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (Điều 2 Thông tư số 03/2016/TT-BNG của Bộ Ngoại giao ngày 30/6/2016 hướng dẫn việc cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ và cấp công hàm

đề nghị cấp thị thực) Với thị thực, cơ quan có thẩm quyền cấp thị thực nhập cảnh Việt Nam được xác định theo Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 như sau:

Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự): Cấp, sửa đổi, bổ sung và hủy bỏ thị thực cho người nước ngoài hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự ( bao gồm thành viên cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ

Trang 5

cùng đi); Cấp phép nhập cảnh Việt Nam cho các khách nước ngoài vào Việt

Nam theo lời mời của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch Nước, Chính phủ

và khách mời cấp tương đương của Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ

tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (khoản 1 Điều 3 Thông tư số 04/2016/TT-BNG hướng dẫn thủ tục cấp thị thực, gia hạn tạm trú, cấp thẻ tạm trú cho người nước ngoài tại Việt Nam thuộc thẩm quyền của Bộ Ngoại giao)

Bộ Công an (Cục Quản lý xuất nhập cảnh): Cấp, sửa đổi, bổ sung và hủy bỏ thị thực và cấp phép nhập cảnh cho các đối tượng khác có cơ quan, tổ chức, cá nhân

ở Việt Nam mời, đón

Các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài: Cấp, bổ sung, sửa đổi và hủy bỏ thị thực theo phép nhập cảnh của Bộ Ngoại giao và Bộ Công an; Quyết định việc cấp thị thực cho người nước ngoài không có cơ quan, tổ chức, cá nhân

ở Việt Nam mời, đón

Hộ chiếu là giấy tờ có trước, là một trong những tài liệu quan trọng, cần để được cấp thị thực Thông thường, thị thực thường được cấp bằng cách đóng dấu hoặc dán vào hộ chiếu tùy theo quy định của các nước khác nhau Tại Việt Nam, theo

khoản 2 Điều 1 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quả cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi 2019, thị thực được cấp vào hộ chiếu, cấp rời hoặc

cấp qua giao dịch điện tử Thị thực cấp qua giao dịch điện tử là thị thực điện tử

3.Anh/chị hiểu thế nào là “hộ chiếu vắc-xin”? (1 điểm)

“Hộ chiếu vắc-xin " thực chất là giấy chứng nhận đã tiêm chủng đầy đủ các mũi vắc-xin phòng COVID-19 theo quy định, được điều chỉnh theo Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm và Điều lệ kiểm dịch y tế quốc tế1 "Hộ chiếu vắc-xin" COVID-19 cho phép người dân có thể đi lại trong nước, quốc tế mà không phải cách ly, không phải xét nghiệm Covid-19 hoặc giảm thời gian cách ly

Trang 6

4 Hiện nay Chính phủ Việt Nam đã chấp nhận “hộ chiếu vắc-xin” chưa? Phân tích những căn cứ pháp lí hiện hành để Chính phủ Việt Nam có thể chấp nhận “hộ chiếu vắc-xin” (2 điểm)

Thời điểm hiện tại, Chính phủ Việt Nam chưa chấp nhận “hộ chiếu vắc-xin” Bởi hiện nay tỷ lệ tiêm vắc-xin của Việt Nam chưa đạt yêu cầu do khan hiếm vắc-xin và nhiều lý do khác Vì vậy, miễn dịch cộng đồng của người dân Việt Nam rất thấp Nếu triển khai hộ chiếu vắc-xin mà không quản lý chặt với người

đã được tiêm vắc-xin vào Việt Nam, có thể làm lây nhiễm virus ra cộng đồng, nguy cơ không kiểm soát được Hơn nữa, hiện tại vẫn chưa có sự thống nhất ở phạm vi quốc tế về những tiêu chuẩn đối với hộ chiếu vắc-xin

Tuy nhiên, việc xem xét triển khai hộ chiếu vắc-xin để giảm thời gian cách ly tập trung đối với người nhập cảnh vào Việt Nam cũng như tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam xuất cảnh ra nước ngoài cũng rất cần thiết Vấn đề triển khai hộ chiếu vắc-xin sẽ hỗ trợ từng bước việc mở lại đường bay thương mại quốc tế cần có sự kiểm soát, đồng thời tạo điều kiện các chuyên gia vào Việt Nam để giúp chúng ta phát triển kinh tế

Vậy để Chính phủ Việt Nam có thể chấp nhận “hộ chiếu vắc-xin” thì dựa trên những căn cứ pháp lý hiện hành như sau:

Điều 23, 33, 35, 38 Hiến Pháp năm 2013 quy định về quyền tự do đi lại, quyền

tự do kinh doanh, quyền tự do lao động, quyền được đảm bảo về sức khỏe “Hộ chiếu vaccine” nhằm bảo đảm các quyền tự do cơ bản của con người, công dân được thực hiện

Quyền được chăm sóc sức khỏe được quy định tại Điều 25 của Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người năm 1948 và Điều 12 Công ước quốc tế về các quyền

kinh tế, xã hội và văn hóa: “Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được hưởng một tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể được”; “Biện pháp ngăn ngừa, xử lý và hạn chế các dịch bệnh, bệnh ngoài da, bệnh nghề nghiệp và các loại bệnh khác chính là nghĩa vụ

Trang 7

quốc, việc Chính phủ Việt Nam chấp nhận “hộ chiếu vaccine” là một biện pháp bảo đảo sức khỏe cộng đồng, thực hiện đúng cam kết của các bản công ước Khoản 3 Điều 2 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019:

“Hộ chiếu là giấy tờ thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp cho công dân Việt Nam sử dụng để xuất cảnh, nhập cảnh, chứng minh quốc tịch và nhân thân” Giấy chứng nhận tiêm chủng

vaccine đáp ứng đầy đủ điều kiện để có thể được chấp nhận như là hộ chiếu: chứng nhận tiêm chủng đầy đủ số mũi vaccine theo quy định, chứng minh nhân thân, lịch sử tiêm chủng, chứng minh các đặc điểm nhận dạng (tên, tuổi, hình ảnh chân dung, ) Mục đích của loại giấy chứng nhận tiêm chủng này cũng để

có thể sử dụng để xuất cảnh, nhập cảnh (chứng minh đủ điều kiện về sức khỏe:

đã được tiêm chủng vắc-xin phòng COVID-19, không mắc, khả năng mắc thấp bệnh truyền nhiễm cụ thể là Covid 19, không hoặc khả năng thấp mang nguồn bệnh lây nhiễm vào nước nhập cảnh)

Khoản 1 Điều 47 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước

ngoài tại Việt Nam năm 2014: “Chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ liên quan thực hiện quản lý nhà nước về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.” Căn cứ

quy định này, Bộ Công An phối hợp với Bộ y tế cấp “hộ chiếu vắc-xin”, quản lý hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú, đảm bảo tính xác thực, hiệu quả của hộ chiếu vắc-xin

Khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2019 sửa đổi điều 20 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại

Việt Nam năm 2014 : “Người nước ngoài được nhập cảnh khi có đủ các điều kiện sau đây: Có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế và thị thực, trừ trường hợp được miễn thị thực theo quy định của Luật này, không thuộc trường hợp chưa cho nhập cảnh quy định tại Điều 21 của Luật này” Căn cứ quy định

này, giấy chứng nhận tiêm chủng vắc-xin Covid 19 có thể được chấp nhận làm

Trang 8

căn cứ chứng minh người nhập cảnh đáp ứng đủ điều kiện về tiêm chủng để đi lại quốc tế, xuất, nhập cảnh hoặc để được ưu tiên đối với thời gian cách ly

Điều 21 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại

Việt Nam năm 2014 quy định các trường hợp chưa cho nhập cảnh, Khoản 8 Điều 36 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 quy định

trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh: “Người đang bị dịch bệnh nguy hiểm lây lan, truyền nhiễm và xét thấy cần ngăn chặn ngay, không để dịch bệnh lây lan, truyền nhiễm ra cộng đồng, trừ trường hợp được phía nước ngoài cho phép nhập cảnh” Căn cứ quy định này, “Hộ chiếu vắc-xin” chứng minh được người

không thuộc trường hợp không cho nhập cảnh vì lí do mắc bệnh truyền nhiễm hay vì lý do phòng chống dịch bệnh Bởi họ đã đạt yêu cầu về y tế (không mắc, khả năng mắc thấp bệnh truyền nhiễm cụ thể là Covid 19, không hoặc khả năng thấp mang nguồn bệnh lây nhiễm vào nước nhập cảnh)

Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại

Việt Nam ngày 28/04/2000: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi đối với việc nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh của người nước ngoài; bảo hộ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam trên cơ sở pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia”.

Theo quy định này, việc công nhận “hộ chiếu vắc-xin” tạo điều kiện thuận lợi đối với việc nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh của người nước ngoài vào Việt Nam thể hiện sự hữu nghị đối với công dân của các nước bạn Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi, nhanh chóng cho họ vào Việt Nam đầu tư, sản xuất, kinh doanh thúc đẩy phát triển kinh tế

5 Theo anh/chị, việc chấp nhận “hộ chiếu vắc-xin” có gây ra tình trạng bất bình đẳng giữa người có “hộ chiếu vắc-xin” và người không có “hộ chiếu vắc-xin” không? Giải pháp của anh/chị cho vấn đề này? (3 điểm)

Trang 9

Thực tế là có nhiều người không thể tiêm chủng vắc-xin COVID-19 vì những lý

do khác nhau (không đủ kinh phí, dị ứng với những thành phần, không đủ điều kiện sức khỏe, chưa sẵn sàng cho việc tiêm vắc-xin) nên việc áp dụng hộ chiếu vắc-xin sẽ có thể tạo ra sự phân biệt đối xử Bởi hiện nay, vắc-xin không có sẵn

ở khắp mọi nơi, vắc-xin COVID-19 chưa được phân bổ rộng khắp và công bằng đối với tất cả các nước Thực tế, một số nước chưa có đủ điều kiện để triển khai tiêm vắc-xin (thậm chí như Châu Phi các bác sĩ tuyến đầu cũng chưa được tiếp cận với vắc-xin) trong khi đã có những nước tiến hành tiêm đủ 2 mũi vắc-xin cho đa số người dân và bắt đầu thực hiện tiêm mũi củng cố để ngừa biến chủng mới Như vậy, việc áp dụng “hộ chiếu vaccine” dẫn đến tình trạng phân biệt đối

xử Ví dụ đơn giản chỉ những người có hộ chiếu vắc-xin mới được đi du lịch, tham gia các hoạt động cồng động, sản xuất, kinh doanh,… Điều này rất có thể xâm phạm đến quyền con người (quyền tự do đi lại, quyền lao động) Hơn nữa, trong trường hợp áp dụng hộ chiếu vắc-xin ở dạng ứng dụng trên điện thoại thông minh, một số người sẽ không thể sử dụng chúng Thêm vào đó, hộ chiếu vắc-xin sẽ ghi lại dữ liệu sức khỏe cá nhân, bởi vậy, việc không bảo vệ những thông tin này sẽ tạo ra nguy cơ gian lận, giả mạo, phân biệt đối xử và vi phạm quyền riêng tư

Theo em, thứ nhất, chỉ nên áp dụng hộ chiếu vắc-xin khi nguồn vắc-xin đã được phân bổ rộng khắp, bình đẳng cho các nước trên thế giới, đảm bảo đa số người dân đều có điều kiện để tiếp cận với vắc-xin Thực tế, đại dịch COVID-19 chỉ có thể bị đẩy lùi khi cộng đồng quốc tế đạt được sự hợp tác trên quy mô toàn cầu Thứ hai, các nhà sản xuất nên chuyển sự tập trung phục vụ mũi thứ 3 cho các nước giàu sang cung cấp vắc-xin cho chương trình “Chia sẻ vắc-xin Covax”, chủ yếu dành cho các nước có thu nhập trung bình thấp

DANH MỤC THAM KHẢO

https://vtv.vn/the-gioi/nhieu-y-kien-trai-chieu-ve-viec-ap-dung-ho-chieu-vaccine20210113065703146.htm?

Trang 10

3 Hiến Pháp năm 2013

4 Luật quốc tịch Việt Nam 2008

5 Luật xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019

6 Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 (sửa đổi 2019)

7 Thông tư số 29/2016/TT-BCA của Bộ Công An, ngày 06/7/2016 hướng dẫn việc cấp, sửa đổi, bổ sung hộ chiếu phổ thông ở trong nước cho công dân Việt Nam

8 Thông tư số 03/2016/TT-BNG của Bộ Ngoại giao ngày 30/6/2016 hướng dẫn việc cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung hộ chiếu ngoại giao, hộ chiếu công vụ và cấp công hàm đề nghị cấp thị thực

9 Thông tư số 04/2016/TT-BNG hướng dẫn thủ tục cấp thị thực, gia hạn tạm trú, cấp thẻ tạm trú cho người nước ngoài tại Việt Nam thuộc thẩm quyền của

Bộ Ngoại giao

10 Giáo trình Luật Hành chính, NXB Công An Nhân Dân năm 2019

Ngày đăng: 25/12/2021, 21:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w