1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG HIỆP ĐỊNH GENÈVA 1954 VỀ KẾT THÚC CHIẾN TRANH, LẬP LẠI HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG

24 375 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 82,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC CHƯƠNG 1. HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 5 1.1. Bối cảnh lịch sử 5 1.2. Thành phần tham dự 7 1.3. Lập trường và quan điểm các bên tham dự 7 1.3.1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 7 1.3.2. Pháp 9 1.3.3. Liên Xô 9 1.3.4. Hoa Kỳ 10 1.3.5. Trung Quốc 10 1.3.6. Anh 10 1.4. Diễn biến hội nghị 11 1.5. Nội dung cơ bản của Hiệp định Genève 1954 12 1.6. Giai đoạn hậu hiệp định 13 CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ VỀ HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 16 2.1. Thành công của Hiệp định Genève 1954 16 2.1.1. Thành công của Hiệp định Genève 1954 đối với Việt Nam 16 2.1.2. Thành công của Hiệp định Genève 1954 đối với Lào, Campuchia 17 2.1.3. Ý nghĩa của Hiệp định Geneve: một số điểm chính 17 2.2. Hạn chế của Hiệp định Genève 1954 18 CHƯƠNG 3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO HIỆN TẠI 20 3.1. Ngoại giao chỉ phát huy sức mạnh tối đa khi kết hợp sức mạnh của đất nước trên mọi phương diện 20 3.2. Bài học “dĩ bất biến ứng vạn biến” theo tư tưởng Hồ Chí Minh 20 3.3. Bài học trong việc đánh giá chính xác tình hình quốc tế, chiến lược, thái độ của các nước lớn để tìm ra đối sách phù hợp nhất, đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc trong công tác ngoại giao 21 3.4. Bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại 22 3.5. Trong đấu tranh ngoại giao, số phận của dân tộc mình phải do chính mình tự định đoạt 22   LỜI MỞ ĐẦU Tổng thư ký Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Dương Trung Quốc đã nói “ Nếu nhận thức rằng lịch sử là cái tất yếu được định vị bằng thời gian của cái đã qua và ngoại giao là cái tất yếu phản ánh tương quan và lợi ích của những bên tham gia, thì không thể đánh giá sự kiện Geneva 1954 cách đây nửa thế kỷ bằng tâm thức của ngày hôm nay. Không thể đòi hỏi một nền ngoại giao của một quốc gia từ trong rừng sâu của chiến khu lần đầu tiên đến một nghị quốc tế với sự tham dự của những cường quốc lớn nhất của hai khối chính trị đối địch nhau giữa thời chiến tranh lạnh, lại có ngay được một tư thế hoàn toàn độc lập, tự chủ trong mọi quyết định trên bàn đàm phán” . Ý nghĩa to lớn và những bài học quý báu của hiệp định Geneva sẽ trường tồn cùng thế giới, được nhân lên và phát huy hơn nữa trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. E. Smith Gravel đã tuyên bố: “ Hiệp định Geneva là một kết quả tốt nhất mà chúng ta có thể đạt được. Nên nhớ rằng rất hiếm có trường hợp mà ngoại giao có thể giành được trên bàn hội nghị những gì không thể giành được hoặc giữ được trên chiến trường.”. Hội nghị Geneva là một điểm sáng trong suốt tiến trình cách mạng của nhân dân ta, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta tiếp tục cuộc đấu tranh đi tới thống nhất đất nước năm 1975 sau này. Hội nghị là sự kiện quốc tế quan trọng có ảnh hưởng to lớn đối với quan hệ quốc tế, được các nước và thế giới quan tâm. Mặc dù với những ý nghĩa, những thắng lợi to lớn vĩ đại không thể phủ nhận nhưng vẫn còn những quan điểm cho rằng thắng lợi đạt được ở Geneva chưa trọn vẹn, ta có thể đạt được nhiều hơn, như nữ luật gia người Pháp L.A. Belexa viết: “Nếu chúng ta đi sâu vào chi tiết các cuộc thương lượng, chúng ta sẽ nhận thấy rằng các điều khoản của hiệp định chỉ để nhằm làm thỏa mãn các cường quốc...”. Như vậy, hiệp định Geneva có thật thỏa đáng không? Có phản ánh đúng thắng lợi của ta trên chiến trường và so sánh lực lượng lúc đó không? Bài tiểu luận “Hiệp định Geneva 1954 về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình Đông Dương” sẽ đưa ra bức tranh toàn cảnh bàn về những vấn đề xung quanh hội nghị này. Bài tiểu luận của chúng em được chia thành 3 chương: Chương I: Hiệp định Geneve 1954 Chương II: Đánh giá về Hiệp định Geneve 1954 Chương III: Bài học kinh nghiệm cho hiện tại Chúng em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Tố Uyên đã giúp đỡ chúng em hoàn thành bài tiểu luận này CHƯƠNG 1. HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 1.1. Bối cảnh lịch sử Tháng 7 năm 1953,tướng Henri Navarre, chỉ huy mới của quân Pháp, đến Đông Dương. Với sự hứa hẹn của Mỹ về việc tăng viện trợ quân sự, một cuộc tổng phản công được chuẩn bị bởi vị chỉ huy mới này, báo chí Pháp và Mỹ gọi là Kế hoạch Navarre. Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Navarre hai cuộc hành quân nhằm phá hủy được một số dụng cụ và máy móc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là cuộc hành quân Hirondelle (Con én) vào Lạng Sơn và cuộc hành binh Camargue vào Quảng Trị. Ở Lạng Sơn, quân Pháp lùng sục các kho tàng rồi vội vã rút chạy. Sau đó, Pháp lại loan tin quân đội đã diệt được hai tiểu đoàn, một số căn cứ trong khu tam giác là mối đe dọa trên quốc lộ số 1. Trước đây, năm 1952, Nà Sản được Pháp chọn làm địa điểm để ngăn Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công quân Pháp ở Lào. Tuy nhiên, sau liên tiếp với hai cuộc hành quân trên, tới ngày 9 tháng 8 năm 1953, Pháp rút quân ra khỏi Nà Sản bằng không vận.. Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Pháp mở Cuộc hành quân Moutte vào Ninh Bình và Thanh Hóa hòng đoạt lại thế chủ động trên chiến trường chính. Mục đích chính là phá các căn cứ hậu cần tiền duyên của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc tiến công 1953–1954 được cho là sẽ diễn ra ở đồng bằng. Tuy nhiên, thực tế trong kế hoạch Quân đội Nhân dân Việt Nam được đề ra hồi tháng 9, đồng bằng Bắc Bộ chỉ đơn giản là chiến trường phối hợp. Cuộc hành quân Moutte chỉ là sự suy đoán sai lầm của Navarre khi bị đánh lừa bởi xuất sắc của bộ đội mật mã Việt Nam. Tháng 11 năm 1953, cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ – Khu vực được Navarre cho là vị trí chiến lược chặn lại tuyến đường chính của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang Lào. Theo đó, căn cứ này vừa là một vị trí khóa chặn, vừa là một cái bẫy để nhử đối phương vào một trận đánh lớn theo kiểu kinh điển mang tính chất quyết định mà tại đó Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ bị tiêu diệt bởi ưu thế pháo binh và hỏa lực không quân của Pháp. Điện Biên Phủ vùng đất nằm trong một thung lũng lớn, cách Hà Nội 200 dặm đường không, được chọn làm căn cứ chính và sẽ được chi viện của khoảng 400 máy bay. Sau những trận đánh nống thất bại, quân Pháp đã nhường các điểm cao xung quanh cho Quân đội Nhân dân Việt Nam, Navarre suy đoán rằng Quân đội Nhân dân Việt Nam không đủ khả năng đưa pháo lên Điện Biên Phủ nên nguy hiểm gì từ các điểm cao là không thể. Navarre xem Điện Biên Phủ như là một cái nhọt tụ độc, hút hết phần lớn chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam và đảm bảo an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ. Với tình hình khi đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghĩ tới một cuộc tấn công, hy vọng sẽ mở được một con đường xuyên Lào thọc qua Campuchia. Từ đó, đưa lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Bắc vào chi viện bổ sung cho lực lượng sẵn có ở Nam Bộ. Tháng 11 năm 1953, Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức một cuộc họp, các chỉ huy quân sự nhất trí mở Chiến cục đông xuân 1953–1954 nhằm xé lẻ khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồng bằng Bắc Bộ. Vị trí tiến công được xác định ở Tây Bắc và Thượng Lào, Trung và Hạ Lào, cuối cùng là Tây Nguyên. Ý tưởng tuyến đường chiến lược xuyên Lào sẽ được thực hiện một phần trong tương lai thông qua con đường mòn Hồ Chí Minh. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nắm giữ mảng lớn còn lại của vùng Tây Bắc và phần lớn vùng Trung và Nam Lào thông qua chiến dịch Lai Châu và Trung Lào (12195311954). Navarre đã tăng cường và biến Điện Biên Phủ trở thành một pháo đài bất khả xâm phạm đối với phương Tây. Tuy nhiên, Võ Nguyên Giáp đã lợi dụng cơ hội đặt bẫy đối thủ. Đồng thời, Pháp đã mất đi những đơn vị thiện chiến nhất bởi việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm ở vùng núi Tây Bắc hiểm trở. Vì vậy một khoảng trống không thể bù vào ở đồng bằng Bắc Bộ đã được tạo nên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa bốn sư đoàn với một lượng pháo lớn như quân Pháp vào Điện Biên Phủ, dù cơ số đạn hạn chế (đạn của Pháp là chủ yếu; Trung Quốc rất ít viện trợ). Pháp không thể tập hợp một đội quân cơ động ứng cứu do những cuộc tiến công liên tiếp trên toàn Đông Dương. Hơn nữa, phe ta có sự tham chiến của những đơn vị phòng không đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được huấn luyện ở Liên Xô. Công tác vận tải cũng có sự tham gia của một lực lượng dân công khổng lồ. Quân Pháp bị bao vây bởi các đơn vị mạnh nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở Điện Biên Phủ. Từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5, cuộc vây hãm ở Điện Biên Phủ diễn ra cho đến khi Pháp đầu hàng. Trong khi đó, Cuộc tranh luận về việc Mỹ có nên trực tiếp can thiệp bằng quân sự diễn ra ở Washington, nhưng do chính quyền Anh sẽ không ủng hộ nên tổng thống Eisenhower đã quyết định loại bỏ khả năng này. Cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ sau 56 ngày đêm, toàn bộ 16000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh,. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong toàn bộ chiến tranh Đông Dương. Trên phương diện quốc tế trận Điện Biên Phủ mang ý nghĩa rất lớn: Lần đầu tiên quân đội của một quốc gia thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì Đông Dương là lãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp và buộc Pháp ra khỏi Đông Dương. Vào ngày 8 tháng 5, hội nghị Geneva bắt đầu họp bàn về vấn đề khôi phục hòa bình ở Đông Dương. 1.2. Thành phần tham dự • Hai đồng chủ tịch Hội nghị là Liên Xô và Anh • Phái đoàn Pháp, do Georges Bidault làm trưởng đoàn. • Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn. • Phái đoàn Quốc gia Việt Nam, Phái đoàn Vương quốc Lào và Phái đoàn Vương quốc Campuchia (bộ máy chính quyền tay sai ở Đông Dương) không tham gia đàm phán trực tiếp, ủy nhiệm cho người Pháp. • Hai phái đoàn Pathet Lào và Khmer Issarak không được chính thức tham gia hội nghị mà ủy nhiệm cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tất cả các nguyện vọng của hai đoàn này được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trình bày trước hội nghị. • Ngoài ra, hội nghị còn có sự tham dự của hai cường quốc khác là Hoa Kỳ và Trung Quốc. 1.3. Lập trường và quan điểm các bên tham dự 1.3.1. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Về phía của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đề ra lập trường bao gồm 10 điểm: 1. Pháp công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Campuchia và Lào 2. Ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi 3 nước trong thời hạn do các bên tham chiến ấn định. Và trước khi rút quân, phải đạt thỏa thuận về nơi đóng quân của lực lượng Việt Nam hay Pháp trong một số khu vực hạn chế. 3. Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả 3 nước nhằm thành lập một chính phủ duy nhất cho mỗi nước. 4. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẽ có ý định xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp cùng với những điều kiện của việc gia nhập đó. 5. Ba nước thừa nhận các quyền lợi văn hóa và kinh tế của Pháp tại mỗi nước. Sau khi chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ văn hóa và kinh tế được giải quyết theo đúng các nguyên tắc củng cố và bình đẳng. 6. Hai bên cam kết sẽ không truy tố những người hợp tác với đối phương trong khoảng thời gian chiến tranh. 7. Trao đổi dân thường và tù binh bị bắt trong chiến tranh 8. Ngừng bắn hoàn toàn và trên cả toàn bộ Đông Dương, đình chỉ đưa quân đội và thiết bị quân sự mới vào Đông Dương, lập Ủy ban Liên hợp quân sự hai bên và có sự giám sát của Ủy ban Quốc tế để bảo đảm thực hiện Hiệp định đình chiến. 9. Giới tuyến quân sự không được phép coi là biên giới quốc gia và chỉ tồn tại cho đến khi hoàn thành cuộc Tổng tuyển cử để thành lập chính phủ liên hiệp. 10. Chấp nhận nhượng bộ về việc có tồn tại giới tuyến quân sự, đổi lại các lực lượng quân sự của nước ngoài phải rời khỏi Việt Nam. Ban đầu lập trường của Việt Nam là tập kết ngay tại chỗ. Nếu không được thì sẽ chuyển sang lấy Vĩ tuyến 13, cắt ngang đèo Đại Lãnh giữa Khánh Hòa và Phú yên, làm giới tuyến quân sự tạm thời. Giới tuyến quân sự phép không được coi là biên giới quốc gia. Tuy nhiên, về mặt chủ trương, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có mục tiêu độc lập, thống nhất, dân chủ và hòa bình với tất cả là 4 phương châm: 1. Mục đích không thay đổi nhưng để đạt được mục đích có con đường thẳng nhưng cũng có con đường quanh co 2. Tôn trọng chủ quyền Việt Nam, bình đẳng và tự nguyện có lợi cả hai bên 3. Lực lượng chủ quan (nội lực của Việt Nam) chính là điều kiện căn bản để đi tới thắng lợi 4. Luôn luôn đặt lợi ích của Việt Nam trong lợi ích của phong trào hòa bình và dân chủ xã hội chủ nghĩa Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải dựa vào thông tin từ phía Trung Quốc và Liên Xô. Vì vậy, mặc dù đã có những chuẩn bị trước nhưng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã không đánh giá được hết ý đồ của các nước lớn trong đó có tham vọng của Anh và Hoa Kỳ và vai trò của Trung Quốc cũng như không nắm được hết tất cả những mâu thuẫn giữa những nước lớn với nhau. 1.3.2. Pháp Điện Biên Phủ thất thủ, sức ép nội bộ từ phong trào đình chiến dâng cao, giải pháp của Bảo Đại không có kết quả, Pháp vẫn muốn bảo vệ các lợi ích còn lại của mình ở Đông Dương và đạt được một lối thoát danh dự khỏi chiến tranh. Ban đầu, phái đoàn Pháp tham dự Hội nghị có lập trường khá gay gắt: đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là để xoa dịu dư luận, bảo đảm giải phóng quân Pháp ở Đông Dương, đồng thời giữ ổn định chính trị. Nhà nước không mất lòng tin. Và Pháp đã bị thất bại nặng nề sau một thời gian kiên cường ở trận Điện Biên Phủ. Mendès France thuộc phe chủ nghĩa hòa bình đã thành lập chính phủ mới sau khi phe chủ chiến ở Pháp bị lật đổ. Chính phủ mới của Pháp muốn rút khỏi cuộc chiến Đông Dương một cách nghiêm túc trong khi vẫn duy trì các lợi ích kinh tế và ảnh hưởng văn hóa của mình ở Lào, Campuchia và Việt Nam. Vấn đề Đông Dương chỉ có thể được giải quyết bằng cách nhượng bộ Trung Quốc, với sự công nhận ngoại giao và dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại, Bộ trưởng Quốc phòng René Pleven nói. 1.3.3. Liên Xô Liên Xô là không muốn chiến tranh ngoài Đông Dương, buộc phương Tây đoàn kết ủng hộ Hoa Kỳ và buộc Liên Xô cam kết bảo vệ Trung Quốc. Liên Xô cũng muốn ngăn không cho quốc hội Pháp thông qua kế hoạch thành lập Cộng đồng Phòng thủ Châu Âu. Đồng thời, Liên Xô muốn tạo ra hình ảnh người bảo vệ hòa bình thế giới và củng cố vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế. Lúc đó Liên Xô chỉ quan tâm đến vấn đề châu Âu, còn châu Á Thái Bình Dương, Liên Xô để lại mọi việc cho Trung Quốc. 1.3.4. Hoa Kỳ Ngay trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc một tháng, Hoa Kỳ đã yêu cầu Pháp bằng mọi cách không được thất bại do lo ngại phong trào Cộng sản sẽ lan rộng khắp Đông Nam Á. Hoa Kỳ từ chối ký Hiệp định Genève nhưng ra Tuyên bố nước này sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm Hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế. Trong Tuyên bố của mình, đối với sự chia cắt Việt Nam trái nguyện vọng của hai miền Nam Bắc, chính phủ Mỹ cũng nêu rõ quan điểm tiếp tục cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi Liên Hợp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng Kết thúc Hội nghị Genève, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ tuyên bố ghi nhận và cam kết tôn trọng quyết định của các bên tham gia Hội nghị Genève. Nhưng liền sau đó, chính Tổng thống Mỹ lại tuyên bố: Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy. 1.3.5. Trung Quốc Hội nghị Genevơ là cơ hội quan trọng để biến Trung Quốc thành một cường quốc ở châu Á mà không nước nào có thể bỏ qua. Trung Quốc không quan tâm đến lợi ích của những người cộng sản và dân tộc chủ nghĩa ở ba nước Đông Dương. Trung Quốc đang đạt được thỏa hiệp với các nước phương Tây trong việc giải quyết vấn đề phân chia lãnh thổ, điều này nhằm chống lại lực lượng bản xứ chống Pháp ở các nước này. Mục tiêu của Trung Quốc là không thể để quân đội Mỹ hiện diện quá gần mình. Trưởng phái đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: “Ba nước Đông Dương sẽ không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào, và không một nước ngoài nào được phép thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ”. Tuyên bố của Trung Quốc, Hãy có niềm tin lớn và tiếp tục chiến đấu để bảo vệ hòa bình thế giới 1.3.6. Anh Anh không muốn tham gia vào việc Pháp tái xâm lược Đông Dương cùng với Hoa Kỳ, nhưng cũng không muốn làm tổn hại đến quan hệ đồng minh của mình với Hoa Kỳ. Anh đã kiên định khuyên Mỹ nên hoãn các hoạt động quân sự ở Đông Dương, bao gồm cả việc thành lập khối SEATO, cho đến khi “các lực lượng cộng sản đưa ra một giải pháp hòa bình được Mỹ chấp thuận” khác ngoài việc ủng hộ Mỹ hay. Ngoài ra, Anh còn thúc đẩy Pháp đàm phán về sức mạnh của mình. Đồng thời, Anh cũng đề nghị các nước thân Anh, trong đó có Myanmar, tham dự hội nghị, loại trừ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, đề nghị của Anh đã bị Liên Xô bác bỏ vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là bên tham chiến trực tiếp với Pháp. 1.4. Diễn biến hội nghị Ngày 2641954, hội nghị Giơnevơ về Đông Dương chính thức khai mạc. Từ ngày 8 tháng 5 đến ngày 23 tháng 6, các bên đã trình bày lập trường của mình về cách giải quyết các vấn đề Việt Nam và Đông Dương. Các cuộc đàm phán tiến triển rất chậm do khoảng cách lớn về vị trí giữa các đoàn. Sự nhượng bộ lẫn nhau đã nảy sinh trong các cuộc thảo luận riêng tư. Pháp và Trung Quốc đã thống nhất một giải pháp chung cho vấn đề Đông Dương: giải quyết vấn đề quân sự trước, tách giải pháp chính trị ở ba nước Đông Dương. Từ 24 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7, các đoàn đại biểu của Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán trực tiếp để giải quyết các vấn đề xoay quanh các vấn đề cụ thể: quyền tham dự hội nghị của các đại biểu chủ chốt, chính phủ kháng chiến Lào và chính phủ kháng chiến Campuchia; Ngay từ đầu, Pháp đã đề nghị tạm thời chia đôi Việt Nam và thành lập chính phủ Liên hiệp. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận ý kiến này và đưa ra các đề xuất về đường phân giới, hai bên tự thương lượng với nhau, phía Pháp đề xuất vĩ tuyến 18, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu vĩ tuyến 13. Ngày 971954, phái đoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị hạ xuống vĩ tuyến 14, Pháp giữ lại vĩ tuyến 18. Ngày 137, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại đề nghị hạ xuống vĩ tuyến 16, đến ngày 197 hai bên đạt được thỏa thuận. Theo ý kiến của Anh và Mỹ, biên giới tạm thời sẽ là vĩ tuyến 17. Ngày 2071954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương bắt đầu được ký kết với nhiều văn kiện, đặc biệt là ba hiệp định chấm dứt thù địch ở Việt Nam, Lào và Campuchia, và là bản tuyên bố cuối cùng của hội nghị. Hiệp định tạm thời chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và Lào được ký kết bởi hai quân chủ lực tham gia thay mặt Tổng tư lệnh quân đội Liên hiệp Pháp ở Đông Dương, Thiếu tướng Delteil và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thay mặt Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Hoa Kỳ từ chối công nhận Hiệp định Giơnevơ, nhưng tuyên bố rằng nước này sẽ xem xét bất kỳ sự lặp lại nào của các hành động bạo lực vi phạm và đe dọa nghiêm trọng đến các hiệp định về hòa bình và an ninh quốc tế..

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



TIỂU LUẬN NHÓM MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG

ĐỀ TÀI: HIỆP ĐỊNH GENÈVA 1954

VỀ KẾT THÚC CHIẾN TRANH, LẬP LẠI

HÒA BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 5

1.1 Bối cảnh lịch sử 5

1.2 Thành phần tham dự 7

1.3 Lập trường và quan điểm các bên tham dự 7

1.3.1 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 7

1.3.2 Pháp 9

1.3.3 Liên Xô 9

1.3.4 Hoa Kỳ 10

1.3.5 Trung Quốc 10

1.3.6 Anh 10

1.4 Diễn biến hội nghị 11

1.5 Nội dung cơ bản của Hiệp định Genève 1954 12

1.6 Giai đoạn hậu hiệp định 13

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ VỀ HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 16

2.1 Thành công của Hiệp định Genève 1954 16

2.1.1 Thành công của Hiệp định Genève 1954 đối với Việt Nam 16

2.1.2 Thành công của Hiệp định Genève 1954 đối với Lào, Campuchia 17

2.1.3 Ý nghĩa của Hiệp định Geneve: một số điểm chính 17

2.2 Hạn chế của Hiệp định Genève 1954 18

CHƯƠNG 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO HIỆN TẠI 20

3.1 Ngoại giao chỉ phát huy sức mạnh tối đa khi kết hợp sức mạnh của đất nước trên mọi phương diện 20

3.2 Bài học “dĩ bất biến ứng vạn biến” theo tư tưởng Hồ Chí Minh 20

3.3 Bài học trong việc đánh giá chính xác tình hình quốc tế, chiến lược, thái độ của các nước lớn để tìm ra đối sách phù hợp nhất, đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc trong công tác ngoại giao 21

3.4 Bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại 22 3.5 Trong đấu tranh ngoại giao, số phận của dân tộc mình phải do chính mình tự định đoạt 22

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Tổng thư ký Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Dương Trung Quốc đã nói “ Nếu nhậnthức rằng lịch sử là cái tất yếu được định vị bằng thời gian của cái đã qua và ngoại giao làcái tất yếu phản ánh tương quan và lợi ích của những bên tham gia, thì không thể đánh giá

sự kiện Geneva 1954 cách đây nửa thế kỷ bằng tâm thức của ngày hôm nay Không thể đòihỏi một nền ngoại giao của một quốc gia từ trong rừng sâu của chiến khu lần đầu tiên đếnmột nghị quốc tế với sự tham dự của những cường quốc lớn nhất của hai khối chính trị đốiđịch nhau giữa thời chiến tranh lạnh, lại có ngay được một tư thế hoàn toàn độc lập, tự chủtrong mọi quyết định trên bàn đàm phán” Ý nghĩa to lớn và những bài học quý báu củahiệp định Geneva sẽ trường tồn cùng thế giới, được nhân lên và phát huy hơn nữa trongcuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây và trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ tổ quốc E Smith Gravel đã tuyên bố: “ Hiệp định Geneva là một kết quảtốt nhất mà chúng ta có thể đạt được Nên nhớ rằng rất hiếm có trường hợp mà ngoại giao

có thể giành được trên bàn hội nghị những gì không thể giành được hoặc giữ được trênchiến trường.” Hội nghị Geneva là một điểm sáng trong suốt tiến trình cách mạng củanhân dân ta, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta tiếp tục cuộc đấu tranh đitới thống nhất đất nước năm 1975 sau này Hội nghị là sự kiện quốc tế quan trọng có ảnhhưởng to lớn đối với quan hệ quốc tế, được các nước và thế giới quan tâm Mặc dù vớinhững ý nghĩa, những thắng lợi to lớn vĩ đại không thể phủ nhận nhưng vẫn còn nhữngquan điểm cho rằng thắng lợi đạt được ở Geneva chưa trọn vẹn, ta có thể đạt được nhiềuhơn, như nữ luật gia người Pháp L.A Be-le-xa viết: “Nếu chúng ta đi sâu vào chi tiết cáccuộc thương lượng, chúng ta sẽ nhận thấy rằng các điều khoản của hiệp định chỉ để nhằmlàm thỏa mãn các cường quốc ” Như vậy, hiệp định Geneva có thật thỏa đáng không? Cóphản ánh đúng thắng lợi của ta trên chiến trường và so sánh lực lượng lúc đó không? Bàitiểu luận “Hiệp định Geneva 1954 về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình Đông Dương”

sẽ đưa ra bức tranh toàn cảnh bàn về những vấn đề xung quanh hội nghị này Bài tiểu luậncủa chúng em được chia thành 3 chương:

Chương I: Hiệp định Geneve 1954

Chương II: Đánh giá về Hiệp định Geneve 1954

Chương III: Bài học kinh nghiệm cho hiện tại

Chúng em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Tố Uyên đã giúp đỡ chúng emhoàn thành bài tiểu luận này!

Trang 5

CHƯƠNG 1 HIỆP ĐỊNH GENÈVE 19541.1 Bối cảnh lịch sử

Tháng 7 năm 1953,tướng Henri Navarre, chỉ huy mới của quân Pháp, đếnĐông Dương Với sự hứa hẹn của Mỹ về việc tăng viện trợ quân sự, một cuộc tổngphản công được chuẩn bị bởi vị chỉ huy mới này, báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kếhoạch Navarre"

Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Navarre hai cuộc hành quân nhằm phá hủy đượcmột số dụng cụ và máy móc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đó là cuộc hànhquân Hirondelle ("Con én") vào Lạng Sơn và cuộc hành binh "Camargue" vàoQuảng Trị Ở Lạng Sơn, quân Pháp lùng sục các kho tàng rồi vội vã rút chạy Sau

đó, Pháp lại loan tin quân đội đã diệt được hai tiểu đoàn, một số căn cứ trong khutam giác là mối đe dọa trên quốc lộ số 1

Trước đây, năm 1952, Nà Sản được Pháp chọn làm địa điểm để ngăn Quân độiNhân dân Việt Nam tiến công quân Pháp ở Lào Tuy nhiên, sau liên tiếp với haicuộc hành quân trên, tới ngày 9 tháng 8 năm 1953, Pháp rút quân ra khỏi Nà Sảnbằng không vận

Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Pháp mở Cuộc hành quân Moutte vào Ninh Bình

và Thanh Hóa hòng đoạt lại thế chủ động trên chiến trường chính Mục đích chính

là phá các căn cứ hậu cần tiền duyên của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộctiến công 1953–1954 được cho là sẽ diễn ra ở đồng bằng Tuy nhiên, thực tế trong

kế hoạch Quân đội Nhân dân Việt Nam được đề ra hồi tháng 9, đồng bằng Bắc Bộchỉ đơn giản là chiến trường phối hợp Cuộc hành quân Moutte chỉ là sự suy đoánsai lầm của Navarre khi bị đánh lừa bởi xuất sắc của bộ đội mật mã Việt Nam Tháng 11 năm 1953, cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ – Khuvực được Navarre cho là vị trí chiến lược chặn lại tuyến đường chính của Quân độiNhân dân Việt Nam sang Lào Theo đó, căn cứ này vừa là một vị trí khóa chặn, vừa

là một cái bẫy để nhử đối phương vào một trận đánh lớn theo kiểu kinh điển mangtính chất quyết định mà tại đó Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ bị tiêu diệt bởi ưuthế pháo binh và hỏa lực không quân của Pháp Điện Biên Phủ - vùng đất nằm trongmột thung lũng lớn, cách Hà Nội 200 dặm đường không, được chọn làm căn cứchính và sẽ được chi viện của khoảng 400 máy bay Sau những trận đánh nống thất

Trang 6

bại, quân Pháp đã nhường các điểm cao xung quanh cho Quân đội Nhân dân ViệtNam, Navarre suy đoán rằng Quân đội Nhân dân Việt Nam không đủ khả năng đưapháo lên Điện Biên Phủ nên nguy hiểm gì từ các điểm cao là không thể Navarrexem Điện Biên Phủ như là một "cái nhọt tụ độc", hút hết phần lớn chủ lực của Quânđội Nhân dân Việt Nam và đảm bảo an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ

Với tình hình khi đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghĩ tới một cuộc tấncông, hy vọng sẽ mở được một con đường xuyên Lào thọc qua Campuchia Từ đó,đưa lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Bắc vào chi viện bổ sung cholực lượng sẵn có ở Nam Bộ Tháng 11 năm 1953, Bộ Quốc phòng Việt Nam Dânchủ Cộng hòa tổ chức một cuộc họp, các chỉ huy quân sự nhất trí mở Chiến cụcđông xuân 1953–1954 nhằm xé lẻ khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồngbằng Bắc Bộ Vị trí tiến công được xác định ở Tây Bắc và Thượng Lào, Trung và

Hạ Lào, cuối cùng là Tây Nguyên Ý tưởng tuyến đường chiến lược xuyên Lào sẽđược thực hiện một phần trong tương lai thông qua con đường mòn Hồ Chí Minh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nắm giữ mảng lớn còn lại của vùng Tây Bắc

và phần lớn vùng Trung và Nam Lào thông qua chiến dịch Lai Châu và Trung Lào(12/1953-1/1954)

Navarre đã tăng cường và biến Điện Biên Phủ trở thành một "pháo đài bất khảxâm phạm" đối với phương Tây Tuy nhiên, Võ Nguyên Giáp đã lợi dụng cơ hội đặtbẫy đối thủ Đồng thời, Pháp đã mất đi những đơn vị thiện chiến nhất bởi việc xâydựng một tập đoàn cứ điểm ở vùng núi Tây Bắc hiểm trở Vì vậy một khoảng trốngkhông thể bù vào ở đồng bằng Bắc Bộ đã được tạo nên

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa bốn sư đoàn với một lượng pháo lớn nhưquân Pháp vào Điện Biên Phủ, dù cơ số đạn hạn chế (đạn của Pháp là chủ yếu;Trung Quốc rất ít viện trợ) Pháp không thể tập hợp một đội quân cơ động ứng cứu

do những cuộc tiến công liên tiếp trên toàn Đông Dương Hơn nữa, phe ta có sựtham chiến của những đơn vị phòng không đầu tiên của Quân đội Nhân dân ViệtNam được huấn luyện ở Liên Xô Công tác vận tải cũng có sự tham gia của một lựclượng dân công khổng lồ Quân Pháp bị bao vây bởi các đơn vị mạnh nhất của Quânđội Nhân dân Việt Nam ở Điện Biên Phủ

Trang 7

Từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5, cuộc vây hãm ở Điện Biên Phủ diễn

ra cho đến khi Pháp đầu hàng Trong khi đó, Cuộc tranh luận về việc Mỹ có nêntrực tiếp can thiệp bằng quân sự diễn ra ở Washington, nhưng do chính quyền Anh

sẽ không ủng hộ nên tổng thống Eisenhower đã quyết định loại bỏ khả năng này

Cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ sau 56 ngày đêm, toàn bộ 16000 quân Pháp bịtiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh, Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất củaQuân đội Nhân dân Việt Nam trong toàn bộ chiến tranh Đông Dương Trên phươngdiện quốc tế trận Điện Biên Phủ mang ý nghĩa rất lớn: Lần đầu tiên quân đội củamột quốc gia thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của mộtcường quốc châu Âu Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì Đông Dương làlãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp và buộc Pháp ra khỏi Đông Dương Vàongày 8 tháng 5, hội nghị Geneva bắt đầu họp bàn về vấn đề khôi phục hòa bình ởĐông Dương

1.1 Thành phần tham dự

 Hai đồng chủ tịch Hội nghị là Liên Xô và Anh

 Phái đoàn Pháp, do Georges Bidault làm trưởng đoàn

 Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Phạm Văn Đồng làm trưởngđoàn

 Phái đoàn Quốc gia Việt Nam, Phái đoàn Vương quốc Lào và Phái đoànVương quốc Campuchia (bộ máy chính quyền tay sai ở Đông Dương) khôngtham gia đàm phán trực tiếp, ủy nhiệm cho người Pháp

 Hai phái đoàn Pathet Lào và Khmer Issarak không được chính thức tham giahội nghị mà ủy nhiệm cho phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tất cảcác nguyện vọng của hai đoàn này được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trìnhbày trước hội nghị

 Ngoài ra, hội nghị còn có sự tham dự của hai cường quốc khác là Hoa Kỳ vàTrung Quốc

1.2 Lập trường và quan điểm các bên tham dự

1.2.1 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Về phía của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã

đề ra lập trường bao gồm 10 điểm:

Trang 8

1 Pháp công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam,Campuchia và Lào

2 Ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi 3 nước trong thời hạn

do các bên tham chiến ấn định Và trước khi rút quân, phải đạt thỏa thuận về nơiđóng quân của lực lượng Việt Nam hay Pháp trong một số khu vực hạn chế

3 Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả 3 nước nhằm thành lập một chính phủ duynhất cho mỗi nước

4 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẽ có ý định xem xét việc tự nguyện gianhập Liên hiệp Pháp cùng với những điều kiện của việc gia nhập đó

5 Ba nước thừa nhận các quyền lợi văn hóa và kinh tế của Pháp tại mỗi nước Saukhi chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ văn hóa và kinh tế được giảiquyết theo đúng các nguyên tắc củng cố và bình đẳng

6 Hai bên cam kết sẽ không truy tố những người hợp tác với đối phương trongkhoảng thời gian chiến tranh

7 Trao đổi dân thường và tù binh bị bắt trong chiến tranh

8 Ngừng bắn hoàn toàn và trên cả toàn bộ Đông Dương, đình chỉ đưa quân đội vàthiết bị quân sự mới vào Đông Dương, lập Ủy ban Liên hợp quân sự hai bên và

có sự giám sát của Ủy ban Quốc tế để bảo đảm thực hiện Hiệp định đình chiến

9 Giới tuyến quân sự không được phép coi là biên giới quốc gia và chỉ tồn tại chođến khi hoàn thành cuộc Tổng tuyển cử để thành lập chính phủ liên hiệp

10 Chấp nhận nhượng bộ về việc có tồn tại giới tuyến quân sự, đổi lại các lựclượng quân sự của nước ngoài phải rời khỏi Việt Nam Ban đầu lập trường củaViệt Nam là tập kết ngay tại chỗ Nếu không được thì sẽ chuyển sang lấy Vĩtuyến 13, cắt ngang đèo Đại Lãnh giữa Khánh Hòa và Phú yên, làm giới tuyếnquân sự tạm thời Giới tuyến quân sự phép không được coi là biên giới quốc gia.Tuy nhiên, về mặt chủ trương, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có mục tiêu "độclập, thống nhất, dân chủ và hòa bình" với tất cả là 4 phương châm:

1 Mục đích không thay đổi nhưng để đạt được mục đích có con đường thẳng nhưng

cũng có con đường quanh co

2 Tôn trọng chủ quyền Việt Nam, bình đẳng và tự nguyện có lợi cả hai bên

Trang 9

3 Lực lượng chủ quan (nội lực của Việt Nam) chính là điều kiện căn bản để đi tới

1.2.2 Pháp

Điện Biên Phủ thất thủ, sức ép nội bộ từ phong trào đình chiến dâng cao, giảipháp của Bảo Đại không có kết quả, Pháp vẫn muốn bảo vệ các lợi ích còn lại củamình ở Đông Dương và đạt được một lối thoát danh dự khỏi chiến tranh Ban đầu,phái đoàn Pháp tham dự Hội nghị có lập trường khá gay gắt: đàm phán với ViệtNam Dân chủ Cộng hòa là để xoa dịu dư luận, bảo đảm giải phóng quân Pháp ởĐông Dương, đồng thời giữ ổn định chính trị Nhà nước không mất lòng tin VàPháp đã bị thất bại nặng nề sau một thời gian kiên cường ở trận Điện Biên Phủ.Mendès France thuộc phe chủ nghĩa hòa bình đã thành lập chính phủ mới saukhi phe chủ chiến ở Pháp bị lật đổ Chính phủ mới của Pháp muốn rút khỏi cuộcchiến Đông Dương một cách nghiêm túc trong khi vẫn duy trì các lợi ích kinh tế vàảnh hưởng văn hóa của mình ở Lào, Campuchia và Việt Nam "Vấn đề ĐôngDương chỉ có thể được giải quyết bằng cách nhượng bộ Trung Quốc, với sự côngnhận ngoại giao và dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại", Bộ trưởng Quốc phòng RenéPleven nói

1.1.1 Liên Xô

Liên Xô là không muốn chiến tranh ngoài Đông Dương, buộc phương Tâyđoàn kết ủng hộ Hoa Kỳ và buộc Liên Xô cam kết bảo vệ Trung Quốc Liên Xôcũng muốn ngăn không cho quốc hội Pháp thông qua kế hoạch thành lập Cộng đồngPhòng thủ Châu Âu Đồng thời, Liên Xô muốn tạo ra hình ảnh người bảo vệ hòabình thế giới và củng cố vị thế của Trung Quốc trên trường quốc tế Lúc đó Liên Xô

Trang 10

chỉ quan tâm đến vấn đề châu Âu, còn châu Á - Thái Bình Dương, Liên Xô để lạimọi việc cho Trung Quốc.

1.2.3 Hoa Kỳ

Ngay trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc một tháng, Hoa Kỳ đã yêucầu Pháp bằng mọi cách không được thất bại do lo ngại phong trào Cộng sản sẽ lanrộng khắp Đông Nam Á Hoa Kỳ từ chối ký Hiệp định Genève nhưng ra Tuyên bốnước này "sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm Hiệp định làđiều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốctế"

Trong Tuyên bố của mình, đối với sự chia cắt Việt Nam trái nguyện vọng củahai miền Nam - Bắc, chính phủ Mỹ cũng nêu rõ quan điểm "tiếp tục cố gắng đạtđược sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi LiênHợp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng"

Kết thúc Hội nghị Genève, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ tuyên bố ghi nhận

và cam kết tôn trọng quyết định của các bên tham gia Hội nghị Genève Nhưng liềnsau đó, chính Tổng thống Mỹ lại tuyên bố: "Hoa Kỳ không tham dự vào nhữngquyết định của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy"

1.2.4 Trung Quốc

Hội nghị Genevơ là cơ hội quan trọng để biến Trung Quốc thành một cườngquốc ở châu Á mà không nước nào có thể bỏ qua Trung Quốc không quan tâm đếnlợi ích của những người cộng sản và dân tộc chủ nghĩa ở ba nước Đông Dương.Trung Quốc đang đạt được thỏa hiệp với các nước phương Tây trong việc giải quyếtvấn đề phân chia lãnh thổ, điều này nhằm chống lại lực lượng bản xứ chống Pháp ởcác nước này Mục tiêu của Trung Quốc là không thể để quân đội Mỹ hiện diện quágần mình Trưởng phái đoàn Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: “Ba nước ĐôngDương sẽ không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào, và không một nước ngoàinào được phép thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ” Tuyên bố của TrungQuốc, "Hãy có niềm tin lớn và tiếp tục chiến đấu để bảo vệ hòa bình thế giới"

1.2.5 Anh

Anh không muốn tham gia vào việc Pháp tái xâm lược Đông Dương cùng vớiHoa Kỳ, nhưng cũng không muốn làm tổn hại đến quan hệ đồng minh của mình với

Trang 11

Hoa Kỳ Anh đã kiên định khuyên Mỹ nên hoãn các hoạt động quân sự ở ĐôngDương, bao gồm cả việc thành lập khối SEATO, cho đến khi “các lực lượng cộngsản đưa ra một giải pháp hòa bình được Mỹ chấp thuận” khác ngoài việc ủng hộ Mỹhay Ngoài ra, Anh còn thúc đẩy Pháp đàm phán về sức mạnh của mình Đồng thời,Anh cũng đề nghị các nước thân Anh, trong đó có Myanmar, tham dự hội nghị, loạitrừ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tuy nhiên, đề nghị của Anh đã bị Liên Xô bác bỏ

vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là bên tham chiến trực tiếp với Pháp

1.3 Diễn biến hội nghị

Ngày 26/4/1954, hội nghị Giơnevơ về Đông Dương chính thức khai mạc Từngày 8 tháng 5 đến ngày 23 tháng 6, các bên đã trình bày lập trường của mình vềcách giải quyết các vấn đề Việt Nam và Đông Dương Các cuộc đàm phán tiến triểnrất chậm do khoảng cách lớn về vị trí giữa các đoàn Sự nhượng bộ lẫn nhau đã nảysinh trong các cuộc thảo luận riêng tư Pháp và Trung Quốc đã thống nhất một giảipháp chung cho vấn đề Đông Dương: giải quyết vấn đề quân sự trước, tách giảipháp chính trị ở ba nước Đông Dương Từ 24 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7, cácđoàn đại biểu của Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán trực tiếp để giảiquyết các vấn đề xoay quanh các vấn đề cụ thể: quyền tham dự hội nghị của các đạibiểu chủ chốt, chính phủ kháng chiến Lào và chính phủ kháng chiến Campuchia;Ngay từ đầu, Pháp đã đề nghị tạm thời chia đôi Việt Nam và thành lập chínhphủ Liên hiệp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận ý kiến này và đưa ra các đềxuất về đường phân giới, hai bên tự thương lượng với nhau, phía Pháp đề xuất vĩtuyến 18, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu vĩ tuyến 13 Ngày 9/7/1954, pháiđoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị hạ xuống vĩ tuyến 14, Pháp giữ lại vĩtuyến 18 Ngày 13/7, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại đề nghị hạ xuống

vĩ tuyến 16, đến ngày 19/7 hai bên đạt được thỏa thuận Theo ý kiến của Anh và

Mỹ, biên giới tạm thời sẽ là vĩ tuyến 17 Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ vềĐông Dương bắt đầu được ký kết với nhiều văn kiện, đặc biệt là ba hiệp định chấmdứt thù địch ở Việt Nam, Lào và Campuchia, và là bản tuyên bố cuối cùng của hộinghị

Hiệp định tạm thời chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và Lào được ký kết bởihai quân chủ lực tham gia thay mặt Tổng tư lệnh quân đội Liên hiệp Pháp ở Đông

Trang 12

Dương, Thiếu tướng Delteil và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa thay mặt Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.Hoa Kỳ từ chối công nhận Hiệp định Giơnevơ, nhưng tuyên bố rằng nước này sẽ

"xem xét bất kỳ sự lặp lại nào của các hành động bạo lực vi phạm và đe dọa nghiêmtrọng đến các hiệp định về hòa bình và an ninh quốc tế."

1.4 Nội dung cơ bản của Hiệp định Genève 1954

Hiệp định Genève 1954 (tiếng Việt: Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954) là hiệpđịnh đình chiến dẫn đến chấm dứt sự hiện diện của quân đội Pháp trên bán đảoĐông Dương, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương Sau 75ngày đàm phán với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếpxúc ngoại giao thì Hiệp định được ký ngày 20/7/1954 có nội dung:

 Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào côngviệc nội bộ 3 nước

 Các bên tham chiến thực hiện ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn ĐôngDương

 Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực,trao trả tù binh

 Dân chúng mỗi bên có quyền di cư sang lãnh thổ do bên kia kiểm soát trongthời gian quân đội hai bên đang tập kết

 Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự,vũ khí nước ngoài vào Đông Dương.Nước ngoài không được đặt căn cứ quân sự tại Đông Dương

 Thành lập Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương gồm Ấn Độ,

Ba Lan và Canada, với Ấn Độ làm chủ tịch

 Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chiaViệt Nam làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời Quân đội Nhân dân ViệtNam tập trung về phía Bắc; Quân đội Liên hiệp Pháp (bao gồm cả Quân độiQuốc gia Việt Nam) tập trung về phía Nam, tập kết chính trị tại chỗ, tập kết

dân sự theo nguyên tắc tự nguyện Khoản a, điều 14 ghi rõ: "Trong khi đợi

tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở

Ngày đăng: 25/12/2021, 17:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w