1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ CỦA ĐIỀU DƯỠNG

59 438 22

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Công Tác Giáo Dục Sức Khỏe Cho Người Bệnh Nội Trú Của Điều Dưỡng Tại Bệnh Viện Đa Khoa Thành Phố Vinh Năm 2021
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Phương, Đậu Thị Hiền, Đinh Thi Thanh Hoa
Trường học Bệnh Viện Đa Khoa Thành Phố Vinh
Thể loại Đề Tài Cấp Cơ Sở
Năm xuất bản 2021
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chăm sóc sức khỏe cho người bệnh (NB) là nghĩa vụ thiêng liêng cao quý của nhân viên y tế (NVYT) nói chung, của điều dưỡng (ĐD) nói riêng và bệnh viện là nơi để ĐD thực hiện nghĩa vụ này. ĐD là lực lượng đông đảo nhất trong bệnh viện là người đầu tiên tiếp xúc với người bệnh trong quá trình nằm viện. Ngày nay, ĐD không chỉ đơn giản chỉ là thực hiện y lệnh mà họ còn trực tiếp chăm sóc thông qua quá trình nhận định, lập kế hoạch và tư vấn giáo dục sức khỏe cho NB 5, 6.Giáo dục sức khỏe (GDSK) là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm hướng tới mục tiêu thay đổi hành vi sức khỏe. Hoạt động GDSK có vai trò to lớn. Nếu giáo dục sức khỏe đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển 21. Có thể nói công tác tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một mắt xích quan trong trong công tác chăm sóc, công tác điều trị. Để thực hiện được vấn đề này đồng bộ, hiệu quả và thiết thực nhà nước đã đưa ra rất nhiều quy định, quyết định, thông tư cụ thể để triển khai như sauThông tư 072011TTBYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viên quy định: Bệnh viện có quy định và tổ chức các hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phù hợp. Người bệnh nằm viện được điều dưỡng, hộ sinh tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện phù hợp với tình trạng bệnh tật 6Theo Quyết định số: 1352QĐBYT ngày 21 tháng 4 năm 2012 của Bộ Y tế về chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam có 25 tiêu chuẩn thì tiêu chuẩn 14 đã chỉ rõ điều dưỡng phải có năng lực xác định nhu cầu và tổ chức hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng độngQuyết định 4858 QĐBYT ngày 3122013 về bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện. Trong 83 tiêu chí thì có 13 tiêu chí liên quan đến tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh… Công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh có vai trò rất quan trọng, để đạt được hiệu quả cao người điều dưỡng cần có nền tảng kiến thức và kỹ năng giáo dục sức khỏe tốt. Từ đó đạt mục tiêu tăng cường chất lượng điều trị, tăng khả năng phục hồi và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, giảm số lần nhập viện, tiết kiệm chi phí cho điều trị 6.

Trang 1

SỞ Y TẾ NGHỆ AN

BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH

ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

THÀNH PHỐ VINH NĂM 2021

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Quỳnh Phương

Vinh, 2021

Trang 2

SỞ Y TẾ NGHỆ AN

BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

Trang 4

1.3 Tầm quan trọng của GDSK đối với người bệnh 17 1.4 Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng thế giới 18 1.5 Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng tại Việt

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 21

2.6 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin 27

2.8 Sai số và các phương pháp hạn chế sai số 30

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31 3.2 Kiến thức chung của điều dưỡng về giáo dục sức khỏe 31 3.3 Đánh giá của người bệnh về công tác giáo dục sức khỏe của Điều

Trang 5

KHUYẾN NGHỊ 43

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng: 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng 31 Bảng: 3.2 Đặc điểm nhân khẩu học người bệnh 32 Bảng: 3.3 Chất lượng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng

qua đánh giá của người bệnh

34

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ: 3.1 Đánh giá chung kiến thức tư vấn – GDSK của điều

dưỡng

31

Biểu đồ: 3.2 Tần suất người bệnh được điều dưỡng tư vấn giáo dục

sức khỏe trong thời gian nằm viện

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăm sóc sức khỏe cho người bệnh (NB) là nghĩa vụ thiêng liêng cao quý của nhân viên y tế (NVYT) nói chung, của điều dưỡng (ĐD) nói riêng và bệnh viện là nơi để ĐD thực hiện nghĩa vụ này ĐD là lực lượng đông đảo nhất trong bệnh viện là người đầu tiên tiếp xúc với người bệnh trong quá trình nằm viện Ngày nay, ĐD không chỉ đơn giản chỉ là thực hiện y lệnh mà họ còn trực tiếp chăm sóc thông qua quá trình nhận định, lập kế hoạch và tư vấn giáo dục sức khỏe cho NB [5], [6]

Giáo dục sức khỏe (GDSK) là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm hướng tới mục tiêu thay đổi hành vi sức khỏe Hoạt động GDSK có vai trò to lớn Nếu giáo dục sức khỏe đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển [21]

Có thể nói công tác tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh là một mắt xích quan trong trong công tác chăm sóc, công tác điều trị Để thực hiện được vấn

đề này đồng bộ, hiệu quả và thiết thực nhà nước đã đưa ra rất nhiều quy định, quyết định, thông tư cụ thể để triển khai như sau

Thông tư 07/2011/TTBYT hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viên quy định: Bệnh viện có quy định và tổ chức các hình thức tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe phù hợp Người bệnh nằm viện được điều dưỡng, hộ sinh tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe trong thời gian nằm viện và sau khi ra viện phù hợp với tình trạng bệnh tật [6]

Theo Quyết định số: 1352/QĐ-BYT ngày 21 tháng 4 năm 2012 của Bộ Y

tế về chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam có 25 tiêu chuẩn thì tiêu chuẩn 14 đã chỉ rõ điều dưỡng phải có năng lực xác định nhu cầu và tổ chức hướng dẫn, giáo dục sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng động

Quyết định 4858 QĐ-BYT ngày 3/12/2013 về bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện Trong 83 tiêu chí thì có 13 tiêu chí liên quan đến tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh…

Trang 9

Công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh có vai trò rất quan trọng, để đạt được hiệu quả cao người điều dưỡng cần có nền tảng kiến thức và kỹ năng giáo dục sức khỏe tốt Từ đó đạt mục tiêu tăng cường chất lượng điều trị, tăng khả năng phục hồi và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh, giảm số lần nhập viện, tiết kiệm chi phí cho điều trị [6]

Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh là bệnh viện hạng 2 tuyến huyện với

mô hình 500 giường bệnh kế hoạch, trung bình người bệnh ngoại trú mỗi ngày khoảng 1800-2000 người, người bệnh nội trú 650 người Trong những năm gần đây bệnh viện đã phát triển toàn diện về mọi mặt: 1 trong những bệnh viện hàng đầu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các hoạt động khám chữa bệnh Bên cạnh chăm lo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho phát triển khoa học

kỹ thuật mới chuyên sâu thì hệ thống điều dưỡng cũng được bệnh viện quan tâm chính vì vậy mà chất lượng chăm sóc, TTGDSK những năm gần đây luôn được người bệnh đánh giá cao Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một đánh giá mang tính khách quan và khoa học về công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh, đây là lý do để chúng tôi tiến hành nghiên

cứu thực hiện đề tài “Thực trạng Công tác Giáo dục sức khỏe cho người Bệnh

nội trú của Điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh năm 2021”

với mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người Bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh năm 2021

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giáo dục sức khỏe

1.1.1 Khái niệm

Giáo dục sức khoẻ (GDSK): là một quá trình tác động có mục đích và có

kế hoạch lên tình cảm và lý trí của con người nhằm tạo ra hành vi có lợi hoặc làm thay đổi hành vi sức khỏe (từ có hại thành có lợi) cho cá nhân và cộng đồng [5]

Mục đích chủ yếu của GDSK là giúp cho đối tượng tự nguyện tự giác thay đổi hành vi sức khỏe của chính mình

Hành vi sức khỏe là hành vi con người có liên quan tới việc tạo ra sức khỏe tốt, bảo vệ và phục hồi sức khỏe [3],[6]

1.1.2 Tầm quan trọng của GDSK

GDSK là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi

sức khỏe Nó có vai trò to lớn trong việc góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu GDSK đạt hiệu quả, nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ

lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong, nhất là ở các nước đang phát triển

GDSK không thay thế được các công tác chăm sóc sức khỏe khác, nhưng GDSK rất cần thiết để thúc đẩy những người sử dụng các dịch vụ y tế, cũng như thúc đẩy phát triển các dịch vụ này

Trong thực tế đã thấy rõ, nếu không làm tốt GDSK thì nhiều chương trình

y tế sẽ đạt kết quả thấp và không bền vững, thậm chí có nguy cơ thất bại

So với các giải pháp dịch vụ y tế khác, GDSK là một công tác khó làm và khó đánh giá kết quả, nhưng nếu làm tốt sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất, nhất là ở tuyến y tế cơ sở

Từ đó có thể thấy rằng GDSK là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từ Trung ương đến cơ sở Nó là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của một cơ sở y tế [5]

Trang 11

1.1.3 Các phương pháp GDSK

Phương pháp GDSK trực tiếp [3], [11]

Phương pháp GDSK trực tiếp là phương pháp người GDSK trực tiếp tiếp xúc với đối tượng GDSK Đây là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nhất nhưng đạt hiệu quả cao nhất đối với cá nhân, tập thể, cộng đồng Người GDSK có thể nhanh chóng nhận được các thông tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên tính điều chỉnh cao và có hiệu quả tốt trong việc giúp đỡ đối tượng thay đổi hành vi

Cách thức

+) Tư vấn trong GDSK:

Là một hình thức thường được sử dụng trong GDSK, đặc biệt đối với cá nhân và gia đình Trong tư vấn, người tư vấn cung cấp thông tin cho đối tượng, động viên đối tượng suy nghĩ về vấn đề và chọn các hành động riêng để giải quyết vấn đề Tư vấn còn hỗ trợ tâm lý cho đối tượng khi họ hoang mang, lo sợ

về vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khi họ chưa hiểu rõ chúng

+) Nói chuyện phổ biến kiến thức y học thường thức:

Tổ chức các cuộc nói chuyện sức khỏe giúp mọi người trực tiếp được nghe những thông tin mới nhất về các vấn đề sức khỏe liên quan tới cá nhân, gia đình và cộng đồng nhằm giúp các đối tượng suy nghĩ và hướng tới việc thay đổi hành vi Tuy nhiên phương pháp này cần kết hợp các phương pháp và sự hỗ trợ khác

Khi tổ chức một buổi nói chuyện cần làm các việc sau:

- Xác định rõ chủ đề nói chuyện và chỉ nên khu trú vào một chủ đề nhất định

- Xác định đối tượng tham dự, ngày giờ, địa điểm và thông báo trước để

họ chuẩn bị tới dự (chọn thời gian và địa điểm thích hợp)

- Xác định nội dung cốt lõi cần trình bày

- Xác định thứ tự trình bày

- Chuẩn bị các phương tiện hỗ trợ thích hợp với chủ đề và thực tế tại địa phương

Trang 12

Khi nói chuyện cần:

- Phải tôn trọng đối tượng

- Xây dựng mối quan hệ với đối tượng trước khi nói chuyện

- Nên sử dụng ngôn ngữ địa phương rõ ràng, mạch lạc

- Cần kết hợp với tranh ảnh, mô hình và ví dụ minh họa

- Cần bao quát, quan sát đối tượng để điều chỉnh, giải đáp thắc mắc đầy

đủ khi đối tượng yêu cầu

- Kết thúc buổi nói chuyện cần tóm tắt những vấn đề mấu chốt nhất cho đối tượng dễ nhớ

+) Tổ chức thảo luận nhóm:

Rất có hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cũng như trong GDSK

Thảo luận nhóm trong GDSK là ứng dụng nguyên lý "sự tham gia của cộng

đồng" trong CSSKBĐ Một nhóm thảo luận tốt nhất là từ 6 - 10 người để tạo cơ

hội cho tất cả các thành viên có thể trình bày và thảo luận làm sáng tỏ những vấn

đề chưa hiểu biết và nêu ra các biện pháp giải quyết các vướng mắc của họ hay của cộng đồng trong đó có họ sinh sống

Các điểm cần thực hiện khi tổ chức thảo luận nhóm:

- Xác định chủ đề, nội dung trọng tâm

- Xác định mục tiêu của thảo luận nhóm

- Xác định đối tượng mời vào thảo luận nhóm

- Cần chuẩn bị trước câu hỏi trọng tâm cho chủ đề thảo luận dựa trên những thông tin phù hợp với tình hình thực tế

Trong một số trường hợp, tư vấn cần đáp ứng nhu cầu bí mật cho các đối tượng bị các bệnh xã hội có định kiến như bệnh lây qua đường tình dục

+) Đối thoại trực tiếp giữa người làm GDSK với từng cá nhân trong lúc tiến hành các dịch vụ y tế

Phương pháp GDSK gián tiếp [3],[11]

Trang 13

GDSK gián tiếp là phương pháp giáo dục mà người giáo dục không trực tiếp tiếp xúc với các đối tượng giáo dục, các nội dung giáo dục cần được chuyển tải qua các phương tiện thông tin đại chúng

Phương pháp này có tác dụng tốt khi chúng ta cung cấp, truyền bá các kiến thức thông thường về bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho quảng đại quần chúng nhân dân một cách có hệ thống Đó là phương pháp hiện nay vẫn được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta

Phương pháp này kém hiệu quả và tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật cao để vận hành sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng

Các phương tiện đại chúng thường được sử dụng trong phương pháp GDSK gián tiếp là:

- Đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, video

- Tạp trí, sách báo, tranh ảnh, tranh lật, tờ rơi

Phương tiện bằng lời nói: Lời nói là công cụ sử dụng rộng rãi và rất hiệu quả trong GDSK nhất là lời nói trực tiếp với đối tượng Sử dụng lời nói có thể truyền tải các nội dung GDSK một cách linh hoạt phù hợp với đối tượng Lời nói rất tiện lợi và mang lại hiệu quả cao, có thể sử dụng ở mọi nơi, mọi chỗ, với mọi người, với 1 gia đình, 1 nhóm nhỏ, 1 cộng đồng Lời nói có thể dùng trực tiếp hay gián tiếp, lời nói còn được dùng để hỗ trợ, phối hợp với các phương tiện GDSK khác như tranh ảnh, pano, áp phích, mô hình Người nói nếu không nắm chắc được nội dung truyền đạt có thể dẫn đến việc cung cấp thông tin không chính xác và gây hiểu lầm cho đối tượng

Phương tiện bằng chữ viết

Trang 14

Phương tiện tác động qua thị giác (phương tiện GDSK trực quan) tranh, ảnh, pano

Phương tiện nghe, nhìn: ti vi,

1.1.5 Lựa chọn nội dung GDSK

Nội dung GDSK là những thông tin chính cần trao đổi với đối tượng GDSK trong một thời gian nhất định

Ví dụ: Nội dung GDSK về phòng chống một bệnh nào đó thường theo

trình tự sau:

+ Ảnh hưởng xấu do bệnh gây ra

+ Tầm quan trọng của việc phòng chống bệnh đó

+ Nguyên nhân của bệnh, đường lây truyền

+ Cách phát hiện và xử trí thông thường tại nhà và các phương pháp phòng bệnh thông thường khác [3], [11]

1.1.6 Vai trò của GDSK trong công tác điều dưỡng

1.2 Định nghĩa điều dưỡng:

Điều đưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng: dự phòng bệnh và điều trị đáp ứng nhu cầu sức khỏe con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng

và xã hội [6]

1.2.1 Phân loại điều dưỡng và chức năng nhiệm vụ:

Hiện nay ở Việt Nam, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã phân loại hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của điều dưỡng theo trình độ chuyên môn bao gồm: điều dưỡng sơ cấp, điều dưỡng trung cấp, điều dưỡng cao đẳng và đại học, điều dưỡng chính và điều dưỡng cao cấp [5] Tuy vậy hiện nay phần lớn tại các bệnh viện chỉ có đến đội ngũ điều dưỡng cao đẳng và đại học

Nhiệm vụ cụ thể, Bộ Y tế cũng căn cứ vào trình độ phân loại nhiệm vụ theo chuyên môn như điều dưỡng sơ cấp khi thực hiện kỹ thuật chuyên môn có thể tham gia trực tiếp hoặc trợ giúp trong chăm sóc

1.2.2 Vai trò chức năng của người điều dưỡng

Trang 15

Điều dưỡng chăm sóc và đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho người bệnh về thể chất và tinh thần [5] Để đảm bảo và nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh, giúp người bệnh sớm bình phục sức khỏe thì đối tượng nào cũng phải hoàn thành tốt vai trò nghề nghiệp của mình đồng thời cần phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa thầy thuốc và điều dưỡng Hội điều dưỡng Mỹ, hội điều dưỡng của các nước Singapore, Thái Lan, Philipin đã nêu rõ vai trò chức năng của người điều dưỡng chủ yếu là [22]:

1 Người chăm sóc

2 Người truyền đạt thông tin

3 Người giáo viên

4 Người tư vấn

5 Người biện hộ cho người bệnh

1.2.3 Nghĩa vụ nghề nghiệp của người điều dưỡng

Người điều dưỡng có bốn trách nhiệm cơ bản: nâng cao sức khỏe, phòng bệnh tật, phục hồi sức khỏe và làm giảm bớt đau đớn cho người bệnh [6]

Đối với người bệnh, người điều dưỡng có trách nhiệm: chăm sóc cơ bản cho những người cần tới sự chăm sóc; tạo ra một môi trường trong đó quyền của con người, các giá trị, tập quán và tín ngưỡng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng đều được tôn trọng; cần đảm bảo cho mọi cá thể nhận được thông tin cần thiết làm cơ sở để họ đồng ý chấp nhận các phương pháp điều trị và chăm sóc; giữ kín các thông tin về đời tư của người mình chăm sóc, đồng thời phải xem xét một cách thận trọng khi chia sẻ các thông tin này với người khác

Trách nhiệm nghề nghiệp của người điều dưỡng với người bệnh phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Không bao giờ được từ chối giúp đỡ người bệnh: ý thức trách nhiệm

trước cuộc sống của người bệnh đòi hỏi người điều dưỡng một sự quan tâm đặc biệt và một sự sẵn sàng quên mình để giúp đỡ người bệnh Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần nhớ rằng người bệnh đang gặp khó khăn và đang cần sự giúp

đỡ của người cán bộ y tế Sự từ chối giúp đỡ người bệnh là vi phạm nghĩa vụ xã

Trang 16

hội của mình, phải chịu sự lên án về mặt đạo đức và khi cần phải bị xử phạt về hành chính

Giúp đỡ người bệnh loại trừ các đau đớn về thể chất: trước người bệnh

đang bị đau đớn vì bệnh tật, người điều dưỡng phải luôn thể hiện một sự thông cảm và quan tâm đặc biệt, xem nỗi đau đớn của người bệnh như nỗi đau đớn của chính mình để tìm mọi cách cứu giúp Khi tiến hành các kỹ thuật chăm sóc và điều trị phải nhẹ nhàng để hạn chế tới mức thấp nhất sự đau đớn cho người bệnh

Không bao giờ được bỏ mặc người bệnh: người điều dưỡng có nhiệm vụ đấu tranh cho sự sống của người bệnh đến cùng, luôn dành sự quan tâm tối đa cho người bệnh với tinh thần “còn nước còn tát”, không bao giờ xa rời vị trí để người bệnh một mình đối phó với bệnh tật

Hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh: trong khi nằm viện, tinh thần của

người bệnh chịu ảnh hưởng của bản thân bệnh tật, sự cách ly người thân, môi trường bệnh viện và nhiều yếu tố khác Vì vậy, tình trạng về tinh thần và thể chất của người bệnh thực tế khác với tình trạng của người khỏe Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng phải gây được lòng tin của người bệnh vào hiệu quả điều trị

Tôn trọng nhân cách người bệnh: bản chất của y đức học được thể hiện

trong câu “phải đối xử với người bệnh như anh muốn người ta đối xử với anh” Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng phải tạo ra một môi trường trong

đó mọi giá trị, mọi phong tục tập quán và tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân đều được tôn trọng Khi tiếp xúc với người bệnh, người điều dưỡng không được cáu gắt, quát mắng người bệnh [7]

1.2.4 Giáo dục sức khỏe cho người bệnh

Trang 17

- GDSK nhằm giúp người bệnh hiểu rõ về bản chất của bệnh, các yếu tố nguy cơ cho sự tiến triển của căn bệnh, vai trò của người bệnh trong việc đạt đến kết quả điều trị tối ưu

- GDSK giúp cải thiện tỉ lệ người bệnh tuân thủ điều trị: dùng thuốc đều đặn, luyện tập vận động đều đặn, duy trì tình trạng dinh dưỡng ổn định

- Loại hình GDSK: phân phát các tài liệu in ấn, tổ chức các buổi trình bày

có minh họa bằng hình ảnh và tài liệu phát tay, thảo luận trong nhóm nhỏ giúp hiểu rõ nội dung thông tin, trao đổi kinh nghiệm

- Các nội dung giáo dục sức khỏe: Sinh bệnh học bệnh, kỹ năng sử dụng thuốc, hướng dẫn về dinh dưỡng, nhận biết và xử trí các dấu hiệu cảnh báo dấu hiệu nặng, cách vệ sinh

- Kỹ thuật sử dụng thuốc

 Có vai trò rất quan trọng giúp tuân thủ điều trị

 Ưu khuyết điểm của từng dạng thuốc

 Hướng dẫn chi tiết, có hình ảnh minh họa, có thực hành

- Các dấu hiệu cảnh báo tiến triển nặng:

 Giúp người bệnh nhận biết sớm nhất khi có các triệu chứng khởi đầu

 Có thái độ và cách xử trí thích hợp

 Giảm bớt di chứng, tỷ lệ tử vong

 Giảm bớt số lần nhập viện, thời gian nằm viện và chi phí y tế

 Giúp người bệnh lựa chọn môi trường

 Sống chung với di chứng bệnh với chất lượng cuộc sống tốt

 Hướng dẫn chi tiết và chu đáo những vấn đề trong đời sống hàng ngày,

 bao gồm cả đời sống tinh thần [5]

- Biết cách phòng bệnh

 Thực hiện tiêm phòng

 Lựa chọn thực phẩm

Trang 18

Với các ý nghĩa trên, GDSK giữ vai trò quan trọng và là một bộ phận hữu

cơ, không thể tách rời của hệ thống y tế, là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của điều dưỡng, của mọi cán bộ y tế và của mọi cơ quan y tế từ trung ương đến

cơ sở Kỹ năng GDSK cũng là một trong những tố chất cơ bản giúp người điều dưỡng thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình

1.3 Tầm quan trọng của GDSK đối với người bệnh

- Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi hành vi sức khỏe

- Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người

- Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ lệ tử vong nhất là ở các nước đang phát triển

- Tăng cường hiệu quả các dịch vụ Y tế

1.4 Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng thế giới

Năm 2015, trong một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Casey D [21] ở 3 bệnh viện công gồm Tikur Anbessa, Saint Paul và Zewditu Memorial tại tỉnh Addis Ababa, Ethiopia nhằm đánh giá công tác chăm sóc của điều dưỡng thông qua mức độ hài lòng của 631 NB, kết quả cho thấy: Trong khi, tỷ lệ NB hài lòng với khả năng chuyên môn của người điều dưỡng đạt 70% thì tỷ lệ NB hài lòng với lượng thông tin nhận được từ điều dưỡng về tình trạng bệnh tật, cách thức điều trị bệnh của họ chỉ đạt 40%

Nghiên cứu nhận thức về chất lượng chăm sóc tại phòng cấp cứu và xác định các khu vực cải tiến chất lượng của Muntlin, Gunningberg và Carlsson (2016) tại Thụy Điển cho thấy hơn 20% người bệnh cho rằng đã không nhận được các thông tin hữu ích từ điều dưỡng về cách tự chăm sóc bản thân [26]

Một nghiên cứu của Jenney và cộng sự (2014) về kiến thức của điều dưỡng chỉ ra rằng có 21% điều dưỡng thiếu kiến thức về quy trình GDSK cho người bệnh trước khi ra viện

Nghiên cứu của tác giả Kelly và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng tuổi liên quan rõ ràng với kiến thức Điều dưỡng lớn tuổi thì kinh nghiệm làm việc nhiều,

Trang 19

họ có kinh nghiệm tốt hơn trong việc nắm bắt tình trạng bệnh và mức độ tiếp thu của người bệnh so với điều dưỡng trẻ tuổi [23]

Nghiên cứu của Nguyen Hong Minh (2020) lại cho rằng trình độ của điều dưỡng là yếu tố quan trọng liên quan đến kiến thức kỹ năng giáo dục sức khỏe, trình độ giáo dục cao hơn có liên quan rõ ràng với kiến thức tốt hơn (80% điều dưỡng có trình độ học vấn đại học có kiến thức tốt, trong khi con số này ở những điều dưỡng có trình độ học vấn trung cấp chỉ khoảng 30%) với P= 0.002 [24]

Một nghiên cứu khác của Kelly Scott (2020) cũng chỉ ra rằng, số lượng điều dưỡng có liên quan trực tiếp đến chất lượng chăm sóc, ở bệnh viện nào có nhiều điều dưỡng có trình độ cao và số lượng đông thì chất lượng chăm sóc cao hơn hẳn các bệnh viện khác Chất lượng chăm sóc điều dưỡng bao gồm việc phòng ngừa té ngã người bệnh, phòng chống loét do tỳ đè, viêm phổi do thở máy, nhiễm trùng máu do đặt catheter và đặt ống thông đường tiết niệu [23]

1.5 Thực trạng công tác giáo dục sức khoẻ của điều dưỡng tại Việt Nam

Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Bích Ngà năm 2011 [15] về thực trạng công tác chăm sóc của điều dưỡng thông qua nhận xét của người bệnh điều trị nội trú tại Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương cho thấy điều dưỡng viên làm tương đối tốt các chức năng cơ bản như: hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ đạt 84,2%; theo dõi, đánh giá NB đạt 80,5%; tiếp đón NB đạt 78,9%; Tuy nhiên, công tác tư vấn, GDSK cho NB chỉ đạt 49,6%

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bình Minh năm 2019 [14] tiến hành tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình nhằm mô tả thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng cho thấy: về cơ bản ĐDV của bệnh viện đã hoàn thành tương đối tốt các nhiệm vụ với 4 trong 5 nhiệm vụ được đánh giá đều đạt trên 90% như: công tác tiếp đón NB đạt 95,8%, tiếp theo là hoạt động chăm sóc hỗ trợ về tâm lý, tinh thần; theo dõi đánh giá NB lần lượt đạt 94,9% và 94,0%, và công tác phối hợp thực hiện y lệnh của bác sỹ đạt 90,3% Tuy nhiên, kết quả thực hiện công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK lại khá thấp chỉ đạt 66,2%

Trang 20

Nghiên cứu của Phạm Thị Loan và cộng sự năm 2016 [12] khi lấy ý kiến của 213 người bệnh nằm điều trị nội trú tại các khoa lâm sàng bệnh viện C - Thái Nguyên để đánh giá công tác CSNB của ĐD, kết quả cho thấy 97,18% người bệnh đánh giá được điều dưỡng thông báo và hướng dẫn sử dụng thuốc;

tỷ lệ điều dưỡng giải thích động viên người bệnh khi thực hiện tiêm truyền và thủ thuật cũng được người bệnh đánh giá khá cao đạt 87,3%; Có 86,86% người bệnh đánh giá được ĐD hướng dẫn về chế độ ăn uống

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Nguyễn Thị Thanh Điều năm 2017 [8] về thực trạng và một số giải pháp về tăng cường công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh tại Viện Chấn thương - Chỉnh hình quân đội 108 (4/2016 - 6/2017), cho thấy: Trong khi, những chăm sóc cơ bản như lấy mạch, nhiệt độ, đo huyết áp được đánh giá ở mức độ cao đạt > 95%; công tác chuẩn bị cho người bệnh trước

mổ đạt 97,5%; 96% người bệnh đánh giá được điều dưỡng đón tiếp vui vẻ, chăm sóc tận tình, động viên giải thích rõ ràng, song các vấn đề khác như giao tiếp, giải thích cho người bệnh trước khi làm các thủ thuật mới chỉ đạt ở 80,8%; công tác chăm sóc ống dẫn lưu sau mổ cũng như chăm sóc vết mổ đạt từ 85,8% - 86,7% Tuy vậy, công tác hướng dẫn người bệnh tự chăm sóc và phòng bệnh chỉ đạt 77,5%, công tác hướng dẫn người bệnh cách luyện tập phục hồi chức năng sau

mổ mới chỉ đạt 78,3%

Khảo sát thực trạng giao tiếp và ứng xử của điều dưỡng viên tại Bệnh viện

đa khoa tỉnh Hà Giang từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2009 của Phạm Khánh Vân năm 2019 [20] cho thấy còn những tồn tại như 10,58 % điều dưỡng viên không hướng dẫn chế độ ăn cho NB hoặc 6,88 % không giải thích và hướng dẫn NB cách sử dụng thuốc v.v

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hồng Loan năm 2019 [13] tại Sơn La cho thấy vẫn còn 22,4% người bệnh không được điều dưỡng tư vấn về phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn, 23,2% người bệnh không được tư vấn về hoạt động thể lực…

Trang 21

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu:

- Điều Dưỡng, Hộ sinh trực tiếp chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện Đa

khoa thành phố Vinh

- Bệnh nhân là những người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa

thành phố Vinh

Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Điều dưỡng, Hộ sinh đã có chứng chỉ hành nghề

+ Người bệnh sau khi kết thúc điều trị tại khoa hoàn toàn tỉnh táo và có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên, có khả năng đọc hiểu không có rối loạn hay sa sút trí tuệ

và được lựa chọn giai đoạn kết thúc đợt điều trị

+ Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Điều dưỡng, nữ hộ sinh không trực tiếp chăm sóc người bệnh làm việc

tại các phòng chức năng, phòng khám ngoại trú và các khoa cận lâm sàng

+ Điều dưỡng, nữ hộ sinh trong thời gian nghỉ chế độ, đi học trong thời gian nghiên cứu

Trang 22

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 01/3/2021 đến tháng

01/10/2021

- Địa điểm: 11 khoa lâm sang

+ Nội tổng hợp, Nội tim mạch, Ngoại tổng hợp, Ngoại Chấn thương, Mắt, Tai mũi họng, Răng hàm mặt, Hồi sức tích cực – chống độc thận nhân tạo, Sản, Bệnh nhiệt đới, Y học cổ truyền

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả cắt ngang theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Bước 1: Lựa chọn đối tượng điều dưỡng, Hộ sinh, KTV:

+ Lập danh sách Điều dưỡng, Hộ sinh, KTV có chứng chỉ hành nghề (cung cấp bởi phòng tổ chức hành chính)

+ Lấy mẫu toàn bộ điều dưỡng viên trong danh sách, tra cứu hồ sơ bệnh

án của điều dưỡng viên thực hiện tại thời điểm hoàn thành hồ sơ thủ tục cho người bệnh xuất viện đảm bảo (N=195)

Bước 2: Lựa chọn đối tượng bệnh nhân

+ Từ hồ sơ bệnh án của điều dưỡng viên được đưa vào nghiên cứu, lựa

chọn thuận tiện 01 bệnh nhân được điều dưỡng viên tương ứng chăm sóc để phỏng vấn (N=195)

Trang 23

2.5 Các biến số nghiên cứu

Đặc điểm nhân khẩu học của Điều dưỡng

lệ tuổi (dương lịch) của ĐTNC tại thời điểm nghiên cứu, theo nhóm tuổi

Rời rạc Theo danh sách

5 năm, 10 năm

Rời rạc Theo danh sách

Kiến thức chung của điều dưỡng về giáo dục sức khoẻ

5 Đánh giá

chung kiến thức tư vấn GDSK cả điều dưỡng

Số lượng/ Tỷ

lệ đạt kiến thức theo mức độ xuất sắc, giỏi, khó,

Thứ bậc Phỏng vấn

Trang 24

trung bình, kém

Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân

lệ tuổi (dương lịch) của ĐTNC tại thời điểm nghiên cứu, theo nhóm tuổi

Thứ bậc Phỏng vấn

Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe

9 Tần suất

người bệnh được ĐD tư vấn trong thời gian nằm viện

Số lượng/ Tỷ

lệ thực hiện GDSK theo tần suất 3 lần trở lên, 2 lần,

1 lần, không lần nào

Rời rạc Phỏng vấn

10 Thời điểm

NB được điều dưỡng thực hiện GDSK

Số lượng/ Tỷ

lệ thực hiện GDSK theo thời điểm trước, trong,

và sau thời gian nằm

Rời rạc Phỏng vấn

Trang 25

viện

Nhóm biến số về chất lượng GDSK

11 Khi vào viện

NB có được hướng dẫn nội quy bệnh viện, khoa phòng

Số lượng/ Tỷ

lệ bệnh nhân trả lời có/không được thực hiện nội dung GDSK được hỏi

Nhị phân Phỏng vấn

12 Giải thích cho

NB cách dùng thuốc, mục đích của sử dụng thuốc,

XN

Số lượng/ Tỷ

lệ bệnh nhân trả lời có/không được thực hiện nội dung GDSK được hỏi

Nhị phân Phỏng vấn

13 Hướng dẫn

chế độ ăn uống trong quá trình điều trị và khi ra viện

Số lượng/ Tỷ

lệ bệnh nhân trả lời có/không được thực hiện nội dung GDSK được hỏi

Nhị phân Phỏng vấn

14 Thông tin về

tình trạng SK của NB trong quá trình điều trị

Số lượng/ Tỷ

lệ bệnh nhân trả lời có/không được thực hiện nội dung GDSK được hỏi

Nhị phân Phỏng vấn

Trang 26

Nhị phân Phỏng vấn

Trang 27

trong điều trị

và khi ra viện

có/không được thực hiện nội dung GDSK được hỏi

20 Cách nhân

viên tư vấn cho ông bà có

dễ hiểu không

?

Số lượng/ Tỷ

lệ bệnh nhân trả lời có/không được thực hiện nội dung GDSK được hỏi

Nhị phân Phỏng vấn

21 Đánh giá

chung về công tác tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe

Số lượng/ Tỷ

lệ bệnh nhân trả lời có/không được thực hiện nội dung GDSK được hỏi

Nhị phân Phỏng vấn

22 Phương pháp

giáo dục sức khỏe

Số lượng/ Tỷ

lệ bệnh nhân được GDSK

phương pháp:

trực tiếp và gián tiếp

Rời rạc Phỏng vấn

23 Cảm nhận

chung của ông, bà về năng lực Điều dưỡng trong công tác GDSK

Số lượng/ Tỷ

lệ bệnh nhân cảm nhận về công tác GDSK theo 3 mức: rất tốt, tốt, chưa tốt

Thứ bậc Phỏng vấn

Trang 28

2.6 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin

* Công cụ nghiên cứu

- Nhóm nghiên cứu thực hiện lấy thông tin bằng Phiếu thu thập thông tin (Bảng kiểm đánh giá việc truyền thông giáo dục sức khỏe tại các khoa lâm sàng nội trú) được thiết kế sẵn

* Phương pháp thu thập thông tin

- Đánh giá kiến thức của điều dưỡng về giáo dục sức khỏe bằng các bộ câu hỏi (theo Phụ lục 1) dựa vào TT 07/2011/BYT và tham khảo đề tài của tác giả Lê Thị Hồng Loan cho 11 khoa lâm sàng

+ Trong bộ câu hỏi đánh giá thực trạng về công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh được chia thành 30 câu

 Nếu trả lời đúng 29-30 câu trở lên => Xuất sắc

 Nếu trả lời đúng 25-28 câu trở lên => Giỏi

 Nếu trả lời đúng 21-24 câu trở lên => Khá

 Nếu trả lời đúng 15-20 câu trở lên => Trung bình

 Nếu trả lời đúng dưới 15 câu => Kém

- Thu thập thông tin từ người bệnh về thực trạng thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng viên (ĐDV) tại 11 khoa lâm sàng trong bệnh viện:

- Phương pháp:

+ Đối với bộ câu hỏi đánh giá kiến thức và thực trạng về công tác GDSK cho người bệnh của điều dưỡng viên và phiếu phỏng vấn bệnh nhân về công tác giáo dục sức khỏe thì tiến hành theo phương pháp phát vấn theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn

+ Đối với phỏng vấn bệnh nhân:

- Chọn ngẫu nhiên 195 bệnh nhân đang điều trị trong tổng số 650 bệnh nhân đang điều trị nội trú tại thời điểm nghiên cứu, tất cả người bệnh được chọn của mỗi khoa sẽ được mời lên văn phòng khoa và sau khi giải thích, đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được tiến hành phát vấn

Trang 29

- Điều tra viên (ĐTV) tiến hành phát vấn từng người bệnh theo các nội dung trong phiếu khảo sát và yều cầu người bệnh đánh dấu vào ô tương ứng với câu trả lời, trong quá trình phát vấn nếu người bệnh thấy nội dung nào chưa rõ thì sẽ hỏi trực tiếp ĐTV để được giải thích

- Sau khi phát vấn xong, ĐTV kiểm tra lại và đảm bảo các nội dung phát vấn đã đầy đủ theo yêu cầu nghiên cứu

- ĐTV là Nhân viên phòng điều dưỡng đã được học về phương pháp nghiên cứu khoa học và được tập huấn thống nhất cách điều tra

- Công cụ thu thập số liệu: Phiếu phát vấn được thiết kế sẵn dựa trên mục tiêu nghiên cứu để khảo sát ý kiến người bệnh về công tác giáo dục sức khỏe của điều dưỡng cho người bệnh

+ Đối với phỏng vấn điều dưỡng:

- Chọn tất cả điều dưỡng của 11 khoa lâm sàng hiện đang làm việc tại thời điểm nghiên cứu là 195 điều dưỡng để phát vấn tại các văn phòng khoa của các khoa lâm sàng đó ĐTV tiến hành phát vấn từng điều dưỡng theo các nội dung trong phiếu khảo sát và yều cầu điều dưỡng viên đánh dấu vào ô tương ứng với câu trả lời, trong quá trình phát vấn nếu điều dưỡng viên thấy nội dung nào chưa rõ thì sẽ hỏi trực tiếp ĐTV để được giải thích

2.7 Xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu liệu được thu thập và xử lý theo thống kê mô tả thông thường

- Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công tác GDSK của điều dưỡng từ kết quả phiếu thu thập: (cho lên phần công cụ hoặc mô tả ở phần biến số)

Người Bệnh được tư vấn giáo dục

sức khỏe

Có = 1 điểm

Không = 0 điểm

Tần suất người bệnh được giáo dục

sức khỏe trong đợt điều trị này (0-3

Ngày đăng: 25/12/2021, 16:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học điều dưỡng (n=195) - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC  GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ CỦA ĐIỀU DƯỠNG
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học điều dưỡng (n=195) (Trang 32)
Bảng 3.2. Đặc điểm nhân khẩu học người bệnh (n=195) - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC  GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH NỘI TRÚ CỦA ĐIỀU DƯỠNG
Bảng 3.2. Đặc điểm nhân khẩu học người bệnh (n=195) (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w