TIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDSTIỂU LUẬN chứng minh chứng cứ trong TTDS
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong tố tụng dân sự (TTDS), quan hệ lợi ích cần được giải quyết trong các vụ việcdân sự là quan hệ giữa các đương sự, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mìnhtrước
Tòa án thì các đương sự có quyền và nghĩa vụ chứng minh cho Tòa án và những ngườitham gia tố tụng khác thấy được sự đúng đắn trong yêu cầu của mình, đồng thời chứngminh rằng bị đơn phải có nghĩa vụ đối với yêu cầu của mình Ngược lại, bị đơn cũng cóquyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh sự phản đối yêu cầu của mình đốivới đương sự phía bên kia là có căn cứ và hợp pháp Ngoài ra, với quyền và nghĩa vụcung cấp chứng cứ và chứng minh của các đương sự thì Tòa án cũng có đầy đủ chứng cứ
để giải quyết vụ việc dân sự khách quan, chính xác và đúng pháp luật Bởi lẽ, tất cả cáchoạt động tố tụng dân sự đều phải đi đến kết luận về giá trị chứng minh của chứng cứ,trên cơ sở đó mới có thể kết luận về vụ án, vụ việc dân sự
Như vậy, cung cấp chứng cứ và chứng minh được coi là một trong các nguyên tắc
cơ bản của TTDS
Trang 3tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào chứng cứ, chứng cứ
là phần quan trọng, lớn nhất để chứng minh vụ việc dân sự Dựa vào chứng cứ mà cácđương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình; các cơquan tiến hành tố tụng có đủ hay không đủ điều kiện để xác định tình tiết của vụ việc dân
sự đúng, đủ, chính xác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân và bảo vệ phápluật
Có nhiều định nghĩa về chứng cứ của một số nước trên thế giới: Trong Bộ luật Tốtụng dân sự của Liên bang Nga có quy định: "Chứng cứ trong tố tụng dân sự là những sựthật khách quan và theo đó mà Tòa án có cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án dân sự"; hay
Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản định nghĩa: "Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó mộttình tiết được Tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyếtphục là một tình tiết nhất định tồn tại hay không" Về nội hàm của khái niệm một số nướctrên tựu chung là khẳng định: Chứng cứ là sự thật khách quan
Tại Việt Nam ThS Đoàn Thị Ngọc Hải trong bài viết “Chứng cứ, chứng minh trong
tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”1 từng đưa ra kháiniệm “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và các cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa
án thu thập được theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụnglàm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay
sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”
Bộ luật Tố tụng Dân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 27/5/2004 tại Điều 81 đã đưa ra quy phạm định nghĩa về khái niệm chứng
cứ như sau: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo
1 Đoàn Thị Ngọc Hải, “Chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, ngày 14/03/2017 tại web:http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2110
Trang 4trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự” Và theo Điều 93 Bộ luật TTDS 2015, “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được trong quá trình tố tụng, từ đó xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có căn
do Tòa án sử dụng làm cơ sở để giải quyết vụ việc dân sự được gọi là chứng cứ
Như vậy chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được thu thập theo trình tự do pháp luật tố tụng dân sự quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết
b) Tính liên quan của chứng cứ
Trang 5Tính liên quan, là thuộc tính quan trọng của chứng cứ, gắn liền với các sự kiện cầnchứng minh trong các vụ việc dân sự.Những thông tin, tài liệu, sự kiện có thật, tồn tạikhách quan chỉ được coi là chứng cứ khi nó có mối liên hệ với các sự kiện cần chứngminh trong vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết Tính liên quan của chứng cứ gắnliền với sự chứa đựng thông tin, tài liệu, sự kiện mà các đương sự và các chủ thể tham giachứng minh cung cấp cho Tòa án cũng như hoạt động sử dụng chứng cứ của Tòa án trongviệc kết luận một sự việc Tính liên quan còn được thể hiện dưới dạng gián tiếp, tức làdựa vào thông tin đó, phải qua một hoặc nhiều khâu trung gian mới giúp Tòa án đưa rakết luận về tình tiết, sự kiện cần chứng minh trong vụ việc dân sự Như vậy, tính liên quantrong vụ việc dân sự được hiểu là các tình tiết, sự kiện có liên quan trực tiếp hoặc giántiếp với vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết
Tuy nhiên, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì cũng phải có mối quan hệ nội tại, cómối quan hệ nhân quả Từ việc đánh giá rõ tình tiết liên quan, Tòa án có thể xác địnhđúng chứng cứ cần sử dụng để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự mà không để xảy ratrường hợp thừa, hoặc không đầy đủ chứng cứ
c) Tính hợp pháp của chứng cứ
Tính hợp pháp, là chứng cứ phải được rút ra từ những nguồn gốc nhất định do phápluật quy định; quá trình thu thập, nghiên cứu, đánh giá, sử dụng chứng cứ phải được tiếnhành theo đúng quy định của pháp luật, còn những gì không được thu thập, nghiên cứu,đánh giá và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật thì không được coi là chứng cứ,không được sử dụng giải quyết vụ việc dân sự
Nếu thiếu thuộc tính này, việc thu thập, đánh giá chứng cứ sẽ dễ dàng bị các chủ thể
tố tụng lạm dụng, không bảo đảm tính đúng đắn, công bằng của thủ tục tố tụng, ảnhhưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và các chủ thể khác
1.1.3 Phân loại chứng cứ
Chứng cứ có thể được phân chia thành nhiều loại dựa trên nhiều tiêu chí và cách tiếpcận khác nhau Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu, đánh giá độ tin cậycủa chứng cứ cũng như trong việc sử dụng chứng cứ
+ Dựa vào nguồn chứng cứ được phân loại thành chứng cứ theo vật và chứng cứtheo người Chứng cứ theo người: Là chứng cứ được rút ra từ lời khai của đương sự,người làm chứng Chứng cứ theo vật: Là chứng cứ được rút ra từ những vật như vậtchứng, tài liệu, giấy tờ
Trang 6+ Dựa vào mức độ liên quan cử chứng cứ với các tình tiết, sự kiện cần chứng minhtrong vụ việc dân sự, chứng cứ được chia thành chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp + Dựa vào cách thức tạo thành chứng cứ, chứng cứ được chia thành chứng cứ gốc vàchứng cứ sao lại, thuật lại
+ Dựa vào hình thức thể hiện của chứng cứ, chứng cứ được chia thành chứng cứ viết
và chứng cứ miệng
Thông thường, các chứng cứ theo vật, chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gốc và chứng cứviết có giá trị chứng minh cao hơn
1.1.4 Nguồn của chứng cứ
Nguồn chứng cứ ở trong tố tụng dân sự là nguồn được thu thập, cung cấp theo trình
tự Bộ luật Tố tụng dân sự và được liệt kê tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự thì được coi
là nguồn Bởi vậy, nếu không có nguồn chứng cứ sẽ không chứng minh làm sáng tỏ đểgiải quyết vụ việc dân sự
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì nguồn của chứng cứ bao gồm: Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; dữ liệu điện tử; Vật chứng;Lời khai của đương sự; Lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định; Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp
lý do người có chức năng lập; Văn bản công chứng, chứng thực; Các nguồn khác mà pháp luật có quy định (Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự)
Có thể hiểu nguồn của chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ Nó tồn tại hai loạinguồn chủ yếu là nguồn vật và tài liệu Tòa án chỉ có thể thu thập các nguồn chứng cứ, từ
đó rút ra các chứng cứ Bất kỳ loại chứng cứ nào cũng phải nằm trong một loại nguồnchứng cứ nhất định; nhưng không có nghĩa là khi thu thập một nguồn chứng cứ nào đó thìnhất định trong đó sẽ chứa đựng chứng cứ, vì vậy sẽ phạm sai lầm trong đánh giá, sửdụng Ví dụ, vật chứng đương sự cung cấp cho Tòa án là nguồn nhưng là vật chứng đượcđương sự làm giả, gian dối thì không thể coi vật chứng này là nguồn được; hay kết luậngiám định là nguồn chứng cứ nhưng kết luận giám định sai thì không thể coi là nguồn củachứng cứ được
1.2 Khái niệm về chứng minh
Trang 71.2.1 Thế nào là hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự
Tại trang 178 của Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục năm 1998 định nghĩa:
"Chứng minh là dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó đúng hay không đúng".2
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003, tr 192 ghi: "Chứng minh là làmcho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ".3
Mỗi vụ việc dân sự phát sinh thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữacác bên đương sự nên rất phực tạp Để giải quyết được vụ việc dân sự thì mọi vấn đề của
vụ việc dân sự dù ai nêu ra cũng phải được làm rõ trước khi Tòa án quyết định giải quyết
vụ việc dân sự
Chứng minh là hoạt động chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án Bảnchất của hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng không chỉ thể hiện ở chỗ xác địnhcác tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà còn thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi ngườithấy rõ là có thật, là đúng với thực tế Do đó, các phương thức được các chủ thể chứngminh sử dụng để chứng minh rất đa dạng Nhưng để thực hiện được mục đích, nhiệm vụcủa chứng minh, các chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ ra được tất cả các căn cứpháp lý và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự Quá trình chứng minh được diễn ra suốttrong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Hoạt động chứng minh trong quá trình Tòa ángiải quyết vụ việc dân sự bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể tố tụng.Trong đó, hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại phiên tòacủa các chủ thể là chủ yếu và mang tính quyết định
Cung cấp chúng cứ: Là nghĩa vụ chủ yếu là do đương sự giao nộp cho Tòa án,đương sự muốn làm rõ được yêu cầu hay phản đối yêu cầu của họ là có căn cứ hợp phápthì trách nhiệm của họ là phải cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh.Việc cung cấp chứng cứ còn có thể do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp
- Thu thập chứng cứ là trách nhiệm của các đương sự, hoặc một số trường hợp Tòa
án thu thập Việc thu thập, cung cấp và giao nộp chứng cứ để chứng minh trong giải quyết
vụ việc dân sự phải đúng hạn, nhanh chóng và kịp thời
- Nghiên cứu và đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động chứng minh Nó làmột quá trình lôgíc nhằm xác định giá trị chứng minh và sự phù hợp của các chứng cứ -
2 Từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Giáo dục, Hà Nội
3 Từ điển tiếng Việt (2003), Nxb Đà Nắng, Đà Nẵng
Trang 8sự phù hợp của chứng cứ ở đây là sự phù hợp giữa những tình tiết, sự kiện đã thu thậpđược với thực tế khách quan
Thông qua nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, Tòa án hình thành các đối tượngchứng minh và sắp xếp các sự kiện theo một trình tự nhất định Chứng minh trong tố tụngdân sự có ý nghĩa làm rõ, xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, đảm bảo việcgiải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Chứng minh là biện pháp duy nhất để xác định các sựkiện, tình tiết của vụ việc dân sự Thông qua hoạt động chứng minh, Thẩm phán, Hộithẩm nhân dân và các chủ thể khác thấy rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự đượcgiải quyết Đối với các đương sự, chứng minh là vấn đề rất quan trọng để các đương sựlàm rõ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, trên cơ sở đó thuyết phục Tòa bảo vệ Trước Tòa
án, nếu đương sự không chứng minh được sự tồn tại quyền, lợi ích hợp pháp của họ thìquyền và lợi ích hợp pháp của họ có thể sẽ không được Tòa án bảo vệ Trên thực tế, Tòa
án có thể sai lầm trong việc xácđịnh, đánh giá chứng cứ, không làm sáng tỏ được các tìnhtiết, sự kiện của vụ việc dân sự Điều đó dẫn đếu việc giải quyết vụ việc dân sự khôngđúng với sự thật và làm cho đương sự không được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ.Chứng minh không chỉ có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự củaTòa án, mà còn là Phương tiện để các đương sự làm rõ được yêu cầu của mình, bác bỏyêu cầu của đương sự khác nhằm thuyết phục Tòa án bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng của các chủ thể theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự mà theo đó việc làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc là cần thiết; trong đó còn bao gồm cả hoạt động áp dụng luật của Tòa án đối với vụ việc dân sự cụ thể cần giải quyết
1.2.2 Chủ thể của hoạt động chứng minh
Chứng minh làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự để giải quyết đúng đắn
vụ việc dân sự Nhưng ở đây phải xác định ai thực hiện việc chứng minh? Nói rõ hơn, ai
là người đứng ra để nghiên cứu, thu thập, giao nộp, đánh giá chứng cứ trong quá trình giảiquyết vụ việc dân sự?
Trong tố tụng dân sự, đương sự tham gia tố tụng là chủ thể trung tâm Tuy vậy,chứng minh không chỉ giới hạn ở việc xác định chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu hayphản đối yêu cầu của đương sự mà còn phải làm rõ được tất cả các vấn đề liên quan đến
vụ việc dân sự Tòa án có nhiệm vụ giải quyết Khi quyết định giải quyết vụ việc dân sự,trong bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của mình Tòa án cũng phải chỉ rõ quyết
Trang 9định được dựa trên những căn cứ thực tế và căn cứ pháp lý nào Vấn đề xác định rõ chủthể chứng minh, quyền và nghĩa vụ của họ như thế nào? Vì mỗi chủ thể tham gia tố tụngdân sự đều xuất phát từ những mục đích, nhiệm vụ khác nhau nên quyền và nghĩa vụ của
họ cũng khác nhau Trong đó, xác định nghĩa vụ chứng minh của đương sự, người đạidiện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và Tòa án trongviệc làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ án dân sự
Theo quy định tại điều 06, điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chủ thể của hoạtđộng chứng minh bao gồm đương sự cũng như cá nhân, cơ quan, tổ chức, người bảo vệquyền lợi cho đương sự
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc cung cấp chứng cứ và chứng minhcho yêu cầu của mình thuộc về đương sự Đây là một trong những nguyên tắc xuất phát từquyền tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện Đương sự có yêu cầu bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó làhợp pháp Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của người khác thì phải đưa rachứng cứ để phản đối Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minhđặt ra cho cả hai bên đương sự, bên khởi kiện, bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liênquan
Ngoài các đương sự, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định các cá nhân, cơ quan, tổ chứckhởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũngphảichứng minh (khoản 3 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự) Tuy không có quyền và lợi ích gắnliền với vụ việc dân sự như đương sự, nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêucầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp củangười khác nếu không thực hiện nghĩa vụ chứng minh thì sẽ dẫn đến sự bất lợi cho cácđương sự
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng với mục đíchbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có quyền và nghĩa vụ chứng minh.Ngoài việc giúp đương sự về mặt pháp lý để đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
họ thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chứng minh bằng việc đưa
ra các chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho các yêu cầu hoặc phản đối các yêu cầu là có cơsở
Trang 101.2.3 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003, tr 328 ghi: Đối tượng là
người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và hành động.4
Trong tố tụng dân sự, đối tượng chứng minh là một vấn đề hết sức quan trọng, do đókhi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải xác định được những vấn đề chứng minh baogồm các tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan, các căn cứ pháp lý nằm trong phạm vi yêucầu khởi kiện và cần được làm sáng tỏ
Xác định đúng đối tượng chứng minh trong mỗi vụ việc dân sự cụ thể có ý nghĩa rấtquan trọng, có tính chất quyết định tới kết quả giải quyết vụ việc dân sự Vì xác định đốitượng chứng minh cũng có nghĩa là xác định phạm vi những sự kiện, tình tiết của vụ việcdân sự cần làm rõ, thông qua đó chứng minh làm rõ nó, để tòa án quyết định giải quyết vụviệc dân sự được đúng đắn Trên cơ sở xác định được đúng đối tượng chứng minh mớixác định được các chứng cứ, tài liệu cần có để giải quyết vụ việc dân sự, từ đó yêu cầucác đương sự và những người đang lưu giữ, cung cấp cho Tòa án theo quy định của phápluật Nếu không xác định được đúng đối tượng chứng minh sẽ dẫn đến việc tiến hànhchứng minh thừa hoặc thiếu các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự Điều nàyvừa có thể làm mất thời gian, sức lực của mọi người vừa có thể làm cho việc quyết địnhgiải quyết vụ việc dân sự của tòa án không có cơ sở chứng minh sự phản đối đó là có căn
cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệlợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hoặc yêucầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa người khác phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu củamình là có căn cứ và hợp pháp
Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tại Điều 92 về những tình tiết, sự kiện có tính rõràng thì không phải chứng minh như: tình tiết sự kiện mọi người đều biết; những tình tiết,
sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước cóthẩm quyền; những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản được công chứng,chứng thực hợp pháp Đối với những tình tiết, sự kiện mọi người đều biết thì không phảichứng minh Tuy nhiên, tất cả các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh phải được Tòa
án thừa nhận
Nói tóm lại, đối tượng chứng minh bao gồm những tình tiết, sự kiện khẳng định của bên có yêu cầu và tình tiết, sự kiện có tính phủ định của bên phản lại yêu cầu liên quan đến vụ việc dân sự cần xác định trong việc giải quyết vụ việc dân sự
4 Từ điển tiếng Việt (2003), Nxb Đà Nắng, Đà Nẵng
Trang 111.2.4 Các hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự
- Cung cấp chứng cứ: Hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa lại
cho Tòa án, Viện kiểm sát các chứng cứ của vụ việc dân sự
- Thu thập chứng cứ: Thu thập chứng cứ là việc phát hiện tìm ra các chứng cứ, tập hợp
đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng để giải quyết vụ việcdân sự
Các biện pháp Tòa án được áp dụng để thu thập chứng cứ:
▪ Lấy lời khai của đương sự
▪ Lấy lời khai của người làm chứng
▪ Đối chất
▪ Xem xét, thẩm định tại chỗ
▪ Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định
▪ Định giá, thẩm định giá tài sản
▪ Ủy thác thu thập chứng cứ
▪ Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ
- Đánh giá chứng cứ: Đánh giá chứng cứ là nhận định giá trị chứng minh của chứng cứ.
Người làm nhiệm vụ thực hiện đối chiếu, so sánh chứng cứ để tìm ra sự thống nhất, mâuthuẫn, từ đó có thể lần ra sự thật khách quan của vụ việc dân sự