1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 đến nay

168 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Báo Nhân Dân Trong Công Tác Đối Ngoại Của Việt Nam Từ Năm 1986 Đến Nay
Tác giả Nguyễn Trung Thành
Người hướng dẫn PGS. TS. Võ Kim Cương, GS.TS. Nguyễn Thái Yên Hương
Trường học Học viện Ngoại giao
Chuyên ngành Quan hệ Quốc tế
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA LUẬN ÁN Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học quan tâm đến vai trò của báo chí trong công tác đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 đến nay, tuy nhiên nghiên cứu điển hình về vai trò của báo Nhân dân, một tờ báo Đảng trong công tác đối ngoại từ khi đổi mới đến nay chưa được tìm hiểu. Đây có thể được coi là công trình nghiên cứu mang tính hệ thống đầu tiên về vấn đề này. Luận án đã cung cấp một cách hệ thống những vấn đề về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn vai trò của báo chí nói chung và báo Nhân dân nói riêng đối với công tác đối ngoại. Về cơ sở lý luận đó là: sự thay đổi về tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước từ năm 1986 đến nay, từ chỗ bắt đầu công cuộc đổi mới, phá thế bao vây cấm vận đến triển khai hội nhập quốc tế, chủ yếu là kinh tế quốc tế và triển khai hội nhập quốc tế một cách sâu rộng, toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh đó, luận án cũng đưa ra một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu như báo chí, thông tin đối ngoại cũng như vai trò của báo chí, thông tin đối ngoại trong công tác đối ngoại. Về cơ sở thực tiễn đó là: vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại từ khi thành lập (1951) cho đến năm 1986. Luận án là một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 đến nay được thể hiện qua các giai đoạn cụ thể: phá vây trong quan hệ quốc tế, tuyên truyền đường lối đối ngoại của Việt Nam; tiến hành hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập sâu về kinh tế, đẩy mạnh hội nhập toàn diện, phát huy vai trò chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong quá trình tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế; Từ đó đưa ra một số nhận xét về hoạt động của báo Nhân dân; bước đầu đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí trong công tác đối ngoại nói chung và báo Nhân dân nói riêng trong tình hình mới. Luận án là một tài liệu tham khảo về vai trò của báo chí trong công tác đối ngoại, qua đó góp phần định hình quan điểm và thúc đẩy hoạt động thông tin đối ngoại trên các ấn phẩm báo Nhân Dân hiện đại và hiệu quả nói riêng và củng cố, nâng cao nhận thức, phương pháp tổ chức thông tin đối ngoại trong tổ hợp báo chí đa phương tiện nói chung ở Việt Nam. INFORMATION ABOUT DOCTORAL DISSERTATION Subject: "The role of Nhan Dan newspaper in Vietnam''s foreign affairs from 1986 to present" Specialization: International Relations Code: 9310206 PhD student: Nguyen Trung Thanh The first PhD supervisor: Assoc. Prof. Dr. Võ Kim Cuong The second PhD supervisor: Prof. Dr. Nguyen Thai Yen Huong Training institution: Diplomatic Academy of Vietnam SUMMARY OF KEY CONTRIBUTIONS OF THE THESIS Although there have been many scientific works interested in the role of the press in Vietnam''s foreign affairs since 1986, a case study on the role of Nhan Dan newspaper - a Party newspaper - in foreign affairs has not been explored since the renovation (Doi Moi). This can be considered as the first systematic study on this issue. The dissertation has systematically provided issues on the practical and theoretical bases for the role of the press in general and Nhan Dan newspaper in particular for foreign affairs. The theoretical basis is the changes in foreign thinking of the Party and State from 1986 to the present, the changes from the beginning of the renovation process, breaking the blockade and embargo to the implementation of international integration, mainly international economy and the implementation of international integration in a wide and comprehensive way in many fields. In addition, the dissertation also introduces a number of concepts related to research issues such as journalism, external information as well as the role of the press and external information in foreign affairs. The practical basis is the role of Nhan Dan newspaper in foreign affairs from its establishment (1951) until 1986. The dissertation is a comprehensive and systematic study on the role of Nhan Dan newspaper in Vietnam''s foreign affairs from 1986 up to now, which is shown through specific stages: breaking siege in international relations, propagating Vietnam''s foreign policies; carrying out international integration, first of all, deepening economic integration, promoting comprehensive integration, developing proactive, active and responsible roles in the process of participating in regional and international organizations; From there, some comments are made on the activities of Nhan Dan newspaper; initially proposed a number of solutions to enhance the role of press in foreign affairs in general and the role of Nhan Dan newspaper in particular in the new circumstances. The dissertation is a reference document on the role of the press in foreign affairs, thereby contributing to shaping viewpoints and promoting external information activities on Nhan Dan publications modernly and effectively, and consolidate and raise awareness and ways of organizing external information on the multimedia journalism in Vietnam in general.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NGOẠI GIAO

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

Hà Nội - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các tư liệu

sử dụng trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này

Hà Nội, tháng năm 2021

Tác giả Luận án

NGUYỄN TRUNG THÀNH

Trang 4

lệ tôi, hướng dẫn tôi từ lúc bắt đầu cho tới lúc hoàn thiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo báo Nhân dân… đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án

Trong thời gian học tập và thực hiện luận án, tôi luôn nhận được nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của các Thầy Cô trong Học viện Ngoại giao, các đồng nghiệp tại báo Nhân dân, Thư viện Quốc gia, Thư viện Học viện Ngoại giao

Cuối cùng, tôi muốn dành lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã luôn ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Hà Nội, tháng năm 2021

Tác giả Luận án

NGUYỄN TRUNG THÀNH

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ BÁO CHÍ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI 22

1.1 Thông tin đối ngoại trong quan hệ quốc tế 22

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung luận án 22

1.1.2 Vai trò, vị trí, nội dung của thông tin đối ngoại trong công tác đối ngoại 26

1.1.2.1 Vai trò của báo chí trong thông tin đối ngoại 26

1.1.2.2 Vai trò của thông tin đối ngoại 27

1.2 Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 đến nay 31

1.2.1 Đổi mới tư duy đối ngoại giai đoạn 1986-1995 31

1.2.2 Đổi mới tư duy đối ngoại giai đoạn 1996-2011 36

1.2.3 Đổi mới tư duy đối ngoại giai đoạn từ năm 2011 đến nay 43

1.3 Báo Nhân dân trong công tác đối ngoại của Việt Nam từ năm 1975 đến năm 1986 48

Tiểu kết chương 1 54

Chương 2: BÁO NHÂN DÂN TRONG VIỆC TRIỂN KHAI CÔNG TÁC 56 THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 56

2.1 Giai đoạn đầu công cuộc Đổi mới, phá thế bao vây cấm vận (1986-1995) 56

2.1.1 Tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thành tựu bước đầu của công cuộc đổi mới 57

2.1.2 Tuyên truyền chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước 60

Trang 6

2.1.3 Tuyên truyền về đất nước, con người, lịch sử và văn hóa 66 2.1.4 Đấu tranh chống lại âm mưu của các thế lực thù địch 68

2.2 Giai đoạn triển khai hội nhập quốc tế của Việt Nam (1996-2011) 72

2.2.1 Tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thành tựu của công cuộc đổi mới 72 2.2.2 Tuyên truyền chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước 76 2.2.3 Tuyên truyền về đất nước, con người, lịch sử và văn hóa Việt Nam 86 2.2.4 Đấu tranh chống lại âm mưu của các thế lực thù địch 93

2.3 Giai đoạn triển khai hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện (từ năm

2011 đến nay) 96

2.3.1 Tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và thành tựu của công cuộc đổi mới 96 2.3.2 Tuyên truyền chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước 97 2.3.3 Tuyên truyền về đất nước, con người, lịch sử và văn hóa Việt Nam 110 2.3.4 Đấu tranh, phản bác chống lại âm mưu của các thế lực thù địch 111

Tiểu kết chương 2: 116 CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 118 3.1 Nhận xét về vai trò của báo Nhân dân trong công tác thông tin đối ngoại 118

3.1.1 Thành tựu 118

3.1.1.1 Báo Nhân dân đã thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị trong việc thông tin tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ra thế giới 118 3.1.1.2 Báo Nhân dân đã thông tin tuyên truyền hiệu quả chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước 121 3.1.1.3 Báo Nhân dân góp phần đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, chống diễn biến hòa bình, đồng thời giới thiệu vẻ đẹp đất nước, lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam 126

3.1.2 Hạn chế 128

Trang 7

3.2 Kiến nghị một số giải pháp 130

3.2.1 Đa dạng hóa và phối hợp các hình thức thông tin đối ngoại 130

3.2.2 Cân đối nội dung và nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại 137

3.2.3 Phát triển đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên, tăng cường cơ sở vật chất-kỹ thuật và nghiệp vụ 141

Tiểu kết chương 3: 144

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, công tác đối ngoại là một bộ phận quan trọng trên mặt trận ngoại giao, có vai trò to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Để làm tốt nhiệm vụ đối ngoại phục vụ sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sử dụng báo chí như một công cụ quan trọng để đấu tranh dư luận, thông tin để thế giới hiểu rõ tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; xác lập chỗ đứng, biểu tượng, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế; thông tin về công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, về đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ đổi mới hiện nay Công tác thông tin đối ngoại là một bộ phận của chính sách đối ngoại; đồng thời cũng là một bộ phận của công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng và Nhà nước đã đóng góp tích cực vào thành tựu chung của đất nước sau hơn 35 năm đổi mới nói chung cũng như ngoại giao nói riêng

Theo Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 - 2020” và Chỉ thị số 26-CT/TW của Ban Bí thư khóa X về công tác thông tin đối

ngoại tháng 8-2017, tại Hà Nội do Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại Trung ương tổ chức, các lực lượng làm công tác

thông tin đối ngoại đã nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao phó, đạt được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận, nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân về công tác đối ngoại trong tình hình mới ngày càng được nâng cao Hệ thống các cơ quan chuyên trách được củng cố, kiện toàn, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng hoàn thiện Các hoạt động thông tin đối ngoại ở các ban, bộ, ngành, địa phương, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài được tổ chức bài bản, đồng bộ hơn Nội dung, phương thức các hoạt động thông tin đối ngoại được đổi mới; phạm vi, đối tượng, địa bàn ngày càng được mở rộng Nhiều chủ trương, chính sách, các sự kiện trọng đại của đất nước; quan điểm của Việt Nam đối với những vấn đề khu vực và quốc tế; hình ảnh đất nước, con người, lịch sử, văn hóa của dân tộc; những thành tựu của Việt Nam trong công cuộc đổi mới; thông tin về các vấn đề quốc tế nổi bật, đáng quan tâm; thông tin kết nối Việt Nam với cộng đồng quốc tế và cộng đồng người Việt

Trang 9

Nam ở nước ngoài được cung cấp kịp thời, tạo thế chủ động trên mặt trận thông

tin tuyên truyền…

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại vẫn còn tồn tại những hạn chế cần tập trung khắc phục, như: Nhận thức về thông tin đối ngoại vẫn chưa đầy đủ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả

hệ thống chính trị; công tác theo dõi nắm bắt, dự báo tình hình còn chưa kịp thời, lượng thông tin còn mỏng; hình thức tuyên truyền chưa phù hợp với nhiều đối

tượng; chưa tận dụng hiệu quả công nghệ, phương tiện truyền thông hiện đại…

1.2 Báo Nhân dân là đơn vị sự nghiệp Trung ương của Đảng, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp và thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, có chức năng là

cơ quan ngôn luận Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, ngọn cờ chính trị - tư tưởng của Đảng trên mặt trận báo chí Việt Nam, cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Công tác thông tin đối ngoại của Báo Nhân dân có vai trò hết sức đặc biệt trong góp phần mở rộng thông tin đối ngoại, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước, đặc biệt là các chủ trương, chính sách và thành tích hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, giáo dục và khoa học công nghệ trong nước tới công chúng và kiều bào ta ở nước ngoài…

Báo Nhân dân được xác định là cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện,

bao gồm cả báo in (Nhân dân hằng ngày, Nhân dân cuối tuần, Nhân dân hằng tháng, Thời Nay), báo điện tử (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng

Pháp, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha) và báo hình (kênh Truyền hình Nhân dân) Công tác thông tin đối ngoại trên các ấn phẩm của Báo Nhân dân luôn nhận được quan tâm chỉ đạo sát sao của BBT và thể hiện tập trung ở sự hình thành và duy trì các chuyên trang, chuyên mục và nhiều chuyên luận, loạt bài nghiên cứu, phân tích, bình luận và thông tin đối ngoại đa dạng; Trong đó có nhiều bài viết tốt, đã được các cơ quan chức năng và dư luận đánh giá cao, đặc biệt là cung cấp những thông tin về những vấn đề, vụ việc mà các thế lực cơ hội, thù địch thường xuyên tìm cách xuyên tạc như: Chính sách tôn giáo của Việt Nam, tình hình nhân quyền trong nước, tình hình đoàn kết cộng đồng giữa người Việt Nam ở trong nước với nước ngoài, tình hình Biển Đông,… qua đó góp phần định hướng

dư luận, đẩy lùi những thông tin sai sự thật trên các trang mạng xã hội Bởi vậy,

Trang 10

tăng cường công tác thông tin đối ngoại trên các ấn phẩm Báo Nhân Dân là nhiệm vụ chính trị trọng tâm và định hướng tuyên truyền ưu tiên của báo trong thời gian tới Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề

tài: “Vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại của Việt Nam từ năm

1986 tới nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu trong nước

2.1.1 Nghiên cứu về công tác đối ngoại

Công tác đối ngoại của Việt Nam là một đề tài cho đến nay đã thu hút được

sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu ở những cấp độ khác nhau liên quan vấn đề này như: đề tài nghiên cứu, hội nghị, hội thảo khoa học đến sách chuyên khảo, bài viết chuyên sâu theo những mốc thời gian khác nhau Những công trình này thường được triển khai theo hai hướng chính Một là nghiên cứu về mảng ngoại giao Việt Nam nói chung, trong đó có đề cập đến chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với một số các nước lớn Hai là nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với từng nước lớn cụ thể Có thể kể đến các công trình sau đây:

Cho tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam đề cập tới đường lối hội nhập của Việt Nam trong

thời kỳ đổi mới Tác phẩm “50 năm Ngoại giao Việt Nam (1945-1995)” (hai tập)

của tác giả Lưu Văn Lợi đã cung cấp một cách tổng thể về cuộc đấu tranh ngoại giao Việt Nam trong một thời kỳ quan trọng Đây là một tác phẩm dựa trên thông tin của các nhân chứng lịch sử, trực tiếp tham gia vào quá trình hoạch định

và thực thi chính sách đối ngoại của Việt Nam từ ngày thành lập nước đến 1995 Tác phẩm đã cung cấp nhiều tư liệu có giá trị về những sự kiện quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam

Cũng dưới dạng công trình nghiên cứu tổng quan, cuốn “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000” của Học viện Ngoại giao (Hà Nội, 2002) đề cập một cách tổng

quát của hoạt động ngoại giao Việt Nam từ năm 1945 đến 2000, tập trung phân tích đặc điểm, tính chất của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, những thành tựu chủ yếu, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm trong hoạt động ngoại giao Các tác giả cuốn sách đã trình bày các sự kiện một cách chính xác, khách quan;

Trang 11

quan hệ giữa Việt Nam và các nước lớn được xem xét trong tổng thể bối cảnh của đất nước và tình hình thế giới theo từng giai đoạn nhất định Cách tiếp cận này giúp người đọc có cái nhìn thấu đáo hơn về những bước thăng trầm trong quan hệ Việt-Mỹ hay Việt-Trung Tuy nhiên, tác phẩm chưa đề cập đến những hạn chế trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại

Hai tác phẩm “Ngoại giao Việt Nam hiện đại - Vì sự nghiệp giành độc lập

tự do (1945-1975)” (Hà Nội, 2001) do Nguyễn Phúc Luân chủ biên và “Ngoại giao Việt Nam vì sự nghiệp đổi mới, 1975-2002” (Hà Nội, 2002) do Vũ Dương

Huân chủ biên đã khái quát lịch sử ngoại giao Việt Nam từ năm 1945 đến năm

2001 Bằng phương pháp lịch sử và phương pháp logic, tác giả Nguyễn Phúc Luân đã phân tích cuộc đấu tranh ngoại giao dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, giúp người đọc nắm bắt được những vấn đề lớn đặt ra trong nghiên cứu lịch sử ngoại giao Việt Nam, nhận thức được đặc điểm và bài học kinh nghiệm Tác giả Vũ Dương Huân lại chú trọng đến những thành tựu nổi bật cũng như các đặc điểm cơ bản của quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các đối tác khác nhau bao gồm Trung Quốc, các nước Đông Bắc Á, các nước thuộc Liên Xô cũ và Đông

Âu, Hoa Kỳ và Canada; chỉ ra nhiệm vụ trung tâm của ngoại giao trong mỗi giai đoạn lịch sử, giải thích rõ những thay đổi trong đường lối đối ngoại Tuy nhiên, tác phẩm này thiên về giới thiệu thành tựu đã đạt và rút ra một số bài học chứ chưa phân tích sâu vào những hạn chế trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam

Cuốn sách “Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới” (2005) do Phí Như

Chanh, Phạm Văn Linh, Phạm Xuân Thâu đồng chủ biên đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng trong quan hệ, hợp tác của Việt Nam với hầu hết các nước, khu vực, tổ chức và diễn đàn quốc tế trong gần 20 năm với phương châm là khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, bằng cả ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân, làm cho các bên hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, giữ vững hòa bình, ổn định, cùng phát triển Trong tác phẩm này, mối quan hệ của Việt Nam với các nước lớn có tiềm năng kinh tế, chính trị, quốc phòng và an ninh, bao gồm Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản và Ấn độ được xem xét cụ thể trên các mặt chính trị, kinh tế, thương mại, quốc phòng, văn hóa-xã hội… Tác phẩm đã giúp người đọc có cái nhìn tổng thể và đa diện hơn về các mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước lớn

Trang 12

Năm 2006, Nguyễn Khắc Huỳnh, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu lịch sử

ngoại giao biên soạn cuốn Ngoại giao Việt Nam phương sách và nghệ thuật đàm phán Đây là tập hợp các bài viết đã công bố trong vài năm gần đây của tác giả

Phần lớn nội dung cuốn sách trình bày về 3 sự kiện ngoại giao quan trọng của Đảng

và Nhà nước ta trong 30 năm chiến tranh giải phóng Tác giả không chỉ dừng lại ở việc ghi chép các sự việc đã diễn ra trong các cuộc đàm phán mà còn chú trọng phân tích sâu sắc bối cảnh dẫn đến đàm phán, những tính toán của mỗi bên tham gia, những cuộc mặc cả căng thẳng và những giải pháp đạt được Tác phẩm đã hệ thống được các chính sách ngoại giao cơ bản của Đảng trong từng chặng đường cũng như lập trường của Đảng và Nhà nước ta trong 3 sự kiện ngoại giao trên

Ngoài ra, còn có nhiều bài báo về chính sách và quan hệ của Việt Nam đối

với các nước lớn qua các thời kỳ khác nhau Đáng chú ý là “Phát triển quan hệ với các nước lớn trong chính sách đối ngoại đổi mới của Đảng và Nhà nước ta” của Nguyễn Hoàng Giáp hay “Chiến lược đối ngoại của các nước lớn và quan

hệ với Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XXI” (2006) do Nguyễn Xuân Sơn và

Nguyễn Văn Du chủ biên Những tác phẩm này đã giới thiệu chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển quan hệ với các nước lớn trong việc thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh

Trong thời gian gần đây, đề cập về chính sách đối ngoại Việt Nam còn có

thể kể đến tác phẩm như: Quan hệ đối ngoại Việt Nam trên chặng đường 60 năm (1945-2005) của Vũ Dương Ninh; Thành tựu và thử thách trong quan hệ đổi mới

in trong cuốn Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước; Nhận thức thế giới và sự phát triển tư duy đối ngoại của Đảng ta thời kỳ đổi mới của Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế; Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020” do Phạm Bình Minh chủ biên; Bước phát triển tư duy đối ngoại của Đảng trong quan hệ với các nước láng giềng và khu vực thời kỳ đổi mới của Nguyễn Thị Mai Hoa; Khuôn khổ quan hệ đối tác của Nguyễn Vũ Tùng chủ biên, Ngoại giao Việt Nam sau 20 năm đổi mới…

Trong công trình Khuôn khổ quan hệ đối tác, Nguyễn Vũ Tùng chủ biên do

Học viện Quan hệ Quốc tế ấn hành năm 2007 đã trình bày những khái niệm, nội dung về đối tác chiến lược, một nội hàm đang được đề cập nhiều trong chính sách

Trang 13

đối ngoại của Việt Nam nói chung Hay công trình “Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020” do tác giả Phạm Bình Minh chủ biên (Nxb Chính trị

Quốc gia, 2010) đã nêu rõ những đột phá trong tư duy đối ngoại của Việt Nam, một

số nội dung đã được thể hiện trong nghị quyết của Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam, đó là tư duy hội nhập quốc tế sâu rộng trong thời kỳ mới

Bên cạnh những tác phẩm trong nước cũng có nhiều học giả nước ngoài

nghiên cứu về ngoại giao Việt Nam Cuốn “Vietnamese foreign policy in transition” (Chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn quá độ) do

Carlyle A Thayer và Ramses Amer (chủ biên) (1999) đã tập hợp các báo cáo khoa học tại Hội nghị Việt Nam học lần thứ Ba của châu Âu tại Amsterdam tháng 7 năm 1997 Cuốn sách cố gắng phân tích những đặc điểm cơ bản trong chính trị nội bộ và chính sách đối ngoại của Việt Nam trong suốt thập kỉ 90 thế

kỷ XX Tuy nhiên, do các tác giả là những người nước ngoài, đứng trên nhiều quan điểm khác nhau, hơn nữa họ không tiếp cận được với những tài liệu mật của Việt Nam, cũng không phải là những người trực tiếp tham gia hoạt động đối ngoại Việt Nam, nên cuốn sách có những điểm chưa thực sự phù hợp với thực tiễn lịch

sử Nếu cẩn trọng sử dụng thì cuốn sách là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích để có được cái nhìn đa dạng hơn về vấn đề nghiên cứu

Hay trong Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới mới (Nguyễn

Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế (c.b)) Nxb Chính trị hành chính, 2013) trình bày về

sự đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hơn 25 năm qua để hoạch định và hình thành chính sách đối ngoại đúng đắn, từ đó nêu rõ tư tưởng, nguyên tắc, nhiệm vụ, phương châm chỉ đạo, lập trường của Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế lớn; phương hướng và thành tựu hoạt động trong công cuộc đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước Việt Nam và đối ngoại nhân dân trong việc phá thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường hoạt động đối ngoại trong thời gian tới

Trong Đối ngoại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (1945-2012), Đinh Xuân Lý (2013) dựa trên cơ sở nguồn tư liệu văn kiện Đảng và kế thừa kết quả

nghiên cứu từ những ấn phẩm, các đề tài khoa học của các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài về đối ngoại, từ đó góp phần tìm hiểu chủ trương, chính

Trang 14

sách đối ngoại; kết quả hoạt động đối ngoại trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất tổ quốc, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế thời kỳ đổi mới

Liên quan đến tư tưởng chỉ đạo đối với ngoại giao Việt Nam còn có một

số tác phẩm đề cập đến tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Cuốn sách “Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Dy Niên (xuất bản năm 2002) đã

trình bày một cách hệ thống về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh từ nguồn gốc, quá trình hình thành đến những nguyên lý, luận điểm và quan niệm của Người

về thế giới, thời đại, đường lối, chính sách đối ngoại, phong cách, phương pháp, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh và ý kiến của tác giả về việc vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh nhằm phục vụ công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế Bên cạnh, còn có một số cuốn sách liên quan đến chủ đề tư tưởng

ngoại giao Hồ Chí Minh như: các cuốn “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao”, “Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao” của Học viện Quan hệ quốc tế (xuất bản năm 1990 và năm 2002), cuốn “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới” của tác giả Nguyễn Dy Niên (xuất bản năm 2001)

Có thể nói rằng, trong những công trình đã nêu ở trên, do phạm vi nghiên cứu rộng cả về không gian và thời gian, phần viết về chính sách đối ngoại và quan hệ của Việt Nam đối với các nước lớn chỉ được đề cập ở những chừng mực nhất định Tuy vậy, những nội dung nghiên cứu đã cung cấp những cơ sở quan trọng để đi sâu vào nội dung chính của đề tài luận án

2.1.2 Những nghiên cứu về báo chí Việt Nam

- Nhóm công trình nghiên cứu về báo chí nói chung

Công trình Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925- 2010),

(Nxb Chính trị Quốc gia, 2010), là công trình lớn, có sự tham của nhiều nhà báo, nhà khoa học đầu ngành Nội dung cuốn sách đã khái quát chặng đường phát triển của lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam từ năm 1925 đến năm 2010;

sự ra đời và phát triển của các cơ quan báo chí; những thành tựu, hạn chế của báo chí qua các thời kỳ phát triển; đề xuất những giải pháp để nâng cao chất

lượng báo chí trong thời kỳ mới Nội dung cuốn sách gồm 6 chương: Chương I: Báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ 1925-1945; Chương II: Báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945-1954; Chương III: Báo chí cách mạng

Trang 15

Việt Nam thời kỳ 1954-1975; Chương IV: Báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ 1976-1986; Chương V: Báo chí cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước 1986-2000; Chương VI: Báo chí cách mạng Việt Nam thời kỳ tiếp tục

đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 2001-2010

Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, 2015) là công

trình được biên soạn, sắp xếp hệ thống từ nguồn tư liệu chính thống đã và đang được sử dụng để tuyên truyền, giáo dục và sự nghiệp báo chí cách mạng hiện nay

Công trình Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế do Nguyễn Đức Lợi làm chủ nhiệm,

mã số: ĐTQG.2014-G/07 Trên cơ sở tư duy đổi mới, các tác giả đã phân tích làm

rõ những vấn đề sau: 1/ Một là, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế; Hai là, phân tích kinh nghiệm phát huy vai trò của thông tin báo chí đối với công tác lãnh đạo, quản lý ở một số nước trên thế giới; Ba là, phân tích những yếu tố tác động và khảo sát thực trạng vai trò của thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý; vai trò của công tác lãnh đạo, quản lý đối với thông tin báo chí ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế; Bốn là, nêu rõ những vấn đề cấp bách đang đặt ra về thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay; Năm là, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục phát huy vai trò của thông tin báo chí trong phục vụ và kiểm tra, giám sát công tác LĐQL; đồng thời đổi mới công tác LĐQL đối với thông tin báo chí, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện và đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong thời gian tới; Sáu là, đề xuất kiến nghị với Đảng, Nhà nước, các cơ quan lãnh đạo, quản lý; các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương về nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin báo chí phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý và tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý đối với báo chí nói chung, thông tin báo chí nói riêng Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về báo chí, thông tin báo chí, lãnh đạo, quản lý; mối quan hệ giữa thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam Phân tích vai trò của thông tin báo chí đối với công tác lãnh đạo, quản lý và vai trò, trách nhiệm của các cơ quan Đảng và Nhà nước đối với thông tin báo chí

Trong Báo chí truyền thông và kinh tế, văn hóa, xã hội, Lê Thanh Bình

(Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2005) đã khẳng định rằng, truyền thông đại

Trang 16

chúng được đặc biệt quan tâm, nghiên cứu theo cả chiều dọc và chiều ngang như

là một khoa học liên ngành, gắn kết chặt chẽ, liên thông với các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, phát triển bền vững Tác giả đã cố gắng khảo cứu, phân tích nhiều vấn

đề mà báo chí, truyền hình, internet cùng với các hoạt động như truyền thông kinh

tế, truyền thông văn hóa, truyền thông dân số tham gia tích cực vào đời sống xã hội Tác giả cũng dành nhiều trang viết để so sánh vai trò của truyền thông đại chúng một số quốc gia, khu vực trên thế giới trong tiến trình phát triển của lịch sử

Nguyễn Văn Dững trong Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường) (Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội) đã trình bày cơ sở lý luận của

truyền thông đại chúng, những vấn đề về lịch sử báo chí, đặc điểm của báo chí hiện đại, vấn đề đội ngũ nhà báo cũng như công tác đào tạo đội ngũ những người làm báo hiện nay ở Việt Nam

Năm 2007, Ban Tuyên giáo Trung ương xuất bản ấn phẩm Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới, đã giới thiệu một số văn kiện của Đảng và Nhà nước

liên quan đến hoạt động báo chí, nhất là các vấn đề thuộc về đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước về báo chí

Trong bài Công tác, lãnh đạo quản lý báo chí, xuất bản ở nước ta hiện nay, tác giả Đào Duy Quát đã phân tích tình hình báo chí, xuất bản và công tác

lãnh đạo, quản lý báo chí, xuất bản ở nước ta, cả về những thành tựu và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế Trên cơ sở đó tác giả đã nêu ra một số quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát triển báo chí như: bám sát nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng nói chung, của báo chí, xuất bản nói riêng: xây dựng,

bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về báo chí xuất bản; chú ý đến việc quy hoạch hệ thống báo chí, xuất bản; chăm lo công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm báo; đầu tư thỏa đáng cho hoạt động thông tin, xuất bản đối ngoại

Bài Thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng về báo chí, xuất bản thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, tác giả Đỗ Quý Doãn trên cơ sở rà

soát lại các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về báo chí đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan quản lý báo chí hiện nay là việc rà soát quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống các cơ quan báo chí thuộc tất cả các loại hình, đảm bảo tổ chức

Trang 17

và hoạt động đúng với Luật báo chí Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất nội dung sửa đổi Luật báo chí theo hướng giữ vững bản chất của báo chí cách mạng và tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí và người làm báo trước Đảng, Nhà nước và nhân dân

Bài Một số kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, tác giả

Nguyễn Vũ Tiến (Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2010) đã khẳng định báo chí là công cụ sắc bén trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, chính vì vậy, trong suốt chặng đường cách mạng và đặc biệt là từ khi đổi mới, Đảng ta đã tập trung nhiều sức lực và trí tuệ lãnh đạo công tác báo chí

Bên cạnh đó có một số luận văn, luận án, đề tài khoa học đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác báo chí như:

Các quan điểm chỉ đạo của Đảng về báo chí thời kỳ đổi mới (1986-1999) của Trần Bá Dung; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan báo chí ở nước ta hiện nay của Ngô Mạnh Hà; Các quan điểm lãnh đạo của Đảng đối với báo chí từ Đại hội VIII đến đại hội X của Đảng (khảo sát các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị) của Nguyễn Thị Minh Huế; Vấn đề tự do báo chí và Đảng lãnh đạo báo chí hiện nay của Hoàng Tiến Phúc; Đảng lãnh đạo báo chí trong bối cảnh toàn cầu hóa của Tô Quang Phán

- Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò của báo chí

Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, đồng thời là diễn đàn rộng rãi của nhân dân Báo chí Việt Nam mang sứ mệnh trọng đại đó nhằm thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa Trong tình hình kinh tế,

xã hội của đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhất là tình hình chính trị thế giới phức tạp, các thế lực thù địch thường xuyên chống phá cách mạng Việt Nam, vị trí, vai trò của báo chí càng có tầm quan trọng đặc biệt Thực tế của sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời gian qua, báo chí đã có những đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của cả nước cũng như trong công tác đối ngoại nói riêng

Trang 18

đề của báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới Với 9 chương và trên 350 trang sách,

cuốn sách đã khẳng định những đóng góp của báo chí Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đồng thời tập trung nghiên cứu về vai trò của báo chí được thể hiện trên các vấn đề: Vai trò của đội ngũ nhà báo trong công cuộc đổi mới; Báo chí với lĩnh vực đổi mới kinh tế; Báo chí với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng; Báo chí với vấn đề Nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Kinh tế báo chí; Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình; đồng thời tìm ra những hạn chế, hướng khắc phục để báo chí phát triển Trong quá trình biên soạn cuốn sách này, tác giả Dương Xuân Sơn đã nhận được nhiều ý kiến của các nhà lãnh đạo, quản lý báo chí, văn hóa tư tưởng, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu báo chí, nhà báo, sinh viên, học viên sau đại học, nghiên cứu sinh quan tâm góp ý, giúp tác giả có thêm điều kiện sửa chữa, bổ sung, cập nhật những thông tin mới về lĩnh vực báo chí truyền thông cả về nội dung và hình thức

Tác giả Hoàng Quốc Bảo trong bài Lãnh đạo và quản lý báo chí ở Việt Nam hiện nay (Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2010) đã làm rõ cơ sở lý luận,

sự ra đời và phát triển của báo chí Việt Nam; sự cần thiết khách quan Đảng, Nhà nước phải lãnh đạo, quản lý hoạt động báo chí ở nước ta; làm rõ phương thức lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động báo chí; đặc điểm, nguyên tắc tổ chức hoạt động của cơ quan báo chí Trong công trình này tác giả cũng dành một phần để trình bày vai trò của báo chí trong đời sống xã hội hiện nay

Tiếp đến là Vai trò của báo chí trong việc định hướng dư luận (khảo sát công chúng tại khu vực Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ của Đỗ Chí Nghĩa (Luận án Tiến sĩ,

Học viện Báo chí và Truyên truyền, Hà Nội, 2009) Qua nghiên cứu của mình, tác giả

đã làm rõ các điểm sau: 1/ Nghiên cứu làm rõ lý luận giữa báo chí và dư luận xã hội; điều kiện bối cảnh đất nước và quốc tế đặt ra cho hoạt động báo chí nói chung và dư luận xã hội trong hoạt động báo chí nói riêng; 2/ Qua việc phân tích thực trạng hoạt động báo chí, luận án chỉ ra những bài học kinh nghiệm, những vấn đề tiếp tục cần giải quyết, từ đó đề xuất nhằm đổi mới nâng cao hoạt động báo chí

Trong công trình Vai trò báo chí đối ngoại với việc thông tin chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay, tác giả Trương Minh Tuấn và Nguyễn Thị Thu Hà,

trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận và thực tiễn của vai trò báo chí đối ngoại với việc thông tin bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Trang 19

hiện nay đã đưa ra đánh giá về những thành công và hạn chế của nó, cũng như đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của báo chí đối ngoại nhằm góp phần đắc lực vào thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo nước ta

Công trình Báo chí và thông tin đối ngoại của Lê Thanh Bình gồm 6

chương: Chương I: Lý luận chung về lĩnh vực truyền thông đại chúng, báo chí, thông tin đối ngoại; Chương II: Tổng quan về truyền thông đại chúng ở Việt Nam; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về truyền thông đại chúng, công tác đối ngoại và thông tin đối ngoại; Chương III: Các thể loại báo chí sử dụng trong truyền thông quốc tế, ngoại giao văn hóa thời kỳ hội nhập; Chương IV: Vai trò của báo chí đối với thông tin đối ngoại; Chương V: Thực trạng công tác thông tin đối ngoại; Chương VI: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới Trong đó tác giả dành chương IV trình bày về Vai trò của báo chí đối với thông tin đối ngoại, qua

khảo sát trường hợp báo Thế giới & Việt Nam - cơ quan báo chí của Bộ Ngoại

giao tác nghiệp thông tin đối ngoại thúc đẩy ngoại giao kinh tế thời gian qua

Nguyễn Quỳnh Hương trong Công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã phác họa tình hình và bước đầu đánh giá công tác thông

tin đối ngoại, nêu bật vai trò của thông tin đối ngoại như là một kênh quan trọng, một công cụ đắc lực trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước, qua đó nêu lên một vài giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của công tác thông tin đối ngoại

2.1.3 Những nghiên cứu về báo Nhân dân

Nhân dịp báo Nhân dân tròn 50 tuổi, báo Nhân dân phối hợp với Nxb

Chính trị Quốc gia xuất bản cuốn sách Sơ thảo lịch sử 50 năm báo Nhân dân (1951-2001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Cuốn sách đã ghi lại

những hoạt động phong phú, những thành tựu quan trọng, những kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu, những gương hy sinh anh dũng của các thế hệ phóng viên, biên tập viên trong nửa thế kỷ Với cương vị và trách nhiệm to lớn của tờ báo Đảng, các cán bộ của báo đã đem hết sức lực, trí tuệ, có mặt trên mọi miền Tổ quốc và nhiều khu vực quan trọng trên thế giới để phản ánh một cách sinh động

sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Nhà nước và cuộc đấu tranh anh dũng của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện đường lối đổi mới vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 20

Tác phẩm Sơ thảo lịch sử 60 năm báo Nhân dân (1951-2011), Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội, 2011 là công trình đã trình bày sự ra đời và phát triển của báo Nhân dân trải qua 60 năm qua các thời kỳ, nêu lên những thành tựu và hạn chế của tờ báo Tác phẩm đã phản ánh một cách sinh động quá trình hình thành

và phát triển của báo Nhân dân qua các giai đoạn lịch sử cũng như ghi lại những kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu, những gương hy sinh anh dũng của những người làm báo Nhân dân trong 60 năm qua Trong 60 năm hoạt động, báo Nhân dân đã góp phần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng chính trị, cổ

vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống xâm lược, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xứng đáng là cơ quan phát ngôn của Đảng, Nhà nước và nhân dân, ngọn cờ chính trị,

tư tưởng trên mặt trận báo chí của Đảng

Tác phẩm Những người làm báo Nhân dân (1951-2011) do Ban biên tập báo

Nhân dân quyết định biên soạn và phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2011 đã giới thiệu sơ lược những thông tin cơ bản về những người đã và đang, từng công tác tại báo Nhân dân qua các thời kỳ từ năm 1951 đến năm 2011 - những người đã góp phầm làm nên truyền thống vẻ vang 60 năm của báo Nhân dân

Nhân kỷ niệm 45 năm ngày ra số báo đầu tiên (11/3/1951 - 11/3/1996),

báo Nhân dân đã xuất bản tác phẩm Nhớ một thời làm báo Nhân dân do nhà báo

Hữu Thọ chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996), đã trình bày hồi ức của các nhà báo trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó nói về những kỷ niệm trong cuộc đời của nhiều người viết báo Nhân dân từ những ngày đầu tiên trên chiến khu Việt Bắc cho đến ngày hôm nay Đó cũng là những kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống và trong nghề nghiệp, đã góp phần xây dựng truyền thống báo Đảng và truyền thống báo chí Việt Nam

Nhân kỷ niệm 60 năm ngày ra số báo đầu tiên (11/3/1951 - 11/3/2011), Ban

Biên tập báo Nhân dân đã biên soạn tác phẩm Nhớ một thời làm báo Nhân dân do

nhà báo Đinh Thế Huynh chỉ đạo nội dung, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2011) Đây là cuốn hồi ký thứ hai, tiếp nối cuốn Nhớ một thời làm báo Nhân dân

do nhà báo Hữu Thọ chủ biên Tác phẩm gồm những bài hồi ký của các thế hệ những người làm báo Nhân dân Bên cạnh đó là những bài viết khác nhau về dung

Trang 21

lượng, phong phú về nội dung, được viết bởi những người ở những vị trí công tác khác nhau nói về tình cảm gắn bó sâu sắc với báo Nhân dân Qua những trang hồi

ức cho thấy các thế hệ cán bộ, phóng viên, biên tập viên, nhân viên của báo Nhân dân đều trung thành tuyệt đối với Đảng, gắn bó với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, có lòng yêu nghề, rèn luyện đạo đức thường xuyên, luôn thể hiện sự trăn trở, suy tư, tâm huyết với báo Nhân dân, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, có ý thức trách nhiệm của người làm báo Đảng…

Công trình Tính hấp dẫn của báo Đảng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay (khảo sát báo Nhân dân và một số báo Đảng địa phương từ năm 2005 đến năm 2011) của Nguyễn Bá Sinh (Luận án Tiến sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên

truyền, 2011) đã nghiên cứu mối quan hệ của báo Đảng đối với các nhóm công chúng, bạn đọc và nhu cầu tiếp nhận thông tin của các nhóm công chúng, bạn đọc đối với báo Đảng; để từ đó đánh giá thực trạng về tính hấp dẫn của báo Đảng ở nước ta hiện nay, trong đó có báo Nhân dân, chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm, thuận lợi, khó khan của hoạt động báo Đảng trong cơ chế thị trường, phân tích những nguyên nhân ảnh hưởng đến tính hấp dẫn của báo Đảng

Từ đó đề ra những giải pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm góp phần đổi mới, nâng cao tính hấp dẫn của báo Đảng ở nước ta trong thời gian tới

Trong công trình Báo Nhân dân với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1965 đến năm 1975 (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường ĐH

KHXH&NV, ĐHQGHN), qua những tư liệu lịch sử được đăng trên báo Nhân dân, Nguyễn Thị Hảo đã làm rõ vai trò của tờ báo này trong sự nghiệp kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1965 đến năm 1975

Từ năm 1985, báo Nhân dân phát hành tập san Người làm báo Nhân dân phát

hành số đầu tiên vào quý 1 năm 1985, cứ ba tháng phát hành 1 số, chỉ phát hành nội

bộ Từ quý 2 đổi tên là Nội san Nhân dân Đây là tác phẩm phản ánh những hoạt động bên trong của báo Nhân dân, những công việc làm báo, quy trình xuất bản, chia

sẻ những kinh nghiệm, những cách viết bài của phóng viên báo Nhân dân

Bên cạnh đó, từ năm 2000 đến nay, Bộ Biên tập báo Nhân Dân và Ban

Tuyên giáo Trung ương cũng tổ chức một số hoạt động sinh hoạt nghiệp vụ nội

bộ của báo và thực hiện các đề tài khoa học nhằm nâng cao chất lượng các ấn phẩm của báo Nhân dân Điển hình như các đề tài: Tăng cường tuyên truyền xây

Trang 22

dựng Đảng trên các ấn phẩm báo Nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI; Đổi mới và nâng cao chất lượng các ấn phẩm báo Nhân dân; Đổi mới tuyên truyền về kinh tế hợp tác

xã trên các ấn phẩm báo Nhân dân; Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức và đội ngũ phóng viên thường trú báo Nhân dân; Tăng cường tuyên truyền tái cơ cấu kinh tế trên các ấn phẩm báo Nhân dân; Nâng cao chất lượng các ấn phẩm báo Nhân dân với việc tăng cường tuyên truyền phòng, chống diễn biến hòa bình và hoạt động của các lực lượng hòa bình; Tăng cường công tác thông tin đối ngoại trên các ấn phẩm báo Nhân dân

2.2 Những nghiên cứu nước ngoài

Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thông nói chung, báo chí nói riêng với quan hệ quốc tế có khá nhiều cách tiếp cận khác nhau Vào những năm cuối thế kỷ XX, khi làn sóng tự do thương mại và toàn cầu hóa dưới tác động của Internet trở nên rõ ràng hơn, cũng là lúc xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thông và quan hệ quốc tế

Trong cuốn International communication: Continuity and change, từ

hướng tiếp cận dưới góc độ kinh tế-chính trị và phát triển, tác giả Daya Kishan Thussu đánh giá vai trò của truyền thông đối với khía cạnh chính trị, kinh tế và văn hóa qua các giai đoạn khác nhau trong lịch sử Tác giả khẳng định truyền thông có vai trò to lớn đối với sự phát triển của các quốc gia, và truyền thông của các quốc gia phát triển - quốc gia nắm trong tay các phương tiện truyền thông sẽ tác động tới các quốc gia đang phát triển

Cuốn sách Media Power in Politics của Doris Graber (xuất bản năm 1993)

tập hợp các bài nghiên cứu của nhiều học giả nổi tiếng trong lĩnh vực truyền thông

và quan hệ quốc tế Cuốn sách đánh giá ảnh hưởng, mối quan hệ của truyền thông với chính trị thông qua 6 nội dung chính: 1/ Xem xét ảnh hưởng của truyền thông tới chính trị nói chung; 2/ Định dạng chương trình nghị sự chính trị và dư luận xã hội; 3/ Ảnh hưởng tới kết quả bầu cử; 4/ Kiểm soát quyền lực truyền thông: các nhân tố chính trị và báo chí; 5/ Hướng dẫn chính sách công; 6/ Điều chỉnh và thao túng hiệu quả truyền thông Nghiên cứu này khẳng định việc đưa tin của truyền thông tác động tới tất cả các quá trình nêu trên

Trang 23

Đặc biệt từ những năm 2000 đến nay, nghiên cứu tác động của truyền

thông tới các vấn đề quốc tế được chú ý đặc biệt Trong cuốn Global communications, international affairs and the media since 1945 (Nxb

Routledge, 2003), Philip Taylor đã phân tích bản chất, vai trò và tác động của truyền thông quốc tế từ sau năm 1945, trong đó đặc biệt nhấn mạnh cách thức truyền thông tương tác với chính sách đối ngoại qua các nghiên cứu trường hợp, gồm Chiến tranh vùng Vịnh năm 1990, chiến tranh Việt Nam, đưa ra các phân tích chi tiết về hai cuộc chiến tranh này và ảnh hưởng của truyền thông tới chính sách các nước Đây là nghiên cứu quan trọng, đánh dấu vai trò của truyền thông được nhìn nhận ở mức độ ảnh hưởng tới quan hệ giữa các quốc gia

Cuốn Political communication (Nxb Edinburgh University, 2010), Steven

Foster đề cập đến hai nội dung: Thứ nhất là, tập trung vào bối cảnh xã hội, phân tích chi tiết về các quá trình thông tin chính trị hiện nay, cũng như tác động của các đảng phái, nhóm gây ảnh hưởng tới chính phủ (ở Anh, Mỹ); Thứ hai là, nghiên cứu về mối quan hệ giữa cách thức truyền thông và chính trị thông qua việc đưa tin về các vấn đề lớn trong xã hội như hiến pháp, tự do ngôn luận, tự do thông tin, quyền riêng tư và quyền con người Qua đó, tác giả cho rằng, các chính phủ Anh, Mỹ đã có những hoạt động thao túng và kiểm soát các phương tiện truyền thông; qua đó gián tiếp khẳng định truyền thông có ảnh hưởng tới các quyết định chính trị ở các quốc gia này

Cuốn Public policy and the mass media: The inter of mass communication and political decision making (Nxb Routledge, 2010), tác giả Sigrid Koch-

Baumgarten, Katrin Voltmer khẳng định, truyền thông đại chúng ngày càng có vai trò trung tâm trong đời sống chính trị hiện đại, vượt ra ngoài chức năng truyền thống của nó, đồng thời chỉ ra những mức độ, hoàn cảnh, điều kiện để các phương tiện truyền thông tác động, ảnh hưởng đến chính sách

Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh nhiều hơn đến ảnh

hưởng của quá trình toàn cầu hóa truyền thông tới quan hệ quốc tế Trong Global communication and international relations: Changing paradigms and policies,

The International Journal of Peace Studies 2, No1, Majid Tehranian cung cấp hai nội dung chính: 1/ Đánh giá toàn cảnh về tác động của truyền thông toàn cầu tới quan hệ quốc tế trên bình diện lý thuyết, quân sự, ngoại giao, kinh tế, khoa học,

Trang 24

giáo dục và các lĩnh vực văn hóa; 2/ Đề xuất các biện pháp trong từng lĩnh vực góp phần vào sự phát triển và nghiên cứu các chính sách trong tương lai

Cuốn Global information and world communication: New frontier in international relations (Sage Publishing, 2013), Hamid Mowlana cho rằng truyền

thông như là một hàng rào mới trong quan hệ quốc tế Từ bốn hướng tiếp cận truyền thông quốc tế khác nhau: Tiếp cận nhân văn; tuyên truyền; quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, tác giả phân tích về sự chuyển dịch của chính trị quốc tế dưới tác động của truyền thông, đặc biệt dưới ảnh hưởng cả phát thanh và truyền hình

2.3 Những nội dung luận án kế thừa và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

2.3.1 Những nội dung kế thừa

Có thể nói, thực hiện luận án Vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 tới nay, chúng tôi đã được kế thừa một khối

lượng lớn các nguồn tài liệu về đối ngoại và báo chí với nội dung phong phú, đa dạng về cách tiếp cận của các học giả nước ngoài và các nhà nghiên cứu Việt Nam Trên cơ sở trình bày tổng quan tài liệu ở trên, chúng tôi nhận thấy:

Thứ nhất, những tác phẩm trình bày về đối ngoại và báo chí là những tác

phẩm mang tính lý luận, cung cấp cho tác giả đề tài những lý thuyết và phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu, đem đến cho nghiên cứu sinh những cái nhìn mới, để từ đó tiếp cận vấn đề nghiên cứu của mình - báo Nhân dân đặt trong bối cảnh phát triển đối ngoại của đất nước từ năm 1986 đến nay Những công trình này đã giúp cho NCS có thêm nhận thức về bức tranh tổng quan về đối tượng nghiên cứu, tham khảo và kế thừa các luận giải, đánh giá về những vấn đề công tác đối ngoại, báo chí

Thứ hai, các nghiên cứu về báo Nhân dân đã cung cấp những nét tổng

quan về lịch sử phát triển của tờ báo, nội dung của các công trình nhằm cung cấp cho người đọc những thành tựu đạt được của một tờ báo Đảng có bề dày lịch sử Tuy những công trình nêu trên chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề thực hiện công tác đối ngoại của báo Nhân dân trong thời kỳ 1986 đến nay, nhưng qua đó NCS

có thể nắm bắt được những nét chung nhất về tờ báo Có thể nói rằng, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về việc thực hiện công tác đối ngoại của một tờ báo cụ thể như báo Nhân dân từ năm 1986 đến nay như đề tài mà chúng tôi đã lựa chọn

Trang 25

2.3.2 Những vấn đề luận án giải quyết

Trên cơ sở kế thừa những thành quả của nhiều người đi trước như đã nêu, luận án sẽ tập trung hướng tới việc giải quyết những nội dung sau:

- Làm rõ hơn quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Việt Nam từ năm

1986 đến nay;

- Luận án đi sâu phân tích về vai trò của tờ báo Nhân dân trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam trên góc độ thông tin đối ngoại, qua các giai đoạn cụ thể: 1986-1995, 1996-2011 và từ năm 2011 đến nay;

- Trên nền tảng phân tích những vai trò của báo Nhân dân, luận án sẽ đưa

ra một số nhận xét những ưu điểm cũng như những mặt còn hạn chế của tờ báo Nhân dân trong quá trình thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam; qua đó nêu lên những thuận lợi cũng như thách thức đang đặt ra cho việc thực hiện chính sách đối ngoại của báo Nhân dân trong giai đoạn tiếp theo

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích vai trò của báo Nhân dân trong việc thực hiện chính sách đối ngoại ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay (2020) trên góc độ thông tin đối ngoại, qua đó khẳng định vai trò của báo chí Việt Nam nói chung và Báo Nhân dân nói riêng trong công tác thông tin đối ngoại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài sẽ triển khai các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn vai trò của báo chí nói chung

và báo Nhân dân nói riêng đối với công tác đối ngoại;

- Trên cơ sở trình bày quá trình phát triển của báo Nhân dân từ sau Đổi mới, luận án đi sâu phân tích về vai trò của báo Nhân dân trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam trên góc độ thông tin đối ngoại Với chức năng là công

cụ chuyển tải thông tin về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ra thế giới, vai trò của báo Nhân dân sẽ được phân tích qua các giai đoạn cụ thể của quá trình đổi mới quan hệ đối ngoại Việt Nam: phá vây trong quan hệ quốc tế, tuyên truyền đường lối đối ngoại của Việt Nam; tiến hành hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập sâu về kinh tế, đẩy mạnh hội nhập toàn diện, phát huy vai trò chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong quá trình tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế;

Trang 26

- Trên cơ sở nhận xét, đánh giá về vai trò của báo Nhân dân trong công tác triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, luận án sẽ đề xuất một

số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại đất nước trong bối cảnh hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là vai trò của báo Nhân dân trong

công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại, chủ yếu là trên góc độ thông tin đối ngoại, lấy thông tin đối ngoại làm nền tảng để nghiên cứu; vì thế vai trò của báo Nhân dân trong phạm vi luân án được tiếp cận với tư cách là công cụ chuyển tải chính sách của Đảng và Nhà nước ra thế giới và đưa những sự kiện quốc tế liên quan đến Việt Nam về nước Tất nhiên ở chiều kích khác thì báo chí còn có tác động đến quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại và đó là đương nhiên, nhưng trong phạm vi luận án này vì nhiều lý do nên chúng tôi chưa có điều kiện để tiếp cận vấn đề

Báo Nhân Dân bao gồm cả báo in (Nhân Dân hằng ngày, Nhân Dân cuối tuần, Nhân Dân hằng tháng, Thời Nay), báo điện tử (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng

Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha) và báo hình (kênh Truyền hình Nhân Dân) Tuy nhiên, trong phạm vi luận án này, chúng tôi nghiên cứu việc triển khai công tác thông tin đối ngoại của Đảng, Nhà nước qua các ấn

phẩm trên báo Nhân dân hàng ngày và báo Nhân dân điện tử

- Về thời gian: Luận án sẽ tập trung phân tích quá trình báo Nhân dân triển khai công tác thông tin đối ngoại của Đảng từ năm 1986 tới nay qua các giai đoạn: 1986-1995, 1996-2011 và 2011-2020

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp luận của luận án: Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong hoạt động báo chí Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Trang 27

- Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế: Luận án là một công trình nghiên cứu về vai trò của truyền thông nói chung, báo chí nói riêng trong quan

hệ quốc tế Chính vì vậy, cách tiếp cận chủ đạo trong luận án chủ yếu dựa trên nền tảng của các lý thuyết về mối quan hệ giữa truyền thông và quan hệ quốc tế

- Phương pháp lịch sử: Luận án làm rõ quá trình ra đời, hình thành và phát triển của báo Nhân dân, qua đó làm rõ vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại qua nhiều thời kỳ lịch sử Mỗi giai đoạn phát triển các ấn phẩm của báo xuất phát và phù hợp với thực tế đất nước và thực hiện nhiệm vụ chính trị của báo; Những điều chỉnh thích hợp về số lượng, nội dung, hình thức và cách thức, cơ chế hoạt động của các ấn phẩm Báo Nhân dân linh hoạt, thiết thực và ngày càng hiện đại

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận án tìm hiểu, đánh giá công tác tổ chức thông tin đối ngoại trên Báo Nhân Dân, nhất là trong công tác viết, biên tập

và hoạt động khác có liên quan

6 Nguồn tài liệu

- Các văn bản, chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoạt động báo chí; văn bản, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác đối ngoại;

- Các công trình khoa học, các bài tạp chí chuyên ngành, báo cáo hội thảo quốc gia và quốc tế về hoạt động báo chí nói chung và báo chí trong công tác đối ngoại nói riêng;

- Các văn bản, báo cáo về hoạt động của báo Nhân dân

7 Những đóng góp của luận án

- Luận án là một công trình nghiên cứu liên ngành đầu tiên, toàn diện và

có hệ thống về vai trò của báo chí trong quan hệ quốc tế, cụ thể là về vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 đến nay; qua

đó đưa ra một số nhận xét về hoạt động của báo Nhân dân; bước đầu đưa ra một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí trong công tác đối ngoại nói chung và báo Nhân dân nói riêng trong tình hình mới

- Luận án là một tài liệu tham khảo về vai trò của báo chí trong công tác đối ngoại, qua đó góp phần định hình quan điểm và thúc đẩy hoạt động thông tin đối ngoại trên các ấn phẩm báo Nhân Dân hiện đại và hiệu quả nói riêng và củng

cố, nâng cao nhận thức, phương pháp tổ chức thông tin đối ngoại trong tổ hợp báo chí đa phương tiện nói chung ở Việt Nam

Trang 28

Chương 2: Báo Nhân dân trong việc triển khai công tác thông tin đối

ngoại từ năm 1986 đến nay

Chương này tập trung phân tích về quá trình báo Nhân triển khai công tác đối ngoại từ năm 1986 đến nay, cụ thể qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1986-1995: Giai đoạn đầu công cuộc đổi mới; Giai đoạn 1996-2011: hội nhập quốc tế; Giai đoạn 2011 đến nay: phục vụ hội nhập sâu rộng, toàn diện

Chương 3: Nhận xét và kiến nghị một số giải pháp

Nội dung chương này sẽ đưa ra một số nhận xét về những kết quả, khó khăn còn tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại đó trong quá trình triển khai hoạt động đối ngoại của báo Nhân dân Từ đó, đưa ra một số đề xuất giải pháp

nâng cao hiệu quả hoạt động của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại

Trang 29

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ BÁO CHÍ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI

1.1 Thông tin đối ngoại trong quan hệ quốc tế

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung luận án

- Báo chí

Từ trước tới nay, có nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra những khái niệm

khác nhau về báo chí dưới những góc độ khác nhau:

“Chữ báo chí xuất phát từ chữ information có nghĩa là thông tin, thông báo, báo tin và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp cho sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại bằng việc lấy hiện thực khách quan để phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt chẽ giữa nhà báo - tác phẩm - công chúng” [116, tr.6]

Một số quan điểm khác thì không định nghĩa báo chí một cách riêng biệt

mà gắn liền báo chí với truyền thông Ở cách hiểu này, trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa báo chí truyền thông hiểu theo nghĩa chung nhất và trừu tượng nhất là “quá trình truyền dữ liệu giữa các đơn vị chức năng”

Trong Từ điển xã hội học do G Endruweit và G Trommsdorff chủ biên, định nghĩa báo chí truyền thông là “sự tạo ra mối liên hệ giữa hai đối tượng có thể mang bản chất sự sống hay không”

Còn tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn Xã hội học truyền thông đại chúng thì khẳng định: “Báo chí truyền thông là một quá trình truyền đạt thông

tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình” [112, tr.3]

Luật Báo chí nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1989, được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 5 sửa đổi, bổ sung và thông qua ngày 12 tháng 6 năm 1999, Điều 3 quy định: Báo chí nói trong luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài [93]

Trang 30

Đến năm 2016, Luật Báo chí được bổ sung và điều chỉnh khái niệm về Báo chí như sau: Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử [95]

- Thông tin đối ngoại

+ Thông tin:

Thông tin, theo Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách “Bùng

nổ truyền thông”, có hai nghĩa: Thứ nhất, thông tin là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome); Thứ hai, thông tin là nói về sự truyền đạt một

ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Theo quan điểm của triết học, thông tin

là một hiện tượng vốn có của vật chất, là thuộc tính khách quan của thế giới vật

chất, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với sự vật khác Thông tin

luôn gắn với quá trình phản ánh, không có thông tin chung chung, mà thông tin

là thông tin về sự vật này đối với sự vật khác Theo Từ điển tiếng Việt thì thông tin với nghĩa là động từ là truyền tin cho nhau để biết; và với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi (ví dụ bài báo có lượng thông tin cao)

Thông tin gồm nội dung thông tin và phương tiện thông báo, báo tin

Cách hiểu này phù hợp với khái niệm thông tin nêu trong phần mở đầu “Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010” ban hành kèm theo Quyết định số 219/2005/QĐ – TTg ngày 9/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ: “Thông tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công cụ để điều hành, quản

lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội”

Trong lĩnh vực báo chí, thông tin là mục tiêu và cũng là công cụ chủ yếu của nhà báo Thông tin là mục đích chủ yếu trong hoạt động báo chí Thông tin trở thành

“cầu nối” giữa báo chí và công chúng Căn cứ việc phân loại theo phương thức thể hiện, người ta chia thông tin báo chí thành các loại hình: Thông tin bằng chủ yếu chữ viết (báo in); thông tin chủ yếu bằng tiếng nói (phát thanh); thông tin chủ yếu bằng hình ảnh (truyền hình); thông tin trên mạng internet (đa phương tiện)

Trang 31

+ Đối ngoại:

Đối ngoại là “đối với nước ngoài, cư xử, quan hệ với nước ngoài” [128,

tr.345] Là những công việc, những quan hệ và những hoạt động giữa nước này với nước khác, tổ chức chính trị - xã hội của quốc gia này với tổ chức chính trị -

xã hội của quốc gia khác nhằm thực hiện những mục đích do tổ chức hay quốc gia đề ra

Mỗi một quốc gia, dân tộc đều có đường lối đối ngoại riêng, gồm mục tiêu

cơ bản, phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu trong giải quyết mối quan hệ với bên ngoài, nó cũng là sự kéo dài và biểu hiện của đường lối đối nội, chịu sự quy định của đối nội Hoạt động đối ngoại nhằm phát huy cái nội lực ra bên ngoài, đồng thời lấy nguồn lực từ bên ngoài để bồi bổ, phát triển nguồn lực bên trong Với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và những xu thế mới cùng những khả năng, phương tiện mới do nó tạo ra, hoạt động đối ngoại ngày càng trở nên quan trọng và tác dộng trực tiếp vào sự tồn tại, phát triển của một đất nước, một cộng đồng Với các nước đang phát triển như Việt Nam rất cần thông qua hoạt động đối ngoại để tạo lập môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển, hóa giải những xu thế bất lợi, đối ngược với sự phát triển, đồng thời tranh thủ xu thế mới của thời đại, những thời cơ, vận hội do cuộc Cách mạng khoa học - công nghệ tạo ra, những kinh nghiệm và những nguồn lực từ bên ngoài về bảo vệ và phát triển đất nước

Để hoạt động đối ngoại được thực hiện có hiệu quả, thì công tác thông tin đối ngoại giữ một vị trí, vai trò quan trọng trong việc triển khai, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về đối ngoại

+ Thông tin đối ngoại:

Thông tin đối ngoại bao gồm những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, thông tin đối ngoại là một bộ phận của công tác tư tưởng-văn hóa Nói đến công tác tư tưởng-văn hóa, mọi người thường chỉ liên tưởng đến phạm vi quốc gia Nhưng trên thực tế, thông tin đối ngoại là sự tiếp tục của công tác tư tưởng-văn hóa trên phạm vi quốc tế với một đối tượng khá phức tạp và đa dạng hơn Nếu trong nước, thông tin nhằm làm cho mọi công dân quán triệt rồi triển khai thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, thì trên phạm vi quốc tế, thông tin đối ngoại là thông tin để các nước hiểu rõ đường lối,

Trang 32

chính sách của Việt Nam nói chung, chính sách đối ngoại nói riêng, giới thiệu hình ảnh Việt Nam với bạn bè năm châu Như vậy, thông tin đối ngoại thực chất là nhằm tranh thủ dư luận quốc tế, góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng được xác định cho một giai đoạn nhất định “Thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác thông tin và công tác tư tưởng của Đảng ta; là nhiệm

vụ thường xuyên, lâu dài” [88] Theo đó, trong giai đoạn hiện nay, thông tin đối ngoại cần làm rõ quyết tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục đường lối chính trị đổi mới toàn diện và những chính sách, biện pháp cụ thể do Chính phủ Việt Nam đưa ra nhằm hội nhập toàn diện và là một thành viên tích cực, trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, sẵn sàng tham gia xây dựng luật chơi trong quan hệ quốc tế [110, tr.60]

Thứ hai, thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam Mục đích của thông tin đối ngoại cũng

là mục đích của hoạt động đối ngoại Một mặt làm cho bạn bè cũng như các đối tác trên thế giới hiểu rõ nước mình; mặt khác, góp phần thực hiện mục tiêu cách mạng đề ra Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg ngày 26/4/2000 của Thủ tướng Chính phủ “Về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại” nêu rõ:

“Thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam), người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [29]

Dưới góc độ pháp lý, Điều 6 Nghị định 72/2015/NĐ-CP của Chính phủ về

quản lý hoạt động thông tin đối ngoại quy định: “Thông tin đối ngoại bao gồm

thông tin chính thức về Việt Nam, thông tin quảng bá hình ảnh Việt Nam và

thông tin tình hình thế giới vào Việt Nam” [96]

Hiểu theo nghĩa rộng, công tác thông tin đối ngoại bao gồm tất cả mọi hoạt động truyền, nhận, xử lý tin tức và giải thích các thông tin hướng tới các quốc gia, người nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam) và người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước

Trang 33

ngoài về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam nhằm tạo ra sự hiểu biết và xây dựng hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam

1.1.2 Vai trò, vị trí, nội dung của thông tin đối ngoại trong công tác đối ngoại

1.1.2.1 Vai trò của báo chí trong thông tin đối ngoại

Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên thế giới như hiện nay, hoạt động thông tin nói chung và báo chí nói riêng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Báo chí đang thực sự có những bước đột biến, đi vào chiều sâu về cả lượng và chất Trong những năm qua, thông tin trên báo chí Việt Nam đã góp phần quan trọng vào mọi mặt của đời sống xã hội, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong hơn 35 năm thực hiện chính sách và đường lối đổi mới do Đảng lãnh đạo, các phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trên các

lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm

Báo chí Việt Nam thực sự đã trở thành một trong những kênh thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng; những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, quan liêu lãng phí và suy thoái đạo đức, lối sống… Báo chí cũng đã góp phần giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền thống cách mạng, góp phần nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phong phú và đa dạng về đời sống tinh thần của nhân dân… Bên cạnh những vấn đề trên, báo chí Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập đã góp phần nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại, góp phần quan trọng trong việc giới thiệu đường lối, chính sách của Dảng và Nhà nước Việt Nam, giới thiệu đất nước, lịch

sử, văn hóa và con người Việt Nam với bạn bè quốc tế; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng, đa phương hóa các quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước; góp phần nâng cao uy tín và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

Báo chí là công cụ, là vũ khí quan trọng trên mặt trận tư tưởng và định hướng dư luận Trên mặt trận tư tưởng, báo chí giữ vai trò liên kết những thành viên riêng lẻ của xã hội thành một khối thống nhất dựa vào một lập trường chính trị chung, thái độ tích cực để xây dựng và cải tạo xã hội

Trang 34

Ở Việt Nam, báo chí chính là “phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, là diễn đàn của Nhân dân, dùng để tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [95] Đồng thời báo chí còn có vai trò “phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội, làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân… mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác phát triển bền vững” [95] Chính vì lẽ

đó, báo chí là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, là công cụ tham gia quản lý xã hội; công cụ giám sát cán bộ, đảng viên về đạo đức lối sống, giữ vai trò phản biện xã hội, đấu tranh chống các luận điệu sai trái, có chủ đích của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội

1.1.2.2 Vai trò của thông tin đối ngoại

Công tác thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền về tư tưởng và trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, là một phần không thể thiếu trong chiến lược thông tin để phục vụ lợi ích quốc gia, góp phần quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của đất nước

Do sự bùng nổ thông tin và tác động của công luận đối với việc hoạch định và thực thi chính sách, thông tin đối ngoại ngày càng có vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng và văn hóa trên phạm vi thế giới Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập toàn diện, thông tin đối ngoại lại càng có ý nghĩa quan trọng

Nó không chỉ thông tin đường lối chính sách mà còn phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và góp phần phát huy bản sắc dân tộc

Kể từ khi Việt Nam thực hiện chiến lược đổi mới và hội nhập quốc tế,

“công tác thông tin đối ngoại đã đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc

Trang 35

tế, làm cho thế giới hiểu rõ và hiểu đúng về Việt Nam, qua đó tranh thủ sự ủng

hộ của bạn bè quốc tế phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [30]

Do đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm và chỉ đạo chặt chẽ công tác thông tin đối ngoại: Ngày 10/9/2008, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 26-CT/TW "Về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới" Tiếp đó, ngày 14/2/2012, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Kết luận số 16-KL/TW về "Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020" Đây là Chiến lược đầu tiên về lĩnh vực thông tin đối ngoại, là cơ sở quan trọng để các ban, bộ, ngành, địa phương triển khai các hoạt động thông tin đối ngoại một cách toàn diện, bài bản và hiệu quả

Thông tin đối ngoại ra đời từ rất sớm và cùng với thời gian, công tác thông tin đối ngoại ngày càng được cải tiến, bổ sung những nội dung mới, phát triển mạnh mẽ, phục vụ đắc lực cho việc thực hiện chính sách đối ngoại của các nước, đặc biệt là khi nó trở thành một bộ phận quan trọng trong lĩnh vực tư tưởng - chính trị của các nước Công tác thông tin đối ngoại không chỉ dừng lại trong việc truyền và nhận tin tức một cách thụ động, mà còn bao hàm cả việc phân tích, đánh giá, phát biểu quan điểm và định hướng xử lý về các thông tin liên quan đến những sự kiện trong nước và quốc tế nhằm đạt tới những mục đích

cụ thể về đường lối đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia

Thông tin đối ngoại là một mảng công việc rất quan trọng trong công tác đối ngoại và công tác tư tưởng của Đảng và Nhà nước, là cầu nối và phương tiện

để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa Việt Nam và các nước Xét về lợi ích quốc gia, thực hiện tốt công tác thông tin đối ngoại sẽ giúp bạn bè quốc tế tiếp cận tình hình

về Việt Nam một cách chính xác, qua đó hiểu đúng về đường lối đối nội và đối ngoại, về đất nước, con người Việt Nam Điều này giúp thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Việt Nam, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, thu hút sự quan tâm của nhà kinh doanh, tổ chức tài chính tiền tệ, Chính phủ các nước trên thế giới Bên cạnh đó, thực hiện tốt công tác thông tin đối ngoại còn góp phần hạn chế những thông tin sai lệch, bịa đặt về Việt Nam và ngăn chặn âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như các hoạt động phá hoại an ninh quốc gia

Trang 36

của các phần tử chống đối Trong bối cảnh các lực lượng thù địch đang ra sức tuyên truyền cho các giá trị ngoại lai, bôi xấu, xuyên tạc các chính sách của Đảng

và Nhà nước trong các vấn đề đối nội và đối ngoại, công tác thông tin đối ngoại càng đóng vai trò quan trọng hơn, nhằm đem lại cho nhân dân Việt Nam cũng như bạn bè quốc tế nhận thức đúng đắn nhất về chính sách của Đảng và Nhà nước, phản bác lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

Thông tin đối ngoại là thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông tin

về thế giới vào Việt Nam Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng của công tác đối ngoại và công tác tư tưởng nhằm làm cho thế giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; quan điểm và lập trường của Việt Nam trong các vấn đề quốc tế và khu vực; giới thiệu những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới; về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, dân tộc; đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch đối với Việt Nam…; qua đó, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng thuận và đóng góp của đồng bào Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thông tin đối ngoại còn giúp nhân dân trong nước tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm, tinh hoa văn hóa của nhân dân thế giới, góp phần cùng nhân dân thế giới đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển

Về đối tượng thông tin đối ngoại:

- Ngoài nước: Các tổ chức, định chế quốc tế, chính giới, học giả, báo chí, nhà kinh doanh, nhân dân các nước và đồng bào Việt Nam ở nước ngoài

- Trong nước: Người nước ngoài ở Việt Nam, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế, hãng thông tấn, báo chí, các nhà đầu tư

Về nội dung thông tin đối ngoại:

Chỉ thị số 11/CT-TW của Ban Bí thư ngày 13 tháng 6 năm 1992, đã chỉ ra những nội dung chủ yếu của công tác thông tin đối ngoại là:

- Thông tin về đường lối, chính sách và thành tựu của đất nước

- Thông tin về chính sách đối ngoại

- Thông tin về đất nước, con người, lịch sử và nền văn hóa lâu đời của Việt Nam

Trang 37

Ngày 30/11/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg ban hành “Quy chế quản lý Nhà nước về TTĐN” nhằm phát huy được chức năng quản lý Nhà nước và tập trung quản lý thống nhất các hoạt động TTĐN Văn bản này đã định hướng cho hoạt động TTĐN trong suốt hơn

25 năm thực hiện đổi mới đất nước Theo đó, xét về nội dung, TTĐN tập trung vào một số nội dung chính sau:

- Thông tin về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Việt Nam, thành tựu của công cuộc đổi mới

- Thông tin về chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam

- Giới thiệu, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới

- Thông tin quốc tế cho nhân dân trong nước, chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới

- Đấu tranh, phản bác những thông tin sai trái, xuyên tạc

Yêu cầu công tác thông tin đối ngoại

Việc tổ chức hoạt động thông tin đối ngoại cần bám sát các quan điểm sau:

Thứ nhất, Công tác thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng

trong công tác tuyên truyền, công tác tư tưởng của Đảng và là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị;

Thứ hai, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, huy động sức mạnh tổng

hợp, mọi khả năng, mọi phương tiện, mọi hình thức của các lực lượng trong hoạt động thông tin đối ngoại

Thứ ba, người Việt Nam ở nước ngoài vừa là đối tượng vừa là nguồn lực

của công tác thông tin đối ngoại

Thứ tư, phối hợp đồng bộ và gắn kết chặt chẽ giữa thông tin đối ngoại và

thông tin đối nội, giữa đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân trong hoạt động thông tin đối ngoại

Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ nội dung và hình thức thông tin, đa dạng hóa

phương thức thực hiện hoạt động thông tin đối ngoại, thực hiện tốt phương

châm “Chính xác, kịp thời, sinh động, phù hợp từng đối tượng”

Thứ sáu, tăng cường đầu tư, có trọng tâm, trọng điểm về nguồn nhân lực

và tài chính hiện đại hóa phương tiện, áp dụng công nghệ thông tin để mở rộng địa bàn, đối tượng, đi đôi với phát huy các phương thức, biện pháp truyền thống, nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin đối ngoại

Trang 38

Thứ bảy, mọi hoạt động thông tin đối ngoại cần bám sát, phục vụ triển

khai các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước, đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ

Mọi hoạt động thông tin đối ngoại phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

1 Tuân thủ chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Nhà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên; tuân thủ pháp luật và phong tục tập quán của nước sở tại

2 Bảo đảm không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,

uy tín, hình ảnh, quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế của Việt Nam; bảo vệ bí mật nhà nước

3 Không kích động nhân dân chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân; không kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước

4 Bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời theo đúng định hướng thông tin tuyên truyền đối ngoại của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ cũng như các chương trình, kế hoạch thông tin đối ngoại đã được phê duyệt; không đưa tin sai

sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân

1.2 Quá trình đổi mới tƣ duy đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 đến nay

1.2.1 Đổi mới tư duy đối ngoại giai đoạn 1986-1995

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986)

là một dấu mốc quan trọng, đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với việc đưa ra đường lối đổi mới, mở ra một giai đoạn mới với những chuyển biến quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) chỉ ra:

“nhiệm vụ trên lĩnh vực đối ngoại của Đảng, Nhà nước là ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hòa bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới, tăng cường hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi xây dựng, bảo

vệ Tổ quốc, tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội” [43, tr.99] Trong chính sách đối ngoại, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương "kiên trì thực hiện

Trang 39

chính sách đối ngoại hòa bình… ủng hộ chính sách cùng tồn tại giữa các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau” [43, tr.105] Đồng thời mục tiêu của công tác đối ngoại cũng được xác định rõ là nhằm: “giữ gìn an ninh chính trị, làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch… tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới về hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việc phân công và hợp tác trong Hội đồng Tương trợ kinh tế; đồng thời tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước lớn khác” [43, tr.105]

Quan điểm đó đã thể hiện một cách rõ ràng về nhận thức mới của Đảng

về tình hình thế giới và khu vực, chứng tỏ một bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc nhìn nhận thế giới dưới góc độ một vũ đài đấu tranh của thời kỳ trước Đổi mới sang “ủng hộ chính sách cùng tồn tại giữa các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau” Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị (7-1986) ghi nhận xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại, đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình trong quan hệ quốc tế Với những nội dung đó, Đại hội

VI mở đầu quá trình đổi mới chiến lược và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, định hướng đúng đắn cho các hoạt động tuyên truyền đối ngoại trong các giai đoạn về sau

Ngày 20/5/1988, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI

ra Nghị quyết số 13-NQ/TW Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, là bước ngoặt, có tính đột phá về đổi mới tư duy đối ngoại, đánh dấu sự

hình thành bước đầu chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa Với nhận thức mới đúng đắn, toàn diện hơn về vấn đề an ninh, bao gồm cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong, Đảng xác định nhiệm vụ đối ngoại chuyển từ chỗ chú trọng nhân tố chính trị-quân sự sang ưu tiên cho nhân tố kinh tế, ưu tiên giữ vững hòa bình, độc lập dân tộc, có cách tiếp cận toàn diện hơn về tình hình thế giới và khu vực Và để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai chính sách đối ngoại “thêm bạn, bớt thù”, ra sức tranh thủ các nước anh em bầu bạn và dư luận rộng rãi trên thế giới, phân hóa hàng ngũ đối phương, làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập Việt Nam về kinh tế, chính trị, kiên quyết và chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình [44, tr.5] Đây là quan điểm thể hiện bước chuyển có ý nghĩa chiến lược trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà

Trang 40

nước Việt Nam, mà còn bổ sung cơ sở cho việc đổi mới hoạt động tuyên truyền đối ngoại trong tình hình mới

Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3/1989) của Đảng CS Việt Nam là sự phát triển tiếp theo của đổi mới tư duy đối ngoại Hội nghị đã nhận thức nhiều vấn đề về đối ngoại cần phải giải quyết, trong đó một lần nữa tái khẳng định: đối ngoại phải chuyển từ chính trị-an ninh là chủ yếu sang chính trị-kinh tế là chủ yếu; thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc; đẩy nhanh quá trình cải thiện quan hệ với các nước ASEAN; xác định lộ trình rút quân khỏi Campuchia; tiếp cận lộ trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ… Nói tóm lại, nội dung chính của công tác đối ngoại trong giai đoạn đầu thời kỳ Đổi mới là phá thê bị bao vây cấm vận đối với đất nước

Trong thực tiễn, Đảng và Nhà nước đã bước đầu giải quyết những vấn đề tồn đọng về Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân tình nguyện, xúc tiến quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, khai thông đối thoại Việt - Mỹ… Kết quả là có thêm sự đồng thuận bên trong và làm giảm bớt áp lực chống đối từ bên ngoài Những thành tựu đối ngoại thời kỳ này đã “tạo môi trường quốc tế thuận lợi hơn cho công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi một bước âm mưu bao vây, cô lập đối với nước ta, tăng thêm bầu bạn, nâng cao uy tín của nước ta trên trường quốc tế, mở rộng quan hệ với các nước trong cộng đồng quốc tế” [45, tr.40-41], tạo tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo

Đại hội lần thứ VII của Đảng, tháng 6/1991, đã đánh dấu bước phát triển mới của sự nghiệp đổi mới, đặc biệt trong lĩnh vực đối ngoại Tại Đại hội này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định quyết tâm đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới,

đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau; đưa phương châm: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”, “giữ vững hòa bình,

mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [49, tr.294]

Ngày đăng: 24/12/2021, 22:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1992). Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác báo chí, xuất bản. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác báo chí, xuất bản
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1992
2. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin (1997), Tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo quản lý công tác báo chí - xuất bản, Tập 1 (Kỷ yếu Hội nghị báo chí xuất bản toàn quốc), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo quản lý công tác báo chí - xuất bản
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
3. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin (1997), Tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo quản lý công tác báo chí - xuất bản, Tập 2 (Kỷ yếu Hội nghị báo chí xuất bản toàn quốc), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo quản lý công tác báo chí - xuất bản
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 1997
4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007). Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới. Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2007
5. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương - Bộ Văn hóa Thông tin - Hội Nhà báo Việt Nam (2002). Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 22 CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 22 CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương - Bộ Văn hóa Thông tin - Hội Nhà báo Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
6. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004). Tình hình phát triển và quản lý báo chí qua 20 năm đổi mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình phát triển và quản lý báo chí qua 20 năm đổi mới
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Năm: 2004
21. Hoàng Quốc Bảo (2010), Lãnh đạo và quản lý báo chí ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãnh đạo và quản lý báo chí ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hoàng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
Năm: 2010
22. Nguyễn Đức Bình (1997), “Những quan điểm hàng đầu đối với công tác báo chí xuất bản”, Tạp chí Báo chí - Tuyên truyền (5), tr.6-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm hàng đầu đối với công tác báo chí xuất bản”, "Tạp chí Báo chí - Tuyên truyền
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1997
23. Nguyễn Đức Bình (1997), “Nắm vững các quan điểm cơ bản về công tác báo chí xuất bản”, Tạp chí Cộng sản (18), tr.11-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nắm vững các quan điểm cơ bản về công tác báo chí xuất bản”", Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1997
24. Lê Thanh Bình (2004). Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển báo chí - xuất bản
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
25. Lê Thanh Bình (2005), Báo chí truyền thông và kinh tế, văn hóa, xã hội (Sách chuyên khảo), Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông và kinh tế, văn hóa, xã hội (Sách chuyên khảo)
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
27. Bộ Thông tin và Truyền thông (2010), Một số văn bản chỉ đạo và quản lý của Đảng, Nhà nước về hoạt động báo chí, Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản chỉ đạo và quản lý của Đảng, Nhà nước về hoạt động báo chí
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Nhà XB: Nxb. Thông tin và Truyền thông
Năm: 2010
28. Phí Như Chanh, Phạm Văn Linh, Phạm Xuân Thâu (đồng chủ biên, 2005). Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới. Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
29. Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg ngày 26/4/2000 của Thủ tướng Chính phủ “Về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại
31. Vũ Đình Công (1997). Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986-1995). Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986-1995)
Tác giả: Vũ Đình Công
Năm: 1997
32. Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007). Những vấn đề của báo chí hiện đại. Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2007
33. Trần Bá Dung (2000), Các quan điểm chỉ đạo của Đảng về báo chí thời kỳ đổi mới (1986-1999), Luận văn thạc sĩ báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan điểm chỉ đạo của Đảng về báo chí thời kỳ đổi mới (1986-1999)
Tác giả: Trần Bá Dung
Năm: 2000
34. Trần Bá Dung (2001). Các quan điểm chỉ đạo của Đảng về báo chí trong thời kỳ đổi mới - Báo chí - Những quan điểm từ thực tiễn. Tập 2, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan điểm chỉ đạo của Đảng về báo chí trong thời kỳ đổi mới - Báo chí - Những quan điểm từ thực tiễn
Tác giả: Trần Bá Dung
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001
35. Nguyễn Văn Dững. Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường). Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
36. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nxb. Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb. Lao Động
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w