1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

báo cáo kinh nghiệm tuyển chọn, bồi dưỡng học sinh giỏi môn hóa học

45 783 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh nghiệm tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học
Trường học Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại Báo cáo
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của trường THPT chuyên là công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.Nhưng thực tế hiện nay việc tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia gặp phải những khó khăn nhất định. Sau đây là một số chia sẻ của chúng tôi về công tác bồi dưỡng HSG: +Cần có kế hoạch tuyển chọn học sinh ngay từ lớp 10.Giáo viên dạy chuyên cần dạy chắc cơ bản sau tăng dần tốc độ để đến lớp 11 học sinh có thể tham gia đội tuyển. +Phải tạo niềm tin trong học sinh .Gây hứng thú cho các em với môn chuyên và có quyết tâm vào đội tuyển +Giáo dục cho các em biết nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ đối với trường và xã hội, giáo dục các em có khát vọng của tuổi trẻ đồng thời ý thức được quyền lợi với bản thân,với gia đình. +Động viên các em trong đội tuyển, tạo điều kiện tốt nhất cho các em yên tâm tập trung vào môn chuyên như: đảm bảo chương trình các môn khác, nhất là các môn thi đại học, có chế độ hỗ trợ sinh hoạt,có chế độ học bổng thích hợp theo chế độ chung ( ngoài ra tìm nguồn tài trợ để xin thêm các suất học bổng)

Trang 1

III Kinh nghiệm tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học

BÁO CÁO KINH NGHIỆM TUYỂN CHỌN, BỒI DƯỠNG

HỌC SINH GIỎI MÔN HÓA HỌC

Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của trường THPT chuyên là công tác bồi dưỡng họcsinh giỏi.Nhưng thực tế hiện nay việc tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia gặpphải những khó khăn nhất định Sau đây là một số chia sẻ của chúng tôi về công tác bồidưỡng HSG:

+Cần có kế hoạch tuyển chọn học sinh ngay từ lớp 10.Giáo viên dạy chuyên cần dạy chắc

cơ bản sau tăng dần tốc độ để đến lớp 11 học sinh có thể tham gia đội tuyển

+Phải tạo niềm tin trong học sinh Gây hứng thú cho các em với môn chuyên và có quyếttâm vào đội tuyển

+Giáo dục cho các em biết nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ đối với trường và xãhội, giáo dục các em có khát vọng của tuổi trẻ đồng thời ý thức được quyền lợi với bảnthân,với gia đình

+Động viên các em trong đội tuyển, tạo điều kiện tốt nhất cho các em yên tâm tập trungvào môn chuyên như: đảm bảo chương trình các môn khác, nhất là các môn thi đại học, cóchế độ hỗ trợ sinh hoạt,có chế độ học bổng thích hợp theo chế độ chung ( ngoài ra tìm nguồntài trợ để xin thêm các suất học bổng)

+Phân loại học sinh : giáo viên phải có phương pháp bồi dưỡng thích hợp với từng đốitượng

+Hướng dẫn học sinh tự học,tự đọc: dựa vào những mặt mạnh của từng học sinh có thểgiao chuyên đề cho từng học sinh làm sau đó trao đổi với các bạn khác trong đội

Với học sinh mới vào lớp 10 thì giáo viên cần phải giới thiệu tài liệu cho học sinh thamkhảo,hướng dẫn cách đọc sách theo từng chuyên đề( giáo viên có thể cho dàn ý để học sinhtập làm quen với việc đọc sách và biết cách thu hoạch những vần đề mình nghiên cứu).Sau mỗi một năm học những học sinh đội tuyển sắp xếp lại các chuyên đề mình đã họcrồi nộp vào thư viện của trường cho các khóa sau tham khảo

+Lập kế hoạch bồi dưỡng từng tuần: phân công giáo viên giảng dạy từng chuyên đề,thống nhất nội dung kiến thức, kĩ năng cần rèn

Sau khi lập đội tuyển một thời gian phải có kế hoạch bồi dưỡng mũi nhọn, nâng mặt bằngchung của đội tuyển

+Ra đề kiểm tra thường xuyên hàng tuần để học sinh rèn kĩ năng làm bài,rèn khả năngchịu áp lực thi cử.Phân công giáo viên chấm, chữa bài rút kinh nghiệm cho học sinh Hàngtuần có phần thưởng khuyến khích những học sinh có kết quả làm bài cao nhất

Trang 2

Trên đây là một số kinh nghiệm của chúng tôi trong quá trình giảng day,bồi dưỡng học sinhgiỏi Rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi cóhiệu quả hơn!

PHÂN TÍCH CÁC “BẪY” THƯỜNG GẶP TRONG QUÁ TRÌNH HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG THPT NHẰM

PHÁT TRIỂN TƯ DUY CHO HS

Trường THPT chuyên Phan Bội Châu – Nghệ An

Để hướng dẫn HS Phát hiện và phân tích những “bẫy” trong quá trình

hướng dẫn HS giải bài tập hoá học ở trường THPT ta cần hiểu rõ một số vấn đề về cơ sở lýluận dạy học sau:

1 Tìm hiểu những sai lầm và cơ chế phát sinh các sai lầm trong dạy học

1.1 Khái niệm về sai lầm – sai lầm trong nghiên cứu khoa học

Theo Trung tâm Từ điển học, Từ điển tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà

Nội, 1994) thì sai lầm là “trái với yêu cầu khách quan, lẽ phải, dẫn đến hậu quả không hay”.

Sai lầm không chỉ xuất hiện trong cuộc sống mà còn xuất hiện cả trong học tập và nghiên

cứu khoa học Alber Einstein nói về tác hại của sai lầm trong nghiên cứu khoa học: “ Nếu tôi mắc sai lầm thì chỉ cần một lần cũng đủ rồi” Trong giáo dục, I.A Komensky khẳng định: “ Bất kì một sai lầm nào cũng có thể làm cho học sinh kém đi nếu như giáo viên không chú ý ngay tới sai lầm đó, bằng cách hướng dẫn học sinh nhận ra và sữa chữa, khắc phục sai lầm” A.A Stoliar cũng đã lên tiếng nhắc nhở giáo viên rằng: “không được tiếc thời gian để phân tích trên giờ học các sai lầm của học sinh”.

1.2 Nguyên nhân phát sinh các sai lầm của HS trong giải bài tập hoá học.

Qua tìm hiểu thực tế ở các lớp tôi trực tiếp giảng dạy, tìm hiểu quá trình các em HS giải

bài tập, các sai lâầm (các “bẫy”) mà các em thường gặp là:

- Đọc không kỹ đề ra dẫn đến hiểu nhầm kiến thức, không phát hiện được các nôội dung

chính (các “chốt”) trong bài tập.

- Không xét hết các trường hợp dẫn đến “thiếu nghiệm”

- Vận dụng các phương pháp giải toán một cách không hợp lí và triệt để trong việc giảicác bài tập hoá học

- Chưa có phương pháp phân tích và tổng hợp kiến thức

- Khi giải toán không cân bằng phương trình hoá học

- Thiếu kỹ năng thực hành hoá học, các bài toán thực nghiệm còn mang nặng tính lýthuyết, không sát thực tế

- Sai lầm của học sinh về cách hiểu và vận dụng lí thuyết hóa học trong giải bài tập

2 Ý nghĩa và tác dụng của việc phát hiện và phân tích những nhầm lẫn trong quá trình hướng dẫn HS giải bài tập hoá học ở trường THPT.

Theo tôi, nếu giáo viên có khả năng dự đoán được các sai lầm (về cách hiểu kiến thức lẫn

kĩ năng thực hành) mà HS thường mắc phải, sẽ tạo nên được các tình huống hấp dẫn trong

bài tập mà ta có thể gọi là “bẫy” Một giáo viên giỏi, có kinh nghiệm trong dạy học, sẽ cókhả năng dự đoán được nhiều sai lầm của học sinh, làm cơ sở để xây dựng các bài tập hoáhọc có nội dung sâu sắc, kiểm tra được những sai phạm mà học sinh mắc phải trong quá trìnhhọc tập môn hóa học, để từ đó điều chỉnh quá trình dạy học nhằm khắc phục những sai lầmxẩy ra, từ đó giúp HS nắm vững và sâu kiến thức hơn

Trang 3

2.1 Nội dung nghiên cứu

Việc tổng kết những sai lầm thường gặp trong dạy học hóa học cần có những nghiên cứu,điều tra cơ bản, bước đầu chúng tôi đề xuất một số dạng sai lầm phổ biến sau đây:

2.1.1 Những “nhầm lẫn” trong quá trình vận dụng kiến thức về phản ứng

oxi hoá - khử

Phản ứng oxi hoá - khử là một kiến thức rất quan trọng, nó xuyên suốt trong chương trình

hoá học vô cơ, trong kiểm tra kiến thức của các kì thi từ tốt nghiệp, đại học đến các kỳ thichọn HSG Tỉnh, Thành phố, đến các kì thi Quốc gia hầu hết đều có kiểm tra kiến thức vềphản ứng oxi hoá - khử, việc hiểu và vận dụng kiến thức về phản ứng oxi hoá khử không thậtđơn giản và dễ, sau đây là một số “nhầm lẫn” về việc vận dụng kiến thức này

Ví dụ 1: Hãy viết các PTHH sau đây dưới dạng ion đầy đủ và ion rút gọn

a Al + HNO3  Al(NO3)3 + NO2 + H2O

b Fe + H2SO4  FeSO4 + H2

c Mg + H2SO4 (đặc, nóng)  MgSO4 + S + H2O

* Phân tích:

Với loại câu hỏi này hầu hết HS đều áp dụng kiến thức về điện li và trình bày với kết quả sau:

a Phương trình ion đầy đủ:

* Với cách giải trên HS đã phạm một sai lầm ở câu (c) - đó là nhìn phương trình ion rút

gọn, ta thấy ion SO42- có tính oxi hoá, nhưng thực chất ion SO42- không có tính oxi hóa, màtính oxi hoá là của cả phân tử H2SO4

Ví dụ 2: X là một oxit sắt trong 3 oxit: FeO, Fe2O3, Fe3O4 có % khối lượng sắt trong oxit là72,41 % Cho biết CTPT của X, tính thể tích dd HNO3 0,7 M cần thiết để hoà tan hết 69,6gam X, biết PƯHH giải phóng khí NO duy nhất

A Fe2O3, 4 l B Fe3O4 , 4l C Fe2O3, 5l D Fe3O4, 4/7l

* Phân tích: Với bài toán này HS thấy ngay oxit sắt phải có tính khử, vì vậy X có thể là

FeO hoặc Fe3O4 , đối chiếu đáp án HS sẽ chọn ngay là đáp án B hoặc D Việc tính thể tích HNO3 HS sẽ áp dụng phương pháp bảo toàn electron như sau:

- Qúa trình oxi hoá:

* Với cách giải trên HS đã phạm một sai lầm là viết quá trình khử để tính số mol HNO3 thì

số mol HNO3 trong quá trình đó là lượng HNO3 tham gia PƯ oxihoa khử, còn lượng HNO3

Trang 4

trong cả quá trình PƯ thì còn phải tính thêm lượng HNO3 tham gia PƯ axit – bazơ với Fe3O4.

Vì vậy ta có cách giải khác như sau:

- PTHH: 3 Fe3O4 + 28 HNO3  9 Fe(NO3)3 + NO + 14 H2O (*)

Mol: 0,3 - 2,8

Theo PTHH (*) Số mol HNO3 là: 2,8  Thể thích dd HNO3 là 2,8/0,7 = 4 (lít)

Chọn đáp án B

2.1.2 Những “bẫy” về cách hiểu và vận dụng kiến thức

Kiến thức hóa học phổ thông vừa phong phú vừa đa dạng, vừa lí thuyết vừa thực nghiệm,vừa trừu tượng và vừa cụ thể, nên việc mắc sai lầm trong học tập là điều khó tránh khỏi Giáoviên nên có những dự đoán về sai lầm để tạo tình huống có vấn đề trong bài tập, phần nàogiúp học sinh hiểu được những sai lầm đó qua hoạt động giải bài tập, tránh mắc phải nhữngtình huống tương tự sau khi đã hiểu kiến thức một cách chính xác

Ví dụ 3: Đốt cháy hoàn toàn 14,4 gam một hiđrocacbon A thu được 44,0 gam gam CO2.Tìm CTPT của hyđrocacbon A

* Phân tích: Với bài tập này nhiều học sinh đưa ra lời giải như sau:

Từ giả thiết  nCO2 = 44

mH = 1: 2,4 = 5: 12 Vậy CTPT của hyđrocacbon A là: C5H12

* Với cách giải trên nhiều học sinh đã phạm sai lầm là nhầm lẫn giữa công thức thực

nghiệm và CTPT, thực chất của việc giải trên là mới chỉ tìm ra được công thức thực nghiệm,

để có CTPT ta phải giải như sau

- Như trên ta tìm được:

nCO2 = 1,0 (mol), từ mH = 2,4 gam  nH2O = 1

2nH = 1,2 molDo: nH2O > nCO2 nên A là ankan, từ đó A có công thức tổng quát là CnH2n + 2,

với n = nCO2

nA =

1,0

1, 2 1, 0 = 5

Vậy CTPT của hyđrocacbon A là: C5H12

Ví dụ 4 Cho biết điểm sai của một số cấu hình electron sau và sửa lại cho đúng?

a 1s22s12p5

b 1s22s22p63s23p64s23d2

c 1s22s22p64s2

* Phân tích: Đây là một bài tập kiểm tra kiến thức về víêt cấu hình electron Vậy học sinh

phải hiểu khái niệm về cấu hình electron và phương pháp viết cấu hình electron, cụ thể là:

Bước 1 Mức năng lượng: 1s2s2p3s3p4s3d4p5s4p5d…

Bước 2 Hiểu rõ các quy tắc viết cấu hình electron: Sắp xếp các phân lớp theo đúng trật tự

của từng lớp, trong mỗi lớp theo đúng thứ tự phân lớp

Với kiến thức này HS sẽ áp dụng giải quyết vấn đề trên

a 1s22s12p5

- Điểm sai: Vi phạm về việc sắp xếp electron theo trật tự mức năng lượng.

- Sửa lại: Chủ yếu HS chỉ sửa lại theo kết quả 1s22s22p4 (bảo toàn e), như vậy học sinh đã

làm đúng nhưng còn thiếu một kết quả: 1s22s22p5

b 1s22s22p63s23p64s23d2:

Trang 5

- Điểm sai: Đây là mức năng lượng chứ không phải là cấu hình electron, vì vậy hầu hết HS sẽ

sửa lại là 1s22s22p63s23p63d24s2

- Tuy nhiên từ cấu hình electron trên học sinh có thể sửa theo kết quả không bảo toànelectron 1s22s22p63s23p64s2 cũng thoã mãn

c 1s22s22p64s2:

- Điểm sai: Cấu hình e này thiếu lớp 3,vì phạm về sắp xếp e và mức năng lượng

- Sửa lại: + Hầu hết HS sẽ sử dụng bảo toàn electron nên viết lại cấu hình electron là:

1s22s22p63s2

* Một số HS có thể không dừng lại bảo toàn electron mà thấy rằng lớp thứ 3 còn thiếu

electron nên có thể viết lại cấu hình trên với kết quả 1s2222p63s23p63d104s2

* Một số HS nắm vững về cấu hình electron có thể còn đưa ra 9 kết quả khác nữa:

1s22s22p63s23p63dx4s2 với x là: 0, 1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 10

Ví dụ 5 Xác định sản phẩm chính của phản ứng sau:

CH2 = CH – COOH + HCl 

* Phân tích: Đây là một câu hỏi về phản ứng cộng hợp của tác nhân bất đối xứng và liên

kết đôi C = C Để giải quyết vấn đề này HS phải vận dụng quy tắc Maccopnhicop: Trong phản ứng cộng axit hoặc nước (kí hiệu chung là HA) vào liên kết C=C, H (phần mang điện tích dương) ưu tiên cộng vào C mang nhiều H hơn (cacbon bậc thấp hơn), còn A (phần tử mang điện tích âm) ưu tiên cộng vào C mang ít H hơn (cacbon bậc cao hơn)

sẽ ưu tiên tấn công vào C2  sản phẩm chính là

CH2Cl – CH – COOH

Ví dụ 6: Cho lượng dư bột kim koại Fe tác dụng với 250 ml dung dịch HNO3 4M đun nóng

và khuấy đều hỗn hợp Phản ứng xảy ra hoàn toàn và giải phóng ra khí NO duy nhất Sau khikết thúc phản ứng, đem lọc bỏ kết tủa thu được dung dịch A Làm bay hơi cẩn thận dung dịch

A thu được muối khan, nung nóng lượng muối khan đó ở nhiệt độ cao để phản ứng nhiệtphân xảy ra hoàn toàn, thu được m gam chất rắn và

x (mol) hỗn hợp gồm 2 khí.

a Viết các phương trình phản ứng xảy ra

b Tìm m và x

* Phân tích: Với bài tập này HS sẽ tập trung vào việc chú ý đến tính chất oxihoa mạnh của

HNO3, vì vậy các em sẽ giải quyết bài toán bằng việc viết các phương trình hoá học:

- Vậy chất rắn thu được là Fe2O3 và hỗn hợp khí thu được là NO2, O2

Từ giả thiết, do kim loại dư nên HNO3 hết

Vậy: nFe2O3 =1

8nHNO3 =

1

8.4.0,25 = 0,125 (mol)  mFe2O3 = 0,125.160 = 20,0 (g)nNO2 = 6nFe2O3 ; nO2 = 3

Trang 6

* Tuy nhiên với cách giải trên học sinh đã vấp “bẫy” là không chú ý dự kiện đây là kim loại

Fe, khác với các kim loại khác ở chỗ là khi Fe dư thì sẽ xảy ra phản ứng:

Fe + 2 Fe(NO3)3  3 Fe(NO3)2 (3)

Như vậy cách hiểu trên sẽ đem lại kết quả sai

- Vậy dung dịch A không phải có Fe(NO3)3 mà có Fe(NO3)2 và phương trình hoá học nhiệtphân muối xảy như sau:

* Phân tích: Bài tập trên là một bài kiểm tra kiến thức HS về nội dung bảng HTTH, để làm

bài tập này, HS phải nắm vững kiến thức về CTTQ của các loại hợp chất quan trọng: Ôxitcao nhất, hyđroxit, hợp chất khí với hyđro của các nguyên tố nhóm IA đến VIIA Với kiếnthức đó, các nguyên tố nhóm VIIA sẽ có công thức tổng quát về ôxit cao nhất là R2O7 vàcông thức với hợp chất khí với hyđro là RH

Vậy chọn đáp án C.

* Tuy nhiên HS dẫ mứac phải “bẫy” là với đặc điểm các nguyên tố thuộc chu kỳ 2 thì kết

quả trên lại sai Ở chu kỳ 2, nhóm VIIA là nguyên tố F, do đặc điểm cấu tạo nguyên tử F nêncông thức ôxit cao nhất của F lại là F2O vì vậy chọn đáp án D.

Ví dụ 8 : Dãy gồm các chất đều tác dụng với dd Fe(NO3)2 là:

A Mg, Cl2, NaOH, NaCl B AgNO3, Cl2, NH3, NaOH

C NaOH, Cl2, NH3, HCl, AgNO3 D AgNO3, NaOH, Cu, HCl

* Sai lầm: Hầu hết HS đều cho rằng không có phản ứng giữa HCl với Fe(NO3)2 vì HCl vàHNO3 đều là những axit mạnh và là axit bay hơi Do đó HS chọn đáp án B

* Phân tích: Khi cho Fe(NO3)2 tác dụng với dd HCl thì sẽ xảy ra phản ứng dạng ion nhưsau:

Fe2+ + 2 H+ + NO3-  Fe3+ + NO2 + H2O

Vì vậy chọn đáp án C.

Ví dụ 9: Cho các chất p-Crezon, natrietylat, anilin, phenylamoniclorua, protein Số chất tác

dụng được với dd NaOH là:

Chính vì có thêm phản ứng này nên ta chọn đáp án A

Ví dụ 10: Cho dd NaOH loãng, dư vào mỗi dung dịch : BaCl2, AlCl3, CrCl2, CuCl2, AgNO3

Số chất kết tủa tạo thành là:

A 2 B 3 C.4 D 5

* Sai lầm: Đa số HS làm như sau:

Cho dd NaOH vào dd BaCl2 thấy không có hiện tượng gì

Cho từ từ dd NaOH vào dd AlCl3 thì xuất hiện kết tủa, sau đó kết tủa tan

Cho dd NaOH vào dd CuCl2 thấy tạo kết tủa Cu(OH)2

Cho dd NaOH vào dd AgNO3 không xảy ra phản ứng do AgOH không tồn tại.nên không

xảy ra phản ứng.Vậy HS chọn đáp án A.

Trang 7

* Phân tích: Do AgOH không tồn tại nên đã bị phân hủy thành Ag2O và H2O Chính vì vậykhi cho dd NaOH vào dd AgNO3 có xảy ra phản ứng

Vậy chọn đáp án đúng là: B

Ví dụ 11: Fructozơ có thể phản ứng được với:

A dung dịch Br2 B Cu(OH)2 C dung dịch KMnO4.D Cả 3 chất.

* Sai lầm: Hầu hết HS sẽ chọn đáp án D, bởi vì các em suy nghĩ rằng Fructzơ là ancol đa

chức nên có phản ứng với Cu(OH)2,có cân bằng:

Fructozơ   Glucozơ

nên có phản ứng khử nhóm chức –CHO bằng chất oxihoá mạnh như dd Br2, hay dd KMnO4

* Phân tích: Thực ra để có cân bằng Fructozơ   Glucozơ thì cần phải có môitrường –OH Chính vì thế mà dd Br2 hay ddKMnO4 đềukhông thể oxihoa được Fructozơ

Chọn đáp án B.

Ví dụ 12: Điều chế polyvinylancol, người ta dùng các phương pháp nào sau đây:

1 Trùng hợp ancol vinylic

2 Trùng hợp vinylaxetat, sau đó thuỷ phân trong dd NaOH

3 Thuỷ phân tinh bột

A.1 và 2 B Chỉ có 1 C Chỉ có 2 D Chỉ có 3

* Sai lầm: Hầu hết HS thường chọn đáp án A, vì HS thường nghĩ rằng để có

polyvinylancol thì phương pháp trùng hợp được áp dụng và trùng hợp monome ancolvinylic

* Phân tích: HS đã phạm một sai lầm là ancolvinylic là một loại ancol kém bền, không tồn

tại, nó sẽ tự chuyển thành andehitaxetic CH3CHO

Vậy đáp án đúng là C

Ví dụ 13: Sự mô tả nào sau đây không đúng hiện tượng hoá học.

A Cho từ từ dd CH3COOH loãng vào dd Na2CO3 và khuấy đều, lúc đầu không có hiệntượng gì, sau một thời gian thấy có sủi bọt khí

B Cho quỳ tím vào dung dịch Benzylamin thấy quỳ tím chuyển sang màu xanh.

C Cho từ từ anilin vào dd HCl thấy tan dần vào dd HCl.

D Cho propilen vào nước Br2 thấy nước Br2 bị mất màu và thu được một dd đồng nhấttrong suốt

* Sai lầm: Hâu hết HS sẽ chọn đáp án B vì cho rằng amin thơm ít tan trong nước nên

không làm đổi màu quỳ tím

* Phân tích: Benzylamin là một trường hợp đặc biệt, tan rất nhiều trong nước và đổi màu

quỳ tím, vì có phản ứng thuỷ phân với H2O Vì vậy chọn đáp án D

2.1.3 Vận dụng các phương pháp giải toán một cách không hợp lí và triệt để trong việc giải các bài tập hoá học.

Một số sai lầm phổ biến như khi tính theo phương trình hóa học hoặc sơ đồ phản ứng màquên cân bằng hoặc cân bằng không đúng, hiểu sai các công thức tính toán trong hoá học, sửdụng đơn vị tính không thống nhất, không để ý đến hiệu suất phản ứng cho trong bài, khôngxác định được chất nào hết hay dư trong quá trình phản ứng, hiểu sai tính chất của các chấtnên viết phương trình hóa học không chính xác, thiếu các kĩ năng cơ bản khi sử dụng cácphương pháp giải bài tập,

Ví dụ 14 Nguyên tố M thuộc chu kỳ 2, nhóm VIIA Công thức oxit cao nhất và hợp chất

khí với H là:

A.M2O3, MH3 B.MO3, MH2 C M2O7, MH D.M2O, MH

* Phân tích: Bài tập trên là một bài kiểm tra kiến thức học sinh về nội dung bảng tuần hoàn,

để làm bài tập này, học sinh phải nắm vững kiến thức về công thức tổng quát của các loạihợp chất quan trọng: Oxit cao nhất, hiđroxit, hợp chất khí với hiđro của các nguyên tố nhóm

Trang 8

IA đến VIIA Với kiến thức đó, các nguyên tố nhóm VIIA sẽ có công thức tổng quát về oxitcao nhất là R2O7 và công thức với hợp chất khí với hiđro là RH  Phương án nhiễu C.

- Tuy nhiên với đặc điểm các nguyên tố thuộc chu kỳ 2 thì kết quả trên lại sai Ở chu kỳ 2,nhóm VIIA là nguyên tố F, do đặc điểm cấu tạo nguyên tử F nên công thức oxit cao nhất của

F là F2O  Đáp án D.

Ví dụ 15 Trong một cốc nước chứa a mol Ca2+, b mol Mg2+ và c mol HCO

3 Nếu chỉdùng nước vôi trong, nồng độ Ca(OH)2 x M để làm giảm độ cứng của nước thì người ta thấykhi thêm V lít nước vôi trong vào cốc thì độ cứng của nước trong cốc là nhỏ nhất Biểu thứctính V theo a, b, x là

Giá trị m là :

A 7,04 B 6,48 C 8,10 D 8,80

* Phân tích: Học sinh dễ mắc sai lầm khi áp dụng nhanh phương pháp tăng - giảm khối

lượng quen thuộc nhưng chỉ chú ý đến số mol ancol:

RCOOH C H OH 2 5  RCOOC H2 5H O2

1 mol  m tăng = 28 g

Trang 9

0,125 mol  m tăng = 3,5 g

 m = 5,3 + 3,5 = 8,8  Phương án nhiễu D.

* Một số học sinh cho rằng kết quả này không đúng là do chưa tính đến hiệu suất phản ứng

 m = 8,8 80% = 7,04  Phương án nhiễu A

* Rõ ràng kết quả này cũng không chính xác vì học sinh đã mắc sai lầm khi tính toán theo

lượng chất dư C2H5OH (H = 100%) Hướng dẫn học sinh tìm số mol axit để so sánh vớiancol xem chất nào là chất thiếu trong phương trình phản ứng:

Ví dụ 17 Cho 31,84g hỗn hợp NaX và NaY (X, Y là 2 halogen ở 2 chu kì liên tiếp) vào

dung dịch AgNO3 dư thì thu được 57,34 g kết tủa Công thức của 2 muối là :

A NaCl và NaBr B NaBr và NaI

C NaF và NaCl D NaF và NaCl hoặc NaBr và NaI.

* Phân tích: Hầu hết học sinh sẽ giải bài tập này bằng cách chuyển bài toán hỗn hợp thành

bài toán một chất tương đương bằng việc gọi công thức tổng quát chung 2 muối là: Na X

- Phương trình hoá học được viết:

Na X + AgNO3  Ag X  + NaNO3

(23 + X ) gam  (108 + X ) gam

31,84 gam  57,34 gam

 X = 83,13  2 halogen là Br và I  đáp án B.

* Với cách giải trên học sinh đã phạm một sai lầm là cho cả 2 muối NaX và NaY đều tạo

kết tủa với dung dịch AgNO3, điều này chỉ đúng với muối của 3 halogen

Cl, Br, I còn NaF không tác dụng với AgNO3 vì không tạo kết tủa Vì vậy cần hướng dẫnhọc sinh xét bài toán qua 2 khả năng:

+ KN 1: Hỗn hợp 2 muối halogen gồm: NaF và NaCl, lúc đó chỉ có NaCl phản ứng

NaCl + AgNO3  AgCl  + NaNO3

nAgNO3 = 57,34

143,5  0,4 (mol)  nNaCl  0,4 (mol)

 mNaCl = 0,4 58,5 = 23,4 < 31,84  trường hợp này cũng thoả mãn

+ KN 2 : Hỗn hợp cả 2 muối halogen đều phản ứng với dung dịch AgNO3, kết quả tìm được 2halogen là Br và I Như vậy đáp án là D

2.1.4 Sai lầm của học sinh về cách hiểu và vận dụng lí thuyết hóa học trong giải bài tập.

Một số sai lầm của HS trong quá trình giải bài tập là do kiến thức lý thuyết ch ưa nắmvững,còn phiến diện, chưa tổng hợp được kiến thức, ví dụ như một chất hữu cơ có phản ứng

Trang 10

tráng gương thì HS chỉ nghĩ rằng đó là Anđêhit mà không xét các trường hợp khác như

HCOOH, HCOOR, HCOOM, hay khi thuỷ phân este thì HS chỉ nghĩ rằng tạo ra axit (hoặc muối) và ancol chứ không nghĩ đến các trường hợp tạo nhiều muối, anđêhit, xêton, Sau đây

là một số ví dụ minh hoạ

Ví dụ 18: Đun một chất hữu cơ A đơn chức có khối lượng 8,6 gam trong môi trường kiềm,

ta thu được hai chất hữu cơ B và C Chất B không có phản ứng tráng gương, còn lượng chất

C thu được cho tác dụng với Ag2O/NH3 dư thì thu được 21,6 gam Ag và chất B’ Khi cho B’tác dụng với NaOH thì thu được B Tìm công thức cấu tạo của A,B,C

Giải:

* Sai lầm: Hầu hết HS đều có thói quen suy suy nghĩ rằng:

- Khi thuỷ phân một este trong môi trường axit thì sẽ thu được rượu và axit hữu cơ

- Khi thuỷ phân este trong môi trường kiềm thì sẽ thu được muối và rượu

Do đó với bài tập trên HS sẽ nhầm tưởng là B là ancol còn C là HCOOH, A là este

* Phân tích: Ta giả sử C là chất có chức andehit, công thức tổng quát có dạng: RCHO, ta có

Phương trình hoá học: RCHO + Ag2O dd NH 3

   RCOOH + 2 Ag

RCOOH + NaOH  RCOONa + H2O

Theo hai phản ứng trên n RCOOH = n RCOONa = n RCHO = 1

2n = 0,1 Ag

- Gỉa sử A là este đơn chức:

Phương trình hoá học: RCOOR’ + NaOH  RCOONa + R’OH

A B C 0,1 0,1 0,1Theo giả thiết; MA = 8,6

0,1 = 86 = 44 + (R + R’)Vậy: R + R’ = 86 – 44 = 42 = M C H3 6

Nếu tách 2 gốc R và R’ ra thì một gốc là – CH3 và một gốc là CH2=CH2.

Nếu R của B là CH2=CH- thì CH2=CH-COONa là chất B, còn C là CH3OH Vậy C không thể

có phản ứng tráng gương Do đó B là CH3COONa và C là CH2=CH-OH, rượu này không bềnnên chuyển thành CH3CHO Vậy A là: CH3COOCH=CH2

Ví dụ 19: Hoà tan 5,6 gam bột Fe trong 300,0 ml dd HCl 1M Sau phản ứng thu được dd X

và khí H2 Cho lượng dư dd AgNO3 vào dd X thì thu được m gam chất rắn Hãy tìm gía trị m

Giải:

* Sai lầm: Hầu hết HS là như sau:

Phương trình hoá học: Fe + 2 HCl  FeCl2 + H2 (1)

Vậy: Khối lượng chất rắn là: 53,85 gam.

* Phân tích: HS đã viết thiếu phản ứng hoá học:

Trang 11

Một số HS thường mắc các “bẫy” khi giải toán là không chú ý đến các tính chất đặc biệtcủa các chất PƯ cũng như các chất SP, như tính lưỡng tính của các ôxit, hyđroxit lưỡng tính,quá trình hoà tan các kết tủa của các ôxit axit như hoà tan CaCO3 bởi CO2, ., vì vậy HSthường xét thiệu nghiệm, sau đây là một số ví dụ.

Ví dụ 20: X là dd chứa 0,1 mol AlCl3 Y là dd NaOH 1 M Đổ từ từ dd Y vào dd X đếnhết thì lượng kết tủa thu được là 6,24 gam Thể tích dd Y là:

A 0,24 lít B 0,32 lít C 0,24 lit hoặc 0,32 lít D 0,34 lít

* Sai lầm: Hầu hết HS thường giải theo cách sau:

- Phương trình hoá học: AlCl3 + 3 NaOH  3 NaCl + Al(OH)3 (1)

Ban đầu: Mol 0,1 1.V

* Phân tích: Hầu hết HS đã mắc một sai lầm là không nghĩ đến tính lưỡng tính của

Al(OH)3 nên đã không xét thêm một trường hợp nữa là dd NaOH tác dụng hết với Al(OH)3

để thu được kết tủa cực đại, sau đó một phần kết tủa Al(OH)3 tan ra, do đó bài toán này có 2kết quả đúng là: V dung dịch Y bằng 0,24 lít và 0,32 lít

2.1.6 Chưa có phương pháp phân tích và tổng hợp kiến thức.

Đa số các em HS có năng lực học tập trung bình và yếu đều mắc các “bẫy” kiến thức về

phần này, các em có thể có kiến thức các phần riêng biệt, nhưng sự tổng hợp các kiến thức đólại trong một vấn đề cần giải quyết thì hạn chế, mặt khác nhiều em chưa có khả năng phântích các dự kiện bài toán, để từ đó xâu chuỗi chúng lại thành một kiến thức thống nhất, logíc,sau đây là một số ví dụ minh hoạ

Ví dụ 21 : Cho các chất: Cu(OH)2 (1), AgCl(2), NaOH(3), Al(OH)3(4), Mg(OH)2(5).Những chất nào trong số các chất trên có bị hoà tan trong dd amoniăc

Ví dụ 22 : Để điều chế Cl2 trong phòng thí nghiệm có thể dùng các cách:

1 Cho dd KMnO4 tác dụng với dd HCl đặc

2 Cho dd KMnO4 và dd H2SO4 đặc tác dụng với tinh thể NaCl

3 Điện phân nóng chảy NaCl

A Chỉ có 1 B.Chỉ có 2 C.Chỉ có 3 D Cả 1,2,3

* Sai lầm: HS thường chọn đáp án D, như vậy phương án 2 cũng được chấp nhận.

* Phân tích: Khi cho H2SO4 đđ tác dụng với NaCl sẽ giải phóng HCl

NaCl + H2SO4 (đ) t C0

  NaHSO4 + HClNhưng do HCl sinh ra ở dạng khí hoặc có hoà tan thành axit thì nồng độ cũng không đủ lớn

để tác dụng với dd KMnO4 để giải phong Cl2.

Trong phòng thí nghiệm, với lượng chất điều chế ít, dụng cụ đơn giản nên không dùngphương pháp điện phân

Vậy: chỉ có phương án 1 là hợp lí nên chọn đáp án A.

Ví dụ 23: Dãy gồm các chất đều có khả năng là mất màu dd Brom là:

A Xiclobutan, Propilen, Axetilen, Butađien

Trang 12

B Propilen, axetilen, glucozo, triolein.

C Benzen, etilen, propilen, axetilen, tripanmitin

D Propilen, axetilen, butadien, saccarozo.

* Sai lầm: Hầu hết HS khi giải quyết kiến thức trờn , thấy cỏc chất trong cõu A đều thoả

món nờn chọn đỏp ỏn A.

* Phõn tớch: Xiclobutan pư với Br2 (kh) chứ khụng pư dd Br2/CCl4. Vỡ vậy đỏp ỏn đỳng là B 2.1.7 Những sai lầm về kĩ năng thực hành húa học

Trong quỏ trỡnh dạy học húa học, khụng chỉ

chỳ trọng đến kiến thức lớ thuyết mà cũn phải rốn

luyện kĩ năng thực hành húa học cho học sinh

Dựa trờn những sai lầm về thực hành húa học,

giỏo viờn cú thể thiết kế cỏc bài tập húa học thực

nghiệm, tăng tớnh hấp dẫn và thực tiễn của mụn

học

Vớ dụ 24: Trong phũng thớ nghiệm, khớ clo được

điều chế từ MnO2 và axit HCl

a Viết phương trỡnh phản ứng và ghi rừ điều

kiện (nếu cú)

b Phõn tớch những chỗ sai khi lắp bộ thớ

nghiệm như hỡnh vẽ sau

Phõn tớch :

a Phương trỡnh phản ứng :

t0

MnCl2 + Cl2 + 2H2OMnO2 + 4HCl

(đặc)

b Về mặt kĩ năng thực hành, giỏo viờn cần phõn tớch cho học sinh hiểu hỡnh vẽ mụphỏng thớ nghiệm, học sinh suy luận trong thớ nghiệm này:

Phải dựng dung dịch HCl đặc 30-37% để phản ứng oxi hoỏ-khử xẩy ra Do đú dựng

dung dịch HCl 10% (loóng) thỡ khụng thể thu được khớ Cl2

Phải dựng đốn cồn để đun núng MnO2

Khớ Cl2 được thu bằng phương phỏp đẩy khụng khớ, nờn khụng dựng nỳt cao su ở bỡnhthu khớ như hỡnh vẽ, để khụng khớ thoỏt ra ngoài

Để thu được khớ Cl2 tinh khiết, cần lắp thờm cỏc bỡnh rửa khớ (loại khớ HCl) và làm khụ khớ (loại hơi nước).

2 Cỏc biện phỏp hạn chế và sữa chữa (khắc phục) sai lầm giỳp HS trỏnh “bẫy”

Qua những “bẫy” ở trờn, HS cần chỳ ý những điểm sau trong quỏ trỡnh trả lời cỏc cõu hỏi lý

thuyết cũng như giải bài tập hoỏ học:

a Đọc kỹ đề ra trước khi làm bài.

b Túm tắt đề bằng cỏch gạch chõn dưới những nội dung quan trọng cú trong đề ra.

c Nếu là cõu hỏi lớ thuyết cần phõn loại nhanh là cõu hỏi thuộc dạng nào: Giải thớch một

vấn đề, nhận biết cỏc chất, tỏch hay tinh chế cỏc chất.Từ đú ỏp dụng ngay phương phỏp giảicỏc dạng đú để giải quyết vấn đề nờu ra

d Nếu là bài tập tớnh toỏn, trước hết HS phải được trang bị một số phương phỏp giải toỏn

hoỏ như: phương phỏp bảo toàn khối lương, phương phỏp bảo toàn electron, phương phỏpđường chộo, bài toỏn chất khớ, phương phỏp trung bỡnh

sau đú hướng dẫn HS trước khi giải toỏn phải tỡm số mol cỏc chất (nếu cú thể), viết phương

trỡnh hoỏ học hay sơ đồ biến hoỏ để kết nối cỏc mối quan hệ, từ đú lập phương trỡnh toỏn học,giải toỏn tỡm nghiệm

Trang 13

e Nếu là bài toán thực nghiệm cần cho HS làm quen với nhiều các thao tác thí nghiệm, các

buổi thực hành phải hướng dẫn HS trực tiếp làm thínghiệm, các em phải tận mắt quan sátđược các hiện tượng và giải thích được các hiện tượng đó một cách khoa học, từ đó các emkhái quát và hình thành nên tư duy thực nghiệm hoá học

KẾT LUẬN

1 Xuất phát từ những yêu cầu mới của công tác giảng dạy đó là lấy HS làm trung tâm, chonên việc hướng dẫn HS trung học phổ thông phát hiện các “bẫy” và tránh những nhầm lẫnkhi giải bài tập không nhằm ngoài mục đích này Việc làm này sẽ có tác dụng nâng cao hiệuquả dạy của Thầy và học của trò

2 Đề tài này mới chỉ khai thác được một số nhầm lẫn mà quá trình hướng dẫn HS giải bàitập các em mắc phải, chắc chắn rằng đang còn nhiều nội dung khác nữu cần được tiếp tụcphát triển thêm

3 Các tình huống trong bài tập mà ta có thể gọi là “bẫy” có thể giúp giáo viên đánh giá

được năng lực nhận thức của HS từ đó phân loại HS để rồi tìm phương pháp dạy học phù hợpvới từng đối tượng HS, giúp GV bồi dưỡng nhân tài cũng như phụ đạo HS yếu kém một cáchkhoa học hơn

4 Phân tích những “bẫy” trong giải bài tập hoá học có thể xem như một phương pháp

“Phản chứng” trong giảng dạy kiến thức ở trường THPT, nó có thể được nghiên cứu sâu,

rộng hơn, kết hợp thực nghiêm sư phạm để có thể trở thành cơ sở lí luận khoa học trong dạyhoc

5 Với điều kiện thời gian ngắn, trình độ bản thân có hạn, chắc chắn đề tài còn có nhữnghạn chế Với tâm huyết nghề nghiệp và tấm lòng của mình, tôi muốn được đóng góp mộtphần nhỏ công sức của mình vào công việc chuyên môn, nhằm nâng cao hiệu quả dạyhọc Rất mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý và đồng cảm của đồng nghiệp và bạn đọc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cao Cự Giác Thiết kế và sử dụng bài tập hóa học thực nghiệm trong dạy và học hóa học Nxb Giáo dục, 2009.

2 Cao Cự Giác Các phương pháp chọn lọc giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa học Nxb

Giáo dục, 2009

3 Đào Hữu Vinh 500 Bài tập hoá học Nxb Giáo dục 1995

4 Lê Xuân Trọng (Tổng chủ biên), Hoá học 10,11,12 (Ban KHTN, Ban KHXH) Nxb

Giáo dục

5 Nguyễn Xuân Trường Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông Nxb Giáo

dục, 2005

6 Nguyễn Xuân Trường, Cao Cự Giác Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa

học ở trường phổ thông hiện nay Tạp chí Giáo dục, số 128 12/2005.

7 Nguyễn Đức Vận Thực hành hoá học vô cơ, Nxb Giáo dục 1984

KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI

Trường THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam

Bài viết này của chúng tôi nhằm trao đổi giao lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Với kết quả khiêm tốn của đội tuyển hóa trường Amsterdam chúng tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm như sau:

I PHÂN TÍCH RÕ THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN

1 Thuận lợi

- Có sự quan tâm của lãnh đạo sở, trường:

+ Ưu tiên giáo viên dạy môn chuyên, giảm số giờ lên lớp

Trang 14

+ Giáo viên có giải học sinh giỏi quốc gia, quốc tế ưu tiên lên lương sớm.

- Đầu tư cơ sở vật chất: Trường Amsterdam được xây mới trang thiết bị hiện đại xứngvới tầm quốc tế

- Công tác tuyển chọn bồi dưỡng giáo viên được chú ý: Thu hút các giáo viên giỏi cókính nghiệm dạy đội tuyển quốc gia, có năng lực có học sinh đi thi quốc tế ở các tỉnh khácđược thành phố Hà Nội tiếp nhận chuyển công tác từ các tỉnh, thành phố khác theo chế độ ưuđãi Hàng năm cử giáo viên đi tập huấn các chương trình nâng cao, hoặc tham gia học tập ởnước ngoài nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết thực tế của giáo viên

- Học sinh được tuyển chọn tốt: Mặt bằng học sinh tuyển vào các trường chuyên HàNội có chất lượng cao

- Học sinh giỏi được chọn lọc bồi dưỡng từ khối THCS chất lượng cao củaAmsterdam và các đội tuyển của các quận, huyện

- Các kỳ thi đầu vào cấp THCS và THPT chuyên nghiêm túc đánh giá đúng năng lực

2 Khó khăn

- Tính thực dụng của học sinh và phụ huynh: Mục tiêu của phụ huynh và học sinhchuyên là đỗ đại học có danh tiếng trong nước hoặc đầu tư vào việc đi du học

- Chế độ đãi ngộ với giáo viên và học sinh giỏi chưa hợp lý:

Giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia trả theo chế độ nhà nước thấp so với sựđầu tư chất xám và thời gian

Học sinh đoạt giải không được tuyển sinh thẳng vào Đại học

- Đội ngũ giáo viên dạy chuyên cũng thiếu và chưa được động viên khuyến khích kịpthời

II VẬN DỤNG LINH HOẠT TRONG VIỆC BỒI DƯỠNG VÀ TUYỂN CHỌN

1 Bồi dưỡng:

- Xuất phát từ mục tiêu của học sinh chọn đi du học hoặc thi đại học cho đỡ mạohiểm, chúng tôi tập trung chương trình chuyên sâu vào năm lớp 10 và đầu lớp 11: Khi đó họcsinh chưa áp lực với việc thi đại học và đi du học

- Sau đó bồi dưỡng chuyên biệt với các học sinh say mê và có năng lực Chúng tôi ápdụng các biện pháp để có thể bồi dưỡng những học sinh đó như: Giao bài riêng tại lớp,hướng dẫn đọc tài liệu theo chuyên đề và có bài tập kèm theo Khi cần có thể kèm riêng từng

Sau khi thành lập đội tuyển, sở giáo dục tổ chức tập huấn theo lịch và chương trình cụthể

Đội ngũ giáo viên tham gia dạy đội tuyển được sự lựa chọn theo từng chuyên đềchuyên sâu là thế mạnh của từng giáo viên để không phải mất nhiều thời gian soạn mà lạitích lũy được kinh nghiệm sau mỗi năm

3 Công tác xã hội hóa:

+ Mời các giáo sư các trường Đại học để bồi dưỡng chuyên sâu theo từng phân môncho giáo viên và học sinh

+ Mời sinh viên chuyên ngành đã từng đạt giải cao trong kỳ thi Quốc gia, Quốc tếtham gia nói chuyện trao đổi kinh nghiệm và bồi dưỡng các lớp đàn em Nếu cần có thể chokèm riêng các em

Trang 15

+ Ban phụ huynh lớp có phần thưởng động viên các học sinh đạt giải cao sau mỗihọc kì.

+ Đối với những học sinh có năng lực và ham thích bộ môn thì tư vấn cho gia đìnhđầu tư cho con học như

Học trước các môn thi đại học để học sinh yên tâm với việc thi đỗ đại học không bị

áp lực khi tham gia thi học sinh giỏi quốc gia

Bồi dưỡng riêng môn chuyên theo cách bồi dưỡng chuyên biệt

4 Giáo viên:

- Cuối cùng và quan trọng hơn cả là người thầy lãnh đội và trực tiếp giảng dạy họcsinh giỏi phải có năng lực và sự đam mê tâm huyết, có niềm tin để là chỗ dựa tinh thần vữngchắc cho học sinh

- Người thầy biết khơi nguồn sáng tạo cho học sinh, làm cho học sinh đam mê, luônquan tâm đến học sinh, động viên kịp thời và chỉ bảo ân cần

- Cần nắm được những điểm mạnh, điểm yếu của từng học sinh để kịp thời uốn nắn

bổ sung Có thể cho thêm bài riêng để luyện khắc phục các điểm yếu của học sinh

- Giáo viên bồi dưỡng đội tuyển cần thường xuyên đọc tài liệu tụ nâng cao trình độ đểđáp ứng được với yêu cầu công việc đòi hỏi ngày càng cao này Mặt khác hiểu biết của họcsinh ngày càng rộng, người giáo viên cần có trình độ hiểu biết sâu và rộng mới có sức thuyếtphục với đối tượng học sinh giỏi

III MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

- Có chế độ đãi ngộ với học sinh đạt giải:

+ Học sinh có giải quốc gia được vào thẳng đại học vì rất xứng đáng

+ Học sinh có giải quốc tế được cấp học bổng, được học ở các trường có uy tín ởnước ngoài

- Có chế độ ưu đãi với các giáo viên dạy chuyên và giáo viên lãnh đội có giải cao+ Bồi dưỡng thù lao cho giáo viên xứng đáng với công sức và sự đầu tư chất xám.+ Động viên khuyến khích kịp thời với giáo viên có học sinh đi thi quốc tế như mộtxuất quan sát viên do kinh phí của Bộ (một nửa) và của tỉnh thành phố (một nửa)

- Nội dung thi chọn học sinh giỏi Quốc gia cần có giới hạn để giáo viên và học sinh

có định hướng trong việc bồi dưỡng và ôn luyện

Trang 16

IV Kinh nghiệm quản lý và xây dựng đội ngũ giáo viên, đội tuyển học sinh giỏi Hóa học

PHÁT TRIỂN CHUYÊN MÔN GIÁO VIÊN HÓA Ở TRƯỜNG PTTH CHUYÊN

Trường PTTH chuyên Nguyễn Trãi – Hải Dương

Việc phát triển chuyên môn của giáo viên hóa nói riêng và giáo viên các môn chuyên nóichung ở trường PTTH chuyên là rất quan trọng và cần thiết, có làm tốt điều đó mới có thểđáp ứng được yêu cầu về chất lượng của các trường chuyên ngày càng được nâng cao hơn,tiếp cận được với chương trình dạy học quốc tế tốt hơn

Trong việc phát triển chuyên môn đối với giáo viên hóa ở trường chuyên, theo tôi cầnphải quan tâm tới các yếu tố sau:

I Yếu tố con người:

Việc tuyển chọn giáo viên về trường chuyên góp phần rất quan trọng về chất lượng pháttriển chuyên môn bền vững của giáo viên trường PTTH chuyên Trong đó chúng ta cần quatâm đến hai tiêu chuẩn quan trọng đó là:

1 Có năng lực chuyên môn tốt, điều đó có thể dựa trên một số căn cứ sau:

- Đã từng là học sinh chuyên hoặc học sinh giỏi ở trường PTTH

- Kết quả học tập ở ĐH đạt loại khá trở lên

- Kết quả tôt nghiệp loại khá trở lên

2 Có ý thức nghề nghiệp tốt, dựa trên các tiêu chí sau:

- Có ý thức trách nhiệm cao, nghiêm túc, chu đáo trong công việc

- Có say mê về chuyên môn

- Có tham vọng về chuyên môn

II Công tác bồi dưỡng chuyên môn

Việc bồi dưỡng chuyên môn góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao năng lựcchuyên môn của các giáo viên nói chung và đặc biệt cần thiết đối với giáo viên của các mônchuyên nói riêng Việc bồi dưỡng chuyên môn phải kết hợp nhiều phương pháp đồng thờisau đây:

1 Việc tự học, tự bồi dưỡng:

Một trong những yêu cầu quan trọng đối với giáo viên chuyên là phải biết tự học, tự bồidưỡng cho bản thân Việc đó có thể diễn ra thường xuyên và phù hợp theo điều kiện cụ thểcủa từng người Nguồn tài liệu để tự bồi dược là các tài liệu tham khảo, các đề thi HSG quốcgia, quốc tế các năm, các đề thi của ác trường bạn, các chuyên đề của đồng nghiệp,…

2 Thảo luận chuyên môn thường xuyên theo sinh hoạt tổ chuyên môn hàng tháng:

a Hình thức này có thể đạt được các mục tiêu sau:

- Cùng nhau giải quyết kịp thời các vướng mắc gặp phải trong quá trình giảng dạy vềkiến thức cũng như phương pháp giảng dạy

- Tự bổ xung cho nhau để cùng nâng cao năng lực về chuyên môn và nghiệp vụ

- Cùng nhau xây dựng ra một chương trình chi tiết, chung về mỗi phần, từng nội dungcần thiết đối với mỗi khối lớp, từng chuyên đề trong giảng dạy và ôn tập

b Về nội dung nên có hai phần:

- Nội dung giải quyết các vướng mắc gặp phải trong quá trình dạy học

- Nội dung theo kế hoạch: đó là những chuyên đề cần được thảo luận đã lên kế hoạch

từ trước, đã phân công người chuẩn bị và báo cáo

3 Bồi dưỡng chuyên môn định kì:

Trang 17

Hình thức này phải do Bộ giáo dục tổ chức định kì hàng năm

a Về thời gian và hình thức tổ chức

- Nên tổ chức mỗi năm một lần và tổ chức theo khu vực để thuận tiện trong việc đi lại,hạn chế tốn kém về thời gian và kinh phí

- Thời gian nên bố trí vào dịp hè, khoảng cuối tháng 7, đầu tháng 8 hàng năm

- Nên gửi nội dung báo cáo chuyên đề về cho giáo viên các trường nghiên cứu trướcthi chất lượng đợt hội thảo sẽ cao hơn

b Về nội dung

- Cần bồi dưỡng những phần kiến thức chuyên sâu cả về lí thuyết và những bài tập cụ thể(ví dụ bài tập về phóng xạ, nhiệt động học, động học, một số cơ chế mới khó trong hóahữu cơ, các sự chuyển vị trong phản ứng hữu cơ,…)

- Cần bồi dưỡng những kĩ năng cần thết trong các bài thực hành dạng thi HSG Quốc gia

và quốc tế yêu cầu

- Trao đổ thảo luận về các kinh nghiệm giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi

Trong các nội dung trên thi phần bồi dương các kiến thức chuyên sâu nên mới các chuyên

gi đầu ngành và những người tham gia ra đề thi HSG hàng năm để có thể phân tích được mức

độ , yêu cầu về kiến thức đối với đề thi, về cách thức trình bày khi làm bài

Trên đây là một số ý kiến chủ quan của chúng tôi về công tác phát triển chuyên môn giáoviên hóa ở các trường chuyên

Trang 18

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC, KẾT QUẢ THI HSG QUỐC GIA, QUỐC TẾ CỦA TRƯỜNG THPT CHUYÊN PHAN BỘI CHÂU, NGHỆ AN

Tiến sỹ: 01 (Toán) Nghiên cứu sinh Tiến sỹ: 03 (Hóa, Văn Toán)

Trường có 33 lớp với 11 môn chuyên: Toán, Tin, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Anh,Pháp, Nga

II NHỮNG GIẢI PHÁP

1 Xây dựng đội ngũ:

- Xây dựng đội ngũ đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng: tiếp nhận sinh viên khá giỏi,điều giáo viên giỏi, bồi dưỡng giáo viên tại chỗ: 63 Thạc sỹ, 07 giáo viên đang đi họcThạc sỹ

- Xây dựng mối quan hệ làm việc, đảm bảo các yêu cầu: kế thừa, cộng sự, tâm huyết, đổimới phương pháp (Nhóm Toán, nhóm Tin, nhóm Tin, nhóm Lý, nhóm Sinh, nhóm Văn,nhóm Sử-Địa, Ngoại ngữ)

- Đặc biệt bồi dưỡng giáo viên trẻ đáp ứng yêu cầu Bồi dưỡng HSG dự thi Quốc tế:Nhóm Tin, nhóm Lý, nhóm Toán, nhóm Ngoại ngữ, nhóm Văn, nhóm Hóa

2 Khai thác tiềm năng học trò:

- Ổn định địa bàn tuyển sinh trong toàn Tỉnh, chọn đúng học sinh giỏi vào học tạitrường: các học sinh có năng khiếu thực sự tại các huyện đều thi đậu và về học tại trường:Con Cuông, Anh Sơn, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, QuỳnhLưu, Thanh Chương

- Chọn đúng học sinh xuất sắc dự thi HSG Quốc gia, Quốc tế

- Khơi dậy năng lực tự học, sự đam mê sáng tạo học tập trong học sinh, khuyến khíchhọc sinh nghiên cứu khoa học, viết bài đăng tạp chí, tổ chức các câu lạc bộ,

3 Trên nền giáo dục toàn diện, phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu

- Đảm bảo thực hiện chương trình SGK phổ thông:

+ Từ A1 đến A5: Ban khoa học tự nhiên

+ Từ C1 đến C6: Ban cơ bản

- Xây dựng bộ tài liệu bồi dưỡng theo yêu cầu của chương trình chuyên

- Kết hợp hài hòa lịch bồi dưỡng học sinh giỏi và bồi dưỡng nâng cao môn thi ĐH đểđảm bảo quyền lợi và ổn định tinh thần, tâm lý học sinh: Kết quả thi đại học của học sinhgiỏi Quốc gia là rất cao

4 Xây dựng các điều kiện phục vụ dạy và học:

- Cở sở vật chất: phòng học, Thư viện, Sân chơi, bãi tập

- Tạo sự liên kết gia đình, nhà trường và xã hội trong động viên, tổ chức, khen thưởnggiáo viên và học sinh

- Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền

- Đảm bảo các chính sách chế độ, ngoài quy định thưởng của Bộ, nhà trường có mứcthưởng cao: 50 triệu đồng cho Huy chương vàng Quốc tế, 15 triệu đồng cho huy chươngđồng khu vực

Trang 19

+ Học sinh: 800 suất học bổng cho học sinh, nhà nội trú cho học sinh.

+ Giáo viên: Được cấp kinh phí đi về nếu có học sinh dự thi Quốc tế; Được thưởngnhư học sinh

- Đã có dự án trường chuyên giai đoạn 2010 – 2020

5 Làm tốt công tác tôn vinh, đãi ngộ giáo viên và học sinh có thành tích:

- Đối với giáo viên: Làm tốt các khâu: bồi dưỡng, sự dụng, đãi ngỗ, tôn vinh

- Đối với học sinh: Phân mức học bổng khen thưởng kịp thời

THPT CHUYÊN PHAN BỘI CHÂU GIAI ĐOẠN 2006 – 2011.

Năm 2006: em Phan Hữu Thành đạt Huy chương Đồng môn Vật Lý Quốc tế

Năm 2007: em Nguyễn Tất Nghĩa đạt Huy chương Vàng Vật lý Quốc tế

Năm 2008: em Nguyễn Tất Nghĩa đạt Huy chương Vàng Vật lý Quốc tế, huy chươngVàng Olympic Vật Lý Châu Á

Năm 2010: em Nguyễn Trung Hưng được tặng Bằng khen Olympic Vật Lý Châu Á Em

Hồ Sỹ Việt Anh và em Nguyễn Cảnh Toàn dự thi Olympic Tin học Quốc tế tại Canada.Năm 2011: hai em Nguyễn Trung Hưng và en Nguyễn Huy Hoàng đạt Huy chương ĐồngVật Lý Châu Á, hai em Nguyễn Huy Hoàng và Nguyễn Đình Hội dự thi Olympic Vật LýQuốc tế tại Thái Lan tháng 7/2011

IV KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

- Cung cấp đề cương hướng dẫn công tác bồi dưỡng HSG khu vực, Quốc tế

- Duy trì bồi dưỡng, tập huấn giáo viên dạy môn chuyên

- Chế độ chính sách: đưa vào hệ số lương tối thiểu tương đương Phó Hiệu trưởng chogiáo viên dạy môn chuyên

- Tập huấn Giáo viên dạy Ngoại ngữ trong và ngoài nước (Kinh phí từ dự án và ngânsách địa phương)

Trang 20

V Đổi mới kiểm tra đánh giá môn Hóa học trong trường THPT chuyên

ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN HOÁ TRONG TRƯỜNG THPT CHUYÊN

Trường THPT chuyên Hùng Vương – Phú Thọ

I Tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá môn hoá trong trường chuyên

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là một vấn đề khó , phức tạp về phương phápdạy học Nó có nhiệm vụ làm rõ tình hình lĩnh hội kiến thức, sự thành thạo về kĩ năng, kĩ xảocủa học sinh, bổ sung, làm sâu sắc , củng cố hệ thống hoá , khái quát hoá kiến thức đã học,chuẩn bị cho việc tiếp tục nắm vững kiến thức mới - Nó còn giúp cho việc đánh giá, việcgiảng dạy và học sinh tự đánh giá việc học tập của mình Qua việc kiểm tra, giáo viên sẽnhận thấy những thành công và những vấn đề cần được rút kinh nghiệm trong giảng dạy,hiểu rõ mức độ kiến thức và kĩ năng của học sinh để từ đó có những biện pháp sư phạmnhằm nâng cao chất lượng dạy học Vì vậy, cần xác định đúng những quan điểm về kiểm trađánh giá kết quả học tập của học sinh- tức là trong mỗi chúng ta là những người giáo viênđứng trên bục giảng cần xác định rõ:

Thứ nhất: Kiểm tra đánh giá là một khâu không thể thiếu được của quá trình dạy học là biệnpháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học

Thứ 2: Kiểm tra và đánh giá là công việc không chỉ của giáo viên mà cả học sinh, giáo viênkiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh , học sinh tự kiểm tra và đánh giá việc họctập của mình và kiểm tra đánh giá lẫn nhau Đối với học sinh việc tự kiểm tra và đánh giá gópphần tích cực vào việc phát triển tư duy và việc tự học của học sinh

Thứ 3: Kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là trách nhiệm của giáo viên vàhọc sinh nên trong quá trình này, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh được tiến hành mộtcách bình thường , không căng thẳng nhằm đạt được những yêu cầu về chất lượng học tập vềtính tự giác , độc lập sáng tạo của học sinh , về sự trung thực trong việc đánh giá kết quảgiảng dạy học tập

Thứ 4: Việc kiểm tra đánh giá học sinh chuyên còn nhằm mục đích phát hiện những họcsinh có năng khiếu để bồi dưỡng thành học sinh gỏi các cấp

Nói tóm lại : Kiểm tra và đánh giá kết quả học tập nhằm giúp học sinh nắm vững nội dung

và kiểm soát mức độ nắm vững nội dung ( mức độ lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng vàrèn luyện đạo đức , tư tưởng chính trị) Qua đó giúp giáo viên thúc đẩy đổi mới phương phápdạy học nhằm nâng cao chất lượng phát hiện được những học sinh có năng khiếu

II Thực trạng việc kiểm tra và đánh giá của bộ Hoá ở trường chuyên.

- Trong kiểm tra miệng:

Giáo viên chỉ gọi một học sinh lên bảng trả lời câu hỏi như vậy chỉ tập trung vào họcsinh trên bảng, đánh giá được rất ít học sinh , học sinh dưới lớp mất trật tự, không chúý

- Trong kiểm tra viết:

Trang 21

Giáo viên chưa chú trọng việc ôn tập cho học sinh phần trọng tâm của từng bài,từng phần hay từng chương.

Đề ra chưa đáp ứng các yêu cầu của học sinh chuyên, chưa đạt được độ khó cần thiết,chưa đạt độ phân hoá học sinh, chưa chú ý đến khả năng tư duy độc lập tạo hứng thú họctập cho học sinh

Ch ưa có câu hỏi kểm tra liên quan đến vấn đề thực nhgiệm

Giáo viên chưa hướng dẫn và tạo điều kiện để học sinh tham gia vào việc kiểm tra đánhgiá một cách chủ động để tạo hứng thú học tập

III Những ý kiến của bản thân về đổi mới kiểm tra đánh giá để thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học:

Dựa trên những điều mình đã làm, đang làm, sự học hỏi ở bạn bè đồng nghiệp, tôi xin đưa

ra một vài ý kiến nhỏ để thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá mụn hoỏ trong trường

chuyên

1 Trong kiểm tra miệng đầu giờ:

- Sau mỗi bài học cần có sự khắc sâu giúp học sinh nắm chắc kiến thức trọng tâm của bài đó,qua đó học sinh sẽ nhận biết được phải học gì ở nhà Nếu có thể nên nêu ra trước câu hỏi,không nên kiểm tra bất kì một phần nào mình thích mà không nằm trong trọng tâm của bàihọc

- Vận dụng linh hoạt một số hình thức kiểm tra miệng thực sự lôi cuốn học sinh trong lớp vàđánh giá được nhiều học sinh nhất Ngoài mục đích kiểm tra việc nắm vững kiến thức của các

em, phải một lần nữa khăc sâu thêm kiến thức trọng tâm của bài cũ cho học sinh

+ Kiểm tra một học sinh yêu cầu cả lớp lắng nghe, sau đó gọi một số học sinh nhận xétphần trả lời của bạn trên bảng và giáo viên nhận xét cho điểm xứng đáng đối với phần nhậnxét của học sinh Cách làm này sẽ lôi cuốn được học sinh cả lớp hăng hái lắng nghe, hăng háiphát biểu nhận xét để có điểm tốt, mặt khác giáo viên có thể kiểm tra nhanh được nhiều họcsinh, đồng thời củng cố khắc sâu kiến thức cũ

+ Kết hợp với vấn đáp một học sinh với 1,2 học sinh lên làm thực nghiệm cả lớp quan sátnhận xét hiện tượng

- Trong quá trình dạy học giáo viên nên đưa ra những câu hỏi có chất lượng yêu cầu học sinhphải dựa trên kiến thức cũ kết hợp với kiến thức mới để trả lời câu hỏi Ngoài ra giáo viênnên kiểm tra việc chuẩn bị bài mới của học sinh( như chia chuyên đề cho từng nhóm học sinhnghiên cứu, giáo viên giao cho nhóm trưởng trực tiếp kiểm tra giám sát còn giáo viên làngười chỉ đạo ) và kịp thời có điểm trưởng để động viên các em

2 Trong kiểm tra viết nhất là bài kiểm tra 1 tiết :

a Trong khâu ôn tập: Giáo viên phải giới hạn phần trọng tâm ôn tập cho học sinh bằng cáccâu hỏi hoặc các chủ đề lớn để học sinh có thể ôn tập tốt Giáo viên phải xác định rằng khôngnhững ôn tập ở các tiết của phân phối chương trình mà việc ôn tập phải được tiến hành ngaytrong từng tiết học của bài mới, trong việc tự nghiên cứu khoa học ở nhà

3Trong khâu ra đề:

- Việc ra đề kiểm tra đóng một vai trò hết sức quan trọng, tác động trực tiếp và tức thời đếnnội dung, phương pháp dạy học của cả thầy và trò- chất lượng của việc kiểm tra- đánh giáphụ thuộc rất lớn vào việc thiết kế đề thi, đáp án và biểu điểm Do đó việc ra đề thi phải đápứng được các yêu cầu cơ bản sau đây:

+ Đề kiểm tra phải đạt độ khó cần thiết, phải đạt được độ phân hoá học sinh

+ Đề kiểm tra phải có tích thực tiển, có câu hỏi liên quan đến thực hành

+ Đề kiểm tra phải chú ý đến khả năng tư duy độc lập, tạo hứng thú học tập cho học sinh

- Sử dụng nhiều dạng đề khác nhau, áp dụng các hình thức kiểm tra khoa học tiên tiến

Trang 22

Do đó, để làm tốt khâu ra đề thì người giáo viên cần phải đưa ra một số quyết định trướckhi đặt bút ra đề là cần khảo sát gì ở học sinh? đặt phần quan trọng vào những phần nào củamôn học và vào mục tiêu nào? cần phải trình bày các câu hỏi dưới hình thức nào? mức độkhó hay dễ.

4 Trong khâu coi kiểm tra:

- Giáo viên phải coi chặt chẽ, chính xác bảo đảm đánh giá khách quan, công bằng

- Thu bài và đánh giá nhận xét thật khách quan tinh thần, thái độ của học sinh trong quá trìnhlàm bài phải tuyên dương, phê bình thẳng thắn để tạo cho học sinh có ý thức tốt trong quátrình kiểm tra đánh giá

5 Trong khâu chấm chữa:

- Trong chấm bài phải xây dựng đáp án chi tiết đến 0,25điểm và phải tìm ý để thưởng điểm

- Phải có phần nhận xét vào bài làm của học sinh

- Sau mỗi lần kiểm tra giáo viên nên cố gắng trả bài trong thời gian sớm nhất, nhất thiết phảigiành thời gian để nhận xét một cách chi tiết bài làm của học sinh, phần nhận xét của giáoviên phải bao gồm nội dung kiến thức, phương pháp làm bài, hình thức của bài làm, vì quanhững nhận xét đó học sinh tự đánh giá được bản thân từ đó rút ra bài học để có cách học,cách làm bài tốt hơn về sau

- Ngoài ra giáo viên còn có thể sử dụng phương pháp hướng dẫn và tạo điều kiện để học sinh

có thể tham gia vào kiểm tra đánh giá một cách chủ động bằng cách giáo viên xác định vàphổ biến tiêu chí đánh giá, cung cấp cho học sinh đáp án, biểu điểm, hướng dẫn cho các emcách tự đánh giá kết quả bài kiểm tra, và cũng có thể tổ chức cho học sinh chấm chéo bài và

có sự giám sát của giáo viên

IV Kiến nghị của bản thân:

- Có phòng học riêng cho bộ môn hoá học

- Có đầy đủ các loại hoá chất và dụng cụ thí nghiệm

- Ra ngân hàng đề, đáp án cho các trường để việc kiểm tra, đánh giá được đồng bộ

- Có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên hơn nữa đối với đội ngũ giáo viên

- Có hình thức khuyến khích khen thưởng để động viên khích lệ các em học sinh chuyêntham gia nghiên cứu khoa học

Trên đây là những kinh nghiệm của riêng bản thân tôi, chắc chắn còn nhiều hạn chế

và thiếu sót Kính mong được sự đóng góp, bổ sung, sửa chữa của quý thầy cô giáo để bảntham luận được hoàn chỉnh hơn Xin chân thành cảm ơn!

Ngày đăng: 23/01/2014, 00:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổng hợp. - báo cáo kinh nghiệm tuyển chọn, bồi dưỡng  học sinh giỏi môn hóa học
Sơ đồ t ổng hợp (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w