bài tiểu luận tài chính tiền tệ học viện tài chính đề thi Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp . bài thi đạt điểm A. bám chắc kiến thức của giáo trình và vở ghi của thầy cô
Trang 1Họ và tên: Lê Thu Uyên Mã Sinh viên: 18CL73402010137
Khóa/Lớp: (tín chỉ): ON 25 (Niên chế): CQ56.11.03CLC
STT: 21 ID phòng thi: 582 058 1103
Ngày thi: 8/8/2021 Giờ thi: 8h45
BÀI THI MÔN: TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
Hình thức thi: Tiểu luận
Thời gian thi: 2 ngày
Tên đề tài: Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động huy động vốn
của doanh nghiệp
BÀI LÀM
Trang 2Mục Lục
Mở đầu 4
Lý luận chung về vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp 5
1 Tín dụng ngân hàng 5
2 Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp 7
3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp 8
Phần 2 10
Thực trạng doanh nghiệp huy động vốn tín dụng ngân hàng 10
1 Thực trạng 10
2 Nguyên nhân 12
3 Một số kiến nghị, đề xuất nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp 13
Kết luận 15
Danh mục tài liệu tham khảo 16
Trang 3Danh mục bảng biểu
Bảng 1.1 – Sơ đồ tín dụng ngân hàng thương mại 5 Bảng 2.1 – Cấu trúc cho vay khách hàng ngân hàng Vietcombank thời hạn 2017-2020 10 Bảng 2.2 – Đối tượng khách hàng ngân hàng Vietcombank thời hạn 2017-2020 11
Trang 44
Mở đầu
Trong quá trình đổi mới và phát triển hoạt động ngân hàng, cùng với việc thị trường hoá các quan hệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng, nước ta cũng đã từng bước hình thành
và phát triển thị trường tiền tệ và thị trường tín dụng Thị trường tài chính, thị trường tiền tệ nói chung và thị trường tín dụng nói riêng là những tiền đề hết sức quan trọng cho việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế Trong cơ cấu thị trường tài chính, thị trường tín dụng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng
Nước ta hiện nay, nhìn chung thị trường tài chính vẫn còn phát triển ở trình độ thấp Thị trường tiền tệ còn hạn chế nhiều khả năng sử dụng có hiệu lực các công cụ tiền tệ
và chưa tạo được những tiền đề cần thiết cho sự phát triển năng động, hiệu quả của toàn bộ thị trưởng tài chính Thị trường vốn chưa phải là kênh phân bổ vốn đa dạng và
có hiệu quả của nền kinh tế, trong đó thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu (nhất
là trái phiếu công ty) còn quá nhỏ bé, chưa đủ khối lượng hàng hoá cần thiết để tạo ra một thị trường vốn , thị trường chứng khoán sôi động, hấp dẫn Vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế vẫn phải dựa quá mức vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng cung ứng Hệ thống các tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng nhà nước vẫn đang là những chủ lực chính cung ứng vốn Các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá thể sản xuất kinh doanh đang tìm mọi cơ hội để tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Trong đó, tín dụng ngân hàng nắm vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế Vì tín dụng ngân hàng mang sức ảnh hưởng vô cùng lớn đến huy động vốn trong doanh nghiệp Không chỉ phù hợp với mọi tác nhân, hệ thống mạng lưới rộng khắp lãnh thổ
mà còn đa dạng về nhiều hình thức tín dụng
Với những lý do trên, em đã chọn đề tài: “ Vai trò của tín dụng ngân hàng đối vớ hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp ”
Trang 55
Phần 1
Lý luận chung về vai trò của tín dụng ngân hàng đối với
hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp
1 Tín dụng ngân hàng
1.1 Khái niệm
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát sinh giữa ngân hàng và các chủ thể khác (doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội…) trong nền kinh tế quốc dân Trong hình thức này, ngân hàng xuất hiện với vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay
Bảng 1.1 – Sơ đồ tín dụng ngân hàng thương mại
1.2 Đặc điểm
- Huy động vốn và cho vay được thực hiện chủ yếu dưới hình thức tiền tệ
Tất cả những nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế quốc dân được ngân hàng huy động để hình thành nguồn vốn cho vay.Trên cơ sở nguồn vốn đã có, ngân hàng cho vay đối với các tác nhân cần vốn cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng
- Các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian tín dụng
Khi huy động vốn trong nền kinh tế, ngân hàng sử dụng nhiều hình thức thu hút tiền gửi với các kỳ hạn khác nhau, phát hành các loại giấy nhận nợ ngắn hạn cũng như trung và dài hạn
Ngân hàng thương mại
Doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội
Trang 66
Khi cho vay, ngân hàng chủ yếu sử dụng các hình thức cấp tín dụng theo tài khoản cho vay, gửi vốn tại các ngân hàng khác, đầu tư để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối với
sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội
Vốn tín dụng ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất
xã hội Khối lượng hàng hóa sản xuất và lưu thông tăng lên thì nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng cũng tăng lên gây lên nhiều mâu thuẫn này thường xuyên diễn ra đó là hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường
- Công cụ lưu thông là tiền tín dụng
Trong huy động vốn, những người cho ngân hàng vay nhận về những giấy nhận nợ Còn trong cho vay, giữa ngân hàng và khách hàng ký kết hợp đồng tính dụng để thực hiện các khoản cho vay
1.2 Ưu điểm
Thứ nhất, khối lượng tín dụng lớn Cả hai mặt huy động vốn và cho vay đều có thể
đạt được với một khối lượng vốn lớn Do đó, tín dụng ngân hàng có thể thỏa mãn một cách tối đa nhu cầu vốn của các ác nhân trong nền kinh tế
Thứ hai, thời hạn tín dụng đa dạng Tín dụng ngân hàng huy động các nguồn vốn và
thực hiện các cho vay có thời hạn phong phú, đa dạng Có nghĩa là có thể huy động các nguồn vốn và cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Thời hạn của một khoản tín dụng ngân hàng tùy thuộc vào thời hạn nhàn rỗi của các nguồn vốn và nhu cầu xin vay của khách hàng
Thứ ba, phạm vi hoạt động rộng Tín dụng ngân hàng huy động và cho vay vốn đối
với mọi tác nhân và thể nhân Như vậy, tín dụng ngân hàng không chỉ giao dịch với các doanh nghiệp, mà còn với các tác nhân khác thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân
Trang 77
1.3 Nhược điểm
- Độ rủi ro cao thể hiện ở rủi ro thanh khoản
+ Lựa chọn đối nghịch, rủi ro đạo đức
+ Sự chuyển nhượng nguồn tài chính ngắn hạn thành dài hạn không như dự tính
- Lãi suất tín dụng cao hơn so với nguồn vốn khác
+ Bù đắp chí phí, đam bảo ngân hàng có lãi
- Điều kiện vay rất khó khăn và chặt chẽ
+ Phương án kinh doanh có hiệu quả
+Tài sản thế chấp
2 Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp
2.1 Khái niệm
Hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp là những hoạt động liên quan đến việc nên lựa chọn nguồn vốn nào để cung cấp cho các hoạt động đầu tư Hoạt động huy động vốn tác động đến phần Nguồn vốn của Bảng cân đối kế toán
Các hoạt động huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn ngắn hạn: vay ngắn hạn hay sử dụng tín dụng thương mại
- Hoạt động huy động vốn dài hạn: sử dụng nợ dài hạn thông qua vay dài hạn ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty; quyết định phát hành vốn cổ phần( cổ phần phổ thông hay cổ phần ưu đãi); quyết định quan hệ cơ cấu giữa nợ và vốn chủ sở hữu( đòn bẩy tài chính); quyết định vay để mua, hay thuê tài sản,
2.2 Vai trò của hoạt động huy động vốn
- Huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục
Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường xuyên nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho
Trang 88
hoạt động kinh doanh thường xuyên, cũng như đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nếu không huy động kịp thời và đủ vốn sẽ khiến cho các hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không không triển khai được Do vậy, việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm, hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Việc tổ chức huy động vốn kịp thời, đầy đủ sẽ giúp cho doanh nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp Việc lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp, đảm bảo cơ cấu vốn tối ưu giúp doanh nghiệp giảm bớt được chi phí sử dụng vốn, góp phần tăng lợi nhuận, thực hiện mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp
3.1 Ưu điểm
- Thời hạn tín dụng đa dạng đáp ứng nhu cầu vay vốn ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn của doanh nghiệp
-Lãi suất được giới hạn ở mức nhất định Khi vay tiền, doanh nghiệp thường thương lượng trực tiếp với ngân hàng Lãi suất được thỏa thuận theo cơ chế thị trường và phù hợp với các quy định của Ngân hàng Nhà nước, quy định của Luật về các tổ chức tín dụng về lãi suất cho vay khi kí kết hợp đồng tín dụng
- Giữ quyền kiểm soát doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư bằng cách tăng thêm các thành viên góp vốn mới, như phát hành thêm cổ phiếu, gọi vốn liên doanh, hoặc tiếp nhận vốn góp của các thành viên mới thì cũng đồng nghĩa với việc các chủ sở hữu hiện tại của doanh nghiệp chấp nhận việc chia sẻ quyền quản
lý và kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp cho các thành viên mới Điều này sẽ không xảy ra nếu doanh nghiệp huy động vốn bằng tín dụng ngân hàng
Trang 99
3.2 Nhược điểm
- Buộc phải trả lợi tức và trả nợ gốc đúng hạn, ít trường hợp được giảm và gia hạn Điều này có thể gây căng thẳng về mặt tài chính và dễ dẫn tới nguy cơ rủi ro trong trường hợp doanh thu và lợi nhuận không ổn định, doanh nghiệp không có đủ nguồn tài chính để trang trải khoản nợ
- Việc huy động vốn bằng tín dụng ngân hàng cũng có giới hạn nhất định Để vay vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp phải thỏa mãn điều kiện tín dụng, sự kiểm soát của ngân hàng đối với việc huy động và sử dụng tiền vay, lượng tiền vay có giới hạn
Trang 1010
Phần 2 Thực trạng doanh nghiệp huy động vốn tín dụng ngân
hàng
1 Thực trạng
- Cấu trúc nợ:
Bảng 2.1 – Cấu trúc cho vay khách hàng ngân hàng Vietcombank thời hạn 2017-2020
( Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính Vietcombank giai đoạn 2017-2020) Phân tích báo cáo tài chính giai đoạn 2017-2020 của các ngân hàng thương mại cho thấy các ngân hàng thương mại thường đặt trọng tâm vào thị trường tín dụng ngắn
hạn( Hiện nay cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng trên 50% tổng hạn mức tín dụng của ngân hàng) Đồng thời có sự chuyển dịch trong cơ cấu cho vay nợ: giảm tỷ trọng vay
nợ ngắn hạn và trung hạn và tăng tỷ trọng cho dài hạn Cụ thể tại ngân hàng
Vietcombank, nợ ngắn hạn chiếm hơn 50% ( năm 2017 nợ ngắn hạn là 56,11% và
giảm dần các năm, năm 2020 nợ ngắn hạn là 51,91%), sự tăng tỷ trọng của nợ dài hạn ( nợ dài hạn năm 2017 là 33,96% đến năm 2020 là 43,38%)
Bên cạnh đó khi lãi suất giảm thì chủ yếu giảm các khoản vay ngắn hạn, và tín dụng tiêu dùng Trong khi điều doanh nghiệp muốn tiếp cận lãi suất trung và dài hạn thì mức lãi suất vẫn ở mức cao (lãi suất trung hạn từ 9,5-11,5%, lãi suất dài hạn từ 12- 13%)
Số tiền ( tỷ đồng) Tỷ lệ (%) Số tiền ( tỷ đồng) Tỷ lệ (%) Số tiền ( tỷ đồng) Tỷ lệ (%) Số tiền ( tỷ đồng) Tỷ lệ (%)
Nợ ngắn han 432.309 51,91 383.048 52,55 341.385 54,43 302.38 56,11
Nợ trung hạn 39.268 4,71 44.762 6,14 50.105 7,99 53.493 9,93
Nợ dài hạn 361.298 43,38 301.134 41,31 235.691 37,58 182.997 33,96
Năm 2020 Năm 2019 Năm 2018 Năm 2017
Trang 1111
- Đối tượng khách hàng
Bảng 2.2 – Đối tượng khách hàng ngân hàng Vietcombank thời hạn 2017-2020
( Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính Vietcombank giai đoạn 2017-2020) + Ngành: Các doanh nghiệp tiếp cận được tín dụng ngân hàng chủ yếu là các doanh
nghiệp ngành truyền thống như doanh nghiệp sản xuất và gia công chế biến, doanh
nghiệp thương mại, dịch vụ Cụ thể như tại ngân hàng Vietcombank, cho vay
cácdoanh nghiệp 2 ngành trên luôn chiếm tỷ trọng hơn 40%
+ Quy mô: Doanh nghiệp lớn có nhiều cơ hội tiếp cận khoản vay tín dụng trong khi đó doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận các khoản vay
Theo Báo cáo Tổng Điều tra kinh tế của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2017, lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98,1% tổng số doanh nghiệp trên cả nước,
đóng góp khoảng 45% GDP, 31% vào tổng thu ngân sách nhà nước và thu hút hơn 5 triệu việc làm Doanh nghiệp nhỏ và vừa được xem như lực lượng sản xuất quan trọng
Xây dựng 40.227 4,83 30.316 4,16 28.528 4,55 31.830 5,91
Khai khoáng 14.515 1,74 14.388 1,97 15.379 2,45 16.275 3,02
Các ngành khác 275.305 33,05 295.916 40,60 223.744 35,67 157.011 29,14 Tổng 832.871 100 728.941 100 627.178 100 538.848 100
9.438 1,75
Ngành
10.143 1,22 12.826 1,76 11.362 1,81
22.440 4,16
17.057 2,05 16.121 2,21 14.496 2,31 11.291 2,10
21,99
Vận tải kho bãi
và thông tin
liên lạc
Nông, lâm,
thủy hải sản
Nhà hàng,
khách sạn
26.530 3,19 24.367 3,34 22.927 3,66
4,68 26.527 4,92 202.518 24,32 131.825 18,08 120.238 19,17 118.498
25,70 145.538 27,01
Thương mại,
dịch vụ
Sản xuất và
phân phối
điện, khí đốt
70.898 8,51 31.952 4,38 29.327
Sản xuất và gia
công chế biến
175.678 21,09 171.230 23,49 161.177
Số tiền ( tỷ đồng)
Tỷ lệ (%)
Số tiền ( tỷ đồng) Tỷ lệ (%) Số tiền ( tỷ đồng) Tỷ lệ (%) Số tiền ( tỷ đồng) Tỷ lệ (%)
Trang 1212
của nền kinh tế, tạo ra của cải vật chất và công ăn việc làm cho xã hội Tuy nhiên, với quy mô doanh nghiệp còn hạn chế, về cơ bản, các doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có khả năng tiếp cận nguồn vốn từ thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu trong nước và quốc tế, vay vốn nước ngoài, quỹ đầu tư chủ yếu tập trung ở nguồn vốn vay của các ngân hàng thương mại trên cơ sở doanh nghiệp tự tiếp cận hoặc thông qua Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
2 Nguyên nhân
2.1 Đối với doanh nghiệp
- Năng lực hoạt động của DN nhỏ và vừa phần lớn đều có quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh trong nước và ngoài nước yếu; công nghệ lạc hậu, thiếu kinh nghiệm quản lý; nguồn nhân lực thiếu kỹ năng và kinh nghiệm; sức chịu đựng rủi ro thấp, khả năng chống đỡ kém trước biến động của kinh tế vĩ mô Các DN chưa có sự liên kết với nhau
và liên kết với các DN lớn để tạo nên chuỗi giá trị cạnh tranh tầm khu vực
- Đa số các DN nhỏ và vừa có cách thức quản lý, quản trị mang tính tư nhân gia đình, chưa có tầm nhìn, chiến lược kinh doanh dài hạn Năng lực về quản trị hạn chế cũng là nguyên nhân dẫn đến DN nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc tìm kiếm, xây dựng phương án kinh doanh, cơ hội đầu tư khả thi, thiếu hiểu biết về các quy định khi tiếp cận các nguồn vốn vay
- Về tài sản bảo đảm, bản thân DN nhỏ và vừa tiềm ẩn khá nhiều rủi ro do tài sản của
DN có giá trị thấp, dòng tiền không dồi dào, lịch sử quan hệ tín dụng và xếp hạng tín dụng với ngân hàng chưa cao Do vậy, bên cạnh việc thẩm định các phương án kinh doanh, các ngân hàng có xu hướng yêu cầu tài sản bảo đảm; trong khi do năng lực tài chính hạn chế, các DN lại không đủ tài sản bảo đảm để thế chấp cho ngân hàng
- Tính minh bạch của số liệu kế toán, thông tin tài chính kế toán chưa theo chuẩn mực, thông tin chưa đảm bảo minh bạch do các DN nhỏ và vừa chưa coi trọng việc xây dựng hệ thống số liệu này, báo cáo tài chính phần lớn không có kiểm toán, tính chính xác còn hạn chế