1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TẬP HUẤN ĐỔI MỚI PPDH, DẠY HỌC PHÂN HÓA ĐỐI TƯỢNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC BUỔI 2

13 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 123,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những định hướng chính trong đổi mới phương pháp dạy học - Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực chủ động sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức - Đổi mới PP

Trang 1

TẬP HUẤN ĐỔI MỚI PPDH, DẠY HỌC PHÂN HÓA ĐỐI TƯỢNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC BUỔI 2 I-ĐỔI MỚI PPDH

1.1 Đổi mới PPDH là gì? Về mặt bản chất, đổi mới PPDH là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học

1.2 Những định hướng chính trong đổi mới phương pháp dạy học

- Đổi mới PPDH theo hướng phát huy cao độ tính tích cực chủ động sáng tạo của HS trong quá trình lĩnh hội tri thức

- Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo các PPDH khác nhau (truyền thống và hiện đại) sao cho vừa đạt được mục tiêu dạy học vừa phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn của cơ sở

- Đổi mới PPDH theo hướng phát triển khả năng tự học của HS

- Đổi mới PPDH theo hướng kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm và phát huy khả năng của cá nhân

- Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành

- Đổi mới PPDH theo hướng sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy học

- Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cả phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS

- Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cách thiết kế bài dạy, lập kế hoạch bài học và xây dựng mục tiêu bài học

1.3 Dấu hiệu đặc trưng của PPDH theo hướng tích cực hoá

- Tổ chức các hoạt động đa dạng và phong phú

- Tổ chức các hoạt động phát triển khả năng tự học của HS

- Tổ chức hoạt động khám phá bằng cách đưa ra một hệ thống các câu hỏi hướng dẫn

HS tìm ra được kết quả

- Linh hoạt trong phương pháp và ứng xử sư phạm

Trang 2

- Luôn kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng đạt được ở HS

1.4 Các PPDH tích cực:…

II-DẠY HỌC PHÂN HÓA ĐỐI TƯỢNG

2.1 Dạy học phân hóa (DHPH) là cách thức dạy học có tính đến sự khác biệt của

người học (cá nhân) hoặc nhóm người học Ở tiểu học, DHPH thường được thể hiện ở việc lấy chuẩn kiến thức, kĩ năng làm nền cơ bản Ngoài kế hoạch dạy học, thông thường phân hóa để có những kế hoạch dạy học phù hợp, đưa HS chậm hoàn thành đạt chuẩn và giúp các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc HS Năng khiếu phát triển ở mức cao hơn

- Dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học tập trung vào việc thiết kế giảng dạy xuất phát từ tình hình thực tế của học sinh, dựa vào đặc điểm cá nhân, tâm lí, sinh lí, nhu cầu, động cơ, hứng thú, nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh… của các em mà tìm cách dạy cho phù hợp, giúp cho mọi học sinh đều có cơ hội phát triển toàn diện năng lực tiềm tàng của bản thân

- Việc dạy học phân hóa đối tượng HS sẽ làm cho tiết học không bị nhàm chán,

HS không bị áp đặt theo khuôn mẫu định sẵn, tạo nhiều cơ hội cho HS sáng tạo và phát triển tư duy

2.2.Quy trình thực hiện dạy phân hóa đối tượng ở tiểu học thường diễn ra như sau:

- Đánh giá, phân loại trình độ, năng lực học tập của HS

- Xây dựng kế hoạch, nội dung và lựa chọn hình thức, phương pháp dạy học cho phù hợp với từng nhóm đối tượng hoặc từng đối tượng đặc biệt

- Tổ chức triển khai thực hiện

- Kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh, hoàn thiện

2.3 Khi thực hiện, giáo viên cần lưu ý:

- Xác định đúng đối tượng, để phân loại sát thực tế

- Linh hoạt, sáng tạo trong các hình thức chia nhóm

- Bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng, trình độ học sinh của lớp mình để điều chỉnh tài liệu hướng dẫn học phù hợp cho từng đối tượng học sinh

Trang 3

- Nắm vững các phương pháp dạy học, sử dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức dạy học phân hóa đối tượng HS

- Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý, nhận thức của từng đối tượng học sinh Học sinh làm bài tập theo các mức độ

- Áp dụng đánh giá học sinh theo Thông tư 22/2016 của Bộ GD&ĐT thường xuyên nhằm động viên, tuyên dương khích lệ học sinh một cách kịp thời đặc biệt là đối tượng học sinh chậm tiến

- Ở mỗi tiết dạy GV nghiên cứu nắm vững mục tiêu, nội dung và yêu cầu của từng nhiệm vụ trong bài học để lựa chọn các phương pháp dạy học cũng như các hình thức

tổ chức, vận dụng vào từng tình huống cụ thể cho hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu của bài học GV thực hiện cẩn thận và xem xét nhiều khía cạnh khác nhau của các bài tập trong tài liệu hướng dẫn học tập và lựa chọn nội dung bài tập nâng cao cho HS làm thêm

- Khi chuẩn bị bài phải dự kiến các câu hỏi, các tình huống và các yêu cầu ở từng mức

độ khác nhau cho học sinh trong từng phần Để áp dụng việc dạy phân hoá đòi hỏi mỗi GV phải nghiên cứu kĩ về kiến thức, kĩ năng của mỗi bài học để điều chỉnh tài liệu hướng dẫn học phù hợp với từng đối tượng HS trong lớp, trong từng bài học cụ thể

Ví dụ: Phân biệt từ chỉ đức tính tốt và đức tính xấu đưa vào nhóm từ cho phù hợp

Giáo viên có thể gợi ý cho nhóm A như sau: Em đọc kĩ các từ đó và gạch dưới từ chỉ đức tính tốt để đưa vào nhóm đó cho hợp lý?

Giáo viên có thể gợi ý cho nhóm B như sau: Em đọc kĩ các từ đó đồng thời dùng

từ điển tra nghĩa của mỗi từ Khi đã hiểu về nghĩa của chúng thì em sẽ đưa từng từ chỉ đức tính tốt vào nhóm cho thích hợp ?

Yêu cầu những học sinh trong nhóm C, nếu chưa hiểu thì tìm kiếm sự hỗ trợ của

GV hoặc các bạn trong nhóm A bằng cách giơ thẻ cứu trợ

Đối với những bài có khối lượng kiến thức nhiều, một số học sinh làm không kịp thời gian trong tiết học thì GV có thể linh hoạt chuyển nội dung sang tiết tiếp theo

Trang 4

Đối với những bài có khối lượng kiến thức ít hơn hoặc những bài có nội dung ôn tập, sau khi một số học sinh giỏi hoàn thành xong giáo viên có thể giao thêm một số bài tập nâng cao để mở rộng thêm kiến thức cho học sinh

Việc dạy phân hóa đổi tượng cho học sinh cần được thể hiện đa dạng với nhiều hình thức: giao bài tập, đặt hệ thống câu hỏi, đánh giá nhận xét bạn hay thông qua các trò chơi học tập, các hoạt động trong cũng như ngoài giờ học

Trong quá trình dạy học, không chỉ giáo viên phân hóa đối tượng học sinh mà học sinh trong nhóm, lớp cũng cần nắm được năng lực học tập của bạn để ra yêu cầu, nêu câu hỏi cho phù hợp với năng lực của từng bạn Như thế việc dạy phân hóa mới diễn

ra mọi lúc, trong tất cả các hoạt động của giờ học

III.NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC 2BUỔI/NGÀY

3 1 Thực trạng:

Qua thực tế thực hiện thì việc nâng cao chất lượng dạy học 2 buổi/ ngày ( đặc biệt là nâng cao chất lượng dạy học buổi 2 môn T- TV(T), dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của hs ở một số môn học ) còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc Cụ thể:

- Việc giáo viên soạn bài phân hóa theo đối tượng học sinh ở các tiết Toán- TV(T) còn lúng túng

- Việc nghiên cứu, lựa chọn các nội dung chưa thực sự hợp lí còn phụ thuộc nhiều vào VBT

- Có nhiều tiết kiến thức trùng lặp, học sinh học đi học lại vì thế gây sự nhàm chán cho học sinh (nhất là đối với học sinh Năng khiếu)

- Quá trình dạy trên lớp một số giáo viên biến tiết ôn tập thành tiết tự học Học sinh hoàn thành vở bài tập toán, chưa có kiến thức phân hóa cho từng đối tượng học sinh

để dạy cho phù hợp

- Hình thức tổ chức lớp học chưa khoa học, không phân định rõ ràng cho từng nhóm đối tượng học sinh

* Học sinh:

- Chưa thích học, hứng thú học

- Học sinh tiếp thu chậm chưa rèn kiến thức, kĩ năng

Trang 5

- Học sinh năng khiếu chưa có nhiệm vụ riêng, học sinh cá biệt chưa được quan tâm đúng mức nên nề nếp lớp học chưa nghiêm túc

- Không khí lớp học chưa sôi nổi, học sinh chán học, hiệu quả không cao

* Nguyên nhân.

+ Về phía giáo viên.

- Một số GV tập trung dạy sao cho hết kiến thức, bài tập ở SGK, việc đưa nội dung cho phù hợp với từng đối tượng là rất ít

- GV hiểu máy móc tinh thần chỉ đạo theo “Hướng dẫn dạy học 2 buổi/ngày”

là không đưa thêm nội dung, kiến thức mới vào dạy buổi 2 mà chủ yếu là khai thác kiến thức đã có trong SGK, củng cố và rèn luyện các kiến thức kỹ năng đã học Vậy

là trong dạy học buổi 2 GV chưa mạnh dạn đưa các loại bài phù hợp với từng đối tượng HS

- Thời gian giành cho việc soạn bài của GV Tiểu học bị hạn chế Ở dạy học buổi 2 không có những thiết kế bài soạn sẵn cho từng tiết cho giáo viên tham khảo nên để thiết kế được những giáo án buổi 2 thực sự phù hợp với các đối tượng và phương pháp, hình thức dạy học phong phú đòi hỏi giáo viên phải thực sự dày công Trong khi đó, cường độ lao động của giáo viên Tiểu học cao, thời gian hạn chế (giáo viên đi dạy có thể đến 8 buổi/tuần, sinh hoạt chuyên môn, hoạt động công tác đoàn thể, lao động cùng học sinh, phụ đạo học sinh chậm HT, bồi dưỡng học sinh năng khiếu, ) Vì vậy việc tiếp cận thông tin mới, việc nghiên cứu các tài liệu, soạn giáo

án có phần hạn chế……

* Về phía học sinh:

- Lớp nào cũng có đủ đối tượng học sinh nên trình độ nhận thức có sự khác nhau

- Một số học sinh yếu, gia đình không quan tâm Những học sinh này rất ngại học chóng chán, ỷ lại, nhiều em làm ảnh hưởng đến nề nếp và không khí lớp học

3 2 Giải pháp thực hiện

3.2.1 Nâng cao nhận thức giáo viên

- Giáo viên cần thực hiện nghiêm túc công văn số 115/ SGD và ĐT Hải Dương ngày 17/11/2008 V/v tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc nâng cao chất lượng dạy học 2 buổi /ngày

Trang 6

- Giáo viên xác định rõ mục tiêu, yêu cầu của từng tiết dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học buổi 2 và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

- Giáo viên tự học tự bồi dưỡng một cách thường xuyên, liên tục

- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hình thức Tổ, nhóm chuyên môn phong phú đa dạng và có chất lượng

- Tổ chức chuyên đề giảng dạy các tiết học nâng cao chất lượng dạy học buổi 2 và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh theo tổ, khối chuyên môn

3.2.2.Dạy đến từng đối tượng HS, dạy theo nhu cầu người học một cách hợp lý

- Khi mọi đối tượng HS đều được học, mỗi một học sinh được giao từng công việc cụ thể phù hợp với năng lực, sở trường thì các em sẽ hăng hái thực hiện, không khí lớp học sôi nổi Muốn đạt được mục tiêu này giáo viên phải:

.- Khảo sát ngay từ đầu năm học để tìm hiểu, nắm bắt, phân loại đối tượng HS:

- Khảo sát sau mỗi dạng bài, qua từng giai đoạn giáo viên cần khảo sát để thấy được

sự tiến bộ của học sinh đồng thời nắm bắt những kiến thức còn hổng để có kế hoạch

và biện pháp bồi dưỡng phù hợp, hiệu quả

- Xây dựng kế hoạch dạy học đối với tiết dạy buổi 2

- Lựa chọn nội dung cho phù hợp với từng nhóm đối tượng HS:

3.2.3 Xây dựng mô hình dạy học buổi 2.

Mô hình 1: Dạy theo lớp: Vì mỗi lớp đều có đủ các đối tượng học sinh nên

trong mỗi bài tập hay mỗi nội dung ôn tập cần có sự phân hoá rõ để tất cả học sinh đều được hoạt động Khi soạn bài, người GV cần đặc biệt chú ý sắp xếp nội dung dạy học trong mội bài tập theo các mức độ từ dễ đến khó Sau mỗi bài tập cần củng cố, khắc sâu và mở rộng KT, KN cần thiết cho HS )

M2: Dạy theo nhóm học sinh: Mỗi khối lớp tập trung học sinh lại rồi chia

thành các nhóm đối tượng GV có thể lựa chọn nội dung bồi dưỡng theo từng phân môn hay từng mảng kiến thức, theo chuyên đề nào đó (Có thể ôn tập kiến thức trước đó )

M3: Dạy theo nhóm năng lực sở trường ( Lựa chọn tất cả học sinh có năng

khiếu môn nào thì phân công giáo viên xây dựng kiến thức bồi dưỡng môn học đó theo từng chuyên đề sao cho phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh)

Trang 7

Mỗi mô hình đều có ưu điểm và hạn chế riêng Tùy theo tình hình thực tế nhà trường lựa chọn mô hình cho phù hợp và giáo viên lựa chọn các nội dung kiến thức

và kĩ năng cho phù hợp và có hiệu quả

3.2.4 Đa dạng hóa các hình thức dạy học

Chẳng hạn, trong một tiết học buổi 2, giáo viên có thể đan xen giữa hình thức học cá nhân, học nhóm, học cả lớp, thay đổi giữa các bài tập dạng trắc nghiệm, bài tập

tự luận, câu đố, xen kẽ giữa việc dùng các đồ dùng học tập như bảng con, phiếu bài tập, vở ô ly,…Cụ thể 1 số tiết trên lớp, cụ thể có 1 số tiết ngoài không gian phòng học, hay qua các sân chơi trí tuệ, qua các cuộc thi,… Thế nhưng dù ở hình thức nào,

dù phương pháp nào cũng cần đảm bảo:

+ Không ảnh hưởng đến thời lượng các tiết đó

+ Tạo niềm tin, ổn định tâm lý, tạo tâm thế, nhu cầu học cho học sinh

+ Cách thức dạy học kết hợp nghệ thuật chủ nhiệm phù hợp với tính cách, năng lực, đặc điểm tâm lý, hoàn cảnh từng học sinh

3.2.5 Mạnh dạn điều chỉnh thời lượng, kết hợp đan xen các tiết học một cách hợp lý, tích hợp các kiến thức ở các lĩnh vực qua các sân chơi trí tuệ cho HS 3.2.6.Đánh giá theo chuẩn và theo năng lực của học sinh

Dạy buổi 2 khi mà vấn đề dạy học phân hóa càng rõ nét thì việc đánh giá HS cũng cần lựa chọn từng nội dung đánh giá, từng hình thức đánh giá theo năng lực từng

em Nếu như HS chậm hoàn thành GV đánh giá yêu cầu luyện kiến thức, kỹ năng cơ bản thì học sinh năng khiếu phải chọn nội dung cần đánh giá phù hợp với năng lực các em Không đánh giá ngang bằng, đại trà, chung chung Cần đánh giá học sinh tế nhị, khéo léo, theo chuẩn và theo năng lực

3.2.7 Xây dựng môi trường sư phạm thân thiện.

Môi trường sư phạm thân thiện sẽ nâng cao chất lượng GD Khi trong lớp tràn đầy tình yêu thương, khi GV quan tâm đặc biệt đến HS, khi HS tôn trọng lẫn nhau thì tác động tốt đến kết quả dạy học Vì vậy:

- Cần xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong lớp, HS năng khiếu luôn biết giúp đỡ HS chậm hoàn thành qua phong trào “Đôi bạn cùng tiến”, “Giúp bạn”,

- GV cần yêu nghề, yêu HS, dành cho các em sự gần gũi nhất

Trang 8

- Tạo 1 lớp học: gọn, đẹp, khang trang, trưng bày sản phẩm của HS để HS được thể hiện, được học,

- Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh; cho các em có những hoạt động vui tươi lành mạnh; hoạt động trải nghiệm…

3.3 Vận dụng các biện pháp trên vào tiết dạy Toán (T) hoặc Tiếng việt (T) ở buổi 2/ ngày

Do chương trình buổi 2/ ngày hiện nay là chương trình mở Vì thế tùy theo đối tượng và nhu cầu của HS/từng lớp, GV có thể lập kế hoạch tiết Toán (T), TV (T) linh hoạt để phù hợp với đối tượng HS của lớp mình

3.3.1 GV xây dựng thời lượng cho tiết T-TV (T)trong tuần:

- Có thể sắp xếp 1 tiết Toán và 1 tiết Tiếng Việt

- Hoặc có thể cả 2 tiết học Toán , hoặc có thể cả 2 tiết đều là Tiếng Việt ( xếp luân phiên các tuần với nhau sao cho phải đảm bảo thời lượng theo quy định của chuyên môn đề ra

3.3.2 Chọn nội dung dạy của tiết Toán (T) hoặc Tiếng việt (T)

a/ Ôn tập củng cố các kiến thức, kĩ năng của tiết học Toán hoặc Tiếng Việt ở buổi 1 b/ Ôn tập củng cố kiến thức, kĩ năng đã học theo chủ điểm, theo tuần ( môn TV); theo chương, theo mảng kiến thức, theo dạng bài ( môn Toán) đã học ở tuần trước

(Lưu ý: Nội dụng chọn phải phù hợp với đối tượng HS của lớp và có sự phân hóa đối tượng)

3.3.3 Tiến trình tiết dạy tiết Toán (T) hoặc Tiếng việt (T)

a/ Đối với bài củng cố các kiến thức kĩ năng của tiết dạy Toán hoặc Tiếng Việt ở buổi 1.

+ HĐ 1: Ôn lí thuyết cần đạt của tiết học Toán hoặc TV ở buổi 1.

+ HĐ 2: HDHS làm các bài tập củng cố kiến thức, kĩ năng đó theo yêu cầu từ dễ đến

khó Chú ý dạy phân loại đối tượng

b/ Đối với bài : Ôn tập củng cố kiến thức, kĩ năng đã học theo chủ điểm, theo tuần ( môn TV); theo chương, theo mảng kiến thức, theo dạng bài ( môn Toán).

+ HĐ1 Ôn tập tổng hợp các lí thuyết cần ghi nhớ của chủ điểm hoặc của chương, của

1 dạng bài

Trang 9

Môn TV: Ôn cả tập đọc, luyện từ và câu, tập làm văn.

Môn Toán: Ôn kiến thức trọng tâm của chương, cách giải của dạng toán cần ôn tập

( GV có thể khái quát bằng các công thức dạng tổng quát để HS dễ nhớ)

+ HĐ2 Tổ chức cho HS thực hành các kĩ năng cần đạt theo chuẩn KT-KN qua các

bài tập, câu hỏi phù hợp với đối tượng theo các hình thức khác nhau Có thể chọn các hình thức sau:

* Làm bài tập tự luyện và chữa bài

* Tổ chức cho HS thảo luận nhóm để thực hành kĩ năng cần đạt

* Tổ chức các sân chơi trí tuệ cho HS như Rung chuông vàng,

* Thi hùng biện.( Lưu ý các câu hỏi rõ ràng, có đáp án chính xác, thuộc nội dung ôn tập)

* Hoặc GV gộp 2 tiết tự chọn tổ chức một sân chơi trí tuệ: "Rung chuông vàng", " Đỉnh núi trí tuệ", HS vừa làm vừa giải thích cách làm, ôn lại lý thuyết

Cuối tiết học GV phải nhận xét, đánh giá tuyên dương HS theo đúng TT22/2016 Có thể động viên HS bằng những món quà nhỏ: bút chì, tẩy, thước kẻ

để HS có hứng thú vươn lên trong học tập

3.3 Một số ví dụ

Thiết kế bài dạy đối với các tiết dạy buổi 2

* Ví dụ minh hoạ : Tiếng việt(T)

- Tiết Tiếng việt (tăng) lớp 5: Bài ôn tập về đại từ, quan hệ từ ( M1: Dạy học theo từng lớp)

HĐ 1: GV có thể cho HS ôn tập về DT, ĐT, TT

- Đối với HS Chậm hoàn thành: GV chỉ cần đưa ra những ngữ liệu đơn giản dạng vận dụng thực hành kiến thức ở buổi 1, yêu cầu học sinh xác định đúng từ loại

VD: Gạch một gạch dưới danh từ, hai gạch dưới tính từ trong câu sau:

Quyển sách này rất đẹp (DT: quyển sách , TT: đẹp)

- Đối với HS năng khiếu: Từ việc giúp HS nhận biết cách phân loại dựa vào khái niệm đến việc chỉ ra những dấu hiệu về khả năng kết hợp của từng từ loại Cao hơn nữa là việc xác định từ loại của một từ nào đó trong câu khác nhau

Trang 10

VD: Chị ấy đang suy nghĩ (suy nghĩ là động từ)

Những suy nghĩ của chị ấy thật sâu sắc (suy nghĩ là danh từ)

- Ngoài DT, ĐT,TT các em còn vừa được học một số từ loại nào nữa?

Như vậy: Từ việc GV củng cố sâu hơn về DT, ĐT, TT, HS sẽ chuyển sang ôn tập về đại từ, quan hệ từ, để hoàn thiện mảng kiến thức về " Từ loại" ở lớp 4,5

+ HĐ2 Tổ chức cho HS thực hành các kĩ năng cần đạt theo chuẩn KT-KN qua các

bài tập từ dễ đến khó, các câu hỏi phù hợp với đối tượng theo về đại từ…

* Ví dụ minh hoạ tiết Toán (tăng) lớp 4: Luyện tập, củng cố giải toán dạng

bài: “ Tìm hai số khi biết Tổng và Hiệu của hai số đó”.( M2: dạy theo nhóm đối tượng)

- Phần đầu giáo viên chủ động ôn lý thuyết theo nội dung kế hoạch đã xây dựng: trong phần lí thuyết sẽ dành câu hỏi cho đối tượng học sinh Năng khiếu (có thể

mở rộng đối với đối tượng học sinh này)

- Phần bài tập áp dụng: giáo viên chủ động phân nhóm đối tượng: Nhóm đối tượng học sinh chậm hoàn thành; Nhóm đối tượng học sinh Năng khiếu từ đó giao lượng bài tập phù hợp với các đối tượng này, tuy nhiên phải đảm bảo cùng một nội dung kiến thức, đồng thời có hình thức chữa bài theo nhóm đối tượng

Phần lí thuyết

+ Cách vẽ sơ đồ

+ Công thức tìm số lớn trước

Số lớn = (Tổng + Hiệu) : 2

Số bé = Tổng - số lớn hoặc: Số bé = Số lớn – hiệu

+ Công thức tìm số bé trước:

Số bé = (Tổng – Hiệu) : 2

Số lớn = Tổng – số bé hoặc: Số lớn = Số bé + hiệu

- Học sinh chỉ áp dụng một lần công thức trong khi tính ( số bé hoặc số lớn)

Phần bài tập áp dụng:

- Đối với đối tượng học sinh Chậm hoàn thành:

Ngày đăng: 24/12/2021, 21:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w