1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG đề TÀI CÁC TÔN GIÁO NỘI SINH ở ấn độ

24 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 636,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính ở chốn địa linh nhân kiệt đó nhiều vĩ nhân ra đời như đức Phật Thích CaMâu Ni, Thánh Mahatma Gandhi, hiền triết Jiddu Krishnamurti, thi hào RabindranathTagore, v.v… và các tôn giáo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

KHOA QUỐC TẾ HỌC



TIỂU LUẬN HỌC PHẦN

VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG

ĐỀ TÀI: CÁC TÔN GIÁO NỘI SINH

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

6 BỐ CỤC NGHIÊN CỨU 2

PHẦN NỘI DUNG 3

1 ĐẠO HINDU 3

1.1 Quá trình hình thành 3

1.2 Kinh thánh 3

1.3 Đối tượng thờ cúng 3

1.4 Giáo phái 4

1.5 Luật lệ 5

1.6 Thánh địa 7

2 ĐẠO PHẬT 7

2.1 Quá trình hình thành 7

2.2 Giáo lý 8

2.3 Giáo phái 10

2.4 Luật lệ 11

3 ĐẠO JAINA 12

3.1 Quá trình ra đời 12

3.2 Giáo lý 13

3.3 Giáo điều 14

3.4 Giáo phái 15

3.5 Tôn chỉ đạo Jaina 15

3.6 Đền thờ của đạo Jaina 16

4 ĐẠO SILK 17

4.1 Quá trình hình thành 17

4.2 Giáo lý 17

4.3 Đối tượng thờ cúng 18

4.4 Kinh thánh 18

4.5 Luật lệ 18

4.6 Thánh địa 19

PHẦN KẾT LUẬN 20

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Khi nhắc đến Ấn Độ người ta thường nghĩ đến một đất nước được ví như là cái nôisản sinh một số tôn giáo lớn trên thế giới Câu nói “Địa linh sinh nhân kiệt” quảkhông sai Đất nước Ấn Độ có một vị thế địa lý rất đặc biệt Đó là lưng dựa vào dãy

Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ nhất thế giới, mặt nhìn ra Ấn Độ Dương biển cả mênh mông,lại còn có 2 con sông lớn là Ấn Hà và Hằng Hà như hai dòng sữa tươi nuôi một bìnhnguyên bao la và cũng là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp định cư vào thời cổđại Chính ở chốn địa linh nhân kiệt đó nhiều vĩ nhân ra đời như đức Phật Thích CaMâu Ni, Thánh Mahatma Gandhi, hiền triết Jiddu Krishnamurti, thi hào RabindranathTagore, v.v… và các tôn giáo, trường phái triết học lớn và lâu đời nhất thế giới đượchình thành như Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, Đạo Jaina, Đạo Sikh, v.v…

Có thể thấy được tôn giáo đã chiếm vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của dântộc Ấn Độ, luôn luôn chi phối sâu sắc cảnh quan văn hóa Ấn Độ về mọi phương diệnnhư tư tưởng, niềm tin, nghi lễ, phong tục tập quán, văn hóa, nghệ thuật Chứngminh cho điều này là số lượng những ngôi đền, thánh địa, nơi thờ tự, biểu tượng củacác thần, tính trường tồn của các truyền thống, tập tục, các cộng đồng tôn giáo và cáchình thức thực hành tinh thần phong phú và những ngày lễ tôn giáo cũng là nhữngngày mà người Ấn Độ coi là thiêng liêng và quan trọng nhất

Khi khảo sát về các tín đồ theo tôn giáo nội sinh ở Ấn Độ cho thấy rằng đạo Hindu(chiếm khoảng 83% dân số), đạo Sikh (chiếm 2%), đạo Phật (0,75%), đạo Jaina(0,5%) Tuy các đạo này có nhiều điểm khác nhau về quá trình hình thành, đối tượngthờ cúng, giáo lý giáo điều nhưng tất cả đều hướng tới một mục đích chung: mangmọi người đến gần nhau hơn Tất cả mọi người từ các tôn giáo và văn hóa khác nhaucủa Ấn Độ đoàn kết trong một thể thống nhất của tình huynh đệ và tình thương ởvùng đất hấp dẫn và đa dạng này

Qua quá trình tìm tòi nghiên cứu, nhóm chúng em xin đóng góp đề tài “Các tôngiáo nội sinh ở Ấn Độ” Việc tìm hiểu đã giúp chúng em có thêm những kiến thức bổích, hiểu rõ hơn về những tôn giáo được sản sinh từ Ấn Độ và rộng hơn là tinh hoavăn hóa mà Ấn Độ đã đóng góp cho nhân loại

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Trang 4

Cho đến nay, chủ đề “Các tôn giáo nội sinh ở Ấn Độ” đã được nhiều nhà sử học,học giả đề cập đến Tiêu biểu là các công trình sách của các tác giả như: Vũ DươngNinh với Lịch sử văn minh nhân loại (1997), Lịch sử văn minh thế giới (2000) hay LêPhụng Hoàng với Lịch sử văn minh thế giới (1999)

Những công trình trên chính là những nguồn tài liệu quý giúp nhóm chúng emhoàn thành bài tiểu luận này

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Mục đích: Đưa ra những hiểu biết về các tôn giáo nội sinh ở Ấn Độ

- Nhiệm vụ: Trình bày cụ thể các tôn giáo nội sinh ở Ấn Độ trên các mặt như:

quá trình hình thành, đối tượng thờ cúng, giáo lý, giáo điều, thánh địa Từ đóđưa đến kết luận về sự phát triển tôn giáo nội sinh ở Ấn Độ

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng: Các tôn giáo nội sinh.

- Phạm vi: Không gian: Ấn Độ Thời gian: Từ thế kỷ thứ IV TCN

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài tiểu luận được tham khảo từ các tài liệu và nguồn sách đáng tin cậy, đồng thờinhờ sự hướng dẫn của giảng viên bộ môn và các bài viết trên internet, sử dụngphương pháp nghiên cứu, tổng thuật, mô tả, suy luận và tổng hợp

6 BỐ CỤC NGHIÊN CỨU

- Lời mở đầu (2 trang)

Đạo Phật (5 trang)Đạo Jaina (5 trang)Đạo Silk (3 trang)

- Kết luận (1 trang)

- Tài liệu tham khảo (1 trang)

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

1 ĐẠO HINDU

1.1 Quá trình hình thành

Sau một thời gian hưng thịnh, đến khoảng thế kỉ VII, đạo Phật bị suy sụp ở Ấn

Độ Nhân tình hình đó, đạo Bàlamôn dần dần phục hưng, đến khoảng thế kỉ VIII, IXđạo Bàlamôn đã bổ sung thêm nhiều yếu tố mới về đối tượng sùng bái, về kinh điển,

về nghi thức tế lễ Từ đó, đạo Bàlamôn được gọi là đạo Hinđu, trước đây ta hay gọi

là Ấn Độ giáo

Ấn Độ giáo hay Hindu giáo là một tôn giáo, hệ thống tín ngưỡng và đạo pháp,hay cách sống, được thực hành rộng rãi ở tiểu lục địa Ấn Độ và một phần của ĐôngNam Á Ấn Độ giáo được coi là tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới, và một số họcviên và học giả gọi nó là Pháp Sanātana, "truyền thống vĩnh cửu", hay "con đườngvĩnh cửu", vượt ra ngoài lịch sử loài người Các học giả coi Ấn Độ giáo là hợp nhấthoặc tổng hợp của các nền văn hóa Ấn Độ khác nhau, với nguồn gốc đa dạng Quátrình "Tổng hợp Ấn Độ giáo" này bắt đầu phát triển từ 500 TCN đến 300 sau CN,sau khi kết thúc thời kỳ Vệ Đà (1500 đến 500 TCN) và phát triển mạnh trong thờiTrung cổ, với sự suy tàn của Phật giáo ở Ấn Độ

1.2 Kinh thánh

Kinh thánh của đạo Hinđu, ngoài các tập Vêđa và Upanisát còn có Mahabharata,Bhagavad Gita, Ramayana và Purana Mahabharata, Bhagavad Gita và Ramayana lànhững tập trường ca, còn Purana là tập truyện cổ nói về sự sáng tạo, sự biến chuyển

và sự hủy diệt của thế giới

1.3 Đối tượng thờ cúng

- Đối tượng sùng bái chủ yếu của đạo Hinđu vẫn là ba thần Brama, Siva và

Visnu

 Thần Brama: Được thể hiện bằng một hình tượng có 4 đầu để chứng tỏ thần

có thể nhìn thấu mọi nơi Bốn tập kinh Vêđa chính là được phát ra từ 4 cáimiệng của thần Brama

 Thần Siva: Được thể hiện thành hình tượng có mắt thứ ba ở trên trán, luôn

luôn cầm một cái đinh ba Siva thường cưỡi bò hoặc ngồi trên tấm da hổ, cónhững con rắn hổ mang quấn quanh cổ Thần Siva là thần phá hoại những thứ

Trang 6

mà thần Brama sáng tạo ra, nhưng Siva cũng có mặt sáng tạo Sự sáng tạo ấyđược thể hiện qua hình tượng Linga - Yoni mà nhân dân Ấn Độ sùng bái.

 Thần Visnu: Được quan niệm là đã giáng trần 9 lần Trong sáu lần đầu, thần

xuất hiện dưới dạng các động vật như cá, lợn rừng Đến lần thứ 7, thần Visnuchính là Rama, nhân vật chính trong sử thi Ramayana Lần thứ 8, thần Visnugiáng thế thành thần Krisna Thần Krisna thường bênh vực kẻ nghèo, chữabệnh cho người mù, người điếc và làm cho người chết sống lại Lần thứ 9,thần Visnu biến thành Phật Thích ca Đây là một biểu tượng chứng tỏ đạoHinđu có tiếp thu một số yếu tố của đạo Phật, đồng thời đây cũng là một thủđoạn để đạo Hinđu thu hút các tín đồ đạo Phật cải giáo theo đạo Hinđu Đếnkiếp thứ 10 tức là lần giáng sinh cuối cùng, thần Visnu sẽ biến thành thầnKali Đó là vị thần sẽ hủy diệt thế giới cũ tội lỗi, tạo dựng thế giới mới với đạođức trong sáng

- Ngoài các vị thần nói trên, các loài động vật như khỉ, bò, rắn, hổ, cá sấu, chim

công, vẹt, chuột v.v cũng là các thần đạo Hindu, trong đó được tôn sùng hơn

cả là thần khỉ và thần bò

1.4 Giáo phái

- Giáo phái Vishnu:

Giáo phái này chủ yếu sùng bái Vishnu (thần giữ gìn vũ trụ) và những hóa thâncủa thần này như Thiên nữ tốt lành, chim đại bàng cánh vàng, khỉ thần Hanôman,trâu thần Nmcát, v.v… Tín đồ của giáo phái này coi trọng sự trung thành đối vớithần, đa số họ đều theo chủ nghĩa khổ hạnh như ăn chay, cấm dục, v.v… Việc thờcúng được tín đồ Vishnu giáo tiến hành trong chùa, họ phản đối việc dùng động vậtlàm vật tế lễ Hiện nay, giáo phái này chủ yếu phổ biến ở miền Bắc Ấn Độ Vishnugiáo hình thành vào thế kỷ XI Người sáng lập và đặt cơ sở lý luận cho nó làRamanuja Theo ông, sự hợp nhất linh hồn của cá nhân với thần là con đường giảithoát chính Ngoài ra tín đồ còn phải thụ lễ theo Vishnu giáo, bày tỏ tình yêu tuyệtđối với thần, sống cuộc sống tu hành khổ hạnh và chấp hành nghiêm chỉnh những lễnghi cúng bái như là điều kiện để nhận được sự ân sủng của thần Môn đệ củaRamanuja là Ramananda đã tiếp tục phát triển Vishnu giáo Ông xây dựng nên Giáophái Rama Theo Ramananda, con đường giải thoát đối với tín đồ là việc bày tỏ tình

Trang 7

yêu đối với thần Rama và luôn nhắc thầm tên của thần này, là việc tắm trong ân huệcủa thần.

- Giáo phái Siva:

Giáo phái Siva Giáo phái này thờ cúng thần Siva (thần thứ ba được tín đồ Ấn Độgiáo thờ cúng, được coi là người phá hủy và xây dựng lại thế giới) Sankara là ngườiđặt cơ sở lý luận cho giáo phái này Siva giáo có nhiều phân nhánh khác nhau, trong

đó cần phải kể tới một số phân nhánh sau đây:

 Siva giáo ở Casmia phổ biến vào giữa thế kỷ XI, tuân thủ 64 loại kinh điển.Giáo phái này cho rằng nhờ sức mạnh thần bí mà Siva tạo ra linh hồn cá nhân

và những hiện tượng hữu hình đa dạng Linh hồn cá nhân cần phải nhận thứcnhiều lần thế giới hiện thực để hợp nhất với Siva và qua đó được giải thoát

 Linga giáo bắt đầu hưng thịnh sau sự suy thoái của Phật giáo và Giana giáo.Người sáng lập ra giáo phái này là Basaoa ở thế kỷ XII Giáo phái Linga phủđịnh quyền uy của kinh Vệ đà và thuyết nghiệp báo luân hồi, phản đối việctôn thờ oranh và tượng thần, phủ nhận chế độ đẳng cấp và những quy tắc hàkhắc đối với phụ nữ và sinh hoạt gia đình

 Giáo phái Thánh điển: Coi trọng sự nghiên cứu và tìm tòi lý luận, tuyên bố vũtrụ có ba dạng tồn tại cơ bản là thần Siva, linh hồn cá nhân và vật chất Vậtchất thể hiện dưới 36 loại hiện tượng hư ảo, nhưng do dốt nát nên con người

bị ràng buộc với vật chất (nghiệp), sa vào kiếp luân hồi Để được giải thoát thìcon người phải loại bỏ được sự dốt nát và nghiệp, giành được tình yêu củathần Siva, hợp nhất với thần Siva cùng với sức sống và tri thức vô hạn

1.5 Luật lệ

Hindu giáo rất coi trọng việc cúng tế và các lễ nghi tôn giáo Có thể chia cúng

tế của Hindu giáo ra làm hai loại là cúng tế trong gia đình và cúng tế nơi công cộng.Cúng tế trong gia đình có mục đích là tái sinh giống nòi, khi đó tín đồ năm loại tế làcúng tế Brahma (thực hiện vào tối và sáng, đọc kinh Vệ đà); cúng tế thần (trước bữa

ăn, đem thức ăn đổ vào lửa thánh, cúng tế lửa; cúng tế sinh linh (bố thí cho mọi sinhlinh, rắc cơm gạo để biểu thị lòng yêu thương; cúng tế tổ linh (dúng nước tưới rửacác vật cấm kỵ đề cầu được phù họ; cúng tế nhân gian (cúng dưỡng các tín đồ Bà lamôn giáo hoặc thết đãi khách Hindu giáo có 12 loại nghi lễ truyền thống, trong đó

có kết tóc (đánh dấu sự bắt đầu tuổi nhi đồng), gọt tóc (đánh dấu sự bắt đầu tuổi

Trang 8

thành niên), nhập pháp, kết hôn, lễ mai táng v.v… Tế lễ công cộng thường tiến hành

ở chùa hoặc nơi làm việc, nó bao gồm những công việc như đốt đèn ban đêm, hầuthần tắm rửa, cúng buổi trưa, đốt hương, dân hoa, đọc kinh buổi tối v.v…

Về tục lệ, đạo Hindu cũng hết sức coi trọng sự phân chia đẳng cấp Đến thời kìnày, do sự phát triển của các ngành nghề, trên cơ sở 4 đẳng cấp cũ (varna) đã xuấthiện rất nhiều đẳng cấp nhỏ mới gọi là Jati Những đẳng cấp nhỏ này cũng có sựphân biệt về địa vị xã hội rất khắt khe, đóng kín về mọi mặt và đời đời cha truyềncon nối Đặc biệt đạo Hindu hết sức khinh bỉ và ghê tởm tầng lớp lao động nghèokhổ phải làm các nghề bị coi là hèn hạ như quét rác, đồ tể, đao phủ, đốt than, đánh cáv.v Những người làm các nghề đó bị coi là những người ô uế, không thể tiếp xúcđược Nếu những người sạch sẽ nhỡ đụng chạm vào họ thì phải tẩy uế Nếu nhiễm

uế nhẹ thì chỉ cần vẩy nước thánh là được; nếu nặng thì phải rửa bằng nước tiểu bò,thậm chí phải uống một thứ nước gồm 5 chất của bò cái: sữa loãng, sữa đặc, bơ,nước tiểu và phân Đạo Hindu còn duy trì lâu dài nhiều tục lệ lạc hậu như tảo hôn, vợgóa phải hỏa táng theo chồng Nếu không tuẫn tiết thì phải cạo trọc đầu và ở vậy suốtđời không được tái giá Ngày nay các tục lệ đó đều đã bãi bỏ

Ngày nay, Ấn Độ giáo vẫn là tôn giáo mạnh và đầy sức sống ở Ấn Độ, đặcđiểm của nó là có rất nhiều niềm tin và cách hành đạo Những truyền thống của nókhởi nguyên từ khoảng năm 800 trước CN, hoặc thậm chí sớm hơn, và nó nhấnmạnh sự thống nhất của mọi sinh linh, tính tất yếu của việc tái sinh và việc thờ phụngnhiều vị thần khác nhau… Một số là những người vô thần Hoàn toàn không có giáo

lý hay đòi hỏi nghi thức, tính đa dạng của Ấn Độ giáo tự thể hiện trong vô số phongtục, truyền thống và văn chương Đạo Hindu không nhất quán Tôn giáo này cónhiều hình thức thờ cúng, không chỉ có hình thức của người Aryan, mà còn hình thứccủa những người Ấn Độ nguyên thủy Nó không có thiên hướng thờ một thần, màgắn bó với thiên hướng đa thần Một điểm khác biệt nữa giữa đạo thần bí Hindu vớiđạo Bà la môn (và cả với Cơ Đốc giáo) là lý tưởng sống ẩn dật xa lạ với đạo này Nókhông thôi thúc con người phải rời bỏ cuộc sống bình thường Hindu giáo mong đợicon người trải qua mọi thăng trầm trong tư tưởng và việc làm, nhưng vẫn tận tâm thờThượng Đế

Hindu giáo có một số ngày lễ quan trọng sau đây:

Trang 9

- Tết xuân là ngày tết lớn nhất của Hindu giáo, được tiến hành vào ngày trăngtròn trong tháng 2 hoặc 3 dương lịch Mục đích của lễ này là khác nhau: mừngmùa ngũ cốc bội thu ở Tây Ấn Độ, kỷ niệm những anh hùng hy sinh ởMatơra, sùng bái sự hoạt động của các Hắn thêin ở Bengalia Vào ngày này,tín đồ ca hát, nhảy múa, té nước hồng vào nhau để chúc mừng nhau.

- Tết tất niên được tiến hành vào ngày 4 trong tháng 10 dương lịch (đầu thángMão theo lịch Ấn Độ) Theo truyền thuyết thì đây là tết dành cho tầng lớpbình dân, nên còn gọi là tết trốn nợ, thương dân Vào ngày tết, tín đồ mặc áoquần mới, bạn bè thăm hỏi, chúc mừng nhau, tặng quà cho nhau, đốt pháo ănmừng

- Tết Song thập được tiến hành vào tháng 5 và 6 hàng năm Vào những ngàynày, tín đồ tắm gội trên sông Hằng để miễn trừ 10 đại tội là lời nói bẩn thỉu, lờinói bịa đặt, lời nói phỉ báng, lời nói khích bác, lời nói ám hại, sự mù quáng, sựham mê dâm dục, ý nghĩ ác độc, dục vọng, ngu muội, v.v…

- Tết lên xe được tổ chức vào tháng 5 hay 6 dương lịch, tại chùa Tracơnat ởthành phố Pôri Khi đó tín đồ mang tượng thần Tracơnat ra khỏi chùa, đặt lêncao, dạo quanh mấy vòng, sau đó đặt lại ở Ly Cung 14 ngày để cúng bái vàcuối cùng lại đưa về chùa cũ Tín đồ Vishnu giáo cho rằng việc cúng tếTracơnat cho phép họ thoát kiếp luân hồi

1.6 Thánh địa

Đối với người dân Ấn mà đa số là những người theo đạo Hindu thì Varanasi làthánh địa linh thiêng bậc nhất - thành phố của thần Shiva Varanasi là một thành phôthánh và là trung tâm trong suốt hàng ngàn năm của Hindu giáo nằm bên bờ sôngHằng ở bang Uttar Pradesh, Ấn Độ Thành phố Varanasi trước kia được gọi là

“Benares”, lịch sử còn gọi là “Gasi” (nơi ánh sáng của các vị thần chiếu rọi) Tươngtruyền, 6.000 năm trước thành phố” này do thần Shiva – một vị thần của Đạo Hindulập ra, bất kỳ người nào chết ở đây đều đến được với thần Shiva Từ thế kỷ thứ IVđến thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên, Varanasi đã trở thành trung tâm tôn giáo của

Ấn Độ…

2 ĐẠO PHẬT

2.1 Quá trình hình thành

Trang 10

Vào giữa thiên kỉ I TCN, ở Ấn Độ đã xuất hiện một số dòng tư tưởng chống đạoBàlamôn Đạo Phật là một trong những dòng tư tưởng ấy.

Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ vào thế kỷ VI TCN Không lâu sau khi ra đời Phậtgiáo đã lan tỏa mạnh mẽ sang các quốc gia khác thuộc khu vực châu Á Hiện nayPhật giáo có mặt ở khắp các châu lục và là một trong những tôn giáo lớn trên thếgiới

Đạo Phật do Đức Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni) sáng lập tại Ấn Độ cách đâyhơn 2.600 năm Ngài vốn là một hoàng tử, tên Siddhartha, con trai duy nhất của vuaSuddhodana và hoàng hậu Mahamaya Khi lớn lên, Ngài đã đính hôn với công chúaYasodhara và sinh hạ một nam tử tên là Rahula Sau khi nhận thấy rõ chân tướngkhổ đau của kiếp người sinh-lão-bệnh-tử Ngài đã quyết tâm vượt cung thành để tìmchân lý Trải qua năm năm tìm thầy học đạo, sáu năm khổ hạnh trong rừng già, saucùng Ngài đã thành đạo dưới cội Bồ-đề sau bốn mươi chín ngày thiền định Kể từ

đó, Ngài được gọi là Phật (Buddha) - con người đã giác ngộ, đã giải thoát khỏi vòngsinh tử luân hồi Sau khi giác ngộ, Ngài đã khởi sự truyền bá Chánh pháp - giáo lýđưa đến sự giác ngộ, giải thoát - và xây dựng giáo đoàn Tăng già (Sangha) trong suốtbốn mươi chín năm Sau 49 năm thuyết pháp độ sanh, năm 544 trước Tây lịch, Ngài

đã nhập Niết bàn (Nirvāna) vào năm tám mươi tuổi dưới tàng cây Sala, tại Kusinara

2.2 Giáo lý

Toàn bộ kinh điển của Phật giáo được tập hợp thống nhất trong ba tạng kinhđiển: Tạng Kinh, Tạng Luật, Tạng Luận:

- Tạng Kinh: Là phần kinh điển ghi lại những lời dạy của Thích Ca trong suốt

quá trình ông dẫn dắt giáo đoàn, du phương hoằng hóa và tuyên thuyết giáo lýcủa mình Kinh tạng Phật giáo được giới nghiên cứu và đệ tử Phật trên khắpthế giới tôn xưng là Pháp, được coi như hiện thân của Phật Thích Ca, đượctuyên thuyết từ “kim khẩu” của Thích Ca khi ông còn tại thế Kinh tạng củaPhật giáo không phải được viết ra ngay khi Thích Ca còn tại thế, mà nó đượctập hợp và viết thành sách sau khi Thích Ca nhập diệt Những lời dạy củaThích Ca không phải cùng một lúc, một chủ đề, với cùng một đối tượng màrất phong phú Thời gian dẫn dắt giáo đoàn của ông được giới nghiên cứu xácđịnh là 49 năm, như vậy, những ghi chép về lời dạy của ông cũng ròng rãtrong suốt quá trình đó

Trang 11

- Tạng Luật: Là những điều răn, giới cấm do Thích Ca chế ra trong suốt quá

trình hoạt động của tăng đoàn và trở thành quy định tổ chức và hoạt động củatăng đoàn Cũng như kinh tạng, không phải ngay một thời điểm mà luật tạngđược chế tác hoàn bị Nó được chế ra để điều chỉnh các hoạt động và để răncấm Mục tiêu của luật tạng là làm cho người tu tập dứt hết những việc làmxấu ác, tăng trưởng những hành động tốt lành

- Tạng Luận: là tập hợp những điều giảng luận do chính Thích Ca hay các đệ tửlớn của ông chế ra nhằm mục đích giải thích, bình luận, làm rõ các nội dungtrong Kinh tạng và Luật tạng Lý do luận tạng được sinh ra, vì những điềumục được nêu trong phần kinh tạng, hay luật tạng đôi khi quá súc tích, cầnphải diễn giải lại để dễ thụ nhận và thực hiện, cũng đôi khi vì lý do có nhiềucách hiểu một lời Thích Ca thuyết chế, nên cần có giảng giải kỹ để làm cơ sởđiều chỉnh hành động và việc tu tập của tăng đoàn

Kinh điển Phật giáo dù có ngàn vạn quyển và trải qua hơn 2000 năm vận động, phát triển khác nhau, nhưng tựu chung đều thu nhập trong những nội dung cốt lõi sau:

- Tứ diệu đế: là bốn nhận định mang tính chân lý chắc thật trong cuộc sống,

gồm:

 Khổ đế: Là nỗi khổ trong cuộc đời của mỗi con người Theo Phật, con người

có tám nỗi khổ: sinh, lão, bệnh, tử, gần kẻ mình không ưa, xa người mình yêu,cầu mà không được, khổ vì sự tồn tại của thân xác

 Tập đế: Là chân lý về nguyên nhân của các nỗi khổ Nguyên nhân chủ yếu làluân hồi, mà nguyên nhân của luân hồi là nghiệp, sở dĩ có nghiệp là do lòngham muốn như ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang Ham muốn khôngdứt thì nghiệp không dứt, nghiệp không dứt thì luân hồi mãi mãi

 Diệt đế là chân lý về sự chấm dứt các nỗi khổ Nguyên nhân của khổ đau làluân hồi, vì vậy muốn diệt khổ thì phải chấm dứt luân hồi Có như thế thì mớiđược yên tĩnh, thanh thản, sáng suốt và như vậy đã đạt tới cảnh giới Niết bàn

 Đạo đế là chân lý về con đường diệt khổ tức là phương pháp thực hiện việcdiệt khổ Phật giáo chỉ ra 37 phương cách hỗ trợ để đạt được sự an lạc, giảithoát, trong đó tập trung quan trọng nhất là tám con đường chân chính để đến

Trang 12

được với chính đạo gồm: Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp,chính mệnh, chính tịnh tiến, chính niệm, chính định.

- Thập nhị nhân duyên là 12 nhân duyên nối tiếp nhau, nhân - quả tương tục

không ngớt, mang tính quy luật chi phối cuộc sống con người Theo Phậtgiáo, 12 nhân duyên đó là: Vô minh - Hành - Thức - Danh sắc - Lục nhập -Xúc - Thụ - Ái - Thủ - Hữu - Sinh - Lão tử Trong đó, giáo lý Phật giáo nhấnmạnh bản chất sâu xa của đau khổ chính là vô minh Vì vô minh nên chấptrước vào mọi thứ là có thật vĩnh cửu, nên tạo nghiệp, vì tạo nghiệp nên chịukhổ Đây chính là giáo lý về Duyên khởi Lý Duyên khởi giải thích, vạn vậttrong vũ trụ tự nhiên, xã hội và tư duy con người, khi một thứ gì đó sinh ra làkết quả của sự kết hợp nhân và duyên mà thành Vũ trụ bao la, nên nhân -duyên cũng bao la và tác động vào nhau không ngừng nghỉ, Phật giáo gọi đó

là “trùng trùng duyên khởi” làm cho vũ trụ, xã hội, tư duy con người luôn vậnđộng và biến đổi

- Tam vô lậu học: Giới, Định, Tuệ Giới là thực hiện những điều răn cấm và

khuyến khích Định là tập trung cao độ thân và tâm khi thực hiện bất kỳ việc

gì để chuyên nhất, không tạp loạn phân tâm Tuệ là sự hiểu biết bản chất rốtráo đến cùng tột sự việc, vấn đề Muốn có trí Tuệ để nhận biết và vượt thoátđược vô minh, đạt cảnh giới an lạc thì cần phải Định Muốn không bị phântâm, tập trung thiền Định thì phải thực hành Giới Đó chính là quy trình của

sự tu tập Phật giáo

- Tam pháp ấn (3 dấu chỉ): Trong quan niệm của Phật giáo Nguyên thủy, điều

này thể hiện cốt tủy tinh thần Phật giáo, cụ thể là:

 Chư hành vô thường: Mọi vật trong vũ trụ tự nhiên, xã hội, tư duy con ngườiđều không vĩnh cửu hay đứng yên, mà nó luôn thay đổi, đó là vô thường

 Chư pháp vô ngã: Mọi vật chất trong tự nhiên, mọi sự việc trong xã hội, mọitrạng thái trong tư duy con người, không gì là tự nhiên mà có, tất cả đều donhân duyên giả hợp tạo thành, rồi lại do nhân duyên mà thay đổi

 Hữu lậu giai khổ: Trong đời sống thực tại, con người luôn phải đối diện vớinhững khổ đau theo những nội dung tám nỗi khổ mà giáo lý Phật giáo đã chỉ

ra Đó là một thực tế, không nên né tránh mà cần phải nhận biết rõ ràng nó đểtiến tới xóa bỏ nó

Ngày đăng: 24/12/2021, 19:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w