HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế ĐỀ TÀI: Phân tích quan điểm về vai trò của nhà nước của các trường phái kinh tế đề cao vai trò của
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế
ĐỀ TÀI: Phân tích quan điểm về vai trò
của nhà nước của các trường phái kinh tế đề cao
vai trò của nhà nước
Giảng viên hướng dẫn : Phạm Thị Nguyệt
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Dịu
Lớp : K22KTDNC
Mã sinh viên : 22A4020366
Hà Nội, ngày 15 tháng 1 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Các trường phái kinh tế đề cao vai trò của nhà nước
1.2 Bối cảnh lịch sử của các trường phái kinh tế đề cao vai trò của nhà nước PHẦN II PHÂN TÍCH NỘI DUNG
2.1 Quan điểm về vai trò của nhà nước của chủ nghĩa trọng thương
2.2 Quan điểm về vai trò của nhà nước của trường phái Keynes
PHẦN III ĐÁNH GIÁ
3.1 Đánh giá
3.2 Liên hệ thực tiễn
Trang 3MỞ ĐẦU
Xã hội loài người đã và đang trải qua các hình thái khác nhau Ở mỗi giai đoạn phát triển của loài người đều có những hiểu biết và cách giải thích các hiện tượng kinh tế
xã hội nhất định Việc giải thích các hiện tượng xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết đối với đời sống kinh tế xã hội loài người Lúc đầu, việc giải thích các hiện tượng kinh tế
xã hội bằng những hình thức tư tưởng kinh tế lẻ tẻ rời rạc , về sau mới trở thành những trường phái với những quan điểm kinh tế có tính hệ thống của những giai cấp khác nhau Cho đến ngày nay, nhiều trường phái kinh tế học đã xuất hiện với những đại biểu đưa ra những quan điểm khác nhau để lý giải các hiện tượng kinh tế xã hội Nhưng nhìn chung những lý giải này đều xoay quanh vai trò của nhà nước và thị trường trong nền kinh tế Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu những học thuyết kinh tế trong lịch sử để hiểu rõ thêm
về vai trò của nhà nước và vai trò của thị trường trong từng giai đoạn lịch sử cũng như về nền kinh tế hỗn hợp Và thực tiễn ở Việt Nam đang vận dụng lí thuyết kinh tế nào
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Bối cảnh lịch sử của trường phái trọng thương và trường phái Keynes
Chủ nghĩa trọng thương là tư tưởng kinh tế đầu tiên của chủ nghĩa tư sản, ra đời trước hết ở Anh vào khoảng những năm 1450, phát triển đến khoảng giữa thế kỷ XVII
và sau đó bị suy đồi Có thể nói nó ra đời trong bối cảnh hết sức thuận lợi khi mà phương
thức sản xuất phong kiến bắt đầu tan rã, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới ra đời Đây là thời kỳ tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản, tức là thời kỳ tước đoạt
bằng bạo lực nền sản xuất nhỏ và tích lũy tiền tệ ngoài phạm vi các nước Châu Âu, bằng cách cướp bóc và trao đổi không ngang giá với các nước thuộc địa thông qua con đường ngoại thương Kinh tế hàng hóa phát triển, thương nghiệp có ưu thế hơn sản xuất, tâng
Trang 4lớp thương nhân tăng cường thế lực Do đó, trong thời kỳ này thương nghiệp có vai trò rất to lớn Nó đòi hỏi phải có lý thuyết kinh tế chính trị chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động thương nghiệp Gia cấp tư sản lúc này mời ra đời, là giai cấp tiên tiến có cơ sở kinh tế tương đối mạnh nhưng chưa nắm được chính quyền, chính quyền vẫn nằm trong tay giai
cấp quý tộc, do đó chủ nghĩa trọng thương ra đời nhằm chống lại chủ nghĩa phong kiến Điều đáng chú ý nhất trong thời kỳ này là những phát kiến lớn về mặt địa lý như: Crixtop Colombo tìm ra Châu Mỹ, Vancodo Gama tìm ra đường sang Ấn Độ Dương, đã mở ra
khả năng làm giàu nhanh chóng cho nước phương Tây Thời kỳ xuất hiện chủ nghĩa
trọng thương là thời kỳ phục hưng, trong xã hội đề cao tư tưởng tư sản, chống lại tư tưởng đen tối của thời kỳ trung cổ, chủ nghĩa duy vật chống lại những thuyết giáo duy tâm của nhà thờ
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế chính trị thế giới cũng như
ở nước Anh có nhiều biến động lớn Chủ nghĩa tư bản phát triển một cách nhanh chóng,
lực lượng sản xuất phát triển mạnh cả về quy mô trình độ với tính xã hội hóa càng cao Với sự phát triển mạnh mẽ đó của chủ nghĩa tư bản thì đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế Các mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt Khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp lạm phát xảy ra và ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn Điều này đã
chứng tỏ “học thuyết tự điều chỉnh” của trường phái cổ điển mới,, lý thuyết bàn tay vô hình của A.Smith, và cân bằng tổng quát của Walras đã không còn phù hợp với tình hình mới nữa Trước hàng loạt các vẫn đề của kinh tế thị trường, chủ nghĩa tư bản đứng trước nguy cơ bị sụp đổ Điều này được đặt ra nhu cầu thực tiễn là phải có một học thuyết kinh
tế mới ra đời để bảo vệ chủ nghĩa tư bản đang gặp rất nhiều khó khăn, giúp chủ nghĩa tư
bản thoát khỏi khủng hoảng Cuối cùng là sự thành công của lý thuyết Mark và nền kinh
tế kế hoạch hóa trong thực tiễn ở Liên Xô vừa bắt buộc vừa tạo tiền đề cho các nhà tư sản nghĩ tới sự can thiệp nhiều hơn của nhà nước vào nền kinh tế Tất cả những hoàn cảnh đó
đã dần đến sự ra đời lý thuyết của trường phái Keynes
Trang 5PH ẦN II PHÂN TÍCH NỘI DUNG
2.1 Quan điểm về vai trò của nhà nước của chủ nghĩa trọng thương và trường phái Keynes
2.1.1 Quan điểm về vai trò của nhà nước của chủ nghĩa trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương rất đề cao vai trò của tiền vàng, họ coi tiền là thước
đo của sự giàu có Để có nhiều tiền họ dựa vào ngoại thương và đảm bảo nguyên tắc xuất siêu Để có xuất siêu thì nhà nước của chủ nghĩa này phải sử dụng các công cụ can thiệp như: thực hành chế độ thuế quan bảo hộ nhằm kiểm soát xuất và nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu và bảo vệ hàng hóa trong nước, bảo hộ sự phát triển của các xí nghiệp công trường thủ công Sử dụng công cụ luật pháp để ngăn cấm dòng tiền vàng chảy ra nước ngoài, quy định khi tàu buôn ra nước ngoài buôn bán thì không được phép mang hàng hóa trở về trong nước, chỉ được mang tiền về Đưa ra những chính sách hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi cho tư bản thương nghiệp hoạt động, “nội thương là một hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm, muốn tăng của cải phải ngoại thương dẫn của cải qua nội thương” (Montchretien) C.Mac viết: “Cái sự kiện là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản được đẩy nhanh … không phải là còn được gọi là tự nhiên, mà bằng những biện pháp cưỡng chế, quả thật là đặc trưng với tính tự tư tự lợi của tư nhân và của chủ xưởng thời bấy giờ và thật là phù hợp với thời kỳ phát triển TBCN mà họ (tức chủ nghĩa trọng thương) đại biểu
2.1.2 Quan điểm về vai trò của nhà nước của trường phái Keynes
Theo trường phái Keynes, nhà nước đã đưa ra 4 chính sách để cải thiện và khắc phục các khuyết tật vốn có của nền kinh tế là khủng hoảng, lạm phát và thất nghiệp Các chính sách đó là: chính sách đầu tư; chính sách tài chính tín dụng, tiền
tệ và thuế khóa; chính sách tạo việc làm và khuyến khích tiêu dùng cá nhân
Trang 6Đầu tiên chúng ta sẽ đi vào chính sách đầu tư Theo Keynes, để thoát khỏi khủng hoảng và giải quyết việc làm thì trước hết nhà nước phải có một chương trình đầu tư lớn với hai nội dung chính: Thứ nhất là, nhà nước phải trực tiếp đầu tư vào các chương trình công cộng bằng ngân sách nhà nước để thu hút việc làm Thứ hai là, nhà nước phải thông qua các chính sách và công cụ để khuyến khích tư nhân đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống thu mua của nhà nước, trợ cấp của nhà nước về tài chính tín dụng Mục đích của các chương trình đầu tư lớn này của nhà nước là nhằm sử dụng số tư bản nhàn rỗi và lao động thất nghiệp Số người được tuyển vào làm việc mới khi nhận được thu nhập sẽ lại tham gia vào thị trường tiêu dùng hàng hóa Do đó cầu hàng hóa tăng làm cho giá cả hàng hóa tăng dẫn đến hiệu quả của tư bản đầu tư cũng tăng theo Điều này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất Từ đó sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn giải quyết được vấn đề thất nghiệp cũng như tăng trưởng kinh tế và đẩy lùi khủng hoảng kinh tế
Theo Keynes, vai trò của hệ thống tiền tệ tín dụng, thuế là hết sức quan trọng Đây là những công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế rất có hiệu quả Theo ông,
để đạt được mục tiêu sử dụng hệ thống tài chính tín dụng tiền tệ nhằm kích thích doanh nhân đầu tư thì phải tăng thêm tiền mặt vào lưu thông, thực hiện “lạm phát
có điều tiết” một mặt tăng khối lượng tiền trong lưu thông để giảm lãi suất cho vay khuyến khích doanh nhân đầu tư mở rộng sản xuất Mặt khác lạm phát khi khối lượng tiền tệ trong lưu thông tăng và có lạm phát giá cả hàng hóa sẽ tăng lên do đó lợi nhuận của nhà tư bản sẽ tăng nếu chi phí chưa thay đổi Ông chủ trương in thêm tiền giấy để cấp phát cho nhà nước hoạt động và bù đắp thiếu hụt của ngân sách nhà nước, đây là nguồn bổ sung ngân sách cho những hoạt động đầu tư của nhà nước
Về phần việc làm, đối với Keynes, cân bằng tiết kiệm và đầu tư không phải
là vấn đề đơn giản với nền kinh tế mà được quyết định bằng nhiều yếu tố phức tạp
Trang 7ngoài lãi suất ra, và không có đảm bảo rằng hai yếu tố nhất thiết bằng nhau ở mức hoạt động kinh tế tạo ra việc làm vừa đủ Keynes lập luận, thất nghiệp chỉ có thể giải quyết hiệu quả bằng việc vận dụng tổng cầu Công nhân sẵn sàng chấp nhận việc tăng giá gây ra từ tăng cầu, dựa vào mức lương danh nghĩa ổn định Tăng như thế sẽ làm giảm tiền lương danh nghĩa, qua đó kích thích việc làm: việc làm không tăng, bằng cách giảm tiền lương thực tế, nhưng tiền lương thực tế giảm vì việc làm tăng do tăng tổng cầu Keynes không xem cơ cấu kinh tế của bộ phận tư nhân như một dự phòng đảm bảo an toàn chống lại nạn thất nghiệp kéo dài Sự cân bằng có thể tồn tại ở việc làm đủ có ít hơn Sự tồn tại của tiền lương và giá cả thay đổi đi xuống sẽ không đảm bảo có đủ việc làm Vì những hạn chế khác, nghĩa là những nhu cầu hình thức đầu cơ tiền mặt và hàm đầu tư, chính sách tiền tệ không hữu ích theo dự án Keynes lập luận trên cơ sở lý thuyết của ông cho rằng chính phủ nên dùng quyền hạn để đánh thuế và chi tiêu để ảnh hưởng chu kỳ kinh doanh Chi tiêu của chính phủ là khoản đầu tư công cộng bơm thêm vào dòng chảy thu nhập Chi tiêu của chính phủ có thể được lấy từ đánh thuế (làm giảm tiêu dùng, nhưng ít hơn
số thuế đánh), bằng việc bán trái phiếu cho quỹ dự trữ liên bang, hay bằng những biện pháp khác Ảnh hưởng sinh ra từ việc làm và thu nhập của tất cả những biện pháp thay thế này phải đánh giá, và sau đó phải có hành động đạt đến sự ổn định kinh tế Keynes không nghĩ khoản tiền đầu tư bơm vào đơn giản hay”kích thích kinh tế” là đủ Điều cần phải có là chương trình quy mô rộng và cos kế hoạch trong danh sách tài chínhnhiệm ý cũng tăng cường những yếu tố ổn định có sẵn(như đánh thuế lũy tiến) Tóm lại chính phủ phải sẵn sàng cung cấp điều kiện để có đủ việc làm
Về việc khuyến khích tiêu dùng cá nhân, Keynes không bất đồng về việc người ta nắm tiền vì mục đích giao dịch hay nhu cầu giao dịch liên quan đến thu nhập Thế nhưng ông lập luận rằng cá nhân nắm tiền ít nhất vì lý do quan trọng khác- đầu cơ vào thị trường trái phiếu Nói cách khác, Keynes lập luận, họ nắm
Trang 8tiền để đầu cơ vào thị trường trái phiếu Ông cho rằng lãi suất sẽ giảm(giá trái phiếu quá cao) đến mức làm cho mọi người tin rằng trái phiếu là đầu tư không phù hợp Tóm lại, tất cả đều muốn nắm giữ nhiều tài sản bằng tiền mặt hơn, xã hội coi việc nắm giữ trái phiếu là không an toàn và nắm giữ số dư tiền mặt thay vì mục đích đầu cơ Keynes cho rằng, dù lãi suất được quyết định bằng sự kết hợp các yếu
tố thực và tiền tệ trong hệ thống kinh tế, sự tồn tại của nhu cầu đầu cơ tiền có nghĩa
là cơ cấu qua đó tiền có ảnh hưởng đến thu nhập và việc làm trong hệ thống kinh tế không giản đơn và có thể dự đoán như các nhà kinh tế học cổ điển thường nghĩ Một trong những tác động của tiền tệ và chi tiêu, thu nhập, việc làm là thông qua ảnh hưởng của nó đối với lãi suất Lãi suất thấp khiến tiêu dùng hiện tại hấp dẫn hơn so với chi tiêu dùng kỳ hạn, nghĩa là tiết kiệm Điển hình, chính sách tiền tệ làm giảm lãi suất và bằng cách này làm tăng chi tiêu
PHẦN III ĐÁNH GIÁ
3.1 Đánh giá
Những luận điểm của chủ nghĩa trọng thương có rất ít tính chất lý luận và thường được nêu lên dưới hình thức những lời khuyên thực tiễn về chính sách kinh tế Lý luận mang đậm tính chất kinh nghiệm So sánh với những nguyên lý trong chính sách của thời
kỳ trung cổ thì quan niệm của chủ nghĩa trọng thương là một bước tiến bộ lớn Nó cắt đứt hẳn với những truyền thống chủ yếu thời trung cổ, trước hết là những truyền thống tự nhiên Nó đã từ bỏ việc tìm kiếm công bằng xã hội, những lời giáo huấn luận lý được trích dẫn trong kinh thánh Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên đánh giá quá cao những thành tựu về lý luận của chủ nghĩa trọng thương Những thành tựu đó rất bé nhỏ Chủ nghĩa trọng thương chưa thoát khỏi lĩnh vực lưu thông Khi đánh giá chủ nghĩa trọng thương, K.Mark viết: “Công trình nghiên cứu lý luận đầu tiên về phương thức sản xuất hiện đại- tức học thuyết trọng thương- nhất định phải xuất phát từ hiện tượng bề ngoài
Trang 9của quá trình lưu thông, khi những hiện tượng đó trở thành độc lập trong sự vận động của
tư bản thương nghiệp Vì vậy, học thuyết đó chỉ nắm cái vỏ bên ngoài của những hiện tượng Cái đó một phần do tư bản thương nghiệp là hình thái tồn tại tự do đầu tiên của tư bản nói chung khoa học thực sự của nền kinh tế hiện đại, chỉ bắt đầu từ lúc mà việc nghiên cứu lý luận chuyển từ quá trình lưu thông sang quá trình sản xuất K.Mark còn chỉ
ra rằng, chủ nghĩa trọng thương thế kỷ XV-XVI đã đi theo “cái hình thái chói lọi của giá trị trao đổi và đã đứng trên lĩnh vực thô sơ của lưu thông hàng hóa để xem xét nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
3.2 Liên hệ thực tiễn
Đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, trên cơ sở các chính sách của chủ nghĩa trọng thương cũng rút ra một số gợi ý cho chính sách của Việt Nam như: gợi ý
về giải quyết vấn đề tự do hóa thương mại hay bảo hộ mậu dịch, về chiến lược phát triển kinh tế sản xuất thay thế hàng nhập khẩu và sản xuất hướng về xuất khẩu cũng như về vai trò của Nhà nước điều tiết kinh tế và thúc đẩy phát triển ngoại thương Trong bối cảnh đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, những gợi ý này vẫn còn nhiều ý nghĩa và khả năng vận dụng vào quá trình phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, Việt Nam xuất phát từ nước kinh tế lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề từ chiến tranh nên thương mại của nước ta kém phát triển Trước đổi mới, do sai lầm trong
tư duy, nhận thức Đảng và nhà nước ta đã thực hiện chính sách đóng cửa nền kinh tế, mọi hoạt động của nền kinh tế đều nhỏ hẹp Chính điều này đã kìm hãm sự phát triển của đất nước, làm cho kinh tế tụt hậu quá xa so với thế giới Đến đại hội Đảng lần thứ 6 năm
1986, Đảng và Nhà nước quyết định chuyển đổi cơ cấu kinh tế, từ Kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
Trang 10mở cửa giao lưu kinh tế với nước ngoài Sau khi mở cửa, Việt Nam từng bước hội nhập với các tổ chức quốc tế trong khu vực và toàn cầu như ASEAN, APEC, WTO… Thứ hai, thực tiễn ở Việt Nam cũng cho thấy, nắm giữ vàng bạc không phải là chính sách hợp lý nhằm phát triển đất nước Quan niệm về một số quốc gia giàu có không chỉ là nước có nhiều quý kim mà là dân nước đó có cuộc sống sung túc, ấm no, khoa học công nghệ hiện đại, đem lại năng suất cao và giảm bớt cực nhọc cho người lao động Việt Nam là một nước đang phát triển có nguồn lao động dồi dào, nhưng loại lan hiếm về vốn và yếu về công nghệ Nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá,chúng ta cần nhiều vốn để nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ Để làm được như vậy, cần phải đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều lao động, những sản phẩm có lợi thế so sánh, để đổi lấy ngoại tệ dùng cho nhập khẩu Trong giai đoạn này, tình trạng nhập siêu tức là giá trị nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu là một điều khó tránh khỏi
Thứ ba, các chính sách điều tiết kinh tế và bảo hộ lao động thương mại tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước thâm nhập và mở rộng thị trường ra nước ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, đồng thời cũng bảo vệ thị trường nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước đứng vững và vươn lên trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đáp ứng yêu cầu tăng cường lợi ích quốc gia Việt Nam cũng
đã thực hiện những chính sách hướng đến xuất khẩu như miễn giảm thuế, tạo điều kiện
về tín dụng cho các doanh nghiệp và hộ gia đình sản xuất hàng xuất khẩu, quảng bá
thương mại thông qua kênh ngoại giao… Chính phủ cũng sử dụng hàng rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch đối với các ngành công nghiệp non trẻ như công nghiệp sản xuất thép, công nghiệp sản xuất ô tô… Bằng cách đánh thuế cao các sản phẩm hoàn chế như xe ô tô nguyên chiếc, các mặt hàng xa xỉ, nhưng lại đánh thuế thấp đối với các hàng hóa trung gian Tuy nhiên, bảo hộ sẽ có mặt trái của nó gây thiệt hại cho nhà nước và người tiêu dùng; hoặc nếu chính sách bảo không hợp lý sẽ dẫn đến tâm lý "ỷ lại" của các doanh nghiệp sản xuất trong nước mà không tự mình tăng cường năng lực cạnh tranh như ngành