Tiểu luận vận dụng quy luật giá trị thặng dư vào mô hình kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa và những thành tựu, hạn chế. Tài liệu này được điểm 9 trong bài luận cuối kì trường Đại học khoa học tự nhiên Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
GVHD: PHAN ĐẶNG XUÂN QUÝ
Sinh viên thực hiện Phan Thị Phương………20000760
Tp Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2021
Trang 3Lời mở đầu
Kinh tế của thời Bao cấp kéo dài tới cuối năm 1986 đã chuyển sang kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là nền kinh tế nhiều thành phần, chiếm phầnchủ đạo nắm giữ nền sản xuất là kinh tế nhà nước, nhằm mục tiêu phát triển đất nước.Xét về mặt kinh tế của Việt Nam, đây là quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong việchọc hỏi, dưới sự dẫn dắt của tổ chức Liên hợp quốc , Quỹ tiền tệ,… kinh tế Việt Nam
đã đi lên một cách vượt bậc, song bên cạnh đó, dưới sự điều hành của Đảng và nhànước, vẫn còn rất nhiều vấn đề còn tồn đọng gắn liền vs bất ổn kinh tế của nền tư bảnchủ nghĩa ở miền Nam đã ăn sâu vào gốc rễ, điều đó làm nguy cơ lạm phát và đình trệkinh tế xảy ra ngày càng nhiều
Trong chương 3 và chương 5 của giáo trình kinh tế chính trị, chúng ta đã đượchiểu sâu về Quy luật giá trị thặng dư, đây là quy luật cơ bản của nền sản xuất hànghoá, nó là bản chất, là gốc rễ của sản xuất hàng hoá Ở đâu có sản xuất và việc traođổi hàng hoá thì ở dó có quy luật giá trị thặng dư Ở đâu có buôn bán thì đều chịu quyluật của giá trị thặng dư Chính vì sự tác động không hề nhỏ đến thị trường, chúng tacần nghiên cứu giá trị thặng dư là gì và bản chất của nó như thế nào mà lại có thể ảnhhưởng sâu đến nền kinh tế sản xuất đến vậy, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiệnnay, để có thể vận dụng nó một cách triệt để để khắc phục nhược điểm và đưa đấtnước phát triển đi lên Vì vậy, để làm rõ vấn đề trên, em quyết định chọn đề tài “Quyluật giá trị thặng dư trong CNTB vào mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCNcủa nước ta hiện nay”
Em xin cảm ơn sự hướng dẫn và dạy dỗ tận tình và chu đáo qua các bài giảng củathầy Phan Đặng Xuân Quý Rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy để bài tiểu luậncủa em có thể hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I; NỘI DUNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN………4
I Nội dung của quy luật giá trị thặng dư:……… 4
1 Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản……… 4
2 Hàng hoá- sức lao động……….6
3 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản………6
II Sự cần thiết vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay……… 8
PHẦN 2: KHÁI NIỆM KINH TẾ THỊ TRƯỜNG……….9
1 Kinh tế thị trường……….9
2 Hệ thống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ………9
PHẦN 3; THỰC TRẠNG VẬN DỤNG GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN VÀO MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM………10
1 Phương hướng vận dụng giá trị thặng dư trong CNTB vào mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam……… 10
2, Thực trạng hiện nay………15
3, Thành tựu và hạn chế của việc vận dụng giá trị thặng dư trong CNTB vào mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam………17
PHẦN 4: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TRONG VIỆC VẬN DỤNG GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀO MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM……… ………21
Trang 5NỘI DUNG
PHẦN I; NỘI DUNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
I Nội dung của quy luật giá trị thặng dư:
Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và người lao động có mối quan hệ hữu
cơ với nhau Giá trị thặng dư phản ánh giá trị do lao động của công nhân làm thuê ra,ngoài sức lao động bị chiếm đoạt không công, nó còn chỉ ra nguồn gốc làm giàu củacác nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là cơ sở để chủ nghĩa tư bản được tồn tại.Theo V.I.Lenin, lý luận giá trị thặng dư là “ hòn đá tảng của học thuyết kinh tế Marx”
và học thuyết kinh tế Marx là “ nội dung căn bản của chủ nghĩa kinh tế Marx” Để đạtđược lợi ích tối đa, kết hợp với tư liệu sản xuất, nhà tư bản chỉ trả một phần sức laođộng dựa trên tiền lương và bóc lột giá trị thặng dư sáng tạo ra trong quá trình sảnxuất Bởi vậy, giá trị thặng dư quyết định đến sự phát triển của xã hội, là gốc rễ củaquá trình sản xuất
Từ giữa TK XVII, các nhà kinh tế học tư sản đã nghiên cứu xem giá trị thặng dư tạo
ra như thế nào, nhưng họ đều phạm phải một sai lầm “ Là không xét giá trị thặng dưdưới dạng thuần tuý, mà xét dưới dạng hình thái đặc thù là lợi nhuận và địa tô” Như
W Petty và trường phái trọng nông Pháp đã coi địa tô là giá trị thặng dư, A Smithtuy có mở rộng nhưng ông không coi bản thân giá trị thặng dư có hình thái đặc biệtkhác với địa tô và lợi tức Về sau D.Ricardo cũng nghiên cứu sâu thêm đặc thù nàynhưng ông chỉ chú ý đến lượng, lợi tức, địa tô và vẫn không phát hiện ra phạm trùchung - giá trị thặng dư Điều dễ hiểu là họ lẫn lộn giữa gái trị thặng dư với các hìnhthái kinh tế cụ thể như lợi nhuận, lợi tức và địa tô
1 Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản
Mọi tư bản lúc đầu chỉ được biểu hiện ở hình thái nhất định, nhưng bản thân nó khônghoàn toàn là tư bản khi chưa có sự bóc lột sức lao động của người khác
Trang 6Nếu tiền được dùng để mua hàng hoá thì chúng là phương tiện của lao động hàng hoá:Hàng- Tiền- Hàng ( H−T −H ) nghĩa là sự chuyển hoá hàng thành tiền tệ rồi tiền tệ lạichuyển thành hàng Còn tiền dưới dưới tay của tư bản lại được vận động theo: Tiền-Hàng-Tiền (T −H−T) tức là chuyển hoá tiền thành hàng, và lại chuyển ngược lạithành tiền Do mục đích lưu thông hàng hoá của tư bản là giá trị tăng thêm, nên sốtiền thu được phải lớn hơn số tiền ứng ra nên công thức này được chuyển thành
T −H−T '(T '
=T +t với t là số tiền trội hơn số tiền ứng ra.) C Marx gọi đó là giá trịthặng dư với sự lớn lên của t là không có giới hạn và đây chính là công thức chungcủa tư bản
Marx đã nói rằng: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuấthiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời khôngphải trong lưu thông” Đầu tiên, xét trường hợp trao đổi ngang giá, giá trị thặng dưkhông được tạo ra vì tổng giá tiền ứng ra và thu vào đều không thay đổi, tuy nhiên, cảhai bên đều có lợi vì có được những hàng hoá thích hợp và được trao đổi để phù hợpvới nhu cầu của mình Thứ hai, nếu xét trường hợp trao đổi không ngang giá, trườnghợp thứ nhất, nếu giả định mọi người đều bán hàng hoá cao hơn giá trị, trong thực tếkhông có người tư bản nào chỉ là người bán mà không phải là người mua, nhà tư bảnbán đắt nhưng lại phải mua vào với giá đắt, vậy nó không hề mang lại chút giá trịthặng dư nào Trường hợp thứ hai, giả định mọi người đều mua hàng hoá thấp hơn giátrị, người ta phải bán giá thấp hơn giá trị thì người tư bản mới mua, điều này chứng
tỏ giá trị thặng dư vẫn không được đẻ ra Trường hợp thứ ba là một số kẻ giỏi bịpbợm, mua rẻ bán đắt, nếu xét riêng bản thân họ thì họ là những người được lợi,nhưngnếu xét chung cả xã hội, giá trị thặng dư thu được lại chính là cái người khác mất đi,đây không phải là cách làm giàu phổ biến của giai cấp tư sản Như vậy lật đi lật lại,giá trị thặng dư không thể xuất hiện trong lưu thông, không thể làm tăng giá trị đượckhi trao đổi ngang giá hay không ngang giá Phải chăng giá trị thặng dư lại được sinh
ra ở ngoài lưu thông, nếu như người trao đổi hàng hoá vẫn đứng một mình với hàng
Trang 7hoá của anh ta thì giá trị hàng hoá đó không hề tăng lên, cũng không hề mất đi, cònnếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm giá trị mới cho hàng hoá thì vẫn phải tạo rabằng sức lao động của mình Đây chính là mâu thuẫn trong công thức chung của tưbản, vấn đề ở đây là người có tiền phải tìm thấy thị trường một hàng hoá đặc biệt nào
đó, và đó nguồn gốc của mọi hàng hoá - sức lao động
2 Hàng hoá- sức lao động:
Giá trị hàng hoá sức lao động giống với giá trị hàng hoá thông thường, nó phản ánhmột lượng lao động hao phí nhất định để tạo ra nó, nhưng có điểm khác biệt là hànghoá sức lao động là sự hao phí lao động gián tiếp thông qua việc tạo ra vật phẩm đểnuôi sống chính người công nhân đó và nó cũng khác với hàng hoá thông thường ởchỗ: khi đem tiêu dùng hay sử dụng nó thì không những không bị tiêu biến theo thờigian và giá trị của nó ngược lại lại tạo ra lượng giá trị mới: c +m ( c +m>v, với v là giátrị sử dụng của bản thân nó), khoản lớn lên được sinh ra trong quá trình sử dụng giátrị lao động chính là t hay còn gọi là giá trị thặng dư
Từ đó Marx đưa ra kết luận: “Hàng hoá sức lao dộng là nguồn gốc tạo ra giá trị hơnthế nữa nó còn tạo ra giá trị thặng dư cho các nhà tư bản, sức lao động càng đem tiêudùng hay sử dụng thì người công nhân càng tích trữ được nhiều kinh nghiệm, càngnâng cao năng suất lao độngg, điều đó sẽ làm giảm tiền lương mà các nhà tư bản đãtrả cho họ
3 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản
Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là hợp nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sửdụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động công nhânlàm thuê Quá trình sản xuất trong xí nghiệp tư bản cũng là quá trình tư bản tiêu dùngsức lao động và tư liệu sản xuất Và giá trị thặng dư là phần giá trị mới ngoài giá trịsức lao động do công nhân làm thuê tạo ra mà các nhà tư bản chiếm không, cái quátrình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị kéo dài vượt quá điểm
Trang 8mà ở đó giá trị sức lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại bằng một vật ngang giámới Thứ hai, ngày lao động của công nhân được chia thành hai phần, là thời gian laođộng cần thiết - phần thời gian lao động mà công nhân tạo ra giá trị ngang với giá trịsức lao động của mình, và thời gian lao động không cần thiết- đó chính là thời gianlao động thặng dư tăng lên một cách tuyệt đối, vì thế giá trị thặng dư cũng tăng lên.Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động.Dưới chủ nghĩa tư bản, thứ hàng hoá đặc biệt này phải tồn tại dưới dạng cơ thể sốngnên cần sinh hoạt và nghỉ ngơi lấy sức lao động, mà giai cấp tư sản lại luôn tìm cách
để lấy lại thời gian lao động lớn nhất để tạo ra phần giá trị thặng dư cao nhất Điều đótất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư bản phải rútngắn thời gian lao động trong ngày
Chính vì vậy, các nhà tư bản đã nghĩ ra một cách bóc lột mới, đó là chuyển sang hìnhthức bóc lột giá trị thặng dư tương đối - bằng cách rút ngắn thời gian lao động cầnthiết để trên cơ sở đó kéo dài trong thời gian lao động thặng dư, tăng năng suất laođộng, mà điều kiện độ dài ngày lao động là không đổi
Theo lý luận của Marx, lao động sống chính là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư mới,trong đó một bộ phận giá trị sản phẩm tạo ra sẽ bù đắp lại giá trị sức lao động mà nhà
tư bản trả cho công nhân Quá trình tích luỹ tư bản càng dẫn đến mâu thuẫn xã hộihoá ngày càng cao giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản
Để thích nghi với điều kiện phát triển mới trong xã hội ngày nay, sản xuất giá trịthặng dư có nhiều điểm mới Thứ nhất, do áp dụng công nghệ sản xuất nên giá trịthặng dư được tạo ra chủ yếu nhờ tăng năng xuất lao động, thứ hai, ngày nay xã hộicần nhiều lao động trí thức , điều đó dẫn đến lao động giản đơn và cơ bắp giảm xuống
và giá trị thặng dư tăng lên, thứ ba, sự bóc lột của các nước tư bản phát triển trênphạm vi quốc tế bằng nhiều hình thức khác nhau: xuất khẩu hàng hoá tới các nướckém phát triển
Trang 9II Sự cần thiết vận dụng học thuyết giá trị thặng dư trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay:
Cần phải khẳng định rằng chiếm đoạt giá trị thặng dư là xấu so với chế độ không cóngười bóc lột người như chúng ta đang hướng đến Nước ta lựa chọn con đường đi lênchủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát là nước tiền nông, nghĩa là từ một nước chưa cónền kinh tế hàng hoá Nước ta chưa trải qua sự ngự trị của nền kinh tế tư bản chủnghĩa, nhưng nền kinh tế nước ta lại là nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội nên
“cách tổ chức kinh tế xã hội” cũng mang tính quá độ, nghĩa là nền kinh tế đó vừa cólợi ích của nhân dân, vừa có lợi ích mang tính cá nhân Nhưng dù là kinh tế hàng hoáhay cách thức nào đi nữa thì sản phẩm tạo ra đều là giá trị thặng dư, mặc dù chúngphản ánh những quan hệ đối lập nhau, trong đó giá trị thặng dư phản ánh mối quan hệbóc lột và bị bóc lột vẫn được coi là trợ thủ của chủ nghĩa xã hội, vẫn là cái có ích vàđáng mong đợi
Ngày nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ ràng hơn quan điểm: “Sản xuất hàng hoákhông đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhânloại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khichủ nghĩa xã hội được xây dựng” Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cảtrong chủ nghĩa xã hội vẫn còn phạm trù giá trị thặng dư, vì thế chúng ta có thể họctập và phát triển giá trị thặng dư như một món quà mà thế hệ đi trước và những nướctiên tiến đã trải nghiệm và truyền đạt lại Chúng ta nghiên cứu để khẳng định sự đúngđắn của giá trị thặng dư chứ không phải kỳ thị thành phần kinh tế tư nhân, trái lại,hiểu rõ nó, chúng ta có thể đầu tư một cách hợp lý để phục vụ cho sự nghiệp xây dựngchủ nghĩa xã hội ở một nước kém phát triển đang ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội
Trang 10Khuyến khích kinh tế tư nhân không phải là thủ đoạn “vỗ béo làm thịt” không phải dụ
tư nhân bỏ vốn ra, để phát triển kinh doanh rồi lại “dẹp” như trước đây, lại càngkhông phải hướng kinh tế tư nhân theo con đường chủ nghĩa tư sản Đây không phảikhoản “cống nộp cho nhà nước” mà là “học phí” để có cơ hội tiếp xúc với trang thiết
bị tiên tiến, với công nghệ hiện đại, với phương pháp tổ chức quản lý tối ưu, có hiệuquả Hiện nay, GDP của kinh tế tư nhân chiếm 60% và thu hút 91% lao động việc làmtrong cả nước, có thể thấy mức độ phủ sóng của nền kinh tế tư nhân cực lớn và đây cóthể là hướng đi đúng đắn cho nước ta bây giờ và sau này
PHẦN 2: KHÁI NIỆM KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 Kinh tế thị trường Kinh tế thị trường là nền kinh tế mà người mua và người bán trao đổi lẫn nhau theo
quy luật cung - cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Có rất nhiều đặc điểm phản ánh sự giao thoa, chuyển tiếp và đan xen giữa các
mô hình nhưng chủ yếu là 3 mô hình sau:
- Mô hình kinh tế thị trường tự do
- Mô hình kinh tế thị trường - xã hội
- Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ( ở Việt Nam)
Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện mới đang được thực thi
ở 2 nước: Việt Nam ( kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ) và Trung Quốc( kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa) Thời gian tồn tại của mô hình này chỉ hơn ¼ thế
kỷ thử nghiệm nhưng thực nghiệm đã chứng minh, đây là mô hình chứng tỏ sự kỳvọng to lớn và có triển vọng cực kỳ tốt trong tương lai gần
2 Hệ thống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ nhất, là một nền kinh tế hỗn hợp, vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa có sựđiều tiết nhà nước, các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường được quan tôntrọng Các nghề mạch máu trọng yếu được nhà nước quản lý Các thông lệ quốc tế
Trang 11trong quản lý và điều hành kinh tế được vận hành theo các điều luật kinh tế xã hội chủnghĩa.
Thứ hai, là một nền kinh tế đa dạng về hình thức sở hữu, nhưng khu vực kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành cánhtay đắc lực của nền kinh tế, trong đó đất đai - tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu toàndân
Thứ ba, là nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, nhanh chóng hội nhập, tuy mô hìnhnày phát triển một cách nhanh chóng nhưng không bao giờ được quên nhiệm vụ trọngyếu là bảo vệ môi trường
Thứ tư, việc phân phối ngành nghề và nhân lực được thực hiện theo “làm theo nănglực, hưởng theo lao động” Việc phân bổ nguồn lực được tiến hành theo hướng nângcao hiệu quả, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các địa phương, phát triển kinh tếgắn với tiến bộ, công bằng xã hội
PHẦN 3; THỰC TRẠNG VẬN DỤNG GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG CHỦ NGHĨA
TƯ BẢN VÀO MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
1 Phương hướng vận dụng giá trị thặng dư trong CNTB vào mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam:
Khi nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư của Marx trong điều kiện xã hội hiện nay,Lenin đã dặn: “Chúng ta không hề coi lý luận của Marx như là một cái gì xong xuôihẳn và bất khả xâm phạm, trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng chomôn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọimặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống” Ngày nay, học thuyếtgiá trị thặng dư vẫn còn nguyên giá trị và vẫn mang ý nghĩa trọng yếu trong sự nghiệpxây dựng nền kinh tế trong thời lỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Học thuyết giá trịthặng dư được vận dụng theo các hướng sau:
Trang 12Thứ nhất, học thuyết giá trị thặng dư là một kho tàng, điều quan trọng là chúng ta phảibiết khai thác những di sản trong kho tàng ấy - ở đây nói về nền kinh tế hàng hoá.Học thuyết giá trị thặng dư của Marx được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu sự pháttriển lợi nhuận của tư bản chủ nghĩa, song song với nó là lịch sử của nền sản xuấthàng hoá, đặc biệt là nền kinh tế hàng hoá tư bản Cho nên, chính Marx là người tiênphong và là nhà khảo cổ học đào bới những vết tích về thị trường, đưa ra những bàiphát biểu sâu sắc về thị trường Nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa - là nước đang pháttriển, nền kinh tế hàng hoá vận động theo hướng kinh tế nhiều thành phần và dựa theo
cơ chế thị trường để tồn tại, trong đó có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xãhội chủ nghĩa, mặc dù nền kinh tế nước ta có những đặc điểm riêng của nó, song, đã
là sản xuất hàng hoá thì ở đâu cũng mang tính phổ biến, cũng mang giá trị và giá trịthặng dư, điều khác nhau là trong nền xã hội khác nhau thì bản chất của giá trị và giátrị thặng dư cũng khác nhau , do vậy, việc nghiên cứu đặc thù của nền sản xuất hànghoá tư bản, nghiên cứu những phạm trù, đặc tính của nền sản xuất hàng hoá tư bảnchủ nghĩa mang ý nghĩa thức tiễn ở nước ta hiện nay
Khi phân tích sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, Marx nói rằng mọi hoạt động sảnxuất của tư bản chủ nghĩa đều xoay quanh việc tận dụng phương tiện bóc lột nhằmkhai thác tối đa hết sức lao động để đạt được lòng tham về giá trị thặng dư, do đó,việc kéo dài thêm ngày lao động, tăng cường lao động hay việc cải tiến thiết bị mới,ứng dụng máy móc tiên tiến để tăng năng xuất lao động là bàn đạp để thu hút nhiềuhơn nữa giá trị thặng dư, nguồn gốc làm giàu của giới tư sản Trong những yếu tố sảnxuất hàng hoá ( sức lao động và tư liệu sản xuất ), thì sức lao động chiếm vai trò cơbản nhất, còn tư liệu sản xuất chỉ là phương tiện cho quá trình sản xuất đó Nếu trong
xã hội tư bản, các nhà tư sản đã tận dụng tối đa tư liệu sản xuất để tăng hiệu quả bóclột thì trong xã hội Việt Nam, nó phải được phát huy hết tiềm năng để tăng năng xuấtlao động- đây là yếu tố quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Nhưng yếu tốthực sự và quan trọng nhất để tạo ra của cải, giá trị và giá trị tăng thêm là người laođộng, họ là yếu tố năng động, sáng tạo nhất của lực lượng sản xuất, từ cổ chí kim,