Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng lợi khi xây dựng được một nền sản xuất hiện đại, dựa trên một cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, có năng suất lao động cao hơn hẳn chủ nghĩa tư bản. Do đó, khi đất nước Xôviết bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, V.I.Lênin đã coi công nghiệp hóa là bước đi quan trọng và đầu tiên để xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Người xác định, cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Công nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa xã hội của đất nước lên trình độ mới. Đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa có vai trò tạo điều kiện, tiền đề vật chất kỹ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội, công nghiệp hóa có nội dung và bước đi cụ thể, phù hợp. Nhìn vào thực tế nước ta dưới ách áp bức, đô hộ của thực dân Pháp và sự phá hoại của đế quốc Mỹ đã làm cho nền kinh tế trở nên cạn kiệt, nghèo nàn lạc hậu, tài nguyên kiệt quệ, đất đai bị tàn phá nặng nề. Hơn nửa triệu người dân đã ngã xuống, làng mạc ruộng đồng bị tàn phá nặng nề. Trước tình hình cấp bách đó, dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác Lênin Đảng ta đã khẳng định muốn cải biến tình trạng lạc hậu của nước ta thì phải chọn con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Sau ngày đất nước thống nhất (1975), quá trình tiếp quản miền Nam đã giúp điều chỉnh phương hướng và phương thức xây dựng nước Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hóa. Kể từ sau quá trình đổi mới (1986), Đảng ta đã chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội kết hợp với cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước và đặt mục tiêu đến năm 2020 sẽ đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Kể từ đó chúng ta đã gặt hái được những thành tựu đáng kể trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu trở thành nền kinh tế đang phát triển, vị thế Việt Nam trên thế giới đã hoàn toàn thay đổi, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đảng ta xác định cùng với những nhân tố khác, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong những giải pháp quyết định đưa nước ta sớm thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, khắc phục nguy cơ tụt hậu về kinh tế, tiến kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời cải thiện đời sống của nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh, củng cố vững chắc độc lập chủ quyền của Tổ quốc. Chỉ có con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa mới đưa nước ta trở nên giàu mạnh, đồng thời xây dựng được một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ đó rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu. Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đưa tới nền kinh tế thông minh và đang phát triển rất mạnh mẽ, mang đến cơ hội phát triển cho mọi quốc gia. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra những trở ngại, thách thức lớn đối với mỗi nền kinh tế. Các thành tựu khoa học công nghệ trong cách mạng công nghiệp 4.0 làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông giá rẻ ngày càng mất lợi thế. Việc làm rõ những vấn đề đặt ra và đưa ra những định hướng, giải pháp cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư thời gian tới là cấp bách và thiết thực. Đó là những lí do để em chọn đề tài tiểu luận “Thực trạng, giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam’’.
Trang 1Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, chủ nghĩa xã hội chỉ cóthể thắng lợi khi xây dựng được một nền sản xuất hiện đại, dựa trên một cơ sởvật chất kỹ thuật tiên tiến, có năng suất lao động cao hơn hẳn chủ nghĩa tưbản Do đó, khi đất nước Xô-viết bước vào thời kỳ khôi phục và phát triểnkinh tế, V.I.Lê-nin đã coi công nghiệp hóa là bước đi quan trọng và đầu tiên
để xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội Người xác định, cơ sở vậtchất duy nhất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năngcải tạo cả nông nghiệp
Công nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu củaquá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa - xãhội của đất nước lên trình độ mới Đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xãhội, công nghiệp hóa có vai trò tạo điều kiện, tiền đề vật chất - kỹ thuật chochế độ xã hội chủ nghĩa Ở mỗi thời kỳ lịch sử, căn cứ vào tình hình kinh tế -
xã hội, công nghiệp hóa có nội dung và bước đi cụ thể, phù hợp
Nhìn vào thực tế nước ta dưới ách áp bức, đô hộ của thực dân Pháp và
sự phá hoại của đế quốc Mỹ đã làm cho nền kinh tế trở nên cạn kiệt, nghèonàn lạc hậu, tài nguyên kiệt quệ, đất đai bị tàn phá nặng nề Hơn nửa triệungười dân đã ngã xuống, làng mạc ruộng đồng bị tàn phá nặng nề Trước tìnhhình cấp bách đó, dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin Đảng
ta đã khẳng định muốn cải biến tình trạng lạc hậu của nước ta thì phải chọncon đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa Sau ngày đất nước thống nhất(1975), quá trình tiếp quản miền Nam đã giúp điều chỉnh phương hướng vàphương thức xây dựng nước Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hóa
Kể từ sau quá trình đổi mới (1986), Đảng ta đã chọn con đường xây dựng chủnghĩa xã hội kết hợp với cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước và đặtmục tiêu đến năm 2020 sẽ đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công
Trang 2nghiệp Kể từ đó chúng ta đã gặt hái được những thành tựu đáng kể trong sựnghiệp xây dựng, phát triển đất nước Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậutrở thành nền kinh tế đang phát triển, vị thế Việt Nam trên thế giới đã hoàntoàn thay đổi, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao
Đảng ta xác định cùng với những nhân tố khác, công nghiệp hóa, hiệnđại hóa là một trong những giải pháp quyết định đưa nước ta sớm thoát khỏitình trạng nghèo nàn lạc hậu, khắc phục nguy cơ tụt hậu về kinh tế, tiến kịpvới các nước trong khu vực và trên thế giới, đồng thời cải thiện đời sống củanhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, củng cố vững chắc độclập chủ quyền của Tổ quốc Chỉ có con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóamới đưa nước ta trở nên giàu mạnh, đồng thời xây dựng được một xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội, từ đó rút ngắnkhoảng cách với các quốc gia phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu
Hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đưa tới nền kinh tế thôngminh và đang phát triển rất mạnh mẽ, mang đến cơ hội phát triển cho mọiquốc gia Tuy nhiên, nó cũng tạo ra những trở ngại, thách thức lớn đối với mỗinền kinh tế Các thành tựu khoa học - công nghệ trong cách mạng công nghiệp4.0 làm cho tài nguyên thiên nhiên, lao động phổ thông giá rẻ ngày càng mấtlợi thế Việc làm rõ những vấn đề đặt ra và đưa ra những định hướng, giảipháp cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnhcách mạng công nghiệp lần thứ tư thời gian tới là cấp bách và thiết thực
Đó là những lí do để em chọn đề tài tiểu luận “Thực trạng, giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam’’.
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG
I NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Từ cuối thế kỷ XVIII đến nay trong lịch sử đã diễn ra các loại côngnghiệp hóa khác nhau: Công nghiệp hóa TBCN và công nghiệp hóa XHCN
- Xét về mặt lực lượng sản xuất, khoa học - công nghệ là giống nhau
- Khác nhau về mục đích, phương thức tiến hành và sự chi phối củaquan hệ sản xuất thống trị
Công nghiệp hóa diễn ra ở các nước khác nhau, thời điểm lịch sử khácnhau, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau Do vậy, nội dung khái niệm cũng có
sự khác nhau
Trong cuốn giáo khoa kinh tế chính trị của Liên Xô được dịch sang tiếng
Việt Nam 1958, các nhà kinh tế Liên Xô (cũ) đã định nghĩa: “Công nghiệp hoá
XHCN là phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến”.
Ở thế kỷ XVII, XVIII, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở
Tây Âu: “Công nghiệp hoá được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công
bằng lao động sử dụng máy móc” Khái niệm công nghiệp hoá mang tính lịch
sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội,
của khoa học - công nghệ Do đó, việc nhận thức đúng đắn khái niệm này
trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả về
lý luận và thực tiễn
Năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO)
đã đưa ra một định nghĩa: “Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh
tế, trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với
Trang 4kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ của nền kinh tế và xã hội”
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta rất quan tâm đến vấn đềcông nghiệp hoá nông nghiệp, Người cho rằng, đối với một đất nước đi lên từnông nghiệp là chủ yếu thì trước hết phải phát triển nông nghiệp, phải côngnghiệp hoá nông nghiệp Người cho rằng đời sống của nông dân chỉ có thếthật dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi vàmuốn đưa máy móc vào sản xuất nông nghiệp thì phải khoanh vùng sản xuấtnông nghiệp
Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ ChíMinh về công nghiệp hoá, hiện đại hoá vào nước ta, rút kinh nghiệm từ bàihọc không thành công của việc rập khuôn máy móc mô hình ưu tiên phát triểncông nghiệp nặng, Đảng ta đã đổi mới và từng bước hoàn thiện quan điểm vềcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Theo đó, Ngày 30 tháng 7 năm 1994, Hội nghị lần thứ VII Ban Chấphành Trung ương khóa VII đã ra Nghị quyết số 07-NQ/HNTW về phát triểncông nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới, trong đó
chỉ rõ: “Công nghiệp hoá, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ
sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.”
Khái niệm công nghiệp hoá trên đây được Đảng ta xác định rộng hơn
Trang 5những quan niệm trước đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất, kinh doanh, cả
về dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện vàcác phương pháp tiên tiến, hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao Nhưvậy, công nghiệp hoá theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi trình
độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao độngthủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây
2 Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Thứ nhất, qua việc nghiên cứu lý luận của Mác-LêNin, ta thấy rằng mỗi
phương thức sản xuất xã hội chỉ có thể được xác lập vững chắc trên cơ sở vậtchất - kỹ thuật tương ứng Ở đây cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội làtoàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã hội phù hợp vớitrình độ kỹ thuật tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất
ra của cải vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội Công nghiệp hoá chính
là quá trình tạo ra nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật đó
Thứ hai, Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển, cần phải có một
nền kinh tế tăng trưởng và phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
và chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Cơ sở vật chất - kỹthuật của chủ nghĩa xã hội cần phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mớinhất, tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ Cơ sở vật chất - kỹ thuật đóphải tạo ra được một năng suất lao động xã hội cao Nhiệm vụ quan trọng nhấtcủa nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bảnchủ nghĩa, là phải xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,trong đó có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiêntiến Để làm được điều đó nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hoá, tức làchuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp
Thứ ba, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc
hậu, cơ sở vật chất - kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa
Trang 6phát triển, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập, chưa đượchoàn thiện Vì vậy, quá trình công nghiệp hoá chính là quá trình xây dựng cơ
sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân Mỗi bước tiến của quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá là một bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹthuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và gópphần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Nói tóm lại CNH- HĐH là tất yếu khách quan đối với các quốc gia trênthế giới nói chung và Việt Nam nói riêng là một việc làm đương nhiên đối vớinước ta Mỗi bước tiến của quá trình CNH, HĐH là một bước tăng cường cơ
sở vật chất kỹ thuật cho CNXH phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất gópphần hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN
3 Tác dụng của công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Thực hiện đúng đắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ có tácdụng to lớn về nhiều mặt trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thứ nhất, tạo điều kiện thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng
suất lao động, tăng sức chế ngự của con người đối với thiên nhiên, tăng trưởng
và phát triển kinh tề; ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, nâng cao đờisống nhân dân, góp phần quyết định sự thắng lợi của CNXH
Thứ hai,tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh
tế của nhà nước, nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích lũy và phát triểnsản xuất, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, giúp cho sự phát triển tự dotoàn diện của con người trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội
Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học công nghệ phát triển
nhanh đạt trình độ tiên tiến hiện đại Tăng cường lực lượng vật chất - kỹ thuậtcho quốc phòng, an ninh, đảm bảo đời sống kinh tề, chính trị, xã hội của đấtnước ngày càng được cải thiện Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nềnkinh tế độc lập tự chủ, đủ sức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế
Trang 7Như vậy, công nghiệp hóa hiện dại hóa có mối quan hệ gắn bó trực tiếpvới lực lượng sản xuất Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là để thực hiện xã hộihóa sản xuất về mặt kinh tế - kỹ thuật theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nó
có tác dụng, ý nghĩa quan trọng và toàn diện Đảng ta đã xác định: "Phát triểnlực lượng sản xuất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo hướng hiệnđại là nhiệm vụ trung tâm" trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
II THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan, là xu hướngphát triển chung của nhiều nước trên thế giới Việt Nam, cùng với quá trìnhđổi mới, việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách về công nghiệphóa, hiện đại hóa đã góp phần quan trọng trong quá trình phát triển, đưa đấtnước thoát nghèo và lạc hậu, từng bước nâng cao mức sống của người dân.Đánh giá chung về thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam cóthể khái quát trên một số nét như sau:
1 Thành tựu
- Duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá
Về cơ bản, từ năm 1991 đến nay, Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăngtrưởng GDP bình quân khá Trong đó, giai đoạn 2006 - 2010 bình quân đạt6,32%/năm, giai đoạn 2011 – 2015 bình quân đạt 5,82%/năm, giai đoạn 2015-
2019 bình quân đạt 6,64%/năm Năm 2020, chịu sự tác động mạnh mẽ của đạidịch Covid-19 mức tăng GDP của chúng ta chỉ đạt 2,91% (thấp nhất của thập
kỷ 2011-2020) nhưng chúng ta thuộc nhóm nước tăng trưởng kinh tế cao nhấtthế giới trong năm 2020
- Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự dịch chuyển tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong cơ cấu ngành công nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất của công
Trang 8nghiệp khai khoáng giảm dần, trong khi tỷ trọng của ngành công nghiệp chếbiến tăng Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, từng bước đáp ứng tốt hơnnhu cầu của sản xuất và đời sống.
Trong đó, các ngành dịch vụ gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưdịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý, bưu chính viễn thông phát triểnnhanh, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong GDP
- Cơ cấu lao động đã có sự dịch chuyển tích cực
Những năm đây có 2 xu hướng chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp Thứ nhất,chuyển đổi từ nhóm nghề giản đơn sang nghề nghiệp đòi hỏi kỹ thuật chuyênmôn Thứ 2, tỷ trọng lao động làm việc trong những khu vực ngành nghề truyềnthống như nông, lâm, ngư nghiệp đã giảm sút nhường chỗ cho các ngành côngnghiệp, xây dựng và dịch vụ, phục vụ tốt hơn các mục tiêu CNH, HĐH
Ví dụ: Trong vòng 5 năm (2015-2019) cơ cấu lao động của Việt Nam có
sự chuyển dịch về nghề nghiệp Cụ thể là lao động làm “Nghề nông, lâm, ngưnghiệp” sụt giảm khá mạnh ở mức 26% từ 5.3 triệu lao động năm 2015 xuốngcòn 4 triệu lao động Thay vào đó, 3 ngành “Chuyên môn kỹ thuật bậc cao”,
“Thợ thủ công và các thợ khác có liên quan”, và “Thợ lắp ráp và vận hànhmáy móc, thiết bị” có sự tăng mạnh về lao động Cụ thể, lao động thuộc nghềđòi hỏi “Chuyên môn kỹ thuật cao” và “Thợ thủ công và các thợ khác có liênquan” năm 2019 đã tăng hơn 1/5 so với năm 2015 Riêng “Thợ lắp ráp và vậnhành máy móc thiết bị” tăng hơn 2/5 ở mức 43% vào năm 2019 so với 2015 từ4.6 triệu lao động lên 6.6 triệu lao động Các ngành khác có sự thay đổi khôngđáng kể và có mức tăng giảm trong khoảng 8 – 10% Cụ thể là “Nghề đơngiản” giảm 10% từ 20.9 triệu lao động năm 2015 xuống 18.8 triệu lao độngnăm 2019 “Nhà lãnh đạo” và “ Khác” giảm lần lượt ở mức 9% và 8% Ngượclại, “Chuyên môn kỹ thuật bậc trung”, “Nhân viên” và “Dịch vụ cá nhân, bảo
vệ bán hàng” đều tăng lần lượt ở mức 10%, 9% và 8%
Trang 9- Hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh
Tính đến nay Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tếquốc tế, ở tất cả các cấp độ, đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốcgia thành viên Liên hợp quốc, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với 17nước (ba nước là đối tác chiến lược toàn diện Nga (2001); Ấn Độ (2007);Trung Quốc (2008)) và 14 nước đối tác chiến lược gồm Nhật Bản, Hàn Quốc,Tây Ban Nha (2009); Anh (2010); Đức, Italy (2011); Thái Lan, Indonesia,Singapore, Pháp (2013); Malaysia, Philippines (2015); Australia (2018); NewZealand (2020); có quan hệ đối tác toàn diện với 13 nước Có quan hệ thươngmại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia nhiều tổ chức kinh tếtrên thế giới và khu vực Từng bước tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giátrị cung ứng, đưa hoạt động của doanh nghiệp và nền kinh tế vào môi trườngcạnh tranh toàn cầu Xuất khẩu tăng nhanh và là động lực quan trọng cho tăngtrưởng kinh tế Cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch theo hướng tăngsản phẩm chế biến, nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng cho sản xuất, giảm
tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng thô và tài nguyên Trong khi đó, cơ cấu hàngnhập khẩu chuyển dịch theo hướng ưu tiên phục vụ sản xuất để xuất khẩu vàđáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước
- Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Cùng với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Việt Nam cũng đã pháttriển văn hoá, thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội Công tác giải quyếtviệc làm, xoá đói giảm nghèo vượt mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ Tỷ lệ hộnghèo giảm rõ rệt qua các năm, kể cả khu vực nông thôn và thành thị, năm
2019, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 3,75% năm 2020 giảm còn 2,75% Thunhập bình quân đầu người tăng mạnh, từ 113 USD năm 1991 lên 1.273 USDnăm 2010 và đến năm 2020 đạt khoảng 2.786 USD Người dân cũng đã cóđiều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ công cơ bản, trong
Trang 10đó đáng kể là dịch vụ y tế, giáo dục
2 Tồn tại, hạn chế
- Kinh tế phát triển chưa bền vững
Tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp so với tiềm năng và thấp hơn nhiềunước trong khu vực thời kỳ đầu công nghiệp hóa Tăng trưởng kinh tế chủ yếutheo chiều rộng, dựa vào các ngành công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sửdụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động Vai trò của khoa học – công nghệ,của tính sáng tạo trong tăng trưởng kinh tế còn thấp Yêu cầu về thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng rút ngắn đứng trước nhiều tháchthức Kể từ khi bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa, tốc độ tăng trưởng bìnhquân trong 25 năm sau đó của Hàn Quốc là 7,79% (giai đoạn 1961 - 1985),của Thái Lan là 7,11% (giai đoạn 1961 - 1985), của Ma-lai-xi-a là 7,66% (giaiđoạn 1961 - 1985) và của Trung Quốc là 9,63% (1979 - 2003) Trong khi đó,tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam kể từ khi thực hiện đổi mớiđến nay chỉ khoảng 6,5%:
- Nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực đang hiện hữu
Mặc dù đã đạt được các kết quả tích cực về phát triển kinh tế, song đếnnay, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn còn thấp, chênh lệchkhá lớn so các nước trong khu vực GDP bình quân đầu người của Thái Lannăm 1996 là 3.026 USD thì đến năm 2014 là 5.550 USD và của Trung Quốcnăm 1996 là 728 USD thì đến năm 2014 là 7.572 USD, trong khi con số tươngứng của Việt Nam chỉ tăng từ mức 337 USD lên 2.072 USD GDP bình quânđầu người của Việt Nam năm 2014 chỉ ngang bằng mức GDP bình quân đầungười của Trung Quốc năm 2006, In-đô-nê-xi-a năm 2007, Thái Lan năm1993
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu lao động
đã “chững lại” trong nhiều năm nhưng chậm có sự điều chỉnh phù hợp.
- Các ngành dịch vụ thâm dụng tri thức, khoa học công nghệ phát