1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về Chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

211 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội Luật Hóa Quy Định Của Công Ước Liên Hợp Quốc Về Chống Tra Tấn Đối Với Lấy Lời Khai, Hỏi Cung Bị Can Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Tác giả Trịnh Duy Thuyên
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 4,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 1. Tóm tắt mở đầu Đề tài luận án: “Nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về Chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam” Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự. Mã số: 62.38.01.04. Họ và tên nghiên cứu sinh: Trịnh Duy Thuyên. Họ và tên người hướng dẫn: PGS, TS Nguyễn Thị Phương Hoa. Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. 2. Nội dung trang thông tin tóm tắt Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn (CAT) đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015. Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung cơ sở lý luận về nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết nói chung và đối với CAT nói riêng. Đồng thời, làm rõ những điểm tương đồng, hạn chế trong quy định về lấy lời khai, hỏi cung bị can trong BLTTHS năm 2015 so với CAT và thực tiễn thực hiện phòng ngừa tra tấn tại Việt Nam. Những đóng góp mới nổi bật ở một số nội dung sau: 1. Xây dựng một số vấn đề lý luận cơ bản về nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đây là cơ sở để tiến hành nội luật hóa và định hướng cho việc kiến nghị hoàn thiện quy định đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong BLTTHS năm 2015. 2. Luận án phân tích đánh giá những điểm tương đồng và hạn chế trong quy định của CAT so với quy định về lấy lời khai, hỏi cung bị can trong BLTTHS năm 2015. 3. Đánh giá, khảo sát thực tiễn về phòng ngừa tra tấn khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành lấy lời khai, hỏi cung bị can so với quy định của CAT. 4. Học tập kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trên thế giới đã nội luật hóa CAT đối với quy định về lấy lời khai, hỏi cung bị can. Từ đó, phân tích, đánh giá kết hợp với đặc điểm,tình hình của Việt Nam để đưa ra các kiến nghị đề xuất nhằm phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong quy định của BLTTHS năm 2015. INFORMATION OF THE NEW CONTRIBUTIONS OF THE THESIS 1. Opening summary - Thesis title: Domestication of the provisions of the United Nations Convention against Torture for taking statements, interrogating suspects in the Criminal Procedure Code of Vietnam - Mayor: Criminal Law and Criminal Procedure - Major code: 62.38.01.04. - Name of PhD Student: Trinh Duy Thuyen - Name of Supervisor: Assoc Prof. Dr. Nguyen Thi Phuong Hoa. Educational institution: Ho Chi Minh City University of Law 2. The Content of summary information The thesis is the first in-depth project which researches the domestication of the provisions of the United Nations Convention against Torture (CAT) for taking statements, interrogating suspects in the 2015 Criminal Procedure Code (CPC). The dissertation has supplemented the theoretical framework on the domestication of international treaties that Vietnam has signed in general and the CAT in particular. At the same time, the dissertation analyses the similarities and limitations in the regulations on taking statements, interrogating suspects in the 2015 CPC compared with the CAT and the current situation of preventing torture in Vietnam. The new contributions stand out in some of the following contents: 1. Formulating fundamental theoretical framework on the domestication of international treaties to which Vietnam is a signatory. This is the basis for domesticating the law and orienting for the proposal to perfect the regulations on taking statements, interrogating suspects in the 2015 CPC. 2. Analyzing and evaluating the similarities and limitations in the provisions of the CAT compared with the regulations on taking statements, interrogating suspects in the 2015 CPC. 3. Surveying and Evaluating current situation of preventing torture when competent procedural authorities take statements, interrogate suspects against the provisions of CAT. 4. Learning from the legislative experience of other countries that have domesticated CAT for regulations on taking statements, interrogating suspects. From there, analyzing and evaluating in combination with clarifying the characteristics and situation of Vietnam to make recommendations to prevent torture during the process of taking statements, interrogating suspects in the provisions of the 2015 CPC.

Trang 1

TRỊNH DUY THUYÊN

NỘI LUẬT HÓA QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC

VỀ CHỐNG TRA TẤN ĐỐI VỚI LẤY LỜI KHAI, HỎI CUNG BỊ CAN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

TP HỔ CHÍ MINH NĂM 2021

Trang 2

TRỊNH DUY THUYÊN

NỘI LUẬT HÓA QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC

VỀ CHỐNG TRA TẤN ĐỐI VỚI LẤY LỜI KHAI, HỎI CUNG BỊ CAN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

MÃ SỐ: 9.38.01.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin nêu trong luận án là trung thực Các trích dẫn trong luận án đều được chú thích đầy đủ và chính xác Các kết quả nghiên cứu luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trịnh Duy Thuyên

Trang 4

Công ước Chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối

xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người 1984

Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

Cơ quan điều tra

Cộng hòa liên bang

Điều Tra viên

Điều ước quốc tế

Hỏi cung bị can

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 01

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN………… ……

Chương 1: Lý luận về nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam……….……… ……….… …

06 23 1.1 Khái niệm, đặc điểm của tra tấn……….……… …… 23

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tra tấn trong các văn kiện quốc tế và nghiên cứu nước ngoài……….… ………

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tra tấn theo quan điểm các nhà nghiên cứu Việt Nam……….………… …

1.2 Khái niệm, đặc điểm của lấy lời khai, hỏi cung bị can………

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm lấy lời khai…….……… …………

1.2.2 Khái niệm, đặc điểm hỏi cung bị can……… …… …………

1.3 Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam……….…

1.3.1 Khái niệm nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam……….……… ………

1.3.2 Nguyên tắc nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.3.3 Ý nghĩa nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Đánh giá quy định về lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ tố tụng hình sự Việt Nam so với quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn ……… ………

23

29

33

33

35

38

38

43

44

47

Trang 6

2.2 Những kết quả đạt được trong quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự Việt Nam về lấy lời khai, hỏi cung bị can so với Công ước Liên hợp quốc

về chống tra tấn……… ……….….…

2.3 Những hạn chế trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về lấy lời khai, hỏi cung bị can so với Công ước Liên Hợp quốc về Chống tra tấn……… ……… …

Chương 3: Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam so với quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn……….…………

3.1 Những kết quả đạt được trong thực tiễn phòng ngừa tra tấn của

Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn……….…….…………

3.2 Những hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên

cơ sở quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn……… …

3.2.1 Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ

sở nghĩa vụ thứ nhất của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

3.2.2 Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ

sở quy định nghĩa vụ thứ ba của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn………

3.2.3 Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ

sở nghĩa vụ thứ tư của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

Trang 7

3.2.5 Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ

sở nghĩa vụ thứ sáu của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

Chương 4: Kinh nghiệm lập pháp nước ngoài về nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can

4.1 Cơ sở lựa chọn pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia đã tham gia Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn để nghiên cứu học tập kinh nghiệm

4.2 Kinh nghiệm nước ngoài trong việc nội luật hóa quy định Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can

4.2.1.Liên Bang Nga

4.2.2 Cộng Hòa Liên bang Đức

4.2.3 Vương quốc Anh

4.3 Kinh nghiệm lập pháp cho Việt Nam về phòng ngừa tra tấn

Chương 5 : Kiến nghị về nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với quy định lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam………

5.1 Cơ sở kiến nghị nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với quy định về lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam………

5.2 Một số kiến nghị nội luật hóa quy định của Công ước liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam……….………

5.2.1 Kiến nghị để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thứ nhất, nghĩa vụ thứ ba, nghĩa vụ thứ năm, nghĩa vụ thứ sáu………….……….……….……

100

103

103

104

104

112

116

120

123

123

126

126

Trang 8

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 28/11/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Nghị quyết số 83/2014/QH13 phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm1 (Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn) Đây là một trong những ĐƯQT đa phương quan trọng về quyền con người, thể hiện ý chí của nhân loại yêu chuộng hòa bình, mong muốn sớm loại bỏ các hành vi tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo ra khỏi đời sống xã hội Sự kiện này, có

ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động bảo vệ nhân quyền, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam Qua đó, góp phần triển khai, thi hành có hiệu quả Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân Đồng thời đây là bước đi

cụ thể trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế, khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế

Khoản 1, Điều 2 Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn quy định “mỗi quốc

gia thành viên phải thực hiện các biện pháp cụ thể về lập pháp, hành pháp, tư pháp hoặc các biện pháp hiệu quả khác nhằm phòng ngừa mọi hành vi tra tấn trên bất cứ khu vực lãnh thổ nào thuộc quyền tài phán của mình.” 2 Căn cứ vào tình hình thực tế, Việt Nam nội luật hoá các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn vào hệ thống pháp luật quốc gia (trong đó có BLTTHS), để tổ chức triển khai thực hiện, phòng ngừa tra tấn, đặc biệt là khi tiến hành các hoạt động tố tụng như: bắt, tạm giữ, ghi lời khai, hỏi cung, giam giữ

Thực tiễn cho thấy, tra tấn có khả năng xảy ra trong môi trường khép kín, giữa một bên là đại diện quyền lực cơ quan nhà nước cần thu thập thông tin với một bên đang bị nghi ngờ đã thực hiện hành vi phạm tội Do đó, LLK, HCBC ở giai đoạn điều tra, là những hoạt động có khả năng xảy ra tra tấn, khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ Đánh giá các quy định của Công ước Liên Hợp quốc

về chống tra tấn đối với quy định LLK, HCBC trong BLTTHS năm 2015 Tác giả

1 Vào ngày 07/11/2013, Việt Nam đã ký Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm Sau khi được Quốc hội phê chuẩn, ngày 05/2/2015, Việt Nam nộp văn kiện phê chuẩn cho Tổng thư ký Liên Hợp quốc và chính thức trở là thành viên của Công ước này

2Article 2, Convention against Torture “1 Each State Party shall take effective legislative, administrative,

judicial or other measures to prevent acts of torture in any territory under its jurisdiction”.

Trang 10

nhận thấy, bên cạnh những điểm tương đồng, thì vẫn còn một số điểm hạn chế chưa phù hợp để phòng ngừa tra tấn

Thứ nhất, BLTTHS năm 2015 chưa ghi nhận triệt để vấn đề ghi âm, ghi hình có

âm thanh khi tiến hành LLK người bị bắt, bị tạm giữ Riêng đối với người người bị tố giác, kiến nghị khởi tố còn thiếu những quy định về trình tự, thủ tục Thực tế cho thấy, tra tấn xảy ra nhiều, ở giai đoạn trước khi khởi tố vụ án Bởi vì, thời điểm này cơ quan chức năng chưa đủ điều kiện, thời gian để thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh Nhưng với tâm lý mong muốn khám phá nhanh vụ án, thì tra tấn nhằm thu thập thông tin, buộc người bị nghi thực hiện tội phạm là có thể Do đó, khi đã thiếu hành lang pháp lý cụ thể, tra tấn sẽ tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật

Thứ hai, Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn quy định tra tấn

bao gồm: tra tấn thể chất và tra tấn tinh thần, nhưng các quy định của BLTTHS năm

2015 chỉ mới tập trung phòng ngừa tra tấn thể chất là chủ yếu và thiếu quy định cụ thể

về phòng ngừa tra tấn tinh thần như: BLTTHS vẫn có những khoảng trống khi cho phép tiến hành HCBC vào ban đêm,3 chưa quy định cụ thể về thời gian, tần suất tiến hành LLK, HCBC trong một ngày hoặc thiếu các quy định về việc người bị nghi thực hiện tội phạm từ chối khai báo khi câu hỏi của người có thẩm quyền không liên quan đến vụ án Ngoài ra, quy định về HCBC trong BLTTHS Việt Nam năm 2015 chưa nghiêm cấm hành vi đe dọa bị can hoặc đe dọa gây thiệt hại cho người thân thích của bị can (người thứ ba) nhằm buộc phải khai nhận tội hoặc thu thập các thông tin theo quy định tại Điều

1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn, là những điểm còn chưa phù hợp với quy định của Công ước

Thứ ba, khi HCBC phải ghi âm, ghi hình có âm thanh nhưng thực tế cho đến

nay vẫn chưa áp dụng đầy đủ, đồng bộ Thông tư liên tịch số VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm, ghi hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm,

03/2018/TTLT-BCA-ghi hình có âm thanh trong quá tình điều tra, truy tố, xét xử quy định “trong quá

trình hỏi cung bị can hoặc lấy lời khai có thể tạm dừng ghi âm, ghi hình có âm

3 Khoản 3 Điều 183 BLTTHS năm 2015

Trang 11

thanh bằng cách nhấn nút tạm dừng.”4 Tuy nhiên, nội dung này còn thiếu tính chặt chẽ, bởi vì tra tấn có thể xảy ra trong quá trình bấm nút tạm dừng

Thứ tư, trong thực tiễn, người bào chữa tham gia tố tụng hình sự còn khá

muộn, khi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng LLK, HCBC Nhiều trường hợp được tham gia LLK, HCBC thì đó là lúc nhận tội Do đó, trong buổi LLK, HCBC người bào chữa có vai trò mờ nhạt và giống như người chứng kiến cho lời nhận tội Như vậy, tuy có quy định khi tiến hành LLK, HCBC người bào chữa được tham gia, được đặt câu hỏi5 nhưng chưa có cơ chế bảo đảm thực hiện một cách tốt nhất

Trên đây là một số vấn đề còn hạn chế trong quy định của BLTTHS năm

2015 về LLK và HCBC so với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn Chính vì vậy, nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về LLK, HCBC và đưa ra các giải pháp hoàn thiện để bảo đảm thực hiện quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn là một đòi hỏi bức thiết trong quá trình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay Với nhận thức và quan điểm nêu trên tác giả chọn

đề tài “Nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối

với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam” để làm

Luận án Tiến sĩ luật học

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp lý về nội luật hoá các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS năm 2015; kinh nghiệm nước ngoài Luận án đề xuất những giải pháp, hoàn thiện các quy định về LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tra tấn

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn thực hiện nghĩa vụ của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn tại Việt Nam đối với LLK, HCBC trong BLTTHS năm 2015

Lý luận về nội luật hóa quy định Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn vào BLTTHS như: khái niệm, đặc điểm, cơ sở pháp lý của nội luật hóa

4 Điểm b, khoản 2, Điều 5 Thông tư liên tịch số 03/2018 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng ngày 01/02/2018 hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm, ghi hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm, ghi hình có âm thanh trong quá tình điều tra, truy tố, xét xử

5 Khoản 1, điểm b, Điều 73 BLTTHS năm 2015

Trang 12

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về LLK, HCBC của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong BLTTHS năm 2015

Đánh giá tương đồng và khác biệt giữa quy định của Công ước Liên Hợp quốc

về chống tra tấn với quy định về LLK, HCBC trong BLTTHS năm 2015

Nghiên cứu thực trạng những bất cập, hạn chế có thể dẫn đến tra tấn đối với quy

định LLK, HCBC khi thực hiện Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn,

Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia đã thực hiện nội luật hóa Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với quy định về LLK, HCBC trong BLTTHS

Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quy định LLK, HCBC trong BLTTHS năm

2015 để phòng ngừa tra tấn

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu nghĩa vụ lập pháp của Việt Nam sau khi phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với quy định về LLK, HCBC trong BLTTHS năm 2015 để phòng ngừa tra tấn; khảo sát thực tiễn áp dụng quy định của BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 20015 về LLK, HCBC6 về phòng ngừa tra tấn; tham khảo kinh nghiệm nội luật hóa đối với LLK, HCBC của một số quốc gia đã phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn như: Liên Bang Nga, CHLB Đức, Vương quốc Anh

Phạm vi chủ thể: Luận án nghiên cứu quá trình LLK, HCBC được thực hiện bởi lực lượng Công an xã, phường, thị trấn; Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp trong lực lượng Công an nhân dân

LLK: luận án nghiên cứu quá trình LLK đối với những đối tượng có thể bị tra tấn như: người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố

HCBC: luận án nghiên cứu quá trình hỏi cung đối với bị can

Phạm vi không gian: toàn quốc

Phạm vi thời gian: từ năm 2010 đến năm 2020

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án

Đây là Luận án tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống

và chuyên sâu về nội luật hóa quy định Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam

6 BLTTHS năm 2015 vừa mới được áp dụng trong thực tiễn từ ngày 01/01/2018, có những sửa đổi, bổ sung đối với quy định LLK, HCBC nhưng cơ bản vẫn trên nền tảng của BLTTHS năm 2003 và không có nhiều khác biệt Do đó, những hạn chế trong thực tiễn áp dụng BLTTHS năm 2003 chưa được BLTTHS năm 2015 sửa đổi, sẽ tiếp tục là hạn chế trong phòng ngừa tra tấn trong thời gian tới

Trang 13

Kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần bổ sung cơ sở lý luận về nội luật hóa các ĐƯQT mà Việt Nam đã ký kết nói chung và Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn nói riêng; làm rõ những điểm tương đồng, hạn chế trong quy định về LLK, HCBC trong BLTTHS năm 2015 so với Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn và thực tiễn thực hiện phòng ngừa tra tấn tại Việt Nam Từ đó có một góc nhìn toàn diện

về phòng ngừa tra tấn và là cơ sở để phát triển thêm các công trình nghiên cứu khoa học khác có liên quan

Những kiến nghị hoàn thiện dựa trên các căn cứ khoa học sẽ là nguồn tài liệu,

là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiếp tục nghiên cứu, có thể vận dụng khi hoàn thiện BLTTHS Việt Nam Đồng thời, là nguồn tài liệu cho sinh viên, giảng viên luật học, các nhà khoa học trong quá trình giảng dạy và để cho ĐTV, cán bộ điều tra, KSV, kiểm tra viên nhận thức được tầm quan trọng của phòng ngừa tra tấn bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự

Trang 14

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Qua tìm hiểu trên thế giới, hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án như: thực hiện ĐƯQT của quốc gia; bình luận chung về tra tấn, quyền con người; phòng ngừa tra tấn và bảo đảm quyền con người của một số quốc gia khi tham gia Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn Các tài liệu này có thể được chia thành các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, công trình nghiên cứu về thực hiện ĐƯQT của quốc gia thành viên

Trên thế giới, có hai trường phái giải quyết về mối quan hệ giữa ĐƯQT và hệ thống pháp luật quốc gia Trường phái nhất nguyên luận (monism) cho rằng ĐƯQT và luật pháp quốc gia là hai mặt thống nhất của hệ thống luật pháp, khi đã ký kết hoặc tham gia ĐƯQT thì có thể áp dụng trực tiếp quy định của ĐƯQT trong nội bộ quốc gia Trong khi đó, trường phái nhị nguyên luận (dualism) cho rằng luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật tách biệt ĐƯQT có hiệu lực thi hành trong phạm vi quốc gia sau khi đã được “chuyển hóa” hay nội luật hoá một cách thích hợp bằng văn bản pháp luật Tuy nhiên, có một số quốc gia kết hợp cả hai quan điểm nhất nguyên luận

và nhị nguyên luận cho vấn đề thực hiện ĐƯQT tại quốc gia của mình

Trong công trình nghiên cứu “The incorporation of public international law

into municipal law and regional law against the background of the dichotomy between monism and dualism” 7 (tạm dịch, kết hợp luật quốc tế vào luật quốc gia và

luật khu vực trên nền tảng thuyết nhất nguyên luận và nhị nguyên luận), (2014) của tác giả G Ferreira & A Ferreira-Snyman Các tác giả đã bàn luận về lý thuyết Nhất nguyên luận và Nhị nguyên luận và cho rằng các học thuyết này đại diện cho hai cách tiếp cận khác nhau đối với mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Theo cách tiếp cận Nhất nguyên luận, pháp luật quốc tế được thực thi trước Tòa án quốc gia mà không cần đưa vào pháp luật quốc gia Trái lại, cách tiếp cận Nhị nguyên luận lại cho rằng pháp luật quốc tế phải được chính thức đưa vào pháp luật quốc gia khi Tòa án quốc gia thực hiện Tuy nhiên, không phải tất cả hệ thống pháp luật điều

rõ ràng theo nhất nguyên luận hoặc nhị nguyên luận Sự tách biệt giữa nhất nguyên luận và nhị nguyên luận là không còn phù hợp để chỉ mối quan hệ giữa pháp luật

7 Xem http://www.saflii.org/za/journals/PER/2014/43.html

Trang 15

quốc tế và pháp luật quốc gia Bên cạnh đó, công trình thảo luận việc tiếp cận nhất nguyên luận và nhị nguyên luận của Tòa án Hiến pháp Nam Phi trong vụ “Glenister”

và Tòa án Công lý Châu âu trong vụ “Hungary” để minh họa cho áp dụng thực tế giữa nhất nguyên luận và nhị nguyên luận trong hệ thống pháp luật quốc gia và trên cấp độ khu vực

Công trình “The relationship between international law and national law in the

case of Kosovo: A constitutional perspective”8 (tạm dịch, mối liên hệ giữa luật quốc tế

và luật quốc gia trong trường hợp của Kosovo: quan điểm hiến pháp), (2011) tác giả

Visar Morina, Fisnik Korenica, Dren Doli Công trình đề cập đến mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ở Kosovo Đồng thời, dùng Hiến pháp để trả lời các câu hỏi về mối quan hệ giữa ĐƯQT và trật tự pháp lý trong nước ở Kosovo; mối quan hệ giữa pháp luật tập quán quốc tế và trật tự pháp lý trong nước ở Kosovo; mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong lĩnh vực nhân quyền Tác giả bài viết cũng cho rằng, căn cứ vào quy định Hiến pháp, Kosovo đi theo thuyết nhất nguyên luận cho mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, đồng thời thừa nhận tính áp dụng ĐƯQT vào pháp luật trong nước

Thứ hai, công trình nghiên cứu bình luận về tra tấn; hình thức tra tấn trong thực tiễn

“The United Nations Convention Against Torture,” 9(tạm dịch, Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn), (2008) tác giả Manfred Nowak, Elizabeth McArthur Đây được xem là nguồn tài liệu đầy đủ nhất, được nghiên cứu, biên soạn bởi những tác giả là nhà nghiên cứu nổi tiếng về vấn đề nhân quyền GS Manfred Nowak (người được Chủ tịch Ủy ban nhân quyền Liên Hợp quốc chỉ định là báo cáo viên đặc biệt

về chống tra tấn) đã giải thích về Tra tấn tại Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về

chống tra tấn như sau: “Tra tấn được hiểu là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn

hoặc khổ đau nghiêm trọng về thể chất hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện” Tác giả đã đi vào phân tích “Tra tấn” không chỉ là các hành

vi đánh đập về thể chất như: sốc điện vào các bộ phận sinh dục, rút móng tay… mà

8International Journal of Constitutional Law, Oxford Academic, Volume 9, Issue 1, 1 January 2011, P 1-4

9 Manferd Nowak, Elizabeth McArthur (2008), “The United Natrions Convention Against Torture”, Oxford

University Press

Trang 16

còn có các hành vi tra tấn về tinh thần: bỏ đói, uy hiếp về tinh thần, thẩm vấn xuyên đêm kéo dài, tra tấn tình dục… làm cho nạn nhân đau khổ và lâm vào tình trạng khủng hoảng tinh thần, tuyệt vọng Việc cấm tra tấn về thể chất và tinh thần được bảo đảm theo các điều khoản mạnh nhất theo luật quốc tế Nó được bảo vệ như một quyền tuyệt đối, không được phương hại đến ngay cả trong thời chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp Bên cạnh đó, tác giả còn đi vào phân tích khi tham gia Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn, quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ phòng ngừa các hành vi tra tấn bằng nhiều hình thức như: hình sự hóa hành vi tra tấn, có các biện pháp bảo

vệ trong giai đoạn điều tra sơ bộ, đào tạo nhân viên thực thi công vụ; quá trình thẩm vấn tù nhân; các quyền khiếu nại của phạm nhân khi bị tra tấn, quyền được bồi thường thiệt hại khi phát hiện tra tấn…Đặc biệt, trong công trình nghiên cứu, tác giả còn nêu lên các trình tự, thủ tục, hoạt động giám sát của Ủy ban chống tra tấn; phân biệt giữa tra tấn và đối xử vô nhân đạo hay hạ nhục, tàn nhẫn và nguyên tắc không chấp nhận bằng chứng do bị tra tấn Đây là một trong những nội dung quan trọng để tác giả có thể nhận diện được thế nào là tra tấn nhằm xây dựng hệ thống cơ sở lý luận tại chương

1 Ngoài ra, toàn văn của bài bình luận về Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn cũng cung cấp bối cảnh lịch sử và phân tích kỹ lưỡng về luật pháp và thực tiễn từ các Tòa án quốc tế và khu vực và các cơ quan giám sát Các quy định pháp lý liên quan đến các Tòa án trong nước (như của House of Lord trong vụ kiện của Pinochet) cũng

như thảo luận về các quy định của các uỷ ban chống tra tấn khi kiểm tra nhà tù “The

Torture Reporting Handbook”10 (tạm dịch, sổ tay báo cáo tra tấn), (2000) của tác giả

Camille Giffard Đây là tài liệu ghi lại các cáo buộc tra tấn và trả lời các cáo buộc tra tấn trong hệ thống quốc tế bảo vệ quyền con người Trong tài liệu này đưa ra cách hiểu về tra tấn (What’s Torture) theo quy định tại Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn Từ quy định của Điều 1 tài liệu đã nêu ra ba vấn đề quan trọng của Tra tấn đó là: Tra tấn phải gây đau đớn về thể chất hoặc tinh thần; được thực hiện bởi người của cơ quan nhà nước hoặc được sự đồng ý của cấp trên; nhằm mục đích lấy thông tin từ người

bị tra tấn Đồng thời cũng đưa ra cách hiểu về đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người sẽ có mức độ đau khổ ít nghiêm trọng (thấp hơn) so với tra tấn Các hình thức đối xử được cho là không phải tra tấn khi không được gây ra cho một mục đích cụ thể Nhưng phải có ý định đưa các cá nhân đến các điều kiện hoặc dẫn đến việc đối xử tệ Công trình cũng đi đến phân tích nạn nhân của tra tấn có thể là bất kỳ ai: đàn ông, đàn

10Camille Giffard (2000), The Torture Reporting Handbook, Human Rights Centre, University of Essex

Trang 17

bà, người già, trẻ em, tôn giáo, không có tôn giáo, trí thức hay nông dân đều có thể là nạn nhân của tra tấn và thường tập trung là những người có liên quan đến vấn đề chính trị (bất đồng quan điểm chính trị) phản đối chính quyền, hồi giáo, những người bị buộc tội đang đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự… Đồng thời đưa ra các bằng chứng cho rằng nạn nhân đã bị tra tấn về thể chất (màu sắc da, vết bỏng, bầm tím của bất kỳ thương tích nào….) hoặc tra tấn tinh thần Tuy tra tấn tinh thần không để lại bất cứ dấu vết vật

lý nào nhưng sẽ để lại những ảnh hưởng tâm lý, tư tưởng sâu sắc cho nạn nhân Có thể xác định qua tư tưởng, hành vi, nỗi sợ hãi, các cơn ác mộng bị đe dọa giết… Vấn đề này cần phải có một chuyên gia về tâm lý để xác định cụ thể

“A History of Torture,” 11 (tạm dịch, lịch sử của tra tấn), (2007), của tác giả Jame

Ross cung cấp thông tin về lịch sử về tra tấn và chống tra tấn của nhân loại Theo tác giả, Tra tấn đã có từ rất xưa, ngay cả trong lý luận và thực tiễn Mọi tình huống sử dụng tra tấn để gây đau đớn (cả thể chất và tinh thần) đối với người khác điều bị lên án Tất

cả các ý kiến về chống hành vi tra tấn đều dựa trên cách tiếp cận từ vấn đề từ đạo đức

và quyền con người Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra rằng: mọi ý kiến chống đối tra tấn dường như được tìm thấy trong các nội dung của văn bản pháp lý về quyền con người Điều này được ông kết luận sau khi nghiên cứu về cách thức sử dụng tra tấn trong lịch

sử tư pháp thế giới, bất cứ hình thức tra tấn nào cũng phản ảnh bản chất đi ngược công

lý, vô đạo đức và xâm phạm nhân quyền “The shape of modern Torture”12 (tạm dịch,

hình thức của tra tấn hiện đại), (2005), của tác giả John T.Parry Đây là bình luận của

tác giả qua xem xét các cuộc tranh luận quốc tế hiện nay về “tra tấn” trong khuôn khổ quyền lực của Nhà nước hiện đại Mục tiêu của bình luận này là kết hợp hai cách suy nghĩ về “tra tấn” và các hình thức “cưỡng bách điều tra và thẩm vấn có liên quan” Phân tích pháp lý về một số vấn đề liên quan đến tra tấn, đặc biệt liên quan đến việc thực hiện diễn ra bất thường (sử dụng vũ lực, chứ không phải là quá trình pháp lý)

“Extraordinary renditions and the protection of human rights”13 (tạm dịch,

những đề xuất về bảo vệ quyền con người), (2010), của tác giả Manfred Nowak, Roland Schmidt Đây là kết quả của cuộc Hội thảo của viện nhân quyền Ludwig Boltsmann tổ chức vào ngày 6,7 tháng 10 năm 2008 Trong đó nêu lên sau hậu quả khủng bố ngày 11/9 tại Mỹ, chính quyền Bush cùng với đồng minh đã bắt cóc các đối tượng bị tình nghi khủng bố mà không theo đúng thủ tục và đưa họ đến những nơi bí mật giam giữ Tại

11 Kenneth Roth and Minky worden,Amy D.Bernstein ,“A Human Rights Perspective”, (2007), P 1-17

12 Xem https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=829345

13 Xem https://bim.lbg.ac.at/en/story/volume-20-2010-extraordinary-renditions-and-protection-human-rights

Trang 18

đây, họ đã bị thẩm vấn tăng cường bằng nhiều biện pháp khác nhau Đây được gọi là những hành vi vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất trong cái gọi là “cuộc chiến chống khủng bố” Các nghi phạm đã được vận chuyển trong các máy bay riêng của CIA, không

tuân thủ luật hàng không quốc tế và đưa cho các đồng minh sẵn sàng tra tấn “Does it

Make Us Safer? Is it Ever Ok? A Human Right Perspective” 14 , (tạm dịch, có thật sự

làm cho chúng ta an toàn, có bao giờ ổn chưa, quan điểm về nhân quyền), (2007), được

biên tập bởi Kenneth Roth và Minky Worden hợp tác xuất bản Trong cuốn sách này

có 12 bài luận của các nhà tư tưởng hàng đầu và các chuyên gia về lịch sử và các lục địa, cung cấp một thăm dò chi tiết của chủ đề tra tấn Bao gồm Reed Brody trên đường tới Abu Ghraib và “những người bị ma quỷ”; Eitan Felner về kinh nghiệm của Israel; Tom Malinowski về vi phạm “cấm thực hành” của Bộ Ngoại giao tại Abu Ghraib và ở Afghanistan; Kenneth Roth về sự thay đổi của chính phủ Hoa Kỳ từ sự che đậy sang biện minh; Minky Worden về một cuộc khảo sát toàn cầu về các quốc gia đang tra tấn… Tác giả Roth cho rằng các hình thức ngược đãi thường là kênh để dẫn đến tra tấn Do đó, tra tấn phải được cấm trong mọi trường hợp, một số câu hỏi chính bao gồm làm thế nào để xác định tra tấn, cho dù tra tấn có hiệu quả hay không và liệu nó có thể chấp nhận được hay không

Thứ ba, các công trình phòng ngừa tra tấn trong lĩnh vực tố tụng hình sự của một số quốc gia

Phòng ngừa tra tấn là một trong những yêu cầu đặt ra của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với các quốc gia thành viên khi đã phê chuẩn Hình thức phòng ngừa bao gồm: quy trình cụ thể quá trình thẩm vấn, quy trình bắt người bị nghi thực hiện tội phạm, tuyên truyền cho các nhân viên thực thi pháp luật để phòng ngừa

tra tấn… có thể nêu lên một số công trình như: “A handbook for public officials”15,

(tạm dịch, sổ tay cảnh sát), (2008), của tác giả Wayne K.Lemieux Đây là cẩm nang cung cấp thông tin hướng dẫn pháp luật cho nhân viên thực thi pháp luật làm thế nào

để chấm dứt hành vi tra tấn trong công việc thường ngày của họ Bên cạnh đó còn nêu lên trách nhiệm bảo vệ quyền con người và sự tôn trọng đối với cá nhân và nêu lên một

số vụ việc cụ thể sử dụng quá mức, trái pháp luật để tra tấn nhằm có một lời thú tội

hoặc thông tin từ một nghi can trong VAHS “Police and criminal Evidence Act

14 Kenneth Roth, Minky Worden (2007), “Does it make Us Safer? Is it Ever Ok? A Human right Perspective”,

New York

15 Wayne K.Lemieux (2008), “A handbook for public officials”, United States of America

Trang 19

1984”16 (tạm dịch, Đạo luật Cảnh sát và chứng cứ phạm tội) Đây là đạo luật của quốc

hội nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý cho quyền lực của nhân viên Cảnh sát tại Anh chống tội phạm, cũng như cung cấp các quy trình cho việc thực hiện những quyền lực Khi thực hiện quyền lực đối với trường hợp là người chưa thành niên, đạo luật quy định chi tiết, cụ thể đối với từng hành vi của lực lượng Cảnh sát như: khi bắt giữ người chưa thành niên, việc đầu tiên là nhân viên Cảnh sát phải thông báo với cha, mẹ của người

bị bắt giữ, người đỡ đầu, cơ quan địa phương… về lý do bị bắt giữ Về quy trình thẩm vấn người chưa thành niên, nếu trong trường hợp cha, mẹ, người đỡ đầu của người chưa thành niên không thể có mặt thì nhân viên cảnh sát tiến hành lập văn bản có chữ

ký của người chưa thành niên để chứng minh cuộc thẩm vấn không có người lớn tham

dự Tuy nhiên, việc làm này còn phụ thuộc vào các yếu tố: phải có xác nhận của người đứng đầu về việc khi thẩm vấn không gây tổn hại xấu đến sức khỏe, tinh thần của người chưa thành niên Nếu thẩm vấn có mặt của người lớn thì họ phải khuyên bảo người chưa thành niên trong quá trình thẩm vấn và giám sát cuộc thẩm vấn diễn ra một cách công bằng và chính xác giúp cuộc điều tra được thuận lợi và tốt đẹp

Thứ tư, công trình nghiên cứu về đối tượng, môi trường thường xảy ra tra tấn

“Understading torture”17 (tạm dịch, dưới sự tra tấn), (2011), của tác giả John

T.Parrty Tác giả giải thích tra tấn là một bộ phận bình thường của bộ máy cưỡng bức của nhà nước cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm trật tự công cộng; kiểm soát các nhóm thiểu số chủng tộc, sắc tộc và tôn giáo vì lợi ích của sự thống trị Tác giả đưa ra trường hợp Abu Ghraib liên tục bị cảnh sát bạo lực ở Hoa Kỳ; đàn áp bạo lực đối với các nhóm sắc tộc thiểu số trong lịch sử Hoa Kỳ; thực hiện quyền lực trong một loạt các liên

hệ chính trị, xã hội và liên cá nhân “Art of torture”, (tạm dịch, nghệ thuật tra tấn) của

tác giả Jeanne Sarson, Linda MacDonald Đây là một bài báo nhấn mạnh sự phổ quát hành vi tra tấn mặc dù đã cam kết của quốc gia, nhân viên nhà nước hoặc tra tấn được gây ra bởi bạo lực gia đình Cả hai nhóm này vi phạm quyền con người Bài viết này tập trung đưa ra các hành vi tra tấn gây ra bởi bạo lực gia đình hoặc nhóm nhân viên nhà

nước dưới hình thức đầu tiên là đánh đập, tra tấn tình dục và tinh thần “Human Rights

in Closed Environments”,18 (tạm dịch, quyền con người trong môi trường khép kín), (2014), của tác giả Bronwyn Naylor, Julie Debeljak, Anita Mackay Công trình đưa ra

16 Xem https://www.gov.uk/guidance/police-and-criminal-evidence-act-1984-pace-codes-of-practice

17 John T.Parrty (2011), “Understading torture”, University of Michigan Press

18 Bronwyn Naylor, Julie Debeljak and Anita Mackay (2014), “Human Rights in Closed Environments”, The

Federation Press, Vol 31

Trang 20

các nội dung xem xét quyền con người trong môi trường kín: nhà tù, cảnh sát, trung tâm

di trú tạm giam Tác giả cũng đã đưa ra mối quan tâm về sự tổn thương của người bị tạm giam; sự căng thẳng giữa tôn trọng các quyền và mối quan tâm an toàn, đảm bảo một nền văn hóa nhân quyền trong bối cảnh của sự mất cân bằng quyền lực; rút ra những so sánh của môi trường khép kín; xem xét vai trò của cơ chế giám sát độc lập (Thanh tra,

Ủy ban nhân quyền) trong việc đảm bảo môi trường không bị tra tấn

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những nghiên cứu về nội luật hóa Công ước Liên Hợp quốc chống tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS năm 2015 hiện nay là chưa có Đến nay, chỉ có một số công trình khoa học, bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành Luật, các Hội thảo chuyên

đề có các nội dung liên quan và tập trung ở một số khía cạnh mà tác giả có thể tham khảo cho luận án cụ thể:

Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu nội luật hoá quy định của điều ước quốc tế vào pháp luật quốc gia

Đề tài cấp bộ “Nội luật hóa các quy định của Công ước chống tội phạm có tổ

chức xuyên quốc gia trong bộ luật hình sự Việt Nam” (2016) của PGS,TS Nguyễn

Thị Phương Hoa; Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh Công trình nghiên cứu nêu lên cơ sở lý luận cho hoạt động nội luật hoá các quy định của CTOC vào pháp luật Việt Nam, mà cụ thể là vào BLHS, bao gồm hai nhóm yêu cầu: i) yêu cầu của CTOC về các nghĩa vụ mà các quốc gia thành viên phải đảm bảo làm tiêu chí cho hoạt động nội luật hoá CTOC; ii) Yêu cầu từ điều kiện, hoàn cảnh tại Việt Nam, bao gồm các cam kết của Việt Nam về vấn đề thực thi các ĐƯQT nói chung và CTOC nói riêng Để thực thi CTOC đáp ứng hai yêu cầu trên, tác giả đã nêu lên căn cứ pháp

lý theo quy định của Công ước Vienna về Luật các điều ước quốc tế năm 1969 Đồng thời dẫn chứng các học thuyết nội luật hóa các ĐƯQT và một các quốc gia trên thế giới đã áp dụng (nhất nguyên luận và nhị nguyên luận) Trong hệ nhất nguyên luận,

cả pháp luật quốc tế và quốc gia đều là những phần của một hệ thống pháp luật bao quát Trong khi đó, ở hệ nhị nguyên luận pháp luật quốc tế và quốc gia là hai hệ thống tách rời và chỉ có pháp luật quốc gia có tính ràng buộc pháp lý đối với quốc gia đó Các nước theo hệ nhị nguyên luận có thể được chia làm hai loại: loại thứ nhất là những quốc gia nơi “sự phê chuẩn chính thức của Quốc hội (thường được thực hiện dưới hình thức phê chuẩn ĐƯQT) là đủ để nội luật hoá một ĐƯQT vào pháp luật quốc gia ĐƯQT vẫn sẽ được coi như pháp luật quốc tế sau khi nó được nội luật hoá

Trang 21

với kết quả là nó sẽ được áp dụng trực tiếp trong hệ thống pháp luật quốc gia.”; hay nói cách khác việc nội luật hoá chỉ diễn ra về mặt hình thức Loại thứ hai là những quốc gia, nơi sự phê chuẩn của Quốc hội không phải là chính thức, mà đóng vai trò một bước trong tiến trình thực thi về mặt lập pháp nội dung của ĐƯQT Ngoài ra, tác

giả căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam và nhận định rằng:“Việt

Nam không ghi nhận một nguyên tắc nào cho việc xác định mối quan hệ giữa các điều ước quốc tế và pháp luật trong nước, thực tế khi nói đến thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia thường đồng nghĩa với việc nội luật hoá các điều ước

đó vào hệ thống pháp luật quốc gia” Do đó, tác giả đã đưa ra quan điểm rằng “nội luật hóa là sự chuyển hóa nội dung các quy phạm của điều ước quốc tế vào các quy phạm pháp luật trong nước để thi hành”

Đề tài khoa học cấp Bộ “Nội luật hóa các điều ước quốc tế Việt Nam ký kết và

tham gia phục vụ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” (2007) do TS Hoàng Phước

Hiệp làm chủ nhiệm - Cơ quan chủ quản Bộ Tư pháp Ngoài các quan điểm về nhất

nguyên luật và nhị nguyên luận Nội luật hóa được tác giả cho cho rằng “là quá trình

cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động cần thiết để chuyển hoá các quy phạm của điều ước quốc tế thành quy phạm của pháp luật quốc gia bằng cách ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trong nước.” Quan

điểm này tương đương khái niệm “chuyển hoá quy phạm ĐƯQT”, các quốc gia không trực tiếp áp dụng các ĐƯQT mà “chuyển hoá” hay “nội luật hoá” các quy định của

nó vào pháp luật quốc gia

Ngoài 02 công trình nghiên cứu nêu trên có thể kể đến một số bài báo khoa học có liên quan đến nội luật hóa như:

“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển hóa điều ước quốc tế vào pháp

luật quốc gia”(2003), của Ngô Đức Mạnh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số

108/2003, Tr.60; “Cơ sở lý luận của hoạt động chuyển hóa Điều ước quốc tế” (2003), của Lê Mai Anh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 179/2003, Tr.48; “Nội luật hóa

và vai trò của Nội luật hóa trong việc thực hiện Điều ước quốc tế”(2013), của Mạc

Thị Hoài Thương, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 10/2013, Tr.78; “Nội luật hóa

điều ước quốc tế trong luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005- thực trạng và giải pháp” (2015), của Nguyễn Thị Hồng Yến, Đỗ Quí Hoàng, Tạp chí

Luật học số 10/2015, Tr.71

Trang 22

Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến nội luật hoá quy định Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn vào BLTTHS Việt Nam

Đề tài khoa học cấp cơ sở “Nội luật hóa các quy định của công ước chống tra

tấn về quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2015), của Lương

Thị Mỹ Quỳnh - Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh Tác giả tập trung phân tích những vấn đề về lịch sử về tra tấn và chống tra tấn Đây là nền tảng cốt lõi về quyền con người, do đó quan điểm của tác giả cho rằng cần có một cơ chế bảo đảm quyền của người bị buộc tội khỏi các hành vi tra tấn Đồng thời, đánh giá mức độ nội luật hoá Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn về quyền của người buộc tội trong BLTTHS Việt Nam, để đưa ra những định hướng cần hoàn thiện nhằm phòng ngừa

hành vi tra tấn, theo quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

Một số bài viết “Vấn đề cấm tra tấn trong Luật nhân quyền quốc tế và việc

hoàn thiện khung pháp luật về phòng, chống tra tấn ở Việt Nam” (2014) của tác giả

Đào Trí Úc, tại Hội thảo về chống tra tấn - trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí

Minh; “Nội luật hóa các quy định của Công ước quốc tế về chống tra tấn đối với

hoạt động hỏi cung bị can trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2014) của tác giả Võ

Thị Kim Oanh, Lê Thị Thùy Dương (Tạp chí Khoa học pháp lý Trường Đại học luật

Thành phố Hồ Chí Minh, số 3/2014); “Thực hiện nghĩa vụ của quốc gia trong việc

nội luật hóa các quy định của Công ước chống tra tấn trong lĩnh vực tố tụng hình sự” (2014) của tác giả Trần Văn Độ, tại Hội thảo về chống tra tấn - Trường Đại học

Luật Thành phố Hồ Chí Minh; “Những vấn đề lý luận và thực tiễn và một số giải

pháp giúp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, phạm nhân tự bảo vệ mình tránh khỏi hành vi tra tấn” (2014) của tác giả Nguyễn Hải Anh, tại Hội thảo đảm bảo thực

thi Công ước chống tra tấn, Cục Pháp chế, Bộ Công an; “Trao đổi một số vấn đề về

tình hình tội phạm dùng nhục hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” (2015)

của Nguyễn Bích Thủy, Nguyễn Ngọc Minh Thông, Tạp chí Nghề Luật, số 05 tháng 10/2015… Các tác giả tập trung phân tích Luật nhân quyền quốc tế; phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS Việt Nam trong mối tương quan với Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn; địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, phạm nhân và các nguy cơ mà họ có thể phải đối mặt bị tra tấn, nhục hình trong tố tụng hình sự và vấn đề phòng chống tra tấn theo pháp luật Việt Nam hiện hành Từ đó đưa ra các vấn đề cần hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam (trong đó có BLTTHS)

để phòng ngừa hành vi tra tấn

Trang 23

Thứ ba, nhóm đề tài có liên quan đến LLK, HCBC trong tố tụng hình sự

Sách chuyên khảo “Hỏi cung bị can người chưa thành niên phạm tội về trật

tự xã hội” (2016), của Tác giả Bùi Thành Chung, Nxb Công an nhân dân Tác giả

cho rằng, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới, sớm tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em và đã cụ thể hóa nội dung Công ước vào hệ thống pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, trong những năm qua tình hình người chưa thành niên phạm tội về trật tự xã hội đang có chiều hướng gia tăng và có diễn biến phức tạp Trong khi các quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn những bất cập nhất định, chưa thể hiện rõ tính thân thiện phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng Cơ

sở vật chất phục vụ cho việc thu thập chứng cứ (HCBC là người chưa thành niên) chưa có sự chuyên biệt Chiến thuật HCBC chưa thể hiện được tính đặc thù dựa trên

cơ sở những đặc điểm tâm, sinh lý Trình tự thủ tục tố tụng trong hoạt động HCBC người chưa thành niên còn nhiều thiếu sót, nhiều trường hợp ĐTV khi tiến hành HCBC người chưa thành niên còn vi phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng… Từ những bất cập nêu trên, tác giả đã đưa ra một số định hướng giải pháp hoàn thiện cho hoạt động thu thập chứng cứ (HCBC người chưa thành niên) để góp phần bảo đảm thực thi các công ước quốc tế về quyền trẻ em và nâng cao chất lượng điều tra khám

phá các VAHS

Luận án tiến sĩ “Sử dụng chứng cứ trong hỏi cung bị can - Những vấn đề lý

luận và thực tiễn” (2011), của tác giả Trần Nguyên Quân Tác giả làm rõ những vấn

đề cơ bản về sử dụng chứng cứ và chiến thuật HCBC trong điều tra các vụ án của Cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp Trong đó đưa ra khái niệm, đặc điểm và các nguyên tắc của hoạt động HCBC, đồng thời đưa ra những hành vi nghiêm cấm trong quá trình HCBC đó là: ĐTV không được mạt sát, chửi mắng coi thường bị can; nghiêm cấm các hành vi bức cung, dùng nhục hình đối với bị can Đồng thời đã nêu lên một số hành vi xem là tra tấn như: sử dụng thủ đoạn trái pháp luật buộc bị can phải khai sai

sự thật (thường là những hành vi tác động về thể chất, tâm lý)

Thứ tư, nhóm công trình nghiên cứu đảm bảo quyền con người của người

bị buộc tội nhằm phòng ngừa hành vi tra tấn

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng

hình sự Việt Nam” của Nguyễn Thái Phúc (2005) Đề tài nghiên cứu vấn đề quyền

con người, quyền công dân và Nhà nước pháp quyền, bảo đảm quyền con người trong

tố tụng hình sự Trong đó, đã phát triển lý luận về quyền con người và đảm bảo quyền

Trang 24

con người; cơ chế đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự và các thành tố của cơ chế; mối quan hệ giữa cải cách tư pháp và mở rộng quyền con người, tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự nước ta Bên cạnh đó, tác giả

đã làm rõ thực trạng bảo đảm quyền con người trong BLTTHS năm 2003 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện theo hướng mở rộng quyền con người và bảo đảm quyền con người của những chủ thể tham gia tố tụng

Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2011) của Lại Văn Trình, tác giả nghiên

cứu các quan niệm về Nhà nước và pháp quyền Xã hội chủ nghĩa và các đặc trưng của nó; các quyền con người trong Nhà nước pháp quyền; các biện pháp bảo đảm quyền con người trong nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; vấn đề lý luận bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự; thực trạng pháp luật Việt Nam về đảm bảo quyền con người của người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo Qua đó, Luận án đưa ra một số giải pháp hoàn thiện: nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự; địa vị pháp lý của các chủ thể; quy định về biện pháp ngăn chặn; quy định về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử…

Luận án tiến sĩ luật học “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa

thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2014), của Nguyễn Hữu Thế Trạch Tác

giả đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, đưa ra được khái niệm, đặc điểm về quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam và quyền bào chữa của người chưa thành niên của một số nước trên thế giới Đánh giá thực trạng thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong BLTTHS

2003 và đưa ra một số bất cập như: BLTTHS chưa có quy định cụ thể ai là người được xem là người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo là người chưa thành niên để tham gia hoạt động tố tụng hình sự; quy định về trường hợp cần thiết phải có mặt của đại diện gia đình bị can trong khi HCBC tại CQĐT còn chưa hợp lý; quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa còn hạn chế do thực tế việc cấp giấy chứng nhận bào chữa không đảm bảo đúng thời gian quy định… Từ những bất cập trên, tác giả

đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền bào chữa của bị can, bị cáo

là người chưa thành niên hoạt động thu thập chứng cứ của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đảm bảo quyền con người, quyền công dân

Trang 25

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Đối với tình hình nghiên cứu nước ngoài, phòng ngừa tra tấn được rất nhiều học giả quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những khía cạnh khác nhau Nhưng có mục đích chung là nhằm bảo vệ và nâng cao quyền con người chống lại các hành vi tra tấn có thể xảy ra trong thực tế, ở một xã hội văn minh và nhân đạo Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu về nội luật hoá quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam Nhưng tác giả có thể kế thừa một số nội dung để thực hiện luận án tiến sĩ như: giải thích như thế nào là tra tấn, hình thức tra tấn; môi trường có thể xảy ra tra tấn, định hướng phòng ngừa tra tấn của một số quốc gia trong quá trình thẩm vấn… Đây chính là cơ sở và là tiền đề để xác định có hay không “tra tấn” trong quá trình giải quyết VAHS, mà cụ thể

là hoạt động thẩm vấn theo quy định của BLTTHS của mỗi quốc gia

Đối với tình hình nghiên cứu trong nước, phòng ngừa tra tấn trong LLK, HCBC khi Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ không phải

là chủ đề quá mới Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ dưới dạng công bố bài báo khoa học chưa có công trình chuyên sâu Nhưng đã có những điểm tích cực như: đánh giá thực trạng tra tấn trong hoạt động tố tụng hình sự, các vấn đề về bảo vệ quyền con người, hoạt động thu thập chứng cứ và sử dụng chứng cứ là lời khai để đấu tranh với tội phạm… Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng mà tác giả muốn kế thừa để tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện trong luận án

Qua đánh giá, các công trình nước ngoài và trong nước đã có những điểm tích cực để có thể học tập và tiếp tục nghiên cứu trong Luận án Bên cạnh đó, vẫn còn có những điểm hạn chế nhất định:

Một là, các tác giả nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau của hoạt động thu

thập chứng cứ nói chung trong BLTTHS Việt Nam năm 2003, có một số bài nghiên cứu dựa trên các quy định của BLTTHS Việt Nam năm 2015 Tuy nhiên, chưa đi vào

cụ thể đánh giá sự tương đồng và khác biệt quy định của Công ước Liên Hợp quốc

về chống tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam năm 2015 để hiện có hiệu quả Công ước

Hai là, các bài viết chủ yếu phân tích, đánh giá các quy định của BLTTHS

Việt Nam 2003 để làm rõ những bất cập của luật thực định Từ đó đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm phòng ngừa tra tấn Nhưng chưa tiến hành khảo sát cụ thể về thực trạng tra tấn trong các hoạt động tố tụng hình sự Việt Nam để làm

Trang 26

căn cứ cho các đề xuất phòng ngừa tra tấn Do đó, các đề xuất kiến nghị vẫn mang tính định hướng, chưa được cụ thể và chưa được đặt trong tổng thể về mối liên hệ đối với hoạt động thu thập chứng cứ

Ba là, đa phần các công trình chưa tham khảo kinh nghiệm trong quy định

LLK, HCBC (thẩm vấn) của các quốc gia thành viên Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn Trong khi đó đây là nội dung quan trọng để định Việt Nam học tập kinh nghiệm và hướng hoàn thiện pháp luật

Với những vấn đề trên, có thể nói rằng chưa có công trình nghiên cứu về nội luật hoá quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam Tác giả nghiên cứu vấn đề này trong giai đoạn hiện nay,

là rất phù hợp khi mà Đảng và Nhà nước ta, đang tích cực triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 Nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân, hướng tới vấn đề hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân

2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tiến sĩ với đề tài “Nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp

quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam” được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề được đặt ra dưới

dạng câu hỏi nghiên cứu như sau:

Câu hỏi nghiên cứu tổng quát: nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp

quốc về chống tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam như thế nào

để phòng ngừa tra tấn, nhằm bảo đảm và nâng cao quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam

2.1.2 Lý thuyết nghiên cứu

- Các tư tưởng, học thuyết về Nhà nước và pháp luật nói chung; mô hình tố tụng hình sự nói riêng

- Học thuyết nhất nguyên luận và nhị nguyên luận

- Lý luận về tra tấn theo quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn, các thành tựu về phòng ngừa tra tấn của các tác giả trong và ngoài nước

- Lý luận về LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam

Trang 27

2.1.3 Các giả thuyết nghiên cứu

Với tư cách là câu trả lời sơ bộ, cần được chứng minh vào câu hỏi nghiên cứu của đề tài, các giả thuyết nghiên cứu sau đây được đặt ra:

Giả thuyết tổng quát:

Để bảo vệ quyền con người ,Việt Nam đã gia nhập rất nhiều ĐƯQT (trong đó

có Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn) và đã đang ban hành, sửa đổi, bổ sung một số quy phạm pháp luật tố tụng hình sự trong nước, để phòng ngừa tra tấn trong quá trình CQĐT giải quyết VAHS Bên cạnh những mặt tích cực trong đấu tranh phòng chống tội phạm để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân thì “tra tấn” vẫn còn xảy ra khi tiến hành LLK, HCBC trong hoạt động tố tụng hình sự Do còn có những quy định chưa cụ thể, rõ ràng để phòng ngừa tra tấn Nên nội luật hóa các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam là một đòi hỏi cần thiết để phòng ngừa tra tấn, nhằm giải quyết đúng đắn VAHS, tránh tình trạng oan sai

Giả thuyết cụ thể

Thứ nhất, thực tiễn thi hành ĐƯQT cho thấy có hai cách thức chủ yếu mà các

quốc gia thành viên phải thực hiện khi đã tham gia ký kết đó là: áp dụng trực tiếp hoặc

áp dụng gián tiếp (nội luật hóa) Khi tham gia Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn các quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp hành pháp, lập pháp, tư pháp

để phòng ngừa tra tấn Xuất phát từ yêu cầu đó, nhằm bảo đảm sự thống nhất, ổn định trong hệ thống pháp luật quốc gia Việt Nam cần nội luật hóa các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn mà không áp dụng trực tiếp

Thứ hai, Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn quy định các quốc gia

thành viên phải tiến hành nhiều biện pháp để phòng ngừa tra tấn BLTTHS năm 2015 tuy đã có một số điểm tương đồng như: quy định tương đối cụ thể về trình tự, thủ tục, thẩm quyền LLK, HCBC… để phòng ngừa tra tấn Nhưng vẫn còn một số quy định chưa thật sự rõ ràng, mang tính tùy nghi khi áp dụng pháp luật Dẫn đến những hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, do đó tra tấn có thể xảy ra khi người có thẩm quyền tố tụng tiến hành LLK, HCBC

Thứ ba, thời gian qua, các vụ án dùng nhục hình, bức cung vẫn còn xảy ra

khi LLK, HCBC như: vụ dùng nhục hình bảy thanh niên ở Sóc Trăng, Huỳnh Ngọc Tòng nguyên ĐTV Công an tỉnh Đồng tháp dùng nhục hình khi tiến hành LLK…

Trang 28

thực trạng này cho thấy quy định LLK, HCBC vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải được nghiên cứu để hoàn thiện

Thứ tư, hiện nay đã có rất nhiều quốc gia là thành viên của Công ước Liên

Hợp quốc về chống tra tấn Đây là điều kiện thuận lợi cho Việt Nam để học tập kinh nghiệm đối với LLK, HCBC trong BLTTHS của các quốc gia này Đồng thời, căn cứ vào những điểm còn khác biệt so với Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn và thực trạng LLK, HCBC, để đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định về LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam

2.1.4 Hướng tiếp cận của đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu các quy định của luật thực định có liên quan đến đề tài, để làm rõ những vấn đề lý luận về nội luật hóa, cũng như những thiếu sót, hạn chế, vướng mắc của quy định LLK, HCBC còn chưa bảo đảm phòng ngừa tra tấn của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng

Kinh nghiệm của nước ngoài, đã tham gia Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn trong việc nội luật hóa các quy định của Công ước vào pháp luật quốc gia

Thông qua việc nghiên cứu số liệu của Cục Thống kê tội phạm VKSND tối cao, Cục điều tra VKSND tối cao, CQĐT các cấp; khảo sát phạm nhân đang chấp hành án trong các Trại giam của Bộ Công an, khảo sát đối với ĐTV, KSV, luật sư; thông tin từ báo cáo công tác hàng năm và thông báo rút kinh nghiệm trong giải quyết án của các

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp tỉnh và trung ương; thông tin về vụ án bức cung, dùng nhục hình được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng; phỏng vấn những người tiến hành tố tụng hoặc trực tiếp nghiên cứu các hồ sơ vụ án điển hình tại công an các đơn vị địa phương

2.1.5 Dự kiến kết quả nghiên cứu của luận án

Tác giả dự kiến kết quả nghiên cứu của luận án như sau:

Bổ sung, hệ thống lý luận về tra tấn, LLK, HCBC, nội luật hoá Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn vào BLTTHS

Đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu theo quy định của Công ước Liên Hợp quốc

về chống tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam Từ đó, làm cơ sở tiến hành khảo sát thực trạng phòng ngừa tra tấn khi LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam

Thực trạng phòng ngừa tra tấn khi tiến hành LLK, HCBC trong theo quy định của BLTTHS Việt Nam

Trang 29

Kinh nghiệm của nước ngoài về phòng ngừa tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS của một số quốc gia thành viên Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

Kiến nghị giải pháp hoàn thiện phòng ngừa tra tấn đối với LLK, HCBC trong BLTTHS Việt Nam phù hợp với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần hoàn thiện BLTTHS, đảm bảo cam kết đối quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên lãnh thổ Việt Nam Góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức giữ vững an ninh quốc và trật tự an toàn xã hội Nâng cao uy tín và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và các cơ quan thực thi pháp luật

Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong các trường Đại học chuyên ngành luật để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên, sinh viên Định hướng cho các cán bộ đang làm nhiệm vụ, bảo vệ quyền con người, quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Phát huy tối đa hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh, chống các loại tội phạm

2.1.5 Nội dung, kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì Luận án cấu trúc gồm 5 chương:

Chương 1: Lý luận về nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Đánh giá quy định về lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ tố tụng hình sự Việt Nam so với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

Chương 3: Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam so với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

Chương 4: Kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài về Nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can

Chương 5: Kiến nghị về nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với quy định lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; vận dụng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về

Trang 30

quyền con người, quyền công dân; lý thuyết về khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự để thực hiện phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp lịch sử: phương pháp này được

sử dụng ở tất cả các chương của Luận án nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung theo một trình tự, bố cục chặt chẽ, hợp lý, có sự gắn kết, kế thừa có chọn lọc và phát triển các vấn đề, nội dung để đạt được mục đích và nhiệm vụ đã đề ra

Phương pháp pháp luật so sánh: so sánh quy định LLK, HCBC với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn để đưa ra những điểm tương đồng và

sự khác biệt, phòng ngừa tra tấn trong BLTTHS Việt Nam năm 2015 Phương pháp này chủ yếu được sử dụng trong chương 2

Phương pháp thống kê và phân tích số liệu : sử dụng để điều tra, nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực tế và thống kê tình hình tra tấn, trong quá trình LLK, HCBC của các Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, được sử dụng trong chương 3

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: trên cơ sở thực tiễn, tổng kết đánh giá những kết quả, tài liệu thu được từ thực tiễn, được sử dụng chủ yếu trong chương 3 và chương 4

Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến bảo đảm quyền con người, chống tra tấn, được sử dụng chủ yếu trong chương 3 và chương 4

Phương pháp điều tra điển hình: thu thập thông tin một số vụ án điển hình có liên quan và kết quả đảm bảo quyền con người không bị tra tấn trong BLTTHS Việt Nam, được sử dụng chủ yếu trong chương 3

Phương pháp điều tra xã hội học: tổ chức phát phiếu điều tra xã hội học để khảo sát chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa

về thực trạng tra tấn, được sử dụng trong chương 3

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên nhằm lý giải cho vấn đề nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của BLTTHS đối với quy định LLK, HCBC

Trang 31

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ NỘI LUẬT HÓA QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ CHỐNG TRA TẤN ĐỐI VỚI LẤY LỜI KHAI, HỎI CUNG BỊ

CAN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, đặc điểm của tra tấn

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tra tấn trong các văn kiện quốc tế và nghiên cứu nước ngoài

Thuật ngữ “tra tấn” được xuất hiện đầu tiên trong bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền ngày 10/12/1948 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc tại Pa-ri, Cộng hoà Pháp Trong đó liệt kê các quyền cơ bản mà mọi cá nhân được hưởng và là một chuẩn mực chung về quyền con người cho tất cả các quốc gia, dân tộc phấn đấu thực hiện Theo Tuyên ngôn, các quyền cơ bản của con người bao gồm: quyền tự do, bình đẳng

về phẩm giá và các quyền không bị phân biệt, đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị hay quan điểm khác; quyền được sống, không bị bắt làm

nô lệ, nô dịch; không tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục; quyền được thừa nhận tư cách như một con người trước pháp luật ở bất cứ nơi nào; quyền được tự do không bị bắt giữ vô cớ, bị giam cầm hoặc đầy ải; quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập, không thiên vị… Tiếp đó, các văn kiện quốc tế khác cũng

đề cập đến quyền không bị tra tấn như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (The International Convenant on Civil and Political Rights - ICCPR) và hai Nghị định thư bổ sung của Công ước này;19 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng năm 1948 (Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide);20 Công ước của Châu âu về nhân quyền 1950 (Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms);21 Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn và các hình thức đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục người khác 1975 (Declaration on the Protection of All Persons from Being

19 Từ Điều 4 đến Điều 21 thừa nhận các quyền dân sự, chính trị khác của con người gồm: tự do không bị bắt làm nô lệ và nô dịch, tự do không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục

20 Công ước này liệt kê một số hành vi cố ý tàn phá toàn bộ hay một phần đất nước, dân tộc, chủng tộc hay một nhóm tôn giáo như: giết người hàng loạt; gây tổn hại nghiêm trọng về thể chất hoặc tinh thần cho hàng loạt người; chủ tâm bắt một nhóm người phải chịu những điều kiện sống theo dự tính trước nhằm mục đích phá hoại một phần hay toàn bộ sức khỏe của họ

21 Article 3 of the European Convention on Human Rights “prohibits torture and "in human or degrading

treatment or punishment" There are no exceptions or limitations on this right This provision usually applies, apart from torture, to cases of severe police violence and poor conditions in detention”

Trang 32

Subjected to Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment) Tuy nhiên, trong các quy định của các pháp luật quốc tế nêu trên, chưa giải thích cụ thể như thế nào là “tra tấn” và các biện pháp phòng ngừa

Ngày 10/12/1984 Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước Liên

Hợp quốc về chống tra tấn Theo Công ước “tra tấn có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố

ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện, hoặc để đe dọa hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vì bất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗi đau đớn và đau khổ đó do một công chức hay người nào khác hành động với tư cách chính thức gây ra, hay với sự xúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức Khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với hoặc có liên quan đến các biện pháp trừng phạt hợp pháp.”22 Theo khái niệm

này, có thể hiểu tra tấn là các hình thức ngược đãi, được sử dụng như một sự trừng phạt, đe dọa nhằm kiểm soát người khác để có thể có được thông tin hay chỉ để thỏa mãn các xung đột tàn bạo.23 Có 3 yếu tố quan trọng để phân biệt với hành vi khác

không phải tra tấn đó là: “gây đau đớn về thể chất hoặc đau khổ tinh thần nghiêm

trọng; có sự đồng ý hay chấp thuận của một quan chức nhà nước hay một người khác

có quyền lực như một quan chức; vì một mục đích cụ thể, thu thập thông tin, hình phạt hoặc đe dọa”.24 Dựa vào các báo cáo của Ủy ban Liên Hợp quốc về chống tra tấn, các

công trình nghiên cứu khoa học của nước ngoài, tra tấn có một số đặc điểm sau:

- Hành vi tra tấn có thể được thực hiện bằng hai hình thức, tra tấn thể chất và tra tấn tinh thần

+ Hành vi tra tấn thể chất

22 Article 1 Convention Against Torture“1 For the purposes of this Convention, the term "torture" means any act by which severe pain or suffering, whether physical or mental, is intentionally inflicted on a person for such purposes as obtaining from him or a third person information or a confession, punishing him for an act he or a third person has committed or is suspected of having committed, or intimidating or coercing him or a third person,

or for any reason based on discrimination of any kind, when such pain or suffering is inflicted by or at the instigation of or with the consent or acquiescence of a public official or other person acting in an official capacity

It does not include pain or suffering arising only from, inherent in or incidental to lawful sanctions.”

23 Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture – A

Commentary, Oxford University Press, P 29-49

24 Camille Giffard, The torture reporting handbook, Human Rights Centre, University of Essex

[https://www.ohchr.org/EN/PublicationsResources/Pages/AnnualReportAppeal.aspx], P 13

Trang 33

Báo cáo của Ủy Ban chống tra tấn của Liên Hợp quốc năm 1986, đưa ra cách

hiểu về tra tấn về thể chất đó là “những hành vi tác động trực tiếp vào cơ thể nạn

nhân gây ra những cơn đau về thể xác.”25 Đồng thời, Báo cáo này cung cấp một danh mục chi tiết về những hành vi tra tấn thể chất gồm: đánh đập, nhổ móng tay, nhổ răng, điện giật, gây ra các vết bỏng… Manfred Nowak (báo cáo viên đặc biệt về chống tra tấn) trong công trình nghiên cứu của mình cũng đã giải thích về tra tấn và liệt kê những hành vi: sốc điện vào bộ phận sinh dục hoặc kéo móng tay ra khỏi bàn tay, dùng các hung khí hoặc tay không tác động vào cơ thể của nạn nhân26 hoặc lạm dụng tình dục, hiếp dâm; giam giữ kéo dài; lao động nặng nhọc; nhấn nước chết đuối; gây nghẹt thở; treo người trong một thời gian dài27 là những hành vi tra tấn thể chất Ngoài ra, hành vi tra tấn còn được mở rộng hơn khi được thực hiện dưới hình thức sử dụng nạn nhân như là vật thí nghiệm trong khoa học mà không có sự đồng ý hoặc sự hiểu biết của họ.28

+ Hành vi tra tấn tinh thần

Tra tấn không chỉ là sự tác động về thể chất mà còn bao gồm những hành vi tra

tấn tinh thần Tại đoạn 118 của Báo cáo Ủy ban chống tra tấn năm 1869 nêu “hành vi

tra tấn tinh thần sẽ làm tổn thương về tinh thần (tâm lý)” Xét về mức độ tổn thương thì

tra tấn tinh thần thường gây ra hậu quả lâu dài cho nạn nhân Một người có thể phục hồi những vết thương trên cơ thể nhưng vẫn tiếp tục phải chịu đựng sự sợ hãi về tâm lý một cách sâu sắc thậm chí có thể ám ảnh cả đời về hành vi tra tấn Tương tự như tra tấn về thể chất, Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn không quy định cụ thể hành vi tra tấn tinh thần Các quốc gia có thể tự quy định các hành vi tra tấn về tinh thần trên cơ sở, hành vi đó tuy không tác động trực tiếp vào cơ thể nạn nhân gây ra sự đau đớn nhưng có tác động đến tinh thần của nạn nhân, làm cho nạn nhân đau khổ, tuyệt vọng, sợ hãi, mệt mỏi trong một thời gian dài Đồng thời, trong báo cáo năm 1997 của Ủy ban chống tra

tấn, các phương pháp thẩm vấn bao gồm: bị kiềm chế trong điều kiện đau đớn, trùm đầu

25 UN Doc E/CN 4/1986/15, P 28

26 Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture – A

Commentary, Oxford University Press, P.15

27 Giải thích của Uỷ ban chống tra tấn, Bình luận chung số 20, đoạn 6 Xem: Manfred Nowak, Elizabeth McArthur

(2008), The United Nation Convention Against Torture – A Commentary, Oxford University Press, P 29-49

28 Đây là hình thức được phát hiện dưới thời Đức quốc xã trong Thế chiến II Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn trước đó không có quy định này, mặc dù những hành vi này là điều cấm được ghi nhận tại Điều

7 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (CCPR -1966) rằng "không ai phải gánh chịu làm vật

thí nghiệm cho y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý của mình." (“No one shall be subjected to torture

or to cruel, inhuman or degrading treatment or punishment In particular, no one shall be subjected without his free consent to medical or scientific experimentation”)

Trang 34

trong điều kiện đặc biệt, nghe âm nhạc lớn trong một thời gian dài, thiếu ngủ trong thời gian dài; tiếp xúc với ánh sáng trong một thời gian quá dài, từ chối cho nghỉ ngơi; các hành vi đe dọa (đe dọa tra tấn, bị giết, nhốt trong phòng lạnh…) 29 được xác định là tra tấn tinh thần

Trong các công trình nghiên cứu nước ngoài, các tác giả phân tích Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn và cho rằng những hành vi: ép buộc nạn nhân chứng kiến sự tra tấn người khác, bạn bè hoặc người thân; buộc nạn nhân chôn thi thể của người thân hoặc bạn bè; 30 biệt giam nạn nhân trong phòng kín, không có ánh sáng; cho nạn nhân chịu đựng những âm thanh khó chịu khiến nạn nhân bị ám ảnh hay ức chế; không cho nạn nhân thực hiện các nghi lễ tôn giáo hoặc chà đạp các biểu tượng tôn giáo của nạn nhân…31 là tra tấn tinh thần Bên cạnh đó, các tác giả còn kết luận, trong nhiều trường hợp tôn giáo được xem như là một vũ khí lợi hại của tra tấn tinh thần để thu thập thông tin như: buộc các tù nhân có hành vi dâm ô để họ vi phạm niềm tin tôn giáo, văn hoá; ném máu có vẻ như là máu kinh nguyệt vào người đàn ông Hồi giáo để cho

họ tin rằng họ đã vi phạm giáo quy của tôn giáo… Đây được xem là một chiến thuật được tôn vinh hàng đầu về hiệu quả hành vi tra tấn của nó.32

Như vậy, tra tấn tinh thần tác động gián tiếp vào nạn nhân, đi ngược lại thuần phong mỹ tục; chuẩn mực đạo đức, tôn giáo; đảo lộn nhịp sống sinh học hàng ngày; các hành vi gây ra trạng thái quá mức chịu đựng của một con người, uy hiếp tinh thần dẫn đến nạn nhân sợ hãi, đau khổ, tuyệt vọng; thông qua đe dọa đối với gia đình hoặc những người thân yêu.33 Các hành vi trên nếu được thực hiện trong một khoảng thời gian dài sẽ dẫn đến nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, trạng thái tinh thần

Thực tiễn cho thấy tra tấn thể chất và tra tấn tinh thần luôn đi cùng nhau34 Bởi

vì, tra tấn không chỉ gây ra vết thương về thể chất mà còn ảnh hưởng đến trạng thái

29 Human Rights Committee, General Comments No 20 (1992), para 3, and No 29 (2001), para 7 See also, Official Records of the General Assembly, 52nd session, Supp No 44 (A/52/44), para 257

30 Gerhard Werle, Principles of International Criminal Law (second edition), Nxb M.C Asser Press, tr.320

31 Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture – A

Commentary, Oxford University Press, P.79

32 Joyce S.Dubensky and Rachel Lavery (2005), Torture: An interreligious Debate, The Torture Debate, P.162

33 Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture – A

Commentary, Oxford University Press, P 29-49

34 Dragan Dimitrijevic v Sebia bị bắt vào năm 1999 khi bị cảnh sát điều tra có liên quan đến tội phạm Anh ta

bị đưa đến đồn cảnh sát địa phương ở Kragujevac, bị còng tay vào bộ phận tản nhiệt, bị đánh bởi một số nhân viên cảnh sát vào khắp người bằng gậy Cảnh sát không có lệnh bắt giữ và cũng không thông báo cho biết vì sao bị bắt giam Khi được thẩm vấn Cảnh sát đã bắt anh ta lặp đi lặp lại một nội dung nhận tội, thời gian thẩm vấn liên tục và kéo dài trong vòng 14 giờ (6h30 sáng đến 7h30 tối) và sau 7h30 tối anh ta đã bị buộc phải nhận

Trang 35

tinh thần, rất khó có thể hồi phục tâm lý Hành vi của hình thức tra trấn, có mối liên hệ mật thiết với nhau, tra tấn thể chất có thể để lại những vết sẹo tâm lý nghiêm trọng, còn tra tấn tinh thần có thể là những nguyên nhân dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng về thể chất.35

- Mục đích tra tấn: những hành vi gây ra đau đớn về thể chất hoặc tinh thần

chỉ được coi là tra tấn khi nó được thực hiện với mục đích nhất định, nhằm thu thập các thông tin tài liệu, lời nhận tội từ người bị tra tấn hoặc người thứ ba; trừng phạt người đó về một hành vi mà người đó hay người thứ ba đã thực hiện hoặc nghi ngờ

đã thực hiện.36

- Chủ thể thực hiện tra tấn: Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn không

đưa ra khái niệm về công chức (public official) nhưng theo Từ điển Oxford Advanced

Learner’s Dictionary “có nghĩa là người đang giữ vị trí trong cơ quan nhà nước hoặc

tổ chức lớn và hoạt động tuân thủ các quy tắc hành chính nhà nước.” 37 Như vậy, chủ thể hành tra tấn phải có mối liên hệ với Nhà nước, là người chủ mưu hoặc có sự đồng

ý hay chấp thuận của cấp trên Trực tiếp gây ra những tổn thương cho người khác hoặc

đã biết (hay buộc phải biết về hành vi đó), nhưng không hề cố gắng để ngăn chặn việc

đó xảy ra Do đó, một vụ đánh đập diễn ra, nạn nhân bị thương tích, bị xâm hại nhưng những người thực hiện không phải là công chức, không theo bất kỳ một mệnh lệnh dưới quyền lực của chính quyền, quân đội, tư pháp thì đó không phải là tra tấn

- Mức độ tổn thương gây ra bởi hành vi tra tấn: theo Công ước Liên Hợp quốc

về chống tra tấn và các phân tích ở trên, tra tấn sẽ gây đau đớn và đau khổ nghiêm trọng về thể xác, tinh thần, tâm lý đối với nạn nhân Tuy nhiên, mức độ tổn thương mà

tội Đồng thời trong quá trình thẩm vấn Cảnh sát còn lăng mạ anh ta có nguồn gốc dân tộc và nguyền rủa mẹ của mình Ngày 24/11/2004 Uỷ ban chống tra tấn quyết đinh về giải quyết khiếu nại của người nộp đơn và cho rằng việc hành hạ được mô tả đối với khiếu nại được mô tả là gây đau đớn và đau khổ cho nạn nhân, do cách quan chức nhà nước cố tình gây ra trong quá trình điều tra tội phạm là tra tấn; Manfred Nowak, Elizabeth

McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture – A Commentary, Oxford University Press,

P 61, Paragraph 3

Trong một trường hợp khác, theo báo cáo của Uỷ ban chống tra tấn về việc thực hiện Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn của Hoa kỳ cũng nêu một số hành vi được xem là Tra tấn thể chất lẫn tinh thần trong quy định về kỹ thuật thẩm vấn của quân đội Hoa Kỳ Theo Hoa Kỳ, các kỹ thuật này đã được bãi bỏ bởi Sắc lệnh

1349 ngày 22/01/2009 Tuy nhiên Uỷ ban chống tra tấn vẫn quan ngại rằng Sắc lệnh trên vẫn sẽ không chấm dứt tất cả các kỹ thuật thẩm vấn của quân đội nêu trên; Report to the 3rd-5th Periodic Reports of the United States, 53rd Session of the Committee Against Torture, Geneva 3-28 November 2014; P.30 (Quân đội Hoa

Kỳ đã sử dụng kỹ thuật tách ly (30 ngày) và có thể được gia hạn thêm; bịt mắt, bịt tai để tạo cảm giác sợ hãi (tách biệt); thẩm vấn không cho ngủ (không được ngủ quá 4 giờ liên tục trong 24 giờ khi thẩm vấn)

35 Bent Sorensen (2004), Torture and its consequences-international Mechanisms, Tool and Practices, Hội

thảo pháp luật quốc gia và quốc tế về chống tra tấn, Tr.228

36 Camille Giffard, The Torture Reporting Handbook, Human Rights Centre, University of Essex, P 76

37 Oxford Advanced Learner’s Dictionary (2004), University Oxford Press, P.1053

Trang 36

nạn nhân bị tra tấn phải chịu đựng phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân như: tuổi, giới tính, tôn giáo, sức khỏe… để xác định Do đó cùng một hành vi có thể đối với nạn nhân này

là tra tấn, nhưng đối với nạn nhận khác thì có thể là không

- Nạn nhân của tra tấn: là những người bị tước tự do cá nhân hoặc những người

ít nhất đang chịu sự kiểm soát thực tế của người gây ra những tổn thương hoặc đau đớn.38 Những nạn nhân này đang ở trong hoàn cảnh của sự mất cân bằng về quyền lực trên thực tế

- Môi trường, thời điểm bị tra tấn: thông thường tra tấn và đối xử tàn tệ được

bắt đầu từ thời điểm bắt giữ và thường xảy ra tại cơ quan công quyền, trong các nhà tù hoặc tra tấn khi tiến hành các hoạt động điều tra trong môi trường khép kín.39

Ngoài ra, theo Manfred Nowak để hiểu rõ khái niệm “tra tấn” cũng như đặc điểm của nó, các quốc gia thành viên cần tham chiếu thêm Điều 16.40 Theo đó, các quốc gia thành viên cần phòng ngừa các hành động tàn ác khác, hình phạt tàn bạo, vô nhân đạo mà chưa đủ để xác định đây là hành vi tra tấn đã được nêu tại Điều 1 để đảm bảo hơn nữa quyền không bị tra tấn.41 Đồng thời, Ủy ban chống tra tấn thừa nhận,

những cách thức sau đây là tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc đối xử tồi tệ như: bị buộc phải

đứng quay vào tường trong nhiều giờ; chiếu đèn sáng vào mắt; không cho ăn uống; buộc phải đứng liên tục hoặc cúi…42 Các hình thức đối xử không phải là tra tấn khi nó gây ra mà không có mục đích nhất định nhưng có ý định đưa nạn nhân đến các điều kiện có thể gây ra hoặc dẫn đến sự đối xử tệ

Tóm lại, Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn không đưa ra những dạng cụ thể của hành vi Thay vào đó, là những yếu tố cần thiết để xác định một hành vi sẽ bị coi là tra tấn Xét ở góc độ lịch sử, tra tấn về thể chất sẽ gây đau đớn và

38 Bronwyn Naylor, Julie Debeljak and Anita Mackay (2014), “The shape of modern Torture”, The Federation Press, Vol 31, P.23

39 Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture – A

Commentary, Oxford University Press, P.23

Bronwyn Naylor, Julie Debeljak and Anita Mackay (2014), “Human Rights in Closed Environments”, The Federation Press, Vol 31, P.41

40 Article 16 “ 1 Each State Party shall undertake to prevent in any territory under its jurisdiction other acts

of cruel, inhuman or degrading treatment or punishment which do not amount to torture as defined in article

I, when such acts are committed by or at the instigation of or with the consent or acquiescence of a public official or other person acting in an official capacity In particular, the obligations contained in articles 10,

11, 12 and 13 shall apply with the substitution for references to torture of references to other forms of cruel, inhuman or degrading treatment or punishment…”

41 Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), “The United Natrions Convention Against Torture”, Oxford

University Press, P 28, Paragraph 1

42 Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture – A

Commentary, Oxford University Press, P 29-49

Trang 37

tác động trực tiếp lên cơ thể của nạn nhân43 Tra tấn về tinh thần không trực tiếp tác động lên thân thể nạn nhân nhưng có những hành động gián tiếp làm cho nạn nhân bị

ức chế cao độ về tâm lý hoặc khiến họ bị trầm uất, bị sợ hãi, tê liệt ý chí, kiệt quệ về tinh thần Uỷ ban chống tra tấn có trách nhiệm diễn giải nhất quán về hành vi tra tấn và các hình thức đối xử tệ bạc khác thông qua các báo cáo của quốc gia thành viên, các

vụ án cụ thể đã xảy ra và bảo đảm rằng, các tiêu chí để xác định tra tấn là giống nhau trong từng trường hợp cụ thể.44

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của tra tấn theo quan điểm các nhà nghiên cứu Việt Nam

Từng là nạn nhân của chủ nghĩa thực dân và phải trả giá bằng xương máu trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân Việt Nam hiểu về giá trị của Độc lập tự

do và quyền con người không bị tra tấn Từ điển Bách khoa Công an nhân dân đưa ra

cách hiểu về tra tấn là “đánh đập, hành hạ tàn nhẫn, bắt chịu mọi cực hình dã man,

làm cho cơ thể bị đau đớn, tinh thần bị sa sút, sức khỏe bị xâm hại, nhân phẩm bị xâm hại… nhằm buộc phải khuất phục Tra tấn là hình thức đàn áp thường được các thế lực cầm quyền của các nước đế quốc, thực dân và chính quyền tay sai áp dụng đối với chiến sĩ cách mạng và người yêu nước ở các nước bị xâm lược.”45 Bên cạnh đó, theo

từ điển Tiếng việt “tra tấn là hành vi bắt chịu cực hình nhằm buộc phải cung khai.”46

Các khái niệm này hình thành, khi Việt Nam chưa tham gia Công ước Liên Hợp quốc

về chống tra tấn Do đó, chỉ dừng lại ở cách hiểu tra tấn về thể chất mà chưa nói đến tra tấn tinh thần Chủ thể thực hiện hành vi tra tấn cũng có điểm khác biệt so với quy định tại Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

Tuy nhiên, hiện nay đã có một số nhà khoa học, đưa ra khái niệm tra tấn trong các công trình khoa học như:

Theo tác giả Lê Thị Hồng Nhung, “Tra tấn về thể chất là những tác động gây

tổn thương đến sức khỏe, thể trạng của nạn nhân Tra tấn về tinh thần là những tác động gây ra những tổn thương về tâm lý, những suy nhược về tinh thần cho nạn nhân.”47

43 John T.Parrty (2011), “Understading torture”, University of Michigan Press, P.45

44 Manferd Nowak, Elizabeth McArthur, The United Nation Convention Against Torture – A Commentary,

Oxford University Press (2008), P 13, Paragraph 8

45 Viện chiến lược và khoa học Công an – Bộ Công an (2005), Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam,

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, Tr.1172

46 Từ điển Tiếng việt, NXB Đà Nẵng 1996, trang 983

47 Lê Thị Hồng Nhung (2011), Tra tấn theo Công ước quốc tế của Liên Hợp quốc về chống tra tấn và các hình

thức đối xử hay trừng phạt dã man, vô nhân đạo hay hạ nhục con người, Nhà nước và Pháp luật, số 3, tr.78-79

Trang 38

Tác giả Đào Lệ Thu, cho rằng :“Tra tấn về thể chất là những hành vi dùng bạo

lực vật chất tác động lên cơ thể của con người gây ra những thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của con người hoặc thậm chí có thể dẫn đến cái chết Tra tấn về thể chất

có thể bằng công cụ như kẹp điện, dùi cui,… có thể dùng các phương pháp gây đau đớn cho cơ thể như dìm nước hoặc không cho ăn uống, cho đứng ngoài trời giá lạnh không có quần áo,…Tra tấn về tinh thần là những hành vi tuy không dùng bạo lực vật chất tác động trực tiếp lên thân thể nạn nhân nhưng khiến nạn nhân bị ức chế cao độ

về tâm lý hoặc khiến họ bị trầm uất hoặc bị sợ hãi đến tê liệt ý chí hoặc kiệt quệ về tinh thần.”48

Trong khi đó, theo tác giả Nguyễn Công Hồng “tra tấn là hành vi gây đau đớn

về thể chất hoặc tinh thần cho người khác của người thi hành công vụ, nhằm mục đích thu thập thông tin, trừng phạt, gây hoảng sợ, cưỡng bức hoặc vì lý do phân biệt đối xử đối với nạn nhân hoặc người thứ ba.”49

Có thể thấy rằng, hiện nay các nhà khoa học Việt Nam đã có những quan điểm tương đồng so với Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn như: tra tấn phải là hành vi có thể thực hiện bằng hành động tác động lên thể chất hoặc tinh thần, gây ra những đau đớn nhất định nhằm thu thập thông tin Tuy nhiên, đa số trong khái niệm trên vẫn chưa nói đến chủ thể thực hiện tra tấn, dẫn đến có thể hiểu nhầm về tra tấn (ngoại trừ tác giả Nguyễn Công Hồng) Theo tác giả đây là nội dung rất quan trọng, bởi vì không phải bất kỳ ai có hành gây đau đớn về thể chất hoặc tinh thần thì đều xác định là tra tấn, theo quy định tại Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn Hành vi tra tấn phải được tiến hành bởi chủ thể có mối liên hệ với Nhà nước hoặc có

sự đồng thuận của chủ thể là đại diện mang tính quyền lực nhà nước Điều này có nghĩa rằng, bất kì người đang thi hành công vụ nào cũng có khả năng liên quan đến việc tra tấn khi không chấp hành đúng quy định pháp luật Đồng thời các quan điểm nêu trên cũng chưa nhắc đến hình thức tra tấn được thực hiện đối với người thứ ba (đe dọa nạn nhân sẽ gây thiệt hại đối với người thứ ba )

Do đó, để hiểu rõ hơn về khái niệm tra trấn, đồng thời dựa trên các quan điểm

về tra tấn đã được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu Tác giả kế thừa những điểm

48 Đào Lệ Thu (2015), Thực hiện nghĩa vụ của quốc gia đối với việc nội luật hoá các quy định của Công ước

chống tra tấn trong lĩnh vực hình sự, Hội thảo Công ước chống tra tấn và sự tham gia của Việt Nam, Đại học

Luật thành phố Hồ Chí Minh

49 Nguyễn Công Hồng(2014), Yêu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự của Việt Nam khi tham gia vào Công ước

Chống tra tấn và sử dụng các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người của Liên Hợp quốc, Hội Thảo Công ước chống tra tấn và sự tham gia của Việt Nam, Hà Nội, Tr.34

Trang 39

tích cực, phát triển thêm nội hàm của tra tấn để đưa ra quan điểm cá nhân“tra tấn là

bất kỳ hành vi nào của người có chức vụ, quyền hạn được nhà nước giao khi thi hành công vụ cố ý gây ra sự đau đớn về thể chất hoặc tinh thần cho nạn nhân nhằm thu thập các thông tin tài liệu, lời khai, lời nhận tội hoặc từ người thứ ba (đe dọa, ép buộc nạn nhân hay từ người thứ ba) Hoặc vì các mục đích khác nhau, người có chức vụ, quyền hạn được nhà nước giao khi thi hành công vụ cố ý trừng phạt gây ra sự đau đớn về thể chất, tinh thần, tạo sự lo sợ về tinh thần do bị xúi giục, có sự đồng tình hoặc từ mệnh lệnh của lãnh đạo cấp trên Ngoại trừ những hành vi gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần được thực hiện hợp pháp theo quy định của pháp luật” Dựa trên cách hiểu này,

theo tác giả tra tấn sẽ có những đặc điểm sau:

- Hành vi tra tấn: được thực hiện một cách cố ý và biểu hiện dưới nhiều hình

thức Tra tấn thể chất được thể hiện thông qua, sử dụng vũ lực tác động trực tiếp lên cơ thể con người: đánh đập, đâm chém, dùng điện… Tra tấn tinh thần được thể hiện qua hành vi: bỏ đói, bỏ khát; hỏi dồn dập, dai dẳng dưới sức nóng của ngọn đèn cao áp giữa những ngày nóng, oi bức; bắt cởi quần áo trong trời giá rét … hoặc bằng lời nói thô bạo, đe dọa, lăng mạ khi LLK, HCBC nhằm tác động vào tâm lý, tinh thần, tình cảm làm cho họ đau đớn, khổ sở về tinh thần

- Mục đích: tra tấn được dùng cho mục đích thu thập chứng cứ về tội phạm bị

nghi ngờ,50 nhằm phá vỡ ý chí của nạn nhân Trong thực tế, tra tấn thường xảy ra trong lĩnh vực tư pháp hình sự, nhất là quá trình LLK, HCBC Sức mạnh của tra tấn nhằm làm cho nạn nhân sợ sệt, khủng hoảng tinh thần và kết quả cuối cùng đó là sự

khai nhận

- Về hậu quả: hành vi tra tấn gây đau đớn về thể chất và đau khổ nghiêm trọng

cho tinh thần, tâm lý của người bị tra tấn

- Đối tượng bị tra tấn: khi Việt Nam phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về

chống tra tấn, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc KSor Phước đã từng phát biểu trước báo giới:

“Khi nào bị tra tấn? khi họ bị bắt Bị bắt thì một là tù binh, hai là phạm tội, loại thứ ba cũng có thể bị tra tấn đó là những trường hợp chưa đến mức phạm tội, nhưng bị xử lý hành chính cưỡng bức (dễ có nguy cơ bị bạo lực như đối tượng cai nghiện) Đối tượng thứ tư là tiền tố tụng, nghi ngờ có tội thế là bắt đưa vào tra tấn, thậm chí đánh chết người

50 Lương Thị Mỹ Quỳnh (2016), Nội luật hoá Công ước chống tra tấn về quyền của người bị buộc tội trong

pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học Cấp trường, Tr.11

Trang 40

ta Tôi đề nghị làm rõ 4 loại đối tượng này, chứ không chỉ có đối tượng bị bắt”51 Tác

giả hoàn toàn ủng hộ quan điểm này, trong lĩnh vực tư pháp hình sự đối tượng dễ bị tra tấn là những người tham gia tố tụng, đang bị tạm thời tước các quyền tự do như: người

bị bắt, tạm giữ, bị can hoặc người bị tố giác tội phạm, người bị kiến nghị khởi tố khi được các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành LLK, HCBC

- Về địa điểm: hành vi tra tấn có thể được thực hiện trong môi trường khép

kín tại các địa điểm như: trại tạm giam, nhà tạm giữ, nơi làm việc của cơ quan Công

an Đây là môi trường làm việc hoàn toàn khép kín và chỉ có những người được quy định trong BLTTHS mới được có mặt Do đó, nếu thiếu cơ chế giám sát hoàn chỉnh, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lạm quyền thì tra tấn rất có thể xảy ra trong quá trình này

- Chủ thể hành vi tra tấn: phải được thực hiện bởi một công chức.52 Nhưng không phải công chức nào cũng là chủ thể của hành vi tra tấn, mà chỉ những công chức được giao nhiệm vụ, đang thi hành nhiệm vụ, có dấu hiệu hành vi nêu trên mới là chủ thể của tra tấn Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, chủ thể của hành vi tra tấn có thể bao

51 Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam ký Hiệp ước chống tra tấn,

thực thi dẫn độ theo luật Việt Nam, Thứ năm, ngày 02/10/2014, truy cập 12/09/2020

52 Điều 4 Luật cán bộ, công chức“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,

chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công

an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”

Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 Quy định người là công chức, như sau:

Điều 7 Công chức trong hệ thống Tòa án: “ Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án, Phó Chánh

án các tòa và tòa chuyên trách; Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thư ký tòa án; người làm việc trong văn phòng, vụ, ban và các tòa, tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Chánh án, Phó Chánh án các tòa chuyên trách; Thẩm định Tòa án nhân dân cấp tỉnh; thư

ký tòa án; người làm việc trong văn phòng, phòng, ban và Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện; thư ký tòa án; người làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện”

Điều 8 Công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân: “Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, vụ, cục, ban và Viện nghiệp vụ thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; kiểm sát viên, điều tra viên; người làm việc trong văn phòng, phòng thuộc Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh;Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và người làm việc trong Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện”

Khoản 7 Điều 16 Luật Công an nhân dân 2018: “Thực hiện quản lý về công tác điều tra và phòng, chống tội

phạm Chủ trì thực hiện nhiệm vụ phòng, chống khủng bố, bạo loạn và giải quyết các tình huống phức tạp về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội theo quy định của pháp luật Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, tài nguyên và an toàn thực phẩm có liên quan đến môi trường; tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; khởi tố, điều tra tội phạm theo quy định của pháp luật; thực hiện công tác thống kê hình sự; phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội, về bảo vệ môi trường và kiến nghị biện pháp khắc phục; giáo dục đối tượng vi phạm pháp luật tại cộng đồng theo quy định của pháp luật”

Ngày đăng: 24/12/2021, 16:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH CỦA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG - Nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về Chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
HÌNH CỦA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG (Trang 188)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w