“Từ là từ phu tướng Báu kiếm sắc phán lên đàng Vào ra luống trông tin nhạn Năm canh mơ màng Em luống trông tin chàng Ôi gan vàng quặn đau í a…” (Dạ Cổ Hoài Lang – Cao Văn Lầu). Những câu hát ấy có lẽ là rất quen thuộc với ngƣời dân Nam Bộ nói riêng và cả những ngƣời quan tâm, yêu mến về Đờn ca tài tử Nam Bộ nói chung. Trong đời sống tinh thần của con ngƣời không thể thiếu đi những lời ca, tiếng hát, bởi lẽ đó Đờn ca tài tử Nam Bộ ra đời để phục vụ đời sống tinh thần của con ngƣời Nam Bộ, đặc biệt của ngƣời dân lao động miền sông nƣớc, họ đờn hát sau những ngày lao động vất vả. Tiếng hát ấy nhƣ đƣợc cất lên để nói thay tiếng lòng của con ngƣời và cả nỗi niềm của một vùng sông nƣớc Nam Bộ. Đờn ca tài tử Nam Bộ mang đậm hồn quê, đậm văn hóa dân gian, mang những giá trị tinh thần to lớn, là một món ăn tinh thần không thể thiếu của cƣ dân Nam Bộ. Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã đƣợc UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào tháng 12 năm 2013. Là ngƣời con của miền sông nƣớc Tây Nam Bộ, tôi đã quá quen thuộc với những tiếng đờn, tiếng hát những giai điệu gắn bó với tôi ngay từ thuở còn thơ, nó thấm sâu vào tâm trí của tôi, nên tôi rất yêu quý và trân trọng những nét đẹp trong nghệ thuật Đờn ca tài tử. Vì thế, tôi làm chủ đề về Yếu tố dân gian trong Đờn ca tài tử Nam Bộ là muốn mang những giá trị, những nét đẹp của đờn ca tài tử đến với mọi ngƣời, để từ đó có thêm nhiều ngƣời biết đến, quan tâm và tìm hiểu. Từ đó có biện pháp bảo tồn, phát triển loại hình nghệ thuật dân gian này của Việt Nam, làm giàu thêm những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc, để nó không bị mai mộ
Trang 1ĐỀ TÀI: YẾU TỐ DÂN GIAN TRONG ĐỜN CA TÀI TỬ
NAM BỘ
⁂
Trang 2MỤC LỤC
A TỔNG QUAN 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu 2
B NỘI DUNG 2
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về Đờn ca tài tử Nam Bộ 2
1 Khái niệm về Đờn ca tài tử Nam Bộ 2
1.1 “Tài tử” là gì? 2
1.2 Đờn ca tài tử Nam Bộ là gì? 3
2 Khái niệm dân gian 3
3 Tên gọi 4
4 Nguồn gốc và sự hình thành của Đờn ca tài tử Nam Bộ 4
5 Xuất xứ 6
6 Phạm vi hoạt động 6
Chương II: Các yếu tố dân gian trong Đờn ca tài tử Nam Bộ 6
1 Trong đối tượng thưởng thức 6
2 Trong nhạc cụ 7
2.1 Đờn kìm (đàn nguyệt) 8
2.2 Đờn tranh 9
2.3 Đờn cò (đàn nhị) 10
2.4 Đờn tỳ bà 11
3 Trong cách biểu diễn 13
3.1 Hình thức biểu diễn 13
3.2 Trang phục biểu diễn 15
4 Trong nhạc lễ Nam Bộ 16
5 Trong tính ngẫu hứng của Đờn ca tài tử Nam Bộ 16
6 Rao và lối nói trong Đờn ca tài tử Nam Bộ 18
Chương III: Giá trị nghệ thuật của Đờn ca tài tử Nam Bộ 18
Trang 31 Giá trị văn hóa Nam Bộ 18
2 Dồi dào bản sắc văn hóa dân tộc 20
3 Đờn ca tài tử - Di sản văn hóa phi vật thể 20
Chương IV: Giải pháp bảo tồn và phát triển nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ 21 1 Thực trạng của Đờn ca tài tử hiện nay 21
2 Giải pháp bảo tồn và phát triển nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ 22
C KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4A TỔNG QUAN
1 Lý do chọn đề tài
“Từ là từ phu tướng Báu kiếm sắc phán lên đàng Vào ra luống trông tin nhạn Năm canh mơ màng
Em luống trông tin chàng
Ôi gan vàng quặn đau í a…”
(Dạ Cổ Hoài Lang – Cao Văn Lầu)
Những câu hát ấy có lẽ là rất quen thuộc với người dân Nam Bộ nói riêng và
cả những người quan tâm, yêu mến về Đờn ca tài tử Nam Bộ nói chung Trong đời sống tinh thần của con người không thể thiếu đi những lời ca, tiếng hát, bởi lẽ đó Đờn ca tài tử Nam Bộ ra đời để phục vụ đời sống tinh thần của con người Nam Bộ, đặc biệt của người dân lao động miền sông nước, họ đờn hát sau những ngày lao động vất vả Tiếng hát ấy như được cất lên để nói thay tiếng lòng của con người và
cả nỗi niềm của một vùng sông nước Nam Bộ Đờn ca tài tử Nam Bộ mang đậm hồn quê, đậm văn hóa dân gian, mang những giá trị tinh thần to lớn, là một món ăn tinh thần không thể thiếu của cư dân Nam Bộ Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào tháng 12 năm 2013 Là người con của miền sông nước Tây Nam Bộ, tôi đã quá quen thuộc với những tiếng đờn, tiếng hát - những giai điệu gắn bó với tôi ngay từ thuở còn thơ, nó thấm sâu vào tâm trí của tôi, nên tôi rất yêu quý và trân trọng những nét
đẹp trong nghệ thuật Đờn ca tài tử Vì thế, tôi làm chủ đề về Yếu tố dân gian trong
Đờn ca tài tử Nam Bộ là muốn mang những giá trị, những nét đẹp của đờn ca tài tử
đến với mọi người, để từ đó có thêm nhiều người biết đến, quan tâm và tìm hiểu
Từ đó có biện pháp bảo tồn, phát triển loại hình nghệ thuật dân gian này của Việt Nam, làm giàu thêm những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc, để nó không bị mai một và biến mất
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về đề tài Yếu tố dân gian trong Đờn ca tài tử Nam Bộ là để hiểu
thêm những yếu tố dân gian thông qua những đặc điểm, đặc trưng của loại hình nghệ thuật Đờn ca tài tử Tìm hiểu nét đẹp văn hóa của nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ Khai thác những giá trị mà nó mang lại cho cuộc sống của con người Qua việc tìm hiểu về loại hình Đờn ca tài tử thì chúng ta cũng sẽ hiểu thêm về mảnh đất và con người Nam Bộ Thấy được những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc góp phần giữ gìn và phát huy Đờn ca tài tử Nam Bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 5- Chủ thể: Yếu tố dân gian trong Đờn ca tài tử Nam Bộ
- Không gian: Vùng đất Nam Bộ
- Thời gian: Từ truyền thống đến hiện đại
4 Phương pháp nghiên cứu
- Tìm tài liệu, tham khảo các sách, báo, internet về các nội dung liên quan đến đề tài từ đó nghiên cứu và chọn lọc thông tin
+ Mỹ học: Đờn ca tài tử mang giá trị nghệ thuật thẩm mỹ, đó là những nét đẹp bình dị, mộc mạc, gần gũi, đơn sơ của con người thể hiện trong nội dung lời ca, điệu đờn, phản ánh chân thực cuộc sống của những
người bình dân, thể hiện được vẻ đẹp trong quan hệ tình người…
5 Dự kiến những kết quả sau khi nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học: Góp phần vào việc tìm hiểu, nghiên cứu về Đờn ca tài tử Nam Bộ, khai thác những yếu tố dân gian trong loại hình Đờn ca tài tử, hiểu rõ những nét đẹp văn hóa trong Đờn ca tài tử, cung cấp những hiểu biết về những đặc điểm của loại hình nghệ thuật Đờn ca tài tử
Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần quảng bá những đặc sắc của Đờn ca tài tử đến với mọi người Phát triển thêm du lịch vùng Nam Bộ thông qua loại hình nghệ thuật này Giúp mọi người thêm yêu mến Đờn ca tài tử Nam Bộ Góp phần bảo vệ
và phát triển giá trị của Đờn ca tài tử Nam Bộ để giữ gìn văn hóa truyền thống, bản sắc của dân tộc
B NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về Đờn ca tài tử Nam Bộ
1 Khái niệm về Đờn ca tài tử Nam Bộ 1.1 “Tài tử” là gì?
Trước khi tìm hiểu về Đờn ca tài tử Nam bộ thì ta không thể không tìm hiểu
về chữ “tài tử” Trong tiếng Việt, từ "tài tử" có nghĩa là không phải chuyên nghiệp
Ví dụ ca sĩ tài tử để chỉ người đi hát không chuyên, có thể không lấy tiền Tính từ
"tài tử" cũng chỉ lối làm việc thiếu cố gắng, như học tài tử
Trang 6Tài tử cũng là tên một thể loại âm nhạc ở Nam bộ, nhạc tài tử Chữ "tài tử" được dùng đúng với nghĩa của từ này, nhạc tài tử là nhạc của những người không chuyên chơi
Hai chữ "tài tử" cũng có thể được dùng như danh từ với nghĩa là "nghệ sĩ",
"người tài hoa" Người miền Nam Việt Nam xưa dùng chữ "tài tử" để chỉ diễn viên điện ảnh, với ý nói họ là người tài hoa Về sau, chữ "tài tử" được dùng như tính từ
để chỉ cách sống của như những người "tài tử" (nghệ sĩ) Cách sống này được cho
là ít ràng buộc vào thông lệ xã hội, tự do theo ý muốn hay sự đam mê cá nhân Theo quan điểm này, nhạc tài tử là loại nhạc mang tính nghệ sĩ, ngẫu hứng, ứng tác ứng tấu, chỉ chơi giữa những nghệ sĩ tâm đầu ý hợp
Một số người nói rằng từ "tài tử" có nghĩa là nghiệp dư Trong thực tế, từ này có nghĩa là tài năng và ngụ ý rằng những người này không dùng nghệ thuật để kiếm kế sinh nhai, mà chỉ để cho vui hoặc những lúc ngẫu hứng Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ không phải là chuyên gia Ngược lại, để trở thành một nghệ sĩ trong ý nghĩa xác thực nhất của từ này, họ phải thực hành trong một thời gian dài
1.2 Đờn ca tài tử Nam Bộ là gì?
Đờn ca tài tử Nam Bộ là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ Đây là loại hình nghệ thuật của đàn và ca, do những người bình dân, thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền ầm bằng cây guitar phím lõm
Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm với nhau Họ tập trung lại để cùng chia sẻ thú vui tao nhã nên thường không câu nệ về trang phục
2 Khái niệm dân gian
Dân gian là “từ diễn tả cái gì đó thuộc cộng đồng, được truyền từ đời này
đến đời khác.” (Theo nguồn vi.wiktionary.org)
Hiểu dân gian theo nghĩa danh từ thì dân gian là “đông đảo những người dân
thường trong xã hội” Hiểu dân gian theo nghĩa tính từ thì dân gian là “được sáng tạo ra và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.” (Theo nguồn tratu.soha.vn)
Trang 7Tóm lại, dân gian có rất nhiều cách hiểu với những ngữ nghĩa khác nhau, từ những nghiên cứu và tìm hiểu của mình thì tôi có thể hiểu dân gian là những giá trị vật chất lẫn tinh thần, là những yếu tố mang tính nhân dân, được sáng tạo ra bởi những người bình dân, được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, được truyền từ đời này sang đời khác
3 Tên gọi
Đờn ca tài tử Nam Bộ còn được gọi là Đờn ca tài tử, Nhạc tài tử Nam Bộ
4 Nguồn gốc và sự hình thành của Đờn ca tài tử Nam Bộ
Đờn ca tài tử hình thành và phát triển bắt nguồn từ nhạc lễ, Nhã nhạc cung đình Huế và văn học dân gian Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ
Nói đến nguồn gốc thì “Nhạc tài tử có nguồn gốc từ nhạc Cung đình Huế
Với lưu dân di dân qua nhiều đợt vào miền Nam, nhạc tài tử xuất hiện hình thành
ở miền đất mới vào thế kỷ 19 trong các lễ hội trong đời sống dân gian ở các làng
xã vùng đất Gia Định.” (Nguyễn Lê Tuyên, Nguyễn Đức Hiệp, 2013: 45)
Hình thức nghệ thuật Tuồng và Nhạc lễ là hai hình thức nghệ thuật xuất hiện
ở miền Nam vào đầu thế kỉ 19 Tuồng có thể hiểu nghĩa là sân khấu, diễn tích, âm nhạc lấy trống, kèn làm nòng cốt Còn nhạc lễ là ban nhạc chơi nhạc chủ yếu là phục vụ hành lễ tín ngưỡng, trong nhạc lễ lấy nhạc cụ dây kéo và bộ gõ làm nòng cốt Có lẽ để thỏa mãn nhu cầu tinh thần, giải trí sau những ngày lao động mệt mỏi, hay để giải trí trong những lúc nhàn rỗi thì từ hai hình thức ấy những nhạc công đã cùng với những người yêu âm nhạc, những người nông dân sáng tạo ra phong trào
“Đờn cây”, phong trào đờn cây ấy có nghĩa là hòa đờn không có bộ gõ Phong trào đờn cây ấy có sức lan tỏa mạnh mẽ, nó đã lan tỏa ra khắp các tỉnh ở miền Tây Nam
Bộ và các tỉnh ở miền Đông Nam Bộ
Theo một số tài liệu ghi chép thì Đờn ca tài tử Nam Bộ được hình thành vào cuối thế kỷ 19, khi mà các nhạc quan, nhạc sư triều Nguyễn đã rời Trung vào Nam theo phong trào Cần Vương Mặc dù rời xa quê hương, đi lưu dân vào miền Nam nhưng họ không quên mang theo bản sắc, truyền thống của vùng đất xứ sở, quê hương mình, họ đã mang truyền thống ca Huế vào vùng đất mới - Nam Bộ Nói về
âm nhạc cung đình thì có thể nói họ là những bậc thầy về loại hình âm nhạc này,
họ có nhiều kinh nghiệm và rất có tài trong việc sáng tác một cách bài bản Được biết rằng trên đường đi lưu dân, thì các nhạc sư có ghé qua Quảng Trị, Quảng Bình
và cả Quảng Nam, chính vì thế mà tiếng đờn cùng với giọng ca xứ Huế đã mang chút âm hưởng đặc trưng của xứ Quảng Các nhạc sư là những người đã sớm biết
Trang 8kết hợp giữa âm hưởng nhạc Nam Bộ với nhạc Huế để sáng tác ra những bản nhạc tài tử và sau đó mở các lớp dạy đờn khắp cả hai miền là miền Tây Nam Bộ và miền Đông Nam Bộ Một số nhạc sư tiêu biểu lúc bấy giờ như là nhạc sư: Nguyễn
Quang Đại( tức Ba Đợi) (1880) Ở Long An, nhạc sư Trần Quang Diệm 1927) ở Mỹ Tho, là nội tổ của giáo sư Trần Văn Khê, Lê Bình An (1862-1924) là cha của nhạc sư Lê Tài Khí… Họ đều là những người có nhiều năm kinh nghiệm, nghiên cứu, chỉnh sửa các bản đờn cổ và sáng tác bản mới, sau đó sẽ tập hợp và thống nhất các ban nhạc, nhóm đờn ca ở cả hai miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ để hình thành nên nhạc tài tử Nam Bộ Họ đã có công rất lớn trong việc sáng tác bài bản và truyền dạy đờn ca tài tử ra khắp vùng đất mới phía Nam
(1853-Chung quy lại, thì có thể thấy từ phong trào đờn cây các nhạc sư từ kinh đô Huế vào và tạo ra sự biến đổi về chất của phong trào đờn cây, từ đó mới xuất hiện loại hình âm nhạc cổ truyền độc đáo, mang đặc trưng riêng của vùng đất Nam Bộ, một nét rất Nam Bộ đó là Đờn ca tài tử Tiếng đờn miền Trung đã bị biến đổi khi vào đến miền Nam, có thể thấy được rằng một số bài bản mặc dù cùng tên nhưng màu sắc âm nhạc của nó đã khác hẳn so với ban đầu, hai bài “Nam ai Huế” và “Nam ai miền Nam” là một ví dụ điển hình cho điều ấy
Hình 1: Một ban nhạc đờn ca tài tử Sài Gòn Năm 1911 Nguồn: Wikipedia
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%9Dn_ca_t%C3%A0i_t%E1%B
B%AD_Nam_B%E1%BB%99
Con người miền Nam với bản chất phóng khoáng, mộc mạc cùng với nếp sống đặc trưng ở Nam Bộ thì có lẽ nó đã khiến cho các bài bản không giống y khuôn như bản gốc nữa Đối với những người đàn, người hát thì họ cũng không muốn giữ nguyên như thầy đã dạy mà đã biến đổi, thêm thắt vào, điểm tô thêm, khiến những bài bản mang đậm đà hương vị vùng Nam Bộ hơn, mang những tâm hồn của con người Nam Bộ chân chất, hiền hòa Bên cạnh đó, có lẽ do lòng luôn luôn nhớ thương về quê hương, nguồn cội, nên ta thấy rằng các làn điệu của đờn ca tài tử đều mang những nỗi niềm riêng của nó, phảng phất một nỗi u buồn, chính vì thế mà nó mang đậm chất trữ tình và dễ đi vào lòng người hơn
Trang 9Đờn ca tài tử đã trở nên rất phổ biến, là một phong trào ca nhạc phổ thông ở Nam Bộ vào thế kỷ 20 Đặc biệt là ở Vĩnh Long, Mỹ Tho, Long An, Bạc Liêu, Sài Gòn…
Đờn ca tài tử đã tồn tại rất lâu: “Với tuổi đời ngót trăm năm, Đờn ca tài tử
đã vững vàng như là một trong những tượng đài biểu trưng cho văn hóa âm nhạc miền Nam từ cuối thế kỷ XIX qua suốt thế kỷ XX và cho đến nay Được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization, gọi tắt là UNESCO) công nhận là di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào tháng 12 năm 2013.” (Nguyễn Phúc An, 2019: 15)
5 Xuất xứ
Đờn ca tài tử Nam Bộ vốn là loại nhạc thính phòng, nó thường được trình diễn trong phạm vi không gian tương đối nhỏ như là ở trong gia đình, hay được biểu diễn tại các đám cưới, đám giỗ, những buổi tiệc sinh nhật, đặc biệt là trong các lễ hội, sau khi thu hoạch mùa vụ, thông thường đờn ca tài tử được biểu diễn vào những đêm trăng sáng ở xóm làng, thể hiện sự gắn kết cộng đồng
Nguồn gốc của nhạc tài tử là ca Huế, pha lẫn âm nhạc từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi Loại nhạc này mang đậm tính cách giải trí vui chơi chứ không thuộc loại nhạc lễ
6 Phạm vi hoạt động
Nói đến Đờn ca tài tử Nam Bộ thì chắc chắn rằng phạm vi hoạt động của Đờn ca tài tử phải ở Nam Bộ Loại hình nghệ thuật Đờn ca tài tử hiện đang được phát triển ở 21 tỉnh, thành phố phía Nam Việt Nam gồm An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, Đồng Tháp, TP Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Tây Ninh Trong đó, Bạc Liêu, Bình Dương, Tiền Giang và Tp HCM là những tỉnh, thành phố có nhiều người hát Đờn ca tài tử nhất
Chương II: Các yếu tố dân gian trong Đờn ca tài tử Nam Bộ
1 Trong đối tượng thưởng thức
Đối với người dân Nam Bộ có lẽ rằng Đờn ca tài tử đã trở thành một “món
ăn tinh thần” không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày Một món ăn tinh thần vừa dân dã, vừa bình dị, mộc mạc nhưng cũng không kém phần cao sang, khuôn phép, thể hiện được sự cởi mở và tính cách phóng khoáng như chính tính cách của người dân Nam Bộ Bởi thế đờn ca tài tử được đông đảo nhân dân Nam Bộ yêu
Trang 10thích, họ thích chơi, thích thưởng thức Những người chơi đàn, những người ca đều được gọi là tài tử, bởi họ biết chơi, am hiểu về đờn ca tài tử, hiểu được những giá trị văn hóa, những cái hay, cái tốt đẹp trong đờn ca tài tử Còn đối với đối tượng thưởng thức ta cũng có thể xem họ giống như những người nghệ sĩ am hiểu và biết
thưởng thức nghệ thuật Theo Ngyễn Phúc An: “Bên cạnh người đờn, người ca với
khái niệm mà tôi nêu ra đó là tài tử đờn và tài tử ca, thì tôi còn nêu ra thêm một khái niệm nữa đó là tài tử thưởng thức Với khái niệm này, tôi cho rằng tài tử thưởng thức bao gồm luôn cả tài tử đờn và tài tử ca nêu trên, đồng thời vừa có thêm một đối tượng khác nữa là người thưởng thức, nghĩa là “ca không hay mà đờn nghe cũng dở”, hoặc thậm chí là không biết đờn hoặc không biết ca , nhưng biết chơi tài tử, nghĩa là am hiểu được lề lối tài tử, phép chơi tài tử, biết thưởng thức câu ca tiếng đờn, biết đánh giá những gì phải phép hay trật phép, như nói trên, những phẩm chất vừa nêu, bắt buộc một người đờn hay một người ca đều phải am tường, thì mới được cho là một tài tử đúng nghĩa, ở đây có thêm một đối tượng nữa không phải là người thực hành nghệ thuật bằng giọng ca hay kỹ thuật đờn, nhưng biết thưởng thức âm nhạc, đó cũng chính là một tài tử góp phần làm nên nghệ thuật Đờn ca tài tử được hoàn chỉnh vậy.” (Nguyễn Phúc An, 2019:
116)
Đờn ca tài tử phục vụ đông đảo khán giả là nhân dân, những người bình dân, người lao động Đối tượng thưởng thức của đờn ca tài tử không phân biệt giai cấp, không phân biệt giàu nghèo, nó phục vụ cho mọi tầng lớp nhân dân, được đông đảo quần chúng nhân dân đón nhận và thưởng thức Thử tưởng tượng mà xem, một ngày vật lộn vất vả ở ruộng đồng, một ngày lao động mệt mỏi trên sông nước, để rồi chiều xuống cùng với bè bạn, cùng với những người thân trong gia đình ngồi lại với nhau ăn uống, cùng nhau đờn hát tới khuya, ngân nga những giai điệu quen thuộc, điều đó cũng xóa tan đi tất cả những mệt mỏi sau một ngày lao động vất vả Những người chơi, những người thưởng thức luôn tụ tập theo nhóm, cùng nhau ngồi trên ghe, xuồng, hay ngồi dưới gốc cây, trong ánh trăng sáng, sự quây quần cùng nhau đờn ca, già hát, trẻ hát, ai hát được thì hát, không đờn, không hát được thì ngồi bên nhau thưởng thức Như vậy, có thể nói yếu tố dân gian trong đối tượng thưởng thức của đờn ca tài tử chính là nó phục vụ cho nhân dân, cho những người lao động bình dân, nó mang tính tập thể, cộng đồng thể hiện sự gắn kết cộng đồng trong làng xã, xóm ấp với nhau, bên cạnh đó còn tăng thêm tình nghĩa giữa hàng xóm láng giềng
2 Trong nhạc cụ
Những nhạc cụ thường được dùng trong "Đờn ca tài tử" bao gồm có đàn kìm, đàn tranh, đàn cò, đàn tỳ bà, đàn tam, sáo thường là sáo bảy lỗ Hiện nay có
Trang 11một loại đàn mới do các nghệ nhân Việt Nam cải biến là Guitar phím lõm Loại nhạc cụ này được khoét lõm các ngăn sao cho khi đánh lên nghe giống nhạc cụ Việt Nam nhất (âm cao) Tìm hiểu về yếu tố dân gian trong Đờn ca tài tử Nam Bộ thì chúng ta không thể bỏ sót những yếu tố dân gian được thể hiện qua nhạc cụ Đờn ca tài tử một loại hình nghệ thuật dân gian thì yếu tố dân gian sẽ xuất hiện ở nhiều khía cạnh Đặc biệt yếu tố dân gian được thể hiện qua những nhạc cụ được chơi trong Đờn ca tài tử Nam Bộ Và sau đây tôi sẽ phân tích yếu tố dân gian trong một số nhạc cụ như sau:
2.1 Đờn kìm (đàn nguyệt)
Có lẽ đờn kìm hay còn có tên gọi là đàn nguyệt đã trở thành một loại nhạc cụ quá đỗi quen thuộc với dàn nhạc dân tộc Việt Nam, nó xuất hiện ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam Âm sắc của đờn kìm rất đa dạng, nó vừa cho ra những âm thanh trong trẻo, rộn ràng, vui tươi, vừa có thể cho ra những âm thanh mang những cung bậc cảm xúc sâu lắng, dịu dàng Chính vì đờn kìm thể hiện được nhiều sắc thái cảm xúc khác nhau và có được những nét độc đáo riêng nên đờn kìm luôn đứng ở vị trí đầu
Hình 2: Đàn kìm hay còn gọi là đàn nguyệt
Nguồn: https://nhom1gdcd1.dudaone.com/newpage5
Đờn kìm là một loại nhạc cụ gắn liền với dân gian, nó xuất hiện ở nhiều loại hình nghệ thuật dân gian Được biết tổ tiên của đờn kìm là đàn Nguyễn, có một thời gian nó được gọi với cái tên là Tần tỳ bà, phải chăng chính là nhờ sự giao lưu văn hóa đã xuất hiện ở vùng Mân Việt một loại nhạc cụ đó là nguyệt cầm cần dài với nhiều tên gọi khác nhau như nguyệt cầm Đài Loan hay là đàn cái ban, loại này thường gắn liền với loại hình diễn xướng bắt nguồn từ thể loại hát nói dân gian trong vùng Khi được tiếp nhận thì người Việt đã cải biến thành Nam âm, với lối gắn phím đàn bằng lối ngũ chính không nhị biến để sự nhấn nhá, luyến láy tiếng nhạc theo lối phát âm và diễn xướng tiếng Việt một cách thật phù hợp
Trang 12Chất liệu dân gian của đờn kìm được thể hiện thông qua việc nó gắn với âm dương lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái Theo ghi chép của Nguyễn Phúc An đã có nêu rõ:
“Từ quan niệm đờn kìm như một tượng trưng thay thế cho cầm, các nhà Nho
tài tử đã suy luận cho thấy đờn kìm cũng được cấu tạo theo dịch lý âm dương ngũ hành phương Đông mà Nho giáo chịu ảnh hưởng rất sâu đậm Ông Hai Ngưu đã miêu tả trong quyển Cổ nhạc tổ truyền nguyên lý và đề nghị đổi đờn kìm (nguyệt cầm) ra thành Nhựt cầm vì theo ông:
Nhựt Cầm giống đực ban ngày, bề tròn có 3 thước 6 tấc 5 phân, thước ta của Việt Nam, là quý, theo mỗi năm có 365 ngày, cần đờn là ánh sáng của mặt trời rọi xuống trần gian, có hai dây là lưỡng nghi âm dương, có bốn trục là Đông Tây Nam Bắc và đờn là trung ương Á châu có 8 phiếm là càn khảm cấn chấn tốn ly khôn đoài
Thùng đờn ruột trống là theo nền Trời thâu Thủy Hỏa Phong, có hai dây là lưỡng nghi âm dương, so dây thì phát ra tiếng nhạc, mặt trời mọc lên là tròn, không dời đổi, nên 8 phiếm gắn cứng
Một lập luận rất sát với dịch lý phương Đông, có âm dương lưỡng nghi, có
tứ tượng, bát quái… chúng ta không thể không chấp nhận với lập luận này khi đã chấp nhận quan điểm tư tưởng Nho giáo là nền tảng của nhạc tài tử Tôi chưa xác định được chính thước ta là thước nào, nhưng chúng ta vẫn thấy rõ ràng ở con số
“3 thước 6 tấc 5 phân”, nếu có một thước ta thì chúng ta chắc chắn có thể dựa vào
đó để mà làm ra một cây đàn theo quan niệm này
Từ đó ta cũng thấy rằng, tư duy dân tộc đã rất mạnh từ ban sơ, các nhà nho
đã cố gắng để tạo ra cái riêng trong cái văn hóa chung Á Đông, thì cái bản sắc Việt Nam và lập luận riêng để tạo ra tính Nam Bộ ấy vẫn mạnh mẽ trong tư tưởng văn nghệ.” (Nguyễn Phúc An, 2019: 244 – 245)
có 12 dây, một mảnh còn lại có 13 dây, có lẽ vì thế mà người ta đặt tên là đàn tranh
vì lấy từ hai chữ tranh giành Nguyễn Phúc An đã nhận xét rằng: “Đó là lối tư duy
trung đại, lối tư duy thần thoại duy tâm chứ không logic, không duy lý được Bây giờ đây chúng ta không thể dựa vào những truyền thuyết thần thoại để rồi lại cho
Trang 13ra một kết luận mang tính truyền thuyết hay thần thoại khác nữa.” (Nguyễn Phúc
An, 2019: 260)
Hình 3: Đàn tranh
Nguồn: https://www.wikiwand.com/en/%C4%90%C3%A0n_tranh
2.3 Đờn cò (đàn nhị)
Đờn cò dường như xuất hiện trong hầu hết các loại hình âm nhạc dân tộc,
âm nhạc cổ truyền Xuất hiện trong Nhã nhạc cung đình Huế, phường bát âm, tuồng, chèo, vọng cổ, cải lương… Đàn cò góp mặt dưới nhiều hình thức như độc tấu, song tấu, hòa tấu Đặc biệt trong nhạc tài tử Nam Bộ và nhạc lễ Nam Bộ thì đờn cò là một trong ba nhạc cụ chính bên cạnh đờn kìm và đờn tranh
Hình 4: Đàn cò – đàn nhị
Nguồn: https://xuongdancuong.com/tin-tuc/nhac-cu-co-truyen-viet-nam-dan-nhi
Đối với tên gọi thì ở miền Bắc thì gọi là đàn nhị còn ở miền Nam thì gọi là đờn cò Vậy tại sao lại có tên gọi là đờn cò? Có phải là người ta đã dựa vào hình dáng của cây đờn cò miền Nam vào mấy mươi năm trước là có cần đàn tròn và nhỏ, xét phần đầu trên thì nó co lại và quắp xuống, ngoài thì nhọn và nhỏ dần
giống như là mỏ của con cò hay không?
Còn theo Nguyễn Phúc An thì ông lập luận rằng: “Theo tôi tiếng “cò” còn là
một động từ có nghĩa là cò cưa, cò kéo, cò qua cò lại là một động tác đặc trưng của phương pháp chơi đàn, dân miền Nam thường hay gọi nôm na, thấy sao nói
Trang 14vậy, nhiều tên gọi được đặt từ một trong những đặc trưng thường ngày nhất của một sự vật hay hiện tượng, do đó đờn cò hẳn có thể là do gặp mặt đặt tên, theo động tác đàn mà phải cò cưa ấy, nên có tên là đờn cò.” (Nguyễn Phúc An, 2019:
277-278)
Đờn cò còn được khắc họa thông qua ca dao sau:
“Một mình lên ngựa cầm cung
Tả xung hữu đột anh hùng đởm đương
Đó là câu ca dao mà người đời dành tặng cho cây đờn cò, “lên ngựa” ngựa
ở đây với hình ảnh của một kỵ sĩ xông pha trên lưng ngựa, ngựa còn là một bộ phận của cây đờn cò, vị trí gác lên mặt đờn và được hai dây đờn mắc lên nó,
chúng ta gọi là ngựa đàn, giống như cầu đàn tranh vậy “Cầm cung” cũng chính
là một hình ảnh hoán dụ, kỵ sĩ cầm cung lên ngựa xông pha trận mạc, thì cung ở đây còn là cung vĩ dùng để kéo đờn, hai hình ảnh thật khít khao và đẹp đẽ ấy đã được dân gian khéo léo lựa chọn để miêu tả cho hình ảnh cây đờn cò dân dã.”
(Nguyễn Phúc An, 2019: 278 – 279)
Thông qua cách diễn tấu đàn cò, ta có thể thấy được nét dân dã, mộc mạc, bình dị như chính tính cách của người Việt ở Nam Bộ Đờn cò khi được biểu diễn trong nhạc lễ hay là trong đờn ca tài tử thì những hình ảnh quen thuộc thường thấy
đó là hình ảnh người đờn ngồi dưới đất có trải chiếu, hay là trên chõng, người đờn
sẽ ngồi bẹp xuống sàn một cách thoải mái nhất có thể để chơi đàn Tư thế ngồi chơi đàn là một chân thì xếp (chân phải), một chân thì chống (chân trái) Ngoài tư thế chơi đàn là ngồi xếp chân trên chiếu hay ngồi trên ghế thì người chơi đàn còn đứng để kéo đàn
2.4 Đờn tỳ bà
Đờn tỳ bà là một loại nhạc cụ được sử dụng rất nhiểu trong các thể loại âm nhạc ở Việt Nam như: Nhã nhạc cung đình Huế, Lễ nhạc Phật giáo, Lễ nhạc Cao Đài, phường bát âm, cải lương, đặc biệt nó được sử dụng trong nhạc tài tử và là một trong những nhạc cụ chính của đờn ca tài tử Nam Bộ
Đờn tỳ bà được mang đi khắp khắp vùng Đông Á, tuy từng khu vực mà sự phát triển, du nhập của đờn tỳ bà là khác nhau, thể hiện những nét văn hóa của từng vùng là khác nhau Nhưng suy cho cùng thì nó vẫn là một sản phẩm mang
đậm nét Á Đông: “Đàn tỳ bà, một sản phẩm của tư duy Á Đông mang đậm tính
chất Á Đông bằng công cụ là dịch lý phương Đông, từng được lý luận bằng quan