Nhằm mục đích nghiên cứu mối liên hệ giữa hành vi tổ chức quản lý dự án với kết quả thực hiện dự án; cũng như đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
LÊ TRỌNG TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ
TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐẾN KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TẠI VIỆT NAM
NGÀNH: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MÃ SỐ: 9.58.03.02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2021
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Giao thông Vận tải
Người hướng dẫn khoa học:
Có thể tìm thấy luận án tại:
1 Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải
2 Thư viện Quốc gia
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Các bài báo đăng trên tạp chí:
1 ThS NCS Lê Trọng Tùng (2020), Nghiên cứu mô hình ảnh hưởng của quá trình tổ chức
quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, Tạp chí Giao
thông Vận tải số tháng 5/2020, tr 149 – 153
2 ThS NCS Lê Trọng Tùng (2021), Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến
tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam, Tạp
chí Giao thông Vận tải số tháng 1+2/2021, tr 104 – 107
3 ThS NCS Lê Trọng Tùng (2021), Nghiên cứu ảnh hưởng của công tác kiểm soát đến kết quả
thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam, Tạp chí
Giao thông Vận tải số tháng 6/2021, tr.112 – 115
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Nghiên cứu hành vi tổ chức, cũng như mối liên hệ giữa hành vi với hiệu suất của tổ chức là một lĩnh vực đã được nhiều học giả trên thế giới cũng như trong nước đặc biệt quan tâm Stephen P Robbins và Timothy A Judge đã chỉ ra rằng: kết quả đầu ra của tổ chức là một phần kết quả của sự tương tác hành vi trong tổ chức Mặc dù vậy, kết quả nghiên cứu này phát biểu trong trường hợp tổ chức thực hiện dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ (CSHT GTĐB) vẫn cần được hỗ trợ bởi các bằng chứng thực nghiệm Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, nghiên cứu hành vi tổ chức vận dụng vào điều kiện tổ chức dự án trong thực hiện các dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB chưa được tiến hành nghiên cứu thực nghiệm
Nhằm mục đích nghiên cứu mối liên hệ giữa hành vi tổ chức quản lý dự án với kết quả thực hiện
dự án; cũng như đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự
án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB bằng cả lý luận và thực tiễn, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam” để làm nội dung nghiên cứu cho luận án của mình
2 Mục đích và câu hỏi nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
* Mục đích của luận án: Nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến
kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tại Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tại Việt Nam
* Mục tiêu cụ thể của luận án:
- Xây dựng mô hình và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tại Việt Nam
- Sử dụng kết quả nghiên cứu để đưa ra những khuyến nghị cho các bên liên quan đến hoạt động quản lý thực hiện dự án nhằm cải thiện kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tại Việt Nam
b Câu hỏi nghiên cứu
- Kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB là gì? Nó bị ảnh hưởng bởi những yếu tố nào trong quá trình thực hiện dự án?
- Các yếu tố tổ chức quản lý dự án là gì? Các yếu tố này có ảnh hưởng như thế nào đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB?
- Thực trạng kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tại Việt Nam trong thời gian qua?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tại Việt Nam trong thời gian qua như thế nào?
- Những khuyến nghị nào cần được đưa ra để cải thiện kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tại Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý về ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tại Việt Nam
b Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết
quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB; trong đó các yếu tố tổ chức quản lý được xem xét theo 4 chức năng của quản lý, bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo quá trình thực
Trang 52
hiện và kiểm soát quá trình thực hiện; kết quả thực hiện dự án được xem xét theo 3 tiêu chí quan
trọng, phổ biến là: chất lượng, tiến độ và chi phí
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: luận án nghiên cứu các dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB
ở ba miền: Bắc, Trung, Nam của Việt Nam
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: các dữ liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu trong giai đoạn 2015
– 2020 Các dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng vấn chuyên gia và điều tra khảo sát thực hiện trong năm 2020 đối với các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB
tại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính chủ yếu là phương pháp diễn dịch Bằng phương pháp này, tác giả sẽ dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước đã công bố trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự án nói chung và kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB nói riêng để xác định rõ những nội dung có thể kế thừa, phát triển; cũng như những "khoảng trống tri thức" cần phải nghiên cứu, hình thành được khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất
- Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Dữ liệu thu thập được từ việc khảo sát sẽ được phân tích thông qua các kỹ thuật phân tích định lượng theo các bước: phân tích thống kê mô tả; đánh giá độ tin cậy của thang đo; phân tích phương sai; phân tích tương quan; phân tích hồi quy tuyến tính và kiểm định mô hình
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
- Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và các khuyến nghị nhằm cải thiện kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1 Nghiên cứu các tiêu chí phản ánh và đo lường kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng giao thông đường bộ
1.1.1 Xác định các tiêu chí phản ánh kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
Trang 6Từ các nghiên cứu có liên quan, tác giả nhận thấy rằng: trải qua nhiều thập kỷ với những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước khác nhau, các tác giả đã đưa ra rất nhiều tiêu chí để phản ánh kết quả của dự án nói chung, cũng như kết quả của dự án xây dựng nói riêng Trong
đó, những tiêu chí phản ánh kết quả của giai đoạn thực hiện dự án bao gồm: chi phí, tiến độ, chất lượng, an toàn, sự hài lòng của các bên liên quan và những tiêu chí phản ánh kết quả ở giai đoạn vận hành, khai thác, kết thúc chu kỳ của dự án bao gồm: chi phí vận hành và bảo trì, thời gian hoạt động, lợi nhuận, an toàn, sự hài lòng của người sử dụng, sự hài lòng của cộng đồng
1.1.2 Đo lường kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
Nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan đã chỉ ra rằng: kết quả thực hiện dự án có thể được
đo lường bằng các chỉ tiêu được tính toán theo những công thức toán học cụ thể (như: sự biến thiên thời gian, tăng trưởng chi phí, tốc độ xây dựng ); hoặc có thể được đo lường thông qua việc đánh giá sự hài lòng của các bên liên quan đến dự án (như: sự hài lòng của chủ đầu tư, sự hài lòng của nhà thầu, sự hài lòng của cộng đồng )
1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
1.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
Dựa trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan ở cả trong nước và trên thế giới, tác giả nhận thấy rằng các nhóm yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự án nói chung và dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nói riêng bao gồm:
- Nhóm yếu tố liên quan đến đặc điểm của dự án
- Nhóm yếu tố liên quan đến quy trình thực hiện dự án
- Nhóm yếu tố liên quan đến những người tham gia dự án
- Nhóm yếu tố liên quan đến tổ chức quản lý
- Nhóm yếu tố liên quan đến năng lực và mối quan hệ của các bên tham gia dự án
- Nhóm yếu tố liên quan đến kinh tế và chính sách
- Nhóm yếu tố liên quan đến môi trường bên ngoài
1.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng giao thông đường bộ
Để đảm bảo dự án đạt được kết quả và mục tiêu đề ra thì yếu tố tổ chức quản lý dự án đóng vai trò hết sức quan trọng Theo các tác giả thì hoạt động tổ chức quản lý là chìa khóa thành công của dự
án Bằng cách sử dụng những công cụ quản lý, các nhà quản lý dự án có thể lập kế hoạch và thực hiện các dự án xây dựng để tối đa hóa cơ hội thành công của dự án
Albert P C Chan và các cộng sự đã tiến hành đánh giá kỹ lưỡng các tài liệu liên quan đến các yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả và sự thành công của dự án Đó là những bài báo đăng trên các tạp chí lớn trên thế giới liên quan đến lĩnh vực quản lý Tổng cộng có 43 bài báo được nhóm tác giả lựa chọn để phân tích Sau khi nghiên cứu cẩn thận các tài liệu, nhóm tác giả nhận thấy rằng có thể
nhóm các yếu tố ảnh hưởng thành 5 loại, trong đó có các yếu tố liên quan đến tổ chức quản lý dự án
gồm: cơ cấu tổ chức quản lý; thông tin liên lạc đầy đủ; lập kế hoạch và ra quyết định hiệu quả; cơ chế kiểm soát dự án; xử lý các sự cố; khả năng phản hồi; sự phối hợp hiệu quả; kiểm soát công việc của các nhà thầu; cuối cùng là hành động quản lý tổng thể
Tại Việt Nam, các tác giả cũng chỉ ra rằng yếu tố tổ chức quản lý là một trong các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ, chi phí, cũng như sự thành công hay thất bại của các dự án xây dựng
1.3 Các kết luận rút ra từ nghiên cứu tổng quan các công trình liên quan đến đề tài luận án và xác định khoảng trống nghiên cứu
Trang 74
1.3.1 Các kết luận rút ra từ nghiên cứu tổng quan các công trình liên quan đến đề tài luận án
Nghiên cứu tổng quan các công trình khoa học trong và ngoài nước giúp cho tác giả có được cái nhìn toàn diện cả về lý thuyết và thực tiễn ảnh hưởng của các yếu tố nói chung và các yếu tố tổ chức quản lý nói riêng đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT và dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB Nội dung nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có thể khái quát như sau:
- Các công trình nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều tiêu chí phản ánh kết quả của giai đoạn thực hiện
dự án đầu tư XDCSHT nói chung và dự án đầu tư XDCSHT GTĐB nói riêng Trong đó, các tiêu chí phổ biến phải kể đến bao gồm: chi phí, tiến độ, chất lượng, an toàn, môi trường
- Các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng: kết quả thực hiện dự án có thể được đo lường bằng các chỉ tiêu tính toán như: sự biến thiên thời gian, tăng trưởng chi phí, tốc độ xây dựng ; hoặc có thể được đo lường thông qua việc đánh giá sự hài lòng của các bên liên quan như: sự hài lòng của chủ đầu tư, sự hài lòng của nhà thầu, sự hài lòng của cộng đồng
- Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự án nói chung và dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB nói riêng Các yếu tố được phân ra thành nhiều nhóm khác nhau, bao gồm: đặc điểm của dự án; tổ chức quản lý dự án; những người tham gia dự án; năng lực và mối quan hệ giữa các bên tham gia dự án; kinh tế và chính sách; môi trường bên ngoài
- Các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện cũng như sự thành công hay thất bại của dự án, trong đó có dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông
1.3.2 Xác định khoảng trống nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan, tác giả nhận thấy trong các nghiên cứu trước đây vẫn còn có một số khoảng trống nghiên cứu mà có thể tiếp tục khai thác:
- Hầu hết các công trình nghiên cứu có liên quan đều xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả dự án trong cùng tổng thể với nhiều nhóm yếu tố khác Đồng thời, các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khám phá và xếp hạng ảnh hưởng các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả dự án trong cùng tổng thể với nhiều nhóm yếu tố khác
- Chưa có công trình nghiên cứu nào xem xét sự ảnh hưởng riêng biệt, cũng như xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT nói chung và CSHT GTĐB nói riêng
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐẾN KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 2.1 Khái niệm và các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường
bộ
2.1.1 Khái niệm cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Cơ sở hạ tầng là toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật (như hệ thống đường giao thông, thủy lợi, năng
lượng, bệnh viện, trường học ) tạo nền tảng cho sự phát triển toàn diện của một quốc gia, từ kinh tế
- xã hội đến bảo đảm an ninh, quốc phòng, góp phần bảo vệ môi trường và phục vụ đời sống nhân dân
- Cơ sở hạ tầng giao thông là một loại hạ tầng kỹ thuật, nó là một mạng lưới đường để kết nối các
khu vực khác nhau trên cùng một đất nước cũng như với các khu vực khác trên thế giới Cơ sở hạ tầng giao thông bao gồm: đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, cảng biển, sân bay
- Theo Luật giao thông đường bộ, cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ bao gồm: công trình đường
bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao
thông và hành lang an toàn đường bộ Trong đó, công trình đường bộ gồm: đường bộ, nơi dừng xe,
đỗ xe trên đường bộ, đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu, rào chắn, đảo giao thông,
Trang 8dải phân cách, cột cây số, tường, kè, hệ thống thoát nước, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí và
các công trình, thiết bị phụ trợ đường bộ khác Đường bộ gồm: đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ,
bến phà đường bộ
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả xem xét cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ ở khía
cạnh là công trình đường bộ (đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ) và bến xe, bãi đỗ xe
2.1.2 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động đầu tư xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình xây dựng hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định
2.1.3 Các giai đoạn của quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Theo Luật Xây dựng, trình tự đầu tư xây dựng của dự án (trong đó bao gồm dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB) có ba giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng
2.2 Tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
2.2.1 Khái niệm tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Từ các khái niệm về quản lý dự án (QLDA) nói chung và QLDA xây dựng nói riêng, tác giả đề
xuất khái niệm về quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB như sau: Quản lý dự án đầu tư xây
dựng CSHT GTĐB là việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm soát tất cả các nguồn
lực và các hoạt động có liên quan trong suốt vòng đời của dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB, nhằm đạt được những mục tiêu của dự án
- So với loại hình dự án trong các lĩnh vực khác, dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB được thực hiện bởi một số lượng lớn các chủ thể khác nhau (chủ đầu tư, nhà thầu thi công, các đơn vị tư vấn…)
và số lượng các chủ thể tham gia vào quá trình quản lý dự án không ngừng tăng lên Các chủ thể khác nhau (các bên tham gia vào dự án) được tích hợp trong cùng một tổ chức dự án và hình thành nên tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB
- Tuy nhiên, bản chất của tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB là tính tạm thời, xuất phát
từ thực tế là nó chỉ được hình thành trong suốt thời gian thực hiện của dự án Bản chất này khác với các loại hình tổ chức thông thường hoạt động trên cơ sở lâu dài Nhưng dù cho tạm thời hay vĩnh viễn, duy nhất hay phổ biến, một tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tồn tại là để đạt được các mục tiêu vì nhu cầu tồn tại của nó Tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB (mặc dù là tạm thời) cũng được xác lập theo cơ chế là định hướng mục tiêu Vì vậy, để đạt được các mục tiêu thì bản thân tổ chức dự án cần phải thực hiện các chức năng của quản lý bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo và kiểm soát quá trình thực hiện
Như vậy, tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB được hiểu là việc thực hiện các chức năng của quản lý trong tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB Đây là khái niệm được sử
dụng trong nghiên cứu này
2.2.2 Mục tiêu và các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
2.2.2.1 Mục tiêu quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Tùy tuộc vào quy mô, tính chất của dự án và phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội của từng quốc gia mà mỗi nước có những mục tiêu quản lý dự án đầu tư XDCSHT nói chung và CSHT GTĐB nói riêng là khác nhau Ở mức cơ bản nhất được nhiều nước trên thế giới áp dụng là ba mục tiêu: chất lượng, chi phí và tiến độ
Trang 96
- Tại Việt Nam, các mục tiêu của quản lý dự án đầu tư XDCSHT đã được nâng lên thành năm mục tiêu bắt buộc phải quản lý, bao gồm: chất lượng, tiến độ, chi phí, an toàn lao động và bảo vệ môi trường
- Mục tiêu quản lý dự án đầu tư XDCSHT trong đó bao gồm xây dựng CSHT GTĐB có thể xem xét dưới góc độ của các chủ thể khác nhau:
+ Đối với Nhà nước: mục tiêu của quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư XDCSHT đó là bảo
đảm các dự án được thực hiện theo đúng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước; phù hợp với các quy hoạch đã được phê duyệt; sử dụng các nguồn vốn đầu tư, các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao nhất; tránh thất thoát, lãng phí
+ Đối với chủ đầu tư: mục tiêu quản lý dự án đầu tư XDCSHT của chủ đầu tư là nhằm đảm bảo đạt
được các mục tiêu của dự án; hoàn thành dự án đúng tiến độ, trong phạm vi ngân sách được duyệt; đảm bảo chất lượng công trình theo đúng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và các văn bản pháp luật hiện hành
+ Đối với nhà thầu: mục tiêu quản lý chính của các nhà thầu (bao gồm cả nhà thầu thi công và nhà
thầu tư vấn) đó là đảm bảo hoàn thành các công việc của dự án đúng tiến độ và chất lượng theo hợp đồng đã ký kết với chủ đầu tư; tối đa hóa lợi nhuận và tạo dựng được uy tín, thị phần
2.2.2.2 Các chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển các mục tiêu quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB, thì các chủ thể tham gia vào quản lý dự án cũng phát triển theo Thời kỳ đầu có sự tham gia của Nhà nước, chủ đầu tư và nhà thầu Sau đó phát triển thêm các chủ thể khác như: nhà thầu tư vấn, nhà thầu thiết kế, bên cho vay và thậm chí nhiều dự án còn có sự giám sát của nhân dân (cộng đồng)
2.2.3 Nội dung và hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam
2.2.3.1 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng nói chung và quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB nói riêng tại Việt Nam bao gồm quản lý về: phạm vi, kế hoạch công việc; khối lượng công việc; chất lượng xây dựng; tiến độ thực hiện; chi phí đầu tư xây dựng; an toàn trong thi công xây dựng; bảo vệ môi trường xây dựng; hoạt động lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng; rủi ro; hệ thống thông tin công trình và các nội dung cần thiết khác theo các văn bản pháp luật hiện hành
2.2.3.2 Hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
Đối với các dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam: căn cứ quy mô, tính chất, nguồn vốn sử dụng và điều kiện thực hiện dự án, người quyết định đầu tư quyết định áp dụng một trong các hình thức quản
lý dự án sau:
- Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực
- Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án
- Chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn trực thuộc
- Tổ chức tư vấn quản lý dự án
2.2.4 Các yếu tố tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Từ khái niệm tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB được đề cập ở Mục 2.2.1.1 thì
tổ chức quản lý được hiểu là hoạt động thực hiện các chức năng của quản lý trong một tổ chức dự án
Vì vậy, các yếu tố tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB là các yếu tố liên quan đến chức năng của quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB
- Các công trình nghiên cứu ở trong nước cũng như trên thế giới đã chỉ ra rằng có bốn chức năng
cơ bản của quản lý nói chung và quản lý dự án đầu tư xây dựng nói riêng, bao gồm: lập kế hoạch
(Planning), tổ chức (Organizing), lãnh đạo (Leading/Directing) và kiểm soát (Controlling) Do đó,
Trang 10các yếu tố tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm các yếu tố liên quan đến lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo quá trình thực hiện và kiểm soát quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB
2.2.4.1 Yếu tố liên quan đến lập kế hoạch
- Lập kế hoạch là một quá trình mà theo đó các nhà quản lý lựa chọn mục tiêu, lựa chọn các hoạt
động (hay chiến lược) để đạt được những mục tiêu đó
- Kế hoạch cung cấp hướng đi cho một tổ chức Nó cho mọi người biết tổ chức đang cố gắng làm
gì, ưu tiên của nó là gì, đi đâu và làm thế nào để đến đó Đó là một quá trình sắp xếp các nguồn lực
và quyết định ai nên làm gì để phân bổ vai trò, trách nhiệm và tiền bạc Đây cũng là một cơ chế kiểm soát: bằng cách so sánh kết quả thực tế với kế hoạch, các nhà quản lý có thể xác định liệu tổ chức có đạt được mục tiêu đã đặt ra hay không và điều chỉnh nếu cần
- Trong quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB, công tác lập kế hoạch bao gồm các nội dung
cơ bản đó là: xác định mục tiêu và phạm vi của dự án; nội dung các công việc, trách nhiệm và mối quan hệ của các bên có liên quan khi thực hiện các công việc đó; xác định thời gian và các nguồn lực cần thiết để hoàn thành các công việc và toàn bộ dự án
- Kế hoạch thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB phải được lập và trình bày chi tiết, đầy
đủ đảm bảo chủ đầu tư, nhà thầu và các bên có liên quan hiểu rõ được mục tiêu, nội dung và phạm vi các công việc, trách nhiệm và vai trò của mình Trong đó, nội dung và phạm vi các công việc cần phải được mô tả chi tiết, cụ thể Đồng thời, kế hoạch phải thể rõ mối quan hệ và sự phối hợp giữa các bên tham gia thực hiện dự án Đây chính là các yếu tố liên quan đến lập kế hoạch thực hiện dự án đầu
tư xây dựng CSHT GTĐB
2.2.4.2 Yếu tố liên quan đến tổ chức thực hiện
- Tổ chức thực hiện là quá trình triển khai các kế hoạch Về bản chất, tổ chức là quá trình xác định những nhiệm vụ nào sẽ được thực hiện, ai là người thực hiện chúng, ai báo cáo cho ai, quyết định được đưa ra ở đâu và các bộ phận khác nhau trong tổ chức sẽ phối hợp các hoạt động của họ như thế nào để theo đuổi mục tiêu chung
- Tổ chức thực hiện là hoạt động quản lý nhằm thiết lập một hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và
bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận đó có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu chiến lược của hệ thống
- Trong QLDA đầu tư xây dựng CSHT GTĐB, tổ chức thực hiện là việc triển khai thực hiện kế hoạch của dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã đặt ra Vì vậy, các yếu tố liên quan đến tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB bao gồm: xây dựng bộ máy tổ chức quản lý dự án, trong
đó cơ cấu tổ chức và nhân sự là những yếu tố mang tính trọng tâm; quy định rõ trách nhiệm cụ thể của từng đơn vị, cá nhân trong bộ máy tổ chức quản lý; xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người đưa ra các quyết định trong quá trình thực hiện; thiết lập cơ chế phối hợp, báo cáo và kênh thông tin liên lạc giữa các đơn vị, bộ phận; điều phối các nguồn lực và tài nguyên đầy đủ, kịp thời theo tiến độ thực hiện dự án; triển khai các công việc đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan và các yêu cầu của dự án…
2.2.4.3 Yếu tố liên quan đến lãnh đạo quá trình thực hiện
- Mọi tổ chức đều có con người và công việc quản lý là phải chỉ đạo và điều phối những con người
đó Khi các nhà quản lý thúc đẩy nhân viên, chỉ đạo các hoạt động của họ, chọn kênh liên lạc hiệu quả nhất hoặc giải quyết xung đột giữa các thành viên chính đó chính là chức năng lãnh đạo
- Mục đích của lãnh đạo là khởi động hệ thống và đưa nó vào hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu
Nó là quá trình khởi động và duy trì sự hoạt động của hệ thống theo kế hoạch đặt ra bằng cách tác động lên động cơ và hành vi của con người trong hệ thống và phối hợp các hoạt động của họ, sao cho
họ cố gắng một cách tự giác để hoàn thành các nhiệm vụ của mình và mục tiêu chung của hệ thống
Trang 118
- Trong QLDA đầu tư xây dựng CSHT GTĐB, lãnh đạo quá trình thực hiện dự án phải thể hiện được vai trò của mình trong việc ra quyết định, cũng như truyền đạt các yêu cầu rõ ràng, cụ thể về công việc đối với cấp dưới Bên cạnh đó, vị trí lãnh đạo dự án phải đóng vai trò phối hợp tốt giữa các nhóm, đội và các bên liên quan; giải quyết các xung đột có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dự án Đồng thời lãnh đạo còn là người khuyến khích, động viên và truyền cảm hứng cho các nhân viên trong tổ chức dự án xây dựng Đây là các yếu tố liên quan đến lãnh đạo quá trình thực hiện dự án đầu
tư xây dựng CSHT GTĐB
2.2.4.4 Yếu tố liên quan đến kiểm soát quá trình thực hiện
- Kiểm soát là quá trình giám sát hiệu suất đối với các mục tiêu, can thiệp khi mục tiêu không được đáp ứng và thực hiện các hành động nhằm điều chỉnh, khắc phục Nó đòi hỏi các nhà quản lý so sánh hiệu suất thực tế với các kế hoạch đặt ra để theo dõi mức độ thành công của một tổ chức khi thực hiện các mục tiêu
- Kiểm soát bao gồm: giám sát, so sánh và sửa lỗi Để đảm bảo mọi thứ diễn ra bình thường, người quản lý phải theo dõi hiệu suất thực tế của tổ chức và so sánh nó với các mục tiêu đã đặt ra trước đó Nếu có bất kỳ sai lệch đáng kể nào, họ phải điều chỉnh để đưa tổ chức trở lại đúng hướng
- Đối với hoạt động QLDA đầu tư xây dựng CSHT GTĐB, kiểm soát là một quá trình liên tục từ khi hình thành ý tưởng dự án cho đến khi kết thúc dự án Nội dung kiểm soát phụ thuộc vào tính chất công việc ở mỗi giai đoạn và mục tiêu của các chủ thể khác nhau liên quan đến dự án Tuy nhiên, nội dung quan trọng nhất cần được kiểm soát đối với các chủ thể có liên quan trong quá trình thực hiện
dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB đó là: tiến độ thực hiện các công việc (lịch trình); khối lượng
và chất lượng công việc thực hiện; công tác phân bổ nguồn lực và chi phí Do đó, các yếu tố liên quan đến kiểm soát quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB bao gồm: thiết lập cơ chế giám sát về chất lượng, tiến độ và chi phí thực hiện dự án; so sánh, đánh giá về chất lượng, tiến độ
và chi phí thực hiện dự án thực tế so với kế hoạch đặt ra; đề ra các giải pháp kịp thời nhằm khắc phục các sai lệch về chất lượng, tiến độ và chi phí thực hiện dự án
2.3 Kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
2.3.1 Khái niệm kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB đó chính là các công trình xây dựng cơ sở
hạ tầng giao thông đường bộ được tạo ra từ quá trình thực hiện dự án và được phản ánh bằng các tiêu chí cụ thể
2.3.2 Các tiêu chí phản ánh kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Có rất nhiều tiêu chí để phản ánh kết quả của dự án nói chung và dự án đầu tư xây dựng nói riêng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xác định các tiêu chí phản ánh kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm ba tiêu chí quan trọng
và phổ biến đó là: chất lượng, tiến độ và chi phí Konchar và Sanvido cũng đã chỉ ra đây là ba tiêu
chí sử dụng để đánh giá kết quả của dự án xây dựng được chấp nhận rộng rãi
2.4 Cơ sở lý luận về mô hình hình nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
2.4.1 Đặc điểm của tổ chức dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB ngoài những đặc điểm mang tính chất phổ biến của một tổ chức nói chung, chúng lại có những đặc điểm riêng biệt khác so với các tổ chức thông thường Trong đó, các đặc điểm riêng biệt đáng chú ý nhất của tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB,
đó là: được hình thành tạm thời trong thời gian thực hiện dự án; tổ chức bao gồm các thành viên được tập hợp từ các thực thể hay tổ chức khác nhau và có mức độ đa dạng cao
Trang 12- Bản chất của tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB là tính tạm thời, duy nhất và đa dạng, xuất phát từ thực tế là nó chỉ được hình thành trong suốt thời gian thực hiện của dự án Bản chất này khác với các loại hình tổ chức thông thường hoạt động trên cơ sở lâu dài
- Tuy nhiên, dù cho có tạm thời hoặc vĩnh viễn, duy nhất hoặc phổ biến, một tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB tồn tại là để đạt được các mục tiêu vì nhu cầu tồn tại của nó Tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB (mặc dù là tạm thời) cũng được xác lập theo cơ chế là định hướng mục tiêu Như vậy, kết quả của dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB luôn được đánh giá dựa trên cơ
sở liệu mục tiêu của dự án có đạt được hay không Do đó, về mặt lý thuyết, nghiên cứu tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB cũng phải tuân theo một khuôn khổ chung trong việc nghiên cứu hành
vi trong bất kỳ tổ chức nào
- Bên cạnh đó, để xem xét một cách thích hợp hơn với những đặc điểm về bản chất tạm thời vốn
có, ta cần phải đề xuất một mô hình nghiên cứu hành vi tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB
trên cơ sở phương pháp luận chung của lý thuyết nghiên cứu hành vi tổ chức Mô hình này phải là
kết quả của việc tích hợp các khái niệm về hành vi tổ chức và các đặc điểm trong lĩnh vực đầu tư xây dựng CSHT GTĐB mà trong đó tổ chức dự án được được xác định bằng hành vi và hiệu suất của tổ chức
2.4.2 Mô hình hành vi tổ chức
2.4.2.1 Khái niệm hành vi tổ chức
- Porter và các cộng sự cho rằng: tổ chức phải có nghĩa là tất cả mọi thứ vì tất cả mọi người trong
đó Do đó, hành vi của những người này cấu thành hành vi của tổ chức (tức là hành vi tổ chức) Vì vậy, người ta đã lập luận rằng không có nghiên cứu nào gọi là hành vi của tổ chức, mà thực chất nghiên cứu hành vi tổ chức là nghiên cứu về hành vi của các cá nhân trong các tổ chức
- Nghiên cứu hành vi tổ chức là nghiên cứu những gì mà con người làm trong một tổ chức và nghiên
cứu hành vi của họ có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu suất của tổ chức
2.4.2.2 Mô hình hành vi tổ chức
Stephen P Robbins và Timothy A Judge đã xây dựng và phát triển mô hình hành vi tổ chức
(Organization Behaviour Model - OB) Trong mô hình hành vi tổ chức (OB) mà các tác giả xây dựng
có ba loại biến (đầu vào, quá trình và kết quả) ở ba cấp độ phân tích (cá nhân, nhóm và tổ chức) Mô hình tiến hành từ trái sang phải, với các đầu vào dẫn đến các quá trình và quá trình dẫn đến kết quả
(Hình 2.6) Như vậy, kết quả đầu ra của tổ chức là một phần kết quả của sự tương tác hành vi
trong tổ chức
Hình 2.6: Mô hình hành vi tổ chức
Trang 1310
2.4.3 Mô hình hành vi tổ chức dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Nghiên cứu về hành vi tổ chức là nghiên cứu về hành vi của các cá nhân trong tổ chức và sự ảnh hưởng của nó đến hiệu suất của tổ chức Con người (cá nhân) là thực thể cấu thành nên các tổ chức nói chung và tổ chức dự án nói riêng (các bên liên quan đến dự án) và con người đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được kết quả dự án thành công trong bối cảnh quản lý dự án Vì vậy, việc nghiên cứu hành vi tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB bằng cách áp dụng và điều chỉnh phù hợp các kiến thức và lý thuyết về hành vi tổ chức nói chung là rất hợp lý
- Khái niệm về hành vi tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB được đề xuất là nghiên cứu về
các hoạt động của những người tham gia dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB, bao gồm: chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị tư vấn và các bên có liên quan trong một tổ chức dự án và nghiên cứu hành vi của
họ ảnh hưởng như thế nào đến kết quả thực hiện dự án (Hình 2.7)
Hình 2.7: Mô hình hành vi tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB
2.4.4 Phát triển giả thuyết nghiên cứu
- Nghiên cứu về mô hình hành vi tổ chức (OB) đã chỉ ra rằng: kết quả đầu ra của tổ chức là một phần kết quả của sự tương tác hành vi trong tổ chức Vì vậy, kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB là một phần kết quả của sự tương tác hành vi trong tổ chức dự án xây dựng Do đó, giả thuyết có thể được đề xuất như sau:
Giả thuyết H0: Hành vi tổ chức quản lý dự án ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
Để kiểm tra tính hợp lệ của giả thuyết được đề xuất ở trên, việc thu thập, phân tích và thảo luận dữ liệu sẽ được tiến hành trong các phần tiếp theo của luận án
2.5 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức quản lý đến kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
- Trên cơ sở lý luận trình bày ở Mục 2.2.4 và mô hình hành vi tổ chức dự án đầu tư xây dựng CSHT
GTĐB đề xuất ở Mục 2.4.3, "yếu tố tổ chức quản lý dự án" sẽ được tác giả tập trung nghiên cứu thông qua bốn chức năng của quản lý dự án đó là: hành vi lập kế hoạch, hành vi tổ chức thực hiện, hành vi
lãnh đạo quá trình thực hiện và hành vi kiểm soát quá trình thực hiện Đây là bốn tiêu chí đóng vai
trò là các biến độc lập được lựa chọn để đưa vào mô hình nghiên cứu
- Bên cạnh đó, kết quả thực hiện dự án đóng vai trò là biến phụ thuộc để đưa vào mô hình nghiên cứu Kết quả thực hiện dự án được thể hiện ở nhiều góc độ và tiêu chí khác nhau Nghiên cứu tổng quan đã chỉ ra các tiêu chí phản ánh kết quả thực hiện dự án bao gồm: chi phí, tiến độ, chất lượng, an toàn, lợi nhuận… Tuy nhiên, từ những phân tích ở Mục 2.3.2, tác giả xác định ba tiêu chí phản ánh
kết quả thực hiện dự án đầu tư xây dựng CSHT GTĐB được sử dụng cho nghiên cứu này đó là: chất