1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận triết học cao cấp lý luân chính trị xây dựng con người mới ở việt nam trong giai đoạn hiện nay

18 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 450,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện đại. Từ khi Triết học MácLênin ra đời đã giải quyết những nội dung liên quan đến con người. Khẳng định con người có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với thế giới, và trong thực tế hiện nay thì con người là một lực lượng chủ đạo trong nền sản xuất xã hội. Trong công cuộc đổi mới xã hội chỉ có con người yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội, là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quyết định sự thành công hay thất bại. Trên cơ sở vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa MácLênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội XIII của Đảng nhất quán tiếp cận vấn đề quyền con người gắn với quyền dân tộc, khẳng định chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm quyền con người cho nhân dân Việt Nam. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hoá, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính”. Xuất phát từ vị trí trung tâm và vai trò quyết định đối với thành công của sự nghiệp đổi mới, vấn đề xây dựng con người và phát huy nhân tố con người đang được đặt ra như một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện. Tôi chọn chủ đề “Xây dựng con người mới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để làm bài thu hoạch hết môn Triết học MácLênin. Đây là cơ hội để bản thân tôi vận dụng những kiến thức đã học, liên hệ với thực tế, trên cơ sở đó tìm tòi, suy nghĩ đưa ra những giải pháp thiết thực phù hợp, giúp cho quá trình công tác của bản thân ngày càng tốt hơn.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ

BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TÊN MÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

TÊN BÀI THU HOẠCH:

XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI Ở VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 2

PHẦN 2: NỘI DUNG 2

1 Quan điểm triết học Mác-LêNin về con người 2 1.1 Vị trí của vấn đề con người trong triết học Mác-Lênin ………….…….2 1.2 Bản chất con người ………2

2 Quan điểm của Đảng ta về con người và những chính sách về xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ……… 4

3 Xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay ……….… ……7 3.1 Thực trạng con người mới ở nước ta hiện nay … ……… 7 3.2 Một số định hướng xây dựng, phát triển con người Việt Nam hiện

nay 11

4 Thực trạng và giải pháp xây dựng con người huyện Phú Giáo trong giai đoạn hiện nay ……… ……….12 PHẦN 3 KẾT LUẬN 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến hiện đại Từ khi Triết học Mác-Lênin ra đời đã giải quyết những nội dung liên quan đến con người Khẳng định con người có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với thế giới, và trong thực tế hiện nay thì con người là một lực lượng chủ đạo trong nền sản xuất xã hội Trong công cuộc đổi mới xã hội chỉ có con người - yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất của xã hội, là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quyết định sự thành công hay thất bại

Trên cơ sở vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội XIII của Đảng nhất quán tiếp cận vấn đề quyền con người gắn với quyền dân tộc, khẳng định chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm quyền con người cho nhân dân Việt Nam Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của

xã hội, gia đình, nhà trường, từng tập thể lao động, các đoàn thể và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước,

có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hoá, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính”

Xuất phát từ vị trí trung tâm và vai trò quyết định đối với thành công của

sự nghiệp đổi mới, vấn đề xây dựng con người và phát huy nhân tố con người đang được đặt ra như một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện Tôi chọn chủ

đề “Xây dựng con người mới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” để làm bài thu hoạch hết môn Triết học Mác-Lênin Đây là cơ hội để bản thân tôi vận dụng những kiến thức đã học, liên hệ với thực tế, trên cơ sở đó tìm tòi, suy nghĩ đưa ra những giải pháp thiết thực phù hợp, giúp cho quá trình công tác của bản thân ngày càng tốt hơn

Trang 4

PHẦN 2 NỘI DUNG

1 Quan điểm triết học Mác-LêNin về con người

1.1 Vị trí của vấn đề con người trong triết học Mác-Lênin

Bằng tinh thần nhân văn, nhân đạo và từ con người hiện thực để nghiên cứu, ta thấy rằng Triết học Mác-Lênin xuất phát từ con người và nhằm mục đích cao nhất là giải phóng con người, phát triển con người, song triết học Mác- Lênin lại không thể lấy con người nói chung làm đối tượng nghiên cứu của mình Con người là một khách thể có nội dung hết sức phong phú, sự tồn tại của con người bao hàm nhiều mặt với vô vàn các quan hệ phức tạp, nên con

người được nghiên cứu bởi nhiều khoa học khác nhau với phương pháp tiếp cận khác nhau như sinh vật học, tâm lý học, y học, dân tộc học, sử học, văn hóa học… Chỉ với những vấn đề chung nhất về con người như bản chất của con

người, thế giới quan, tư duy, đạo đức, tín ngưỡng, thẩm mỹ của cọn người, các quan hệ cá nhân và xã hội, quan hệ giai cấp, dân tộc và nhân loại, mới thuộc lĩnh vực nghiên cứu của khoa học triết học

Chính vì xuất phát điểm của triết học Mác-Lênin là những con người cụ thể, con người hiện thực, đang sống, đang hoạt động trong một môi trường xã hội cụ thể với hoàn cảnh lịch sử cụ thể và những mối quan hệ xã hội cụ thể, cho nên tư tưởng giải phóng con người của triết học Mác-Lênin trước hết là giải phóng từng con người cụ thể trong xã hội Việc giải phóng con người hiện thực một cách toàn diện, đầy đủ trên mọi phương diện, ở mọi cấp độ, đã làm cho tư

tưởng giải phóng con người trong triết học Mác-Lênin mang tính triệt để và khác hoàn toàn về chất so với các tư tưởng giải phóng con người của các học thuyết khác trong lịch sử

Tóm lại, con người là điểm xuất phát và sự giải phóng con người là mục đích cao nhất của triết học Mác-Lênin, tư tưởng nhân văn, nhân đạo đó đã trở thành ánh sáng soi đường cho hành động thực tiễn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong công cuộc đấu tranh xóa bỏ xã hội củ, xây dựng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa

1.2 Bản chất con người

Trang 5

Trong lịch sử tư tưởng có rất nhiều cách tiếp cận vấn đề con người Phật giáo xem con người khác con vật ở chỗ có tâm và có thức Các nhà tư tưởng Nho giáo đã tuyệt đối hóa bản chất con người ở phương diện đạo đức Ở phương Tây, một số trào lưu triết học lại giải thích bản chất con người từ góc

độ những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất Bản chất đó là bản tính tự nhiên, là những nhu cầu thuộc về sự duy trì thể xác và dục vọng để phát triển nòi giống; hoặc tìm kiếm bản chất con người trong khuôn khổ cá nhân riêng

lẻ, nghĩa là con người bị tách khỏi mối quan hệ xã hội hiện thực của nó Tính chất siêu hình của các quan điểm này về bản chất con người biểu hiện ở chỗ coi bản chất là cái vốn có trừu tượng và quy nó về bản chất tự nhiên, tách khỏi xã hội và trở nên bất biến

Trong quan niệm của triết học mác - xít, con người là một thực thể trong

sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội Con người sinh ra từ

tự nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội Luận điểm nổi tiếng về

con người được C.Mác viết trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc (1845): "Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan

hệ xã hội"

Với quan niệm đó, C.Mác chỉ ra rằng bản chất con người không phải là trừu tượng mà là hiện thực, không phải tự nhiên mà là lịch sử - xã hội, không phải là cái vốn có trong mỗi cá thể riêng lẻ mà là tổng hòa của toàn bộ quan hệ

xã hội Đây là phát hiện có giá trị to lớn của C.Mác về bản chất con người Con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người Ở đây, cá nhân được hiểu với tư cách là những cá nhân sống, là người sáng tạo các quan hệ xã hội; sự phong phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã hội của nó Hơn thế, mỗi cá nhân là sự tổng hợp không chỉ của các quan hệ hiện có, mà còn là lịch sử của các quan hệ đó Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, biến đổi chính bản thân mình và đã làm nên lịch sử của xã hội loài người Vạch ra vai trò của mối quan hệ giữa

Trang 6

các yếu tố cấu thành bản chất của con người, quan hệ giữa cá nhân và xã hội

là một cống hiến quan trọng của triết học mác - xit

Như vậy, con người là một thực thể sinh vật - xã hội, là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, con người luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất nhau Thông qua hoạt động thực tiễn và hoạt động xã hội, con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình Điều đó cũng có nghĩa là, thông qua hoạt động thực tiễn con người tiếp nhận bản chất xã hội của mình

Kế thừa và quán triệt tư tưởng lý luận của C.Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minh

luôn chú ý đến con người Theo Người “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là cả loài người” Với ý nghĩa đó, khái niệm con người mang trong nó bản chất xã

hội, con người xã hội, phản ánh các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng trong đó con người hoạt động và sinh sống Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đặt mỗi cá nhân con người trong mối quan hệ ba chiều: Quan hệ với một cộng đồng xã hội nhất định trong đó mỗi con người là một thành viên; quan hệ với một chế

độ xã hội nhất định trong đó con người được làm chủ hay bị áp bức bóc lột; quan hệ với tự nhiên trong đó con người là một bộ phận không thể tách rời Con người trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất giữa thể lực, tâm lực, trí lực và sự hoạt động Đó là một hệ thống cấu trúc bao gồm sức khoẻ, tri thức, năng lực thực tiễn, đạo đức, đời sống tinh thần Người cho con người là tài sản quý nhất, chăm lo, bồi dưỡng và phát triển con người, coi con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển xã hội, nhân tố quyết định thành công của cách mạng

2 Quan điểm của Đảng ta về con người và những chính sách về xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” Tư tưởng xem con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, của sự phát triển xã hội là tư tưởng nhất quán trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Theo Người, định hướng xây dựng con người là phải toàn diện, bao gồm

Trang 7

“đức, trí, thể, mỹ”; chú ý đến tất cả các mặt trong đời sống của con người, từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần Với Người, dân phải được ăn no, mặc ấm, được học hành và được hưởng quyền tự do, hạnh phúc Con người được phát triển toàn diện Người từng nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” Ngày nay, Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước,

do vậy, việc xây dựng con người Việt Nam hiện đại là yêu cầu cấp bách Những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người luôn được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào trong quá trình xây dựng và phát triển con người suốt thời kỳ đổi mới vừa qua Đảng ta luôn khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất đối với mọi sự thành bại của cách mạng là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam Chính vì thế, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn về xây dựng và phát triển con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Điều này được thể hiện xuyên suốt và nhất quán ưong các văn kiện lớn của Đảng

Đại hội VI đã thực sự tạo ra một bước ngoặt trong nhận thức của Đảng về

vị trí và vai trò của con người trong sự nghiệp đổi mới khi bước đầu có sự tách biệt tương đối giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội Văn kiện chỉ rõ, chính sách xã hội “Nhằm phát huy mọi khả năng của con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất Coi nhẹ chính sách xã hội cũng là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

Tổ quốc” Tại Đại hội VIII, Đảng xác định: Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng

và phát huy nguồn lực to lớn của người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng

lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Cương lĩnh xây đựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)

khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với

Trang 8

quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân Chăm

lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính” Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI xác định mục tiêu cụ thể trong xây dựng văn hóa, con người Việt Nam là: “Chăm

lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biét sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc”

Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng cũng đề ra định hướng: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của

chiến lược phát triển Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con

người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hôn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam” Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện” “Phát triển con người Việt Nam toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện

xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất

nước” Trong giai đoạn hiện nay, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định:

“Phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”

Với những định hướng đúng đắn của Đảng về vị trí, vai trò của nhân tố con người, chúng ta đã xây nên những thế hệ con người Việt Nam có lý tưởng

Trang 9

cách mạng vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, có ý thức rõ ràng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Chính những chuẩn giá trị đó là động lực quan trọng thúc đẩy con người Việt Nam chiến đấu, lao động, học tập và sáng tạo, đem lại những thắng lợi đáng tự hào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên thời kỳ trước đổi mới, chúng ta chưa nhận thức hết những nhân tố tác động đến phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có nhiều yếu tố liên quan đến vấn đề con người và động lực phát triển con người Trong suốt một thời gian dài, chúng ta đã quá đề cao lợi ích tập thể một cách chung chung, trừu

tượng, trong khi đó lợi ích cá nhân không được quan tâm đúng mức, thậm chí rất mờ nhạt Chính vì vậy không tạo được động lực hoạt động của mỗi cá nhân trong xã hội

3 Xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay

3.1 Thực trạng con người mới ở nước ta hiện nay

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết để nâng cao vai trò con người, trong đó đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; xác định giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”; đầu tư cho giáo dục luôn được ưu tiên, chiếm 20% tổng chi ngân sách Nhà nước Sau Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (1996) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm

vụ đến năm 2000, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (2013), Đảng đã ban hành Nghị quyết về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của giáo dục, đào tạo trong việc xây dựng con người mới, con người xã hội chủ nghĩa, có phẩm chất, trình độ, năng lực để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định những thành tựu trong giáo dục, đào tạo, đặc biệt là trong việc nâng cao tỷ lệ lao động đã qua đào tạo Nhờ đó, “Chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) của Việt Nam liên tục tăng trong 24 năm qua Năm 2014, Việt Nam được xếp thứ 116 trong số 188 nước; tức là ở thứ hạng trên của nhóm các

nước có mức phát triển con người trung bình” Đến năm 2019, chỉ số phát triển

Trang 10

con người (HDI) là 0,704 đưa Việt Nam vào nhóm phát triển con người cao và xếp thứ 117 trong số 189 quốc gia và vùng lãnh thổ Từ năm 1990 - 2019, giá trị HDI của Việt Nam đã tăng gần 46%, nằm trong số các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới Việt Nam cũng đã và đang thực hiện tốt bình đẳng giới Với Chỉ số Phát triển Giới là 0,997 Việt Nam đứng thứ 65 trong số 162 quốc gia và nằm trong nhóm cao nhất trong 5 nhóm trên thế giới Đặc biệt là

tỷ lệ nữ Đại biểu quốc hội đưa Việt Nam vào nhóm cao nhất trong 3 nhóm trên toàn cầu Về chất lượng phát triển con người, Việt Nam thực hiện tốt các chỉ số y tế, giáo dục, việc làm và phát triển nông thôn Tất cả giáo viên tiểu học đều được đào tạo, điện khí hóa nông thôn đạt 100% dân số, tỷ lệ thất nghiệp thấp… Tuổi thọ trung bình của Việt Nam khi sinh tăng 4,8 năm, số năm

đi học trung bình tăng 4,4 năm và số năm đi học dự kiến tăng 4,9 năm Tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người của Việt Nam tăng hơn 370% trong khoảng

1990-2019 Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc đánh giá cao chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm của Việt Nam để ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế

-xã hội của đất nước Điều này cho thấy những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong việc dành nhiều chính sách ưu tiên nhằm phát triển toàn diện con người, bảo đảm những điều kiện cần thiết để mỗi người có cơ hội thuận lợi trong tiếp cận các loại hình dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội và những vấn đề thiết yếu bảo đảm tốt nhất giá trị quyền con người

Đánh giá về những thành công trong công cuộc xây dựng, phát triển con người 30 năm đổi mới và 5 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã 8 hội (2011-2015), Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế có bước chuyển biến quan trọng: Gắn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn xây dựng môi trường văn hóa với xây dựng con người; bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên” Đây là những đánh giá mang tính khái quát về tình hình phát triển con người Việt Nam trong những năm đổi

Ngày đăng: 23/12/2021, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w