1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng công tác lập quy hoạch sử dụng đất và kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 2010 tỉnh bắc ninh

123 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Thực Trạng Công Tác Lập Quy Hoạch Sử Dụng Đất Và Kết Quả Thực Hiện Phương Án Quy Hoạch Sử Dụng Đất Giai Đoạn 2001 - 2010 Tỉnh Bắc Ninh
Tác giả Lã Minh Hiếu
Người hướng dẫn TS. Mẫn Quang Huy
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Địa chính
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 208,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

–––––––––––––––––––––––

LÃ MINH HIẾU

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP

QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

–––––––––––––––––––––––

LÃ MINH HIẾU

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP

QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

GIAI ĐOẠN 2001 - 2010 TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Địa chính

Mã số: 60 44 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS MẪN QUANG HUY

Hà Nội - 2012

Trang 3

1.1 Khái quát về cơ sở lý luận của quy hoacc̣ h sử duṇ g đất 11.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tính khả thi và hiệu quả của quy

1.3 Khái quát về quy hoạch sử dụng đất ở một số nước trên thế giới 15

1.5 Kết quả thực hiện QHSDĐ cấp tỉnh ở Việt Nam 26

Chương 2 Đánh giá thực trạng công tác lập quy hoạch sử dụng đất và

kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn

2001-2010 của tỉnh Bắc Ninh

28

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường và kinh

2.2 Đánh giá về thực trạng công tác lập quy hoạch sử dụng đất của

2.3 Đánh giá về kết quả thực hiện Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn

iii

Trang 4

Chương 3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác

3.2 Giải pháp đối với đất xây dựng khu tái định cư 923.3 Giải pháp đối với việc chuyển mục đích đất trồng lúa 943.4 Giải pháp để nâng cao chất lượng công tác lập quy hoạch sử

Trang 5

QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất

QH, KHSDĐ Quy hoạch, kê hoạch sử dụng đất

TN&MT Tài nguyên và Môi trường

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

Số thứ tự

bảng

Bảng 2.01 Một số chỉ tiêu về phát triển KTXH tỉnh Bắc Ninh Giai đoạn

Bảng 2.05 So sánh chỉ tiêu các loại đất sau điều chỉnh đến 2010 được xét

duyệt tại Nghị quyết số 18/2008/NQ-CP (điều chỉnh lần 3) vớiquy hoạch sử dụng đất được xét duyệt tại Nghị quyết số

09/2006/NQ-CP (điều chỉnh lần 2)

50

Bảng 2.06 Thay đổi diện tích đất công nghiệp đến năm 2010 qua các lần

Bảng 2.07 Tổng hợp kết quả sử dụng đất của một số cụm công nghiệp làng

Bảng 2.08 Diện tích đất nông nghiệp chuyển sang phi nông nghiệp (trong

đó có đất trồng lúa) phân theo cấp huyện của QHSDĐ tỉnh BắcNinh giai đoạn 2001 – 2010

58

Bảng 2.09 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 tỉnh Bắc Ninh 61

Bảng 2.12 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010 65Bảng 2.13 Hiện trạng sử dụng đất phát triển hạ tầng năm 2010 67

Bảng 2.15 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất từ năm 2001-2010

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Số biểu đồ,

đồ thị

Biểu đồ 2.01 Thay đổi diện tích đất công nghiệp đến năm 2010 qua các lần

Biểu đồ 2.02 Tăng trưởng tín dụng nội địa của Việt Nam qua các năm 54

Trang 7

Biểu đồ 2.03 Biến động vốn FDI và số dự án đầu tư tại Việt Nam qua các

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, lànguồn lực quan trọng của đất nước Việc quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả vàbền vững nguồn tài nguyên, phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ quan trọng đang được Đảng, Nhà nước, các cấp,các ngành quan tâm thực hiện

Quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng trong côngtác quản lý Nhà nước về đất đai Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1992, tại Chương II, Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đấtđai theo quy hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và cóhiệu quả”; Luật Đất đai năm 2003 đã dành 10 điều, từ Điều 21 đến Điều 30 quyđịnh về nguyên tắc, nội dung, trình tự, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất các cấp

Nhận thức được vai trò và vị trí quan trọng của quy hoạch sử dụng đất, nhiềuđịa phương trong cả nước đã nghiêm túc tổ chức triển khai công tác này Đến hếtnăm 2010, đã có 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành công táclập quy hoạch sử dụng đất Về mặt số lượng có thể thấy, việc lập quy hoạch sử dụngđất đã được triển khai trên diện rộng và khá đồng bộ, đặc biệt là ở cấp tỉnh Tuynhiên, quy hoạch sử dụng đất mới chủ yếu dừng lại ở việc giải quyết, sắp xếp quỹđất theo mục đích sử dụng đất, chưa căn cứ vào tiềm năng đất, chưa thực sự tínhtoán đầy đủ tới mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường Vấn đề này đãdẫn đến thực trạng đất sản xuất nông nghiệp còn manh mún, rừng tiếp tục bị tànphá, diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất bị xói mòn còn lớn Đặc biệt là sử dụng đấttại các khu công nghiệp, doanh nghiệp, khu đô thị, công trình hạ tầng ở tình trạng

Trang 8

vừa thừa, vừa thiếu quỹ đất, nhiều nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất nhưngkhông sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả gây ra việc sử dụng đất lãng phí, nhiềucông trình không có trong quy hoạch sử dụng đất vẫn được triển khai thực hiện Vìvậy, việc đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất để kịp thời đưa ranhững giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện của các phương án quy hoạch

sử dụng đất hiện nay là rất cần thiết

Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong Vùng Đồng bằng sông Hồng được tái lập từnăm 1997 với 8 đơn vị hành chính cấp huyện và 126 xã, phường, thị trấn Tỉnh cótruyền thống trồng lúa nước với diện tích đất trồng lúa chủ yếu là đất chuyên trồnglúa nước 2 vụ Tuy nhiên, những năm gần đây Tỉnh có chủ trương chuyển đổi diệntích đất trồng lúa sang phát triển mạnh công nghiệp, thực tế hiện nay các khu côngnghiệp có tỷ lệ lấp đầy thấp trong khi các cụm công nghiệp làng nghề lại thiếu đất

Tỉnh Bắc Ninh đã hoàn thành công tác lập quy hoạch sử dụng đất cả ba cấp(tỉnh, huyện, xã) Mặc dù vậy, các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 củaTỉnh liên tục phải thay đổi, điều chỉnh đến 3 lần

Vì vậy nghiên cứu, đánh giá việc lập và thực hiện quy hoacc̣ h sử duṇ g đất tỉnhBắc Ninh giai đoạn 2001-2010 sẽ góp phần làm rõ thực trạng và hiệu quả của côngtác quy hoacc̣ h sử duṇ g đất trong những năm qua của Tỉnh, từ đó sẽ đóng góp ýkiến

cho việc khắc phuc một số vâń đề liên quan đêń quy hoạch sử dụng đất trong việcsửa Luật Đất đai hiện nay và hoàn thiện phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm

2020 của Tỉnh Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc thực hiện đề tài “Đánh giá

thực trạng công tác lập và kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010 tỉnh Bắc Ninh” là rất cần thiết.

2 Mục tiêu của đề tài

Đánh giá thực trạng công tác lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất tỉnhBắc Ninh giai đoạn 2001 - 2010, phân tích làm rõ những mặt tích cực và hạn chế trênphương diện nội dung, chất lượng của phương án quy hoạch, kết quả của việc thựchiện Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính họp lý, khả năng thực hiện

Trang 9

phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh Bắc Ninh và đóng góp ýkiến cho việc sửa Luật Đất đai năm 2003.

3 Giới hạn phạm vi, nội dung nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

- Nội dung nghiên cứu: Các lần điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 củatỉnh Bắc Ninh, đặc biệt là lần điều chỉnh gần đây nhất đã được Chính phủ xétduyệt; chú trọng vào việc đánh giá hiệu quả của việc quy hoạch và thực hiện đấtcông nghiệp và chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệpcủa Tỉnh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan về Quy hoạch sử dụng đất

- Thu thập tài liệu, số liệu về công tác lập quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Ninh giaiđoạn 2001 - 2010

- Đánh giá, phân tích thực trạng quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh Bắc Ninh giai đoạn

2001 - 2010, kết quả thực hiện quy hoạch, làm rõ những vấn đề tích cực và hạn chế

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế:

Thực hiện điều tra thực tế bằng phương pháp sử dụng phiếu điều tra vàphỏng vấn trực tiếp các đối tượng liên quan tới vấn đề nghiên cứu; thu thập vànghiên cứu các hồ sơ, tài liệu, số liệu, văn bản liên quan tới đối tượng nghiên cứunhằm rà soát, phát hiện và hệ thống hoá các vấn đề

Trang 10

Kết quả nghiên cứu của đề tài được trình bày trong 111 trang báo cáo Ngoàiphần mở đầu, kết luận và kiến nghị, báo cáo gồm 3 phần chính sau:

Chương 1 Tổng quan về Quy hoạch sử dụng đất

Chương 2 Đánh giá thực trạng công tác lập quy hoạch sử dụng đất và kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001- 2010 của tỉnh BắcNinh

Chương 3 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quy hoạch sử dụng đất

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

1.1 Khái quát về cơ sở lý luận của Quy hoạch sử dụng đất

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất

a) Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất

“Đất đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế

độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ), tạo ra

những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Như vậy,

để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch - đây là quá trình nghiên cứu, lao động sángtạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự

sử dụng đất nhất định

Về mặt bản chất: đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh

vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất như

“tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, quyhoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tínhchất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế Trong đó:

- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai.

- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát,

xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu

- Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy

hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật

Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các

biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức, sử dụng và quản

lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng đất cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả

sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường”.

11

Trang 12

Tính đầy đủ: Mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất

Tính hiệu quả: Đáp ứng đồng bộ lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường.

Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành cácquyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi íchcao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và

tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quảsản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường

Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đượctiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kếhoạch sử dụng đất chi tiết của mình; Xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tácquản lý Nhà nước về đất đai; Làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để pháttriển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá -

xã hội

Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nướcnhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gâylãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm

trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá

vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìmhãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và các hậu quả khó lường về những tìnhhình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương

Trang 13

b) Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tínhkhống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thànhquan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặcđiểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:

* Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy

hoạch sử dụng đất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất

của xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (mối quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và Quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất) Trong quy hoạch sử dụng đất luôn nẩy sinh quan

hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên (như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế ), cũng như quan hệ giữa người với người (xác nhận bằng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những người chủ đất - GCNQSDĐ) Quy hoạch sử dụng đất

thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúcđẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sảnxuất của xã hội

Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất mang

tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô ) Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất phục vụ

nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội; Góp phần tích cực thayđổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; Nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quảsản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất gópphần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trườngnẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên vớinhau

* Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện chủ yếu ở hai

mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tàinguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; Quy hoạch sử

Trang 14

dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: khoa học tựnhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trườngsinh thái

Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sửdụng đất; Điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; Xác định vàđiều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêukinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc

độ cao và ổn định

* Tính dài hạn: Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố

kinh tế xã hội quan trọng (sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ), từ đó xác định quy hoạch trung và

dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tínhchiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm

Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh tế

-xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời

gian dài (cùng với quá trình phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và biện pháp

sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất

thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn

* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng

đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và

phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung

cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính

chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng vàkhái lược về sử dụng đất của các ngành như:

- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng;

- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành;

Trang 15

- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng;

- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong

- Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phươnghướng sử dụng đất;

Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng củanhiều nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càngkhái lược hoá, quy hoạch sẽ càng ổn định

* Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính

chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệtcác chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhànước, đảm bảo thể hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu pháttriển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội;Tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môitrường sinh thái

* Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước,

theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là mộttrong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng tháimới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhấtđịnh Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chínhsách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụngđất không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch

và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khảbiến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, mộtquá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạchlại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoànthiện và tính phù hợp ngày càng cao

1.1.2 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sửdụng đất Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ

sở chung như sau: Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và

Trang 16

phần

đối

tượng

nằm

trong

Trang 17

quy hoạch; Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như nội

dung và phương pháp quy hoạch Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất

được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết

kế chi tiết

Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 (Điều 25) quy định: quy hoạch sử

dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính [9]

(1) Quy hoạch sử dụng đất cả nước (gồm cả quy hoạch sử dụng đất các vùng kinh tế tự nhiên);

(2) Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; (3) Quy

hoạch sử dụng đất cấp huyện;

(4) Quy hoạch sử dụng đất cấp xã (không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị).

Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tựnhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụngđất theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theonguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cáiriêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước

Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính bao

gồm: Đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện

tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân: Cụ thể hoá một bước quyhoạch sử dụng đất của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; Làm căn cứ, cơ

sở để các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất của địaphương mình và để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm làm căn cứ để giao đất, chothuê đất, thu hồi đất phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy định cụ

thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này đều nằm

Trang 18

trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính Đối với quy hoạch sử dụngđất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy định riêng tại Điều 30.

Tuy nhiên, có thể hiểu mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch sửdụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành Trước tiên, Nhà nướccăn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin

tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loạiđất Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xâydựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nộidung sử dụng đất của ngành Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và

có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành Nói khác đi, quy hoạchngành là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ

1.1.3 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất

Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước (khác nhau về không gian), nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn lịch sử khác nhau (về thời gian) là rất khác nhau.

Trong giai đoạn hiện nay, nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm:(1) Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện

trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai (đặc biệt là đất chưa sử dụng);

(2) Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản về sử dụng

đất trong kỳ quy hoạch (dựa trên cơ sở dự báo biến động sử dụng đất đai, nhu cầu đất của các ngành kinh tế quốc dân, khả năng đáp ứng về số lượng và chất lượng đất đai);

(3) Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc

phòng, an ninh (điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, phân phối hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, xử lý, điều hoà nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành, đưa ra các chỉ tiêu khống chế - chỉ tiêu khung để quản lý vĩ mô đối với từng loại sử dụng đất - 3 nhóm đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 2003);

(4) Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án;

Trang 19

(5) Xác định các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường;(6) Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.

Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối hợp lýđất đai cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Hình thành hệ thống cơ cấu sử dụngđất phù hợp với cơ cấu kinh tế; Khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất đúngmục đích; Hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng đất nhằm đạthiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất

Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chungcủa cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ củamình Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sửdụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước

Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp: toàn

quốc (bao gồm cả cấp vùng), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Tuỳ thuộc vào chức

năng, nhiệm vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và ý nghĩa khácnhau Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất củacấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hóa quy hoạch của cấptrên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tính khả thi và hiệu quả của QHSDĐ 1.2.1 Khái niệm tiêu chí đánh giá tính khả thi và hiệu quả của phương án quy hoạch

sử dụng đất

Trước hết, cần giới hạn về khái niệm của “tiêu chí” (hay tiêu chuẩn) đánh giá

trong phạm vi nghiên cứu (đây là vấn đề khó, còn nhiều tranh luận và chưa có mộtđịnh nghĩa chính thống nào) Theo từ điển tiếng Việt: “Tiêu chí là căn cứ để nhậnbiết, xếp loại các sự vật, các khái niệm ”

Như vậy, từ khái niệm nêu trên đối với tiêu chí đánh giá tính khả thi và hiệuquả của phương án quy hoạch sử dụng đất có thể nhìn nhận như sau:

- Đề nhận biết, cần có một hệ thống các chỉ tiêu: có thể là chỉ tiêu tổng hợp hay theotừng yếu tố, chỉ tiêu định tính hoặc định lượng;

Trang 20

- Còn để xếp loại (phân mức đánh giá) cần có chuẩn để so sánh: có thể là một chuẩnmực hay ngưỡng để đánh giá dựa trên các định mức, chỉ số cho phép, đơn giá hoặcquy ước nào đó được chấp nhận

1.2.2 Bản chất và phân loại tính khả thi của quy hoạch sử dụng đất

Về mặt bản chất, tính khả thi biểu thị khả năng thực hiện của phương án quyhoạch sử dụng đất khi hội tụ đủ một số điều kiện hoặc yếu tố nhất định cả vềphương diện tính toán, cũng như trong thực tiễn

Như vậy, để nhìn nhận một cách đầy đủ về góc độ lý luận, tính khả thi củaphương án quy hoạch sử dụng đất sẽ bao hàm “Tính khả thi lý thuyết”- được xác định

và tính toán thông qua các tiêu chí với những chỉ tiêu thích hợp ngay trong quá trìnhxây dựng và thẩm định phương án quy hoạch sử dụng đất; “Tính khả thi thực tế” chỉ cóthể xác định dựa trên việc điều tra, đánh giá kết quả thực tế đã đạt được khi triển khaithực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trong thực tiễn

Khi triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trong điều kiệnbình thường, sự khác biệt giữa “Tính khả thi lý thuyết’ và “Tính khả thi thực tế”thường không đáng kể Tuy nhiên, không ít trường hợp luôn có những vấn đề phátsinh trong quá trình triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất do tácđộng của nhiều yếu tố khó đoán trước được như: tính kịp thời về hiệu lực thực thicủa phương án quy hoạch; nhận thức và tính nghiêm minh trong thực thi quy hoạchcủa các nhà chức trách và người sử dụng đất; các sự cố về khí hậu và thiên tai;những đột biến về mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; khả năng về các nguồn lực;

áp lực mới về các vấn đề xã hội, thị trường, an ninh quốc phòng; tác động của nềnkinh tế quốc tế

Tính khả thi của phương án quy hoạch có thể được đánh giá và luận chứngthông qua 5 nhóm tiêu chí sau:

(1) Khả thi về mặt pháp lý, có thể bao gồm các tiêu chí đánh giá về:

* Căn cứ và cơ sở pháp lý để lập quy hoạch sử dụng đất gồm các chỉ tiêu:

- Các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật;

- Các quyết định, văn bản liên quan đến triển khai thực hiện dự án

Trang 21

* Việc thực hiện các quy định thẩm định, phê duyệt phương án quy hoạch sử dụngđất:

- Thành phần hồ sơ và sản phẩm;

- Trình tự pháp lý

(2) Khả thi về phương diện khoa học - công nghệ, bao gồm:

* Cơ sở tính toán và xác định các chỉ tiêu sử dụng đất:

- Tính khách quan của các yếu tố tác động đến việc sử dụng đất: điều kiện tự nhiên,định hướng phát triển kinh tế - xã hội;

(3) Khả thi về yêu cầu chuyên môn - kỹ thuật, gồm các tiêu chí đánh giá về:

* Mức độ đầy đủ các nội dung chuyên môn theo các bước thực hiện quy hoạch và cácnội dung cụ thể của phương án quy hoạch sử dụng đất

* Nguồn tư liệu và độ tin cậy của các thông tin phụ thuộc vào cách thức thu thập, điềutra, xử lý và đánh giá;

* Tính phù hợp, liên kết (từ trên xuống dưới) của các chỉ tiêu sử dụng đất theo quyđịnh trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất các cấp

(4) Khả thi về các biện pháp cần thiết để phương án quy hoạch thực hiệnđược Theo kinh nghiệm, tiêu chí này có thể được đánh giá căn cứ theođặc điểm hoặc tính chất đầu tư của nhóm các biện pháp sau đây:

* Nhóm 1: Là các biện pháp về tổ chức lãnh thổ (cần đầu tư kinh phí) nhằm tạo điều kiệnkhông gian phù hợp với cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh và mục đích sử dụng đấtcủa doanh nghiệp và người sử dụng đất) Cụ thể bao gồm: các biện pháp cần thiết khithực hiện việc chu chuyển đất đai và chuyển đổi mục đích sử dụng (khai hoang, phụchoá, lấn biển, khôi phục mặt bằng sử dụng đất, cải tạo cơ bản nhằm đưa diện tích đấttrống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng ); xác định

Trang 22

ranh giới và cơ cấu diện tích đất của các chủ sử dụng, cơ cấu diện tích cây trồng; xáclập các chế độ sử dụng đất đặc biệt (sử dụng đất tiết kiệm diện tích bề mặt, khai tháctriệt để không gian và chiều sâu) ;

* Nhóm 2: Bao gồm các biện pháp về xây dựng các hạng mục và thiết bị công trìnhtrên lãnh thổ (xác định theo đặc điểm của khu vực và định hướng phát triển củadoanh nghiệp và người sử dụng đất), cần lượng vốn đầu tư cơ bản khá lớn (gồm cảchi phí điều tra khảo sát, thiết kế cũng như vốn đầu tư để thực hiện công trình) vàthực hiện theo dự án đầu tư hoặc thiết kế kỹ thuật chi tiết, như các công trình cơ sở

hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; hệ thống ruộng bậc thang trên đất dốc và cácthiết bị công trình bảo vệ đất (chống rửa trôi, xói mòn, sạt lở đất); hệ thống côngtrình thuỷ lợi, ao hồ chứa nước (tưới tiêu, chống xâm nhập mặn, thau chua, rửamặn, rửa phèn);

* Nhóm 3: Bao gồm các biện pháp bảo vệ đất và môi trường sinh thái để phát triểnbền vững (trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng để phủ xanh đất trống, đồi núitrọc, tăng độ che phủ của rừng, chắn sóng, chắn cát; bảo vệ nghiêm ngặt diện tíchrừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng) Các biện pháp thuộc nhóm này được đềxuất trong phương án quy hoạch sử dụng đất tuỳ theo đặc điểm của lãnh thổ, phảiđầu tư vốn cơ bản và cũng được triển khai thực hiện theo dự án đầu tư hoặc luậnchứng kinh tế - kỹ thuật

* Nhóm 4: Bao gồm các biện pháp không đòi hỏi vốn đầu tư cơ bản, nhưng được thựchiện bằng dự toán chi phí sản xuất bổ sung hàng năm của doanh nghiệp hoặc người

sử dụng đất như nâng cao độ phì và tính chất sản xuất của đất, áp dụng các quy trìnhcông nghệ gieo trồng tiên tiến, thực hiện các biện pháp kỹ thuật canh tác chống xóimòn, sử dụng các chế phẩm hoá học, bón phân, bón vôi Để triển khai thực hiệncác biện pháp thuộc nhóm này, trong phương án quy hoạch sử dụng đất cần xácđịnh rõ các thông số cần thiết về đặc điểm mang tính công nghệ của từng khu đất(như kích thước chiều dài - chiều rộng của khu đất, hiện trạng sử dụng, loại thổnhưỡng, thành phần cơ giới, mức độ xói mòn, điều kiện địa hình, địa chất ), cũngnhư những kiến nghị về hướng cải tạo việc sử dụng đất

Trang 23

(5) Khả thi về các giải pháp tổ chức thực hiện và quản lý quy hoạch, đượcđánh giá theo nhóm các giải pháp gồm:

* Các giải pháp về nguồn lực và kinh tế:

- Huy động các nguồn lực về vốn và lao động để đẩy nhanh tiến độ thực hiện cáccông trình, dự án;

- Giải quyết tốt việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thựchiện các công trình, dự án

- Thực hiện tốt việc đào tạo nghề, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề đối với lao động cóđất bị thu hồi

* Các giải pháp về cơ chế chính sách

- Tạo điều kiện để nông dân dễ dàng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đấtnông nghiệp nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, phù hợp với nhu cầu thị trường;

- Bảo đảm cho đồng bào dân tộc miền núi có đất canh tác và đất ở;

- Tổ chức tốt việc định canh, định cư;

- Ổn định đời sống cho người dân được giao rừng, khoán rừng; khuyến khích ứngdụng tiến bộ khoa học, công nghệ có liên quan đến sử dụng đất nhằm tăng hiệu quả

sử dụng đất

Trang 24

1.2.3 Bản chất và phân loại hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất

Hiệu quả là tổng hoà các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường mà quyhoạch sử dụng đất sẽ đem lại khi có thể triển khai thực hiện phương án trong thựctiễn (với phương án đã được đảm bảo bởi các yếu tố khả thi)

Quy hoạch sử dụng đất là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế của

xã hội Quá trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất khá phức tạp, liên quan đếnnhiều vấn đề và chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như các mối quan hệ sảnxuất; hình thức sở hữu đất đai và các tư liệu sản xuất khác Với cách tiếp cận nhưtrên, cần phải lưu ý một số vấn đề khi xem xét hiệu quả quy hoạch sử dụng đất nhưsau [5]:

(1) Hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất phải được đánh giá trên cơ sở hệ thống các mốiquan hệ về kinh tế cùng với việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá phù hợp;

(2) Khi xác định hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất cần xem đồng thời giữa lợi íchcủa những người sử dụng đất với lợi ích của toàn xã hội;

(3) Đất đai là yếu tố của môi trường tự nhiên, vì vậy cần phải chú ý đến các yêu cầubảo vệ và nâng cao độ phì nhiêu của đất, cũng như giữ gìn các đặc điểm sinh tháicủa đất đai;

(4) Khi tính toán các chỉ tiêu hiệu quả cần tách bạch rõ phần hiệu quả đem lại của quyhoạch sử dụng đất thông qua các chỉ tiêu đồng nhất về chất lượng và có thể so sánhđược về mặt số lượng (cần xác định hiệu quả theo từng nội dung của phương án quyhoạch sử dụng đất và từng đối tượng sử dụng đất);

(5) Phương án quy hoạch sử dụng đất là cơ sở để thực hiện các biện pháp (sẽ được cụthể hoá trong các đề án quy hoạch chi tiết) như chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, cảitạo và bảo vệ đất, xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông, các dự án xây dựngcông trình phục vụ sản xuất, kinh doanh Vì vậy, cần tính đến hiệu quả của tất cảcác biện pháp có liên quan được thực hiện cho đến khi định hình phương án quyhoạch sử dụng đất (bao gồm chi phí vốn đầu tư cơ bản và vốn quay vòng, các chiphí cần thiết để bồi thường thiệt hại và bảo vệ môi trường)

Trang 25

Do đặc điểm tổng hợp, nên việc đánh giá và luận chứng phương án quyhoạch sử dụng đất khá phức tạp Thông thường, khi đánh giá về góc độ kinh tế luônchứa đựng cả vấn đề môi trường cũng như yếu tố xã hội của phương án (chính vìbất kỳ phát sinh bất lợi nào về vấn đề môi trường và xã hội sẽ không tránh khỏi tácđộng đến các kết quả kinh tế) Ngoài ra, khi xây dựng phương án quy hoạch sửdụng đất sẽ giải quyết đồng thời nhiều vấn đề riêng nhìn từ góc độ kỹ thuật, cũngnhư về mặt quy trình sản xuất (yếu tố công nghệ) Như vậy, nội dung luận chứngtổng hợp và đánh giá phương án quy hoạch sử dụng đất sẽ bao gồm các hợp phầnsau:

- Luận chứng và đánh giá về kỹ thuật;

- Luận chứng và đánh giá về quy trình công nghệ;

- Luận chứng và đánh giá về kinh tế;

Luận chứng và đánh giá tổng hợp (chứa đựng đồng thời các yếu tố kinh tế xã hội môi trường)

-Luận chứng về kỹ thuật được thực hiện để đánh giá việc bố trí đất đai về mặtkhông gian của phương án quy hoạch sử dụng đất và về đặc điểm tính chất của đất(địa hình khu vực, thành phần, cơ giới đất, kết cấu địa chất, độ lớn khoanh đất, tìnhtrạng khai thác khu đất, các trở ngại ) Khi lập quy hoạch, để luận chứng và đánhgiá kỹ thuật sẽ sử dụng các tiêu chuẩn cho phép (hướng và cấp độ dốc cho phép đốivới máy móc nông nghiệp, bề rộng giới hạn của các dải đất, giới hạn về kích thướcthửa đất cho từng đối tượng sử dụng đất, diện tích tối ưu đối với thửa đất, khoảngcách cho phép ) Các chỉ tiêu kỹ thuật được so sánh giữa các phương án quy hoạchvới nhau hoặc so với tình trạng trước quy hoạch sẽ cho phép đưa ra nhận định vềmức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra, mức độ cải thiện và những tồn tại, bất cập vềđiều kiện không gian của việc sử dụng đất

Luận chứng về quy trình công nghệ nhằm đánh giá khả năng đáp ứng cácyêu cầu tái sản xuất mở rộng của việc tổ chức lãnh thổ đề ra trong phương án quyhoạch Các chỉ tiêu luận chứng và đánh giá thường biểu thị dưới dạng cân đối cácnguồn lực, các loại sản phẩm Ngoài ra, còn đề cập đến các vấn đề khác như phân

Trang 26

bố sản xuất, cơ cấu tổ chức sản xuất, áp dụng các khu luân canh, chuyên canh (biểuthị thông qua các chỉ tiêu xác định nào đó).

Mục tiêu của luận chứng về kinh tế và luận chứng tổng hợp (kinh tế xã hội môi trường) nhằm xác định phương án, tính toán hiệu quả của các biện pháp đề ratrong quy hoạch, xác định các chỉ tiêu tổng hợp (biểu thị bằng tiền) đặc trưng chohiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất, so sánh những kết quả nhận được(do tổ chức hợp lý sản xuất) với các chi phí bổ sung

-1.3 Khái quát về QHSDĐ một số nước trên thế giới

* Nhật Bản trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thịtăng đã đặt ra nhu cầu sử dụng đất ngày một lớn cho tiến trình phát triển kinh tế - xãhội, sự cạnh tranh về mục đích sử dụng đất diễn ra không chỉ ở trong khu vực đô thị

mà còn ở hầu hết trên lãnh thổ đất nước “Trong những thập kỷ vừa qua cơ cấu sửdụng đất đã có sự thay đổi, bình quân mỗi năm chuyển đổi khoảng 30.000 ha đất sảnxuất nông nghiệp sang các mục đích khác

Giá trị sinh thái, thẩm mỹ của môi trường thường xuyên được nhấn mạnhtrong quy hoạch Sự phát triển kinh tế đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ việc sử dụng đất

và các xu hướng của xã hội, giải quyết có hiệu quả mối liên kết trung ương và địaphương trong quản lý môi trường” [28]

* Tiến sĩ Azizi Bin Haji Muda cho rằng cơ sở của sự phát triển nông thôn là cải thiệnđời sống kinh tế - xã hội của dân cư nông thôn Quá trình phát triển kinh tế (hiện đạihoá nền kinh tế thông qua phát triển công nghiệp) ở Malaysia là nguyên nhân củanhững thay đổi sử dụng đất; Kết quả là nhiều đất nông thôn màu mỡ được chuyểnsang các hoạt động phi nông nghiệp đặc biệt dành cho các ngành công nghiệp sảnxuất, nhà ở và các hoạt động thương mại khác [25]

* Quá trình phát triển xã hội Đài Loan trước đây cũng giống với hiện trạng phát triểngiai đoạn hiện nay của Việt Nam, tức là xã hội nông nghiệp là chính Những năm 40trở lại đây, nền kinh tế Đài Loan có tăng trưởng với tốc độ nhanh, giới công thương

đã trở thành ngành nghề chủ lực của Đài Loan, cũng là sức mạnh

Trang 27

căn bản của đất nước Hơn nữa, nông nghiệp cùng với sự phát triển của kỹ thuật đãphát triển theo hướng thâm canh, chuyên sâu [10].

Nhân khẩu nông nghiệp và diện tích sử dụng đất trong nông nghiệp Đài Loangiảm theo hàng năm, nhưng cùng với việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và chính sáchthâm canh hóa, chuyên sâu hóa, giá trị sản lượng về tổng sản phẩm quốc nội trongnông nghiệp vẫn tăng ổn định Nhưng sự phát triển của nghề chế tạo tuy chỉ với nhucầu sử dụng đất không lớn nhưng phát huy hiệu quả sử dụng đất lớn nhất; giá trị sảnxuất trên đơn vị nhân khẩu và tổng sản phẩm quốc nội trong nghề chế tạo đều cócống hiến to lớn hơn so với nông nghiệp

“Từ kinh nghiệm phát triển Đài Loan có thể thấy sự phát triển nông nghiệpĐài Loan tuy vẫn chiếm vị trí số một, nhưng cống hiến đối với phát triển kinh tếvẫn dựa vào sự phát triển của nghề chế tạo Đài Loan đã lấy nghề chế tạo làm chủlực, vì nó có thể sử dụng diện tích đất đai ít nhất, nhưng phát huy hiệu quả kinh tếlớn nhất Đối với phát triển nông nghiệp đã tích cực đưa vào kỹ thuật sản xuất tiêntiến, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, giảm bớt diện tích và nhu cầu nhânlực của nông nghiệp, chuyển một bộ phận nhân lực và đất nông nghiệp đưa vào sảnxuất trong nghề chế tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đồng thời tạo cơ hội việclàm, tiến tới nâng cao giá trị và thu nhập quốc dân trong nước” [10]

Thực tiễn của nhiều nước trên thế giới cho thấy quá trình công nghiệp hoánếu không sớm có quy hoạch toàn diện về đất đai, nếu không biết khai thác sử dụnghợp lý thì diện tích đất nông nghiệp bị giảm tại các vùng đồng bằng đất tốt làm mất

an ninh lương thực, dẫn đến phát triển không bền vững

“Quá trình phát triển công nghiệp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn

Độ và Trung Quốc trong vòng 10 năm gần đây đã lấy mất hơn 15 triệu ha đất nôngnghiệp

Ở Indonesia mỗi năm có 50 ngàn ha đất trồng lúa "biến" mất để nhường chỗcho xây dựng nhà ở và các khu công nghiệp Bên cạnh việc giảm diện tích đấtcanh tác, độ phì nhiêu của đất cũng suy giảm do ô nhiễm chất thải từ công nghiệp

Trang 28

hoặc do chế độ canh tác thiếu khoa học gây ra Chẳng hạn ở Mỹ, do những nguyênnhân này gây ra đã làm cho gần 20 triệu ha đất không còn sử dụng được…” [24].

Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển và đang phát triển,quy hoạch sử dụng đất đai mang tính đặc thù riêng, mỗi một loại hình quy hoạch ởcác nước đều có những quy định về nội dung, phương pháp tiến hành phân ra cáccấp, kiểu quy hoạch, song 2 loại hình quy hoạch này dù ở đâu trên thế giới thì cũng

có những mối quan hệ nhất định Trên cơ sở quy hoạch không gian người ta tiếnhành phân vùng sử dụng đất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết cho từng khu vực.Quy hoạch chi tiết phát triển từng vùng thông thường được đấu thầu cho các cơquan phát triển bất động sản tư nhân Tuy nhiên, mỗi phương án quy hoạch chi tiếtđều phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về xây dựng và môi trường; các phương ánquy hoạch chi tiết phải được công bố công khai và trưng cầu ý kiến của cộng đồngdân cư nơi có quy hoạch ít nhất là ba tháng trước khi phê duyệt và triển khai

Ở Liên bang Australia (Úc) [27] hầu hết các Tiểu bang đều có cơ quan quyhoạch riêng (Planning Commision) trực thuộc Chính phủ Tiểu bang, người đứngđầu cơ quan quy hoạch là thành viên Chính phủ có quyền hạn tương đương các Bộtrưởng khác (hàm Bộ trưởng) Quy hoạch tổng thể không gian và phân vùng sửdụng đất do ngân sách Nhà nước Tiểu bang cấp, quy hoạch chi tiết do các công tytrúng thầu tự bỏ sau đó tính vào giá các khu đất hoặc các toà nhà bán đấu giá saunày Ở úc khi tiến hành quy hoạch điều đầu tiên người ta chú trọng là phân bổ sửdụng đất làm sao cho sử dụng có hiệu quả nhất điều kiện tự nhiên sẵn có bảo đảmphát triển bền vững và có môi trường tốt Thông thường các khu có hồ, rừng câyđược giữ tối đa trong quá trình quy hoạch Các khu nhà ở thường được bố trí vencác dòng sông, bờ biển, gần hồ Các khu sản xuất bố trí xa khu dân cư, xa nguồnnước Trong các khu dân cư chú trọng bố trí đầy đủ các khu dịch vụ thương mại,trường học Thông thường khu trường học và trung tâm thương mại được bố trí ở

vị trí gần trung tâm nhất để thuận lợi cho mọi công dân trong khu Tuy nhiên,bệnh viện thông thường được bố trí ở phía ngoài khu dân cư, thuận lợi về giaothông nhưng xa các đường cao tốc hoặc nhà ga để tránh tiếng ồn và để ngăn chặn

Trang 29

sự lây lan của dịch bệnh Tất cả các khu đô thị mới hiện nay khi thiết kế thườnggắn với sử dụng tiết kiệm năng lượng, đèn chiếu sáng dùng đèn tiết kiệm, các nhà

ở sử dụng tối đa pin năng lượng mặt trời, nước thải sinh hoạt được xử lý và theođường ống riêng dành cho tưới cây và rửa xe để tiết kiệm nước

Malaysia và Indonesia có quy định quy hoạch tương đối giống nhau và giốngLiên bang úc Tuy nhiên, Malaysia đang có định hướng và đã tiến hành với Chínhphủ Trung ương tách khu hành chính (Thủ đô hành chính) ra khỏi khu đô thị cũ, khudân cư và khu thương mại Đây là phương án quy hoạch khá mới, một cách tiếp cận

và tư duy hoàn toàn đổi mới Với phương án này Malaysia vừa bảo toàn được cáckhu phố cổ để duy trì du lịch, vừa có điều kiện hiện đại hóa các cơ quan côngquyền, thực hiện Chính phủ điện tử (E-Government) vừa tránh được ùn tắc giaothông trong khu đô thị Một vấn đề đang đặt ra đối với Malaysia là Chính phủ cần

có hỗ trợ để xây dựng các khu dân cư dành cho công chức tại các khu hành chínhmới này Với quy hoạch các “Thủ đô hành chính” tạo điều kiện thuận lợi cho ngườidân và các tổ chức khi thực hiện các thủ tục hành chính và thuận lợi cho các cơquan kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của các cơ quan công quyền

Các bước đi của Indonesia có nét giống Việt Nam; vẫn chủ yếu dựa trên việccải tạo và tu bổ các đô thị cũ, tính chắp vá trong quy hoạch vẫn còn tồn tại và kháphổ biến

Kinh nghiệm của Trung Quốc và Đài Loan là bài học đáng nghiên cứu:Những khu dân cư, khu công nghiệp, khu đô thị mới quy hoạch rất hiện đại và cótầm nhìn phát triển bền vững cho một tương lai xa Tuy nhiên, để quy hoạch đượcnhư Trung Quốc và Đài Loan đòi hỏi phải có tiềm lực kinh tế lớn; ở các nước nàyquy hoạch đô thị vẫn do cơ quan xây dựng đảm nhiệm, việc quy hoạch sử dụng đấtđai chủ yếu tập trung vào phân vùng các khu chức năng do cơ quan quản lý đất đaiđảm nhiệm [26]

Các nước thuộc Liên Xô (cũ) có bước đi tương tự nhau; trước hết là lập sơ

đồ tổng thể phát triển lực lượng sản xuất sau đó tiến hành quy hoạch chi tiết cácngành, trên cơ sở nhu cầu sử dụng đất của các ngành để tiến hành quy hoạch sử

Trang 30

dụng đất đai Tuy nhiên, việc phân bổ các khu chức năng để bảo đảm phát triển bềnvững và bảo vệ môi trường luôn luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu Mộtnguyên tắc cơ bản của các nước này là bảo vệ nghiêm ngặt đất sản xuất, đặc biệt làđất canh tác Tại các nước này quy hoạch tổng thể phát triển lực lượng sản xuất do

ủy Ban kế hoạch Nhà nước (tương đương Bộ Kế hoạch và Đầu tư của Việt Nam)đảm trách; quy hoạch đô thị do ngành xây dựng, quy hoạch sử dụng đất đai do cơquan quản lý đất đai thực thi

Tại Thụy Điển và các nước Đông Âu khác phân vùng sử dụng đất được lồngghép ngay trong khi tiến hành quy hoạch tổng thể không gian Việc mọi quan tâmchủ yếu tập trung vào quy hoạch chi tiết phát triển đô thị và vấn đề bảo vệ môitrường sống luôn được đặt lên hàng đầu

Nói tóm lại bước đi, cách làm và tổ chức bộ máy tiến hành của các nước cókhác nhau nhưng tất cả đều có nguyên tắc chung là sử dụng hợp lý tài nguyên đấtđai, bảo vệ được tài nguyên rừng hiện có, duy trì và bảo vệ các khu phố cổ, bảo đảmphát triển bền vững và bảo vệ môi trường sống cho hiện tại và thế hệ mai sau

1.4 Tình hình Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam

Việt Nam là nước có dân số đông, diện tích đất hạn hẹp (thuộc diện nước

"đất chật người đông”), vì vậy công tác quy hoạch sử dụng đất sao cho có hiệu quả,hợp lý, ổn định, bền vững luôn là một đòi hỏi khách quan Quá trình thực hiện côngtác quy hoạch sử dụng đất ở nước ta có thể phân theo các giai đoạn như sau:

1.4.1 Giai đoạn từ 1930 đến trước năm 1960

Ở giai đoạn 1930 - 1945, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành lẻ tẻ ởmột số đô thị, các khu mỏ khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điềnnhư cao su, cà phê… theo yêu cầu về nội dung và phương pháp của người Pháp Từnăm 1946 đến 1954 là thời kỳ toàn quốc kháng chiến kiến quốc, thực hiện triệt đểkhẩu hiệu “người cày có ruộng” (Hội nghị Trung ương lần thứ 5 tháng 11 năm

1953, Đảng ta đã thông qua Cương lĩnh ruộng đất; sau đó Quốc hội thông qua LuậtCải cách ruộng đất ngày 04 tháng 12 năm 1953) Mục đích cải cách ruộng đất làtiêu diệt chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng, giải

Trang 31

phóng sức sản xuất ở nông thôn, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến Phươngchâm cải cách ruộng đất là đấu tranh một cách có kế hoạch, làm từng bước, có trật

tự, có lãnh đạo chặt chẽ “Những ruộng đất tịch thu, trưng thu, trưng mua chia hẳncho nông dân, nông dân có quyền sở hữu ruộng đất đó, theo nguyên tắc xã làm đơn

vị, trên cơ sở nguyên canh, theo số lượng, chất lượng, vị trí gần hay xa của ruộngđất, dùng cách điều chỉnh nhiều bù ít, tốt bù xấu, gần bù xa mà chia; cần chiếu cốnhững nông dân trước đã cày trên những ruộng đất ấy” [8] Làm đầy đủ những nộidung như vậy thì thực chất là đã tiến hành quy hoạch sử dụng đất đai mà chí ít làtrong lĩnh vực nông nghiệp

Ở Miền Nam có những đề án thiết lập quy hoạch sử dụng đất đai về xâydựng các đồn điền, các khu công nghiệp nhỏ lẻ, các khu vực dân cư đô thị và nôngthôn, các khu vực bến xe, bến cảng phục vụ mục đích quân sự “Một ví dụ về Quyhoạch sử dụng đất đai phục vụ giáo dân khá tiêu biểu là đồ án Quy hoạch sử dụngđất đai khu vực xung quanh Toà Thánh Tây Ninh tiến hành năm 1952” [12]

“Từ sau khi hoà bình lập lại, ở Miền Bắc thực hiện kế hoạch khôi phục kinh

tế sau chiến tranh, tập trung vào việc hoàn thành cải cách ruộng đất tiếp đến là cảitạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tưbản tư doanh; trong đó khâu chính là cải tạo và phát triển nông nghiệp” [8] “Trêntoàn Miền Bắc về căn bản đã giải quyết xong vấn đề người cày có ruộng và hìnhthành quan hệ sản xuất mới ở nông thôn và chuẩn bị kế hoạch 5 năm lần thứ nhấtvới sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài” [14] Đây là thời kỳ quy hoạch sửdụng đất đai mang tính tự phát, tự túc, khôi phục và kế thừa truyền thống cây trồngvật nuôi, phong tục tập quán sinh hoạt cộng đồng với nhiều biểu hiện tính tập thểcủa chế độ xã hội chủ nghĩa

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975

Đến cuối năm 1960 khi chuẩn bị xây dựng và công bố kế hoạch 5 năm lầnthứ nhất (1961 - 1965) cả nước đang bước vào thời kỳ hừng hực khí thế xây dựngđất nước mà trước hết là phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, sử dụng tốt quỹ đấtđai Chính vì vậy mà công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã

Trang 32

được đặt ra ngay từ những năm 1960 này Do đó có thể nói “quy hoạch sử dụng đấtđai cũng đồng thời được đặt ra (chính xác là năm 1962), các bộ ngành chủ quản, cáctỉnh, huyện đã có những điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông,thuỷ lợi, xây dựng kho tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xưởng… mang tính chất bốtrí sắp xếp lại việc sử dụng đất cũng chỉ mới được đề cập như một phần nội dunglồng ghép vào các phương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, các phương ánsản xuất hay công trình xây dựng cụ thể nào đó cho những mục đích đơn lẻ” [13].

Trong bối cảnh cả nước có chiến tranh cho tới khi giải phóng Miền Namthống nhất đất nước năm 1975, quy hoạch sử dụng đất đai chưa có điều kiện tiếnhành theo một nội dung, phương pháp, trình tự thống nhất trong phạm vi một cấp vịlãnh thổ nào đó Mặc dù vậy với tư cách là một phần nội dung của các phương ánphát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những cơ

sở có tính khoa học cho việc tính toán các phương án sản xuất có lợi nhất “Nó làmột yêu cầu không thể thiếu được đối với các nhà quản lý sản xuất nông nghiệpngay cả ở cấp vị một Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ này” [16]

1.4.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993

Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra cơbản trên phạm vi cả nước “Vào cuối năm 1978 lần đầu tiên đã xây dựng được cácphương án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm sảncủa cả nước, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố thuộc Trung ươngtrình Chính phủ xem xét phê duyệt” [13] Trong các tài liệu này đều đã đề cập đến quyhoạch sử dụng đất đai, coi đó như những căn cứ khoa học quan trọng để luận chứngcác phương án phát triển ngành Cùng với lĩnh vực nông nghiệp, các khu cụm côngnghiệp, các khu đô thị, các khu đầu mối giao thông… cũng được nghiên cứu xem xét

để cải tạo và xây mới Thực tế lúc bấy giờ cho thấy các thông tin, số liệu, tư liệu đođạc bản đồ phục vụ cho quản lý đất đai nói chung và cho quy hoạch sử dụng đất đainói riêng là vừa thiếu, vừa tản mạn lại vừa khập khiễng, làm cho độ tin cậy về quy môdiện tích, vị trí cũng như tính chất đất đai tính toán trong các phương án này khôngđược bảo đảm Rất nhiều phương án tính toán diện tích cây trồng chủ lực như cao su,

cà phê, chè, dứa, lạc,

Trang 33

đay, đậu đỗ… trong cùng một địa bàn cụ thể có sự chồng chéo, thiếu tính khả thi Đâycũng là một trong những yếu tố thúc đẩy việc Chính phủ quyết định thành lập Tổngcục Quản lý ruộng đất (Nghị quyết số 548/NQ/QH ngày 24/5/1979 của Uỷ Banthường vụ Quốc hội về thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất; Nghị định số 404/CPngày 09/11/1979 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứccủa Tổng cục Quản lý ruộng đất).

Trước áp lực về lương thực và hàng tiêu dùng, trong giai đoạn này Trungương Đảng và Chính phủ đã có những Nghị quyết, Chỉ thị, Quyết định quan trọngnhằm “làm cho sản xuất bung ra” ví dụ như Quyết định tận dụng đất nông nghiệp(9/1979); xoá bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ (10/1979); thông báo về “khoán” sảnxuất nông nghiệp sau Hội nghị nông nghiệp ở Đồ Sơn - Hải Phòng (1980) Đặc biệtphải kể đến Chỉ thị số 100/TW ngày 13/01/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộngkhoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nôngnghiệp Thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã” mà thực chất côngtác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ yếu của nó là quyhoạch sử dụng đất đai

Bước vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ V (1982) đãquyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển vàphân bố lực lượng sản xuất, nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạchtriển vọng để chuẩn bị tích cực cho kế hoạch 5 năm sau (1986 - 1990)” Trongchương trình lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời

kỳ 1986 - 2000 này có 5 vấn đề bao gồm 32 đề tài cấp Nhà nước, trong đó có vấn đề

về tài nguyên thiên nhiên đều đặc biệt chú trọng đến vấn đề quy hoạch sử dụng đấtđai; coi đất đai vừa là nguồn lực sản xuất trực tiếp quan trọng như là vốn, lao động

và vừa là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá

Hơn nữa, cũng trong thời kỳ này, Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựngquy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện được vínhư 500 “pháo đài” làm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cảnước hết sức sôi động [7]

Trang 34

Như vậy, đây là giai đoạn có tính bước ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai màthực chất là quy hoạch sử dụng đất đai Điều này được phản ánh ở chỗ nội dung chủyếu của Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sảnxuất trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực côngnghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị.

Tiếp theo đó là thời kỳ Luật Đất đai 1987 ra đời, đánh dấu một bước mới nữa

về quy hoạch sử dụng đất đai vì nó được quy định rõ ở Điều 9 và Điều 11 tức là quyhoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý Tuy nhiên, đây lại là thời kỳ bắt đầu côngcuộc đổi mới, cả nước vừa trải qua một thời kỳ triển khai rầm rộ công tác quy hoạchnói chung và quy hoạch sử dụng đất đai nói riêng nhưng thực tế nền kinh tế đấtnước ta đang đứng trước những khó khăn lớn Những thay đổi lớn ở Liên Xô (cũ)

và các nước Đông Âu cùng với nhiều vấn đề trước mắt thường nhật phải giải quyếtlàm cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai lại rơi vào trầm lắng

Thực tế đòi hỏi phải đổi mới nội dung, phương pháp cho phù hợp với yêucầu của quá trình chuyển dần sang nền kinh tế cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầutiên ra Thông tư số 106/QHKH/RĐ ngày 15/4/1991 hướng dẫn về quy hoạch phân

bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã với những nội dung như sau:

- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;

- Điều chỉnh một số trường hợp về quản lý và sử dụng đất;

- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;

- Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản xuất,chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng cácvăn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai [9]

Với những thay đổi lớn về vai trò của Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, việcquản lý sử dụng đất ở khu vực nông thôn nổi lên hết sức quan trọng Căn cứ theoThông tư hướng dẫn có những tỉnh ở đồng bằng đã tiến hành lập quy hoạch sử dụngđất đai cho hàng trăm xã (tới một nửa số xã trong toàn tỉnh) Tuy nhiên, do chưa cóquy hoạch từ trên xuống cũng như các tài liệu hướng dẫn về quy trình, định mức,

Trang 35

phương pháp, nội dung thống nhất nên các quy hoạch này bộc lộ nhiều hạn chế.

“Đại đa số đều chỉ mới chú trọng tới việc giãn dân là chủ yếu Vấn đề này có mặtđược nhưng có nhiều mặt không được vì phải cấp đất làm nhà ở với số lượng lớn

mà chủ yếu lấn vào đất ruộng, với những định mức sử dụng đất rất khác nhau, tạonên nhiều bất cập phải tiếp tục giải quyết sau này nhất là ở các khu vực ven đô thị”[12]

1.4.4 Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay

Luật Đất đai năm 1993 ra đời, tạo được cơ sở pháp lý cho công tác quyhoạch sử dụng đất đai tương đối đầy đủ hơn Năm 1994, Tổng cục Địa chính đượcthành lập và tới tháng 4 năm 1995, lần đầu tiên tổ chức được một Hội nghị tậphuấn về công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cho Giám đốc Sở Địa chínhcủa tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương của cả nước tại Thành phố HồChí Minh từ ngày 03- 08/04/1995 Sau hội nghị này công tác lập quy hoạch sử dụngđất đai được triển khai mạnh mẽ và có bài bản hơn ở cả 4 cấp là: cả nước, tỉnh,huyện, xã Một số dự án quy hoạch sử dụng đất đai vừa triển khai vừa rút kinhnghiệm thí điểm ở 10 tỉnh, 20 huyện đại diện cho các vùng của cả nước đã đượcTổng cục Địa chính chỉ đạo và tổ chức thực hiện Riêng các huyện điểm đã đượctổng kết rút kinh nghiệm kịp thời tại Hội nghị Bắc Thái từ ngày 15 - 16/9/1995.Trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm của mấy chục năm trước đây, đặc biệt là thực tếcông tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai thời kỳ này, Tổng cục Địa chính đãcho nghiên cứu, soạn thảo và ban hành (tạm thời) Quyết định số 657/QĐ- ĐC ngày28/10/1995 về quy trình, định mức và đơn giá điều tra quy hoạch sử dụng đất đai

áp dụng trong phạm vi cả nước Từ đó các địa phương có cơ sở để tổ chức triểnkhai thực hiện các dự án quy hoạch sử dụng đất đai theo nội dung và quy trìnhtương đối thống nhất, đẩy nhanh tiến độ công tác lập quy hoạch sử dụng đất đai[13]

Với những kết quả khả quan thu được, báo cáo “Quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất đai cả nước đến năm 2010” đã được Chính phủ trình Quốc hội khoá IXtại kỳ họp thứ 10 (15/10 - 12/11/1996) và kỳ họp thứ 11 (02/4 - 10/5/1997); Quốc

Trang 36

hội đã ra Nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10/5/1997 thông qua kế hoạch sử dụngđất đai đến năm 2000 của cả nước Căn cứ Nghị quyết này, công tác quy hoạch sửdụng đất đai tiếp tục được đẩy mạnh Tiếp theo đó, trong các ngày từ 22 -26/10/1998, tại thành phố Đà Nẵng đã diễn ra Hội nghị Tập huấn về công tác quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước nhằm thúc đẩy công tác quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất đai nhanh, mạnh hơn nữa để đáp ứng yêu cầu nội dung, tiến độ

đề ra theo các Nghị quyết của Quốc hội Tuy vậy cũng phải sau 7 năm, tức là phảiđến năm 2004, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc hội mới ra Nghị quyết số29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 và kếhoạch sử dụng đất đai đến năm 2005; Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tiến hànhcông tác rà soát quy hoạch sử dụng đất an ninh, quốc phòng và đã được Chính phủphê duyệt

Hiện nay về nội dung, phương pháp, trình tự lập quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất đai các cấp đã có những quy định cụ thể, rõ ràng mang tính pháp lý như:Luật Đất đai năm 2003 quy định tại Mục II Chương II (gồm 10 Điều, từ Điều 21đến Điều 30), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thihành Luật Đất đai quy định tại Chương II (gồm 18 Điều, từ Điều 12 đến Điều 29)[6] và Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môitrường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất đai [2] Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quy trình lậpquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp; ban hành Định mức sử dụng đất; Địnhmức, đơn giá điều tra, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp

Tình hình triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cảnước như sau:

- Đối với cả nước: Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳhọp thứ 11 đã thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm

2010 (Nghị quyết số 01/1997/QH9 về kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước 5 năm, từ năm 1996 - 2000) và giao trách nhiệm cho các ngành, các tỉnh, thành phố

lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của ngành, địa phương mình trình

Trang 37

cấp có thẩm quyền phê duyệt Năm 2000 Chính phủ đã chỉ đạo Tổng cục Địa chính

(nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) xây dựng quy hoạch sử dụng đất đến năm

2010 và Kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nước trình Quốc hội khoá XI.Báo cáo này đã hoàn chỉnh để phù hợp với Luật Đất đai năm 2003 và đã được Quốchội thông qua ngày 15/6/2004 tại kỳ họp thứ 5, khoá XI

Đối với đất quốc phòng, an ninh: Chính phủ đã chỉ đạo Tổng cục Địa chínhphối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương tiến hành rà soát quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các đơn vị trựcthuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đến nay đã hoàn thành trên phạm vi cả nước

- Đối với cấp tỉnh: Đã có 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng xongphương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và lập kế hoạch sửdụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 - 2010); trong đó có 62 tỉnh đã được Chính phủ xétduyệt; thành phố Hà Nội đã hoàn thành việc thẩm định và đang trình Chính phủ xétduyệt; tỉnh Hà Giang đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các Bộ, ngành cóliên quan thẩm định và đang được hoàn chỉnh để trình Chính phủ xét duyệt;

1.5 Kết quả thực hiện QHSDĐ cấp tỉnh ở Việt Nam

Thực hiện Luật Đất đai năm 1993 và các văn bản dưới luật, cả nước đã có61/61 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được Thủ tướng Chính phủ phê duyệtphương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 Kết quả thực hiện quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất của các tỉnh đã góp phần từng bước cụ thể hóa các mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội của các tỉnh, đặc biệt trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, pháttriển không gian đô thị, khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng đất đai, làm cơ sởcho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất, xây dựng quy hoạch sử dụng đất của cáchuyện trên cả nước

Tuy nhiên, sau nhiều năm tổ chức triển khai thực hiện, quy hoạch sử dụngđất của các tỉnh đã bộc lộ nhiều hạn chế bất cập, không theo kịp tình hình phát triểnkinh tế - xã hội của từng tỉnh; trong khi đó, Luật Đất đai năm 2003 với nhiều điểmmới có hiệu lực thi hành, quy hoạch sử dụng đất đã duyệt không còn phù hợp vớitình hình mới Vì vậy, đã có 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xâydựng phương

Trang 38

án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5năm kỳ cuối (2006 - 2010) [4] Đây là một trong những căn cứ pháp lý và cơ sởquan trọng để các tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai.

Trang 39

Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP QHSDĐ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN QHSDĐ GIAI ĐOẠN 2001 – 2010 CỦA TỈNH BẮC NINH

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường và kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

Vị trí địa lý tỉnh Bắc Ninh từ 20058' đến 21016' vĩ độ Bắc và 105054' đến

106019' kinh độ Đông, là một tỉnh thuộc Vùng đồng bằng sông Hồng, nằm trongtam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cửa ngõ phía ĐôngBắc của thành phố Hà Nội;

+ Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang;

+ Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội;

+ Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Hải Dương;

+ Phía Tây giáp thành phố Hà Nội

Với vị trí như trên, Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xãhội của tỉnh:

- Có các tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua như QL1A, QL18, đường sắt

Hà Nội - Lạng Sơn và các tuyến đường thuỷ như: sông Đuống, sông Cầu, sông TháiBình nên rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và hành khách giao lưu với các tỉnhtrong cả nước

Vị trí địa lý thuận lợi là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong các tiềmlực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế xãhội của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 40

b) Địa hình, địa mạo;

Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuốngNam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống

và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường

có độ cao phổ biến từ 3-7m, địa hình đồi núi sót có độ cao phổ biến 40-50m Diệntích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh,phân bố chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ, Tiên Du và thành phố Bắc Ninh Ngoài ra, cònmột số khu vực thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ,Yên Phong

Nhìn chung Bắc Ninh có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nôngnghiệp đa dạng và phong phú Mùa Đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ đông trởthành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau màu ngắn ngày cho giá trị cao

và xuất khẩu Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo

Ngày đăng: 23/12/2021, 21:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất cả nước đếnnăm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nước
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày01/11/2004 "của "về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị số 09/2007/CT-TTg về tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư trên địa bàn cả nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị số09/2007/CT-TTg về tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dựán đầu tư trên địa bàn cả nước
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Báo cáo về tình hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) và tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp của cả nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) và tình hình thực hiện quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất nông nghiệp của cả nước
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
5. Võ Tử Can (2006), Nghiên cứu phương pháp luận và chỉ tiêu đánh giá tính khả thi và hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp luận và chỉ tiêu đánh giá tínhkhả thi và hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
Tác giả: Võ Tử Can
Năm: 2006
6. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/200/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 181/200/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hànhLuật Đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
7. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1983), Chỉ thị số 212 - CT ngày 4/8/1983 của Lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất của Việt Nam thời kỳ 1986 -2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 212 - CT ngày 4/8/1983 củaLập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất của Việt Nam thời kỳ1986 -2000
Tác giả: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1983
8. Hồ Chí Minh (2003), Về tài nguyên đất đai và phát triển nông nghiệp, nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tài nguyên đất đai và phát triển nông nghiệp, nôngthôn
Tác giả: Hồ Chí Minh
Năm: 2003
9. Ninh Văn Lân (1994), Quy hoạch phân bố sử dụng đất đai cấp tỉnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phân bố sử dụng đất đai cấp tỉnh
Tác giả: Ninh Văn Lân
Năm: 1994
10. Trương Phan (1996), Quan hệ giữa quy hoạch đất đai và phát triển kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa quy hoạch đất đai và phát triển kinh tế
Tác giả: Trương Phan
Năm: 1996
12. Nguyễn Dũng Tiến (1998), Tính khả thi xây dựng mức sử dụng đất của Việt Nam thời kỳ 1996 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính khả thi xây dựng mức sử dụng đất của ViệtNam thời kỳ 1996 - 2010
Tác giả: Nguyễn Dũng Tiến
Năm: 1998
13. Nguyễn Dũng Tiến (2005) “Quy hoạch sử dụng đất - Nhìn lại quá trình phát triển ở nước ta từ năm 1930 đến nay”, Tạp chí Địa chính, Số 3 tháng 6/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất - Nhìn lại quá trình pháttriển ở nước ta từ năm 1930 đến nay”, "Tạp chí Địa chính
14. Hà Ngọc Trạc (1999), Quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng dài hạn đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển năng lượng dài hạn đếnnăm 2020
Tác giả: Hà Ngọc Trạc
Năm: 1999
16. Uỷ ban phân vùng kinh tế Trung ương (1986), Báo cáo tổng kết chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm nhà nước 70- 01 Lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kỳ 1986 - 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết chương trìnhnghiên cứu khoa học trọng điểm nhà nước 70- 01 Lập Tổng sơ đồ phát triển vàphân bố lực lượng sản xuất Việt Nam thời kỳ 1986 - 2000
Tác giả: Uỷ ban phân vùng kinh tế Trung ương
Năm: 1986
24. Viện Điều tra Quy hoạch Đất đai, Tổng cục Địa chính (1998), Cơ sở lý luận khoa học của quy hoạch sử dụng đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luậnkhoa học của quy hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Viện Điều tra Quy hoạch Đất đai, Tổng cục Địa chính
Năm: 1998
25. Azizi bin Haji Muda (1996) “Issues and Problems on Rural Land Use Policy and Measures and the Actual trends of Rural Land Use in Malaysia”, Seminar on Rural Land Use Planning and Management, 24/9 - 04/10/1996, Janpan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Issues and Problems on Rural Land Use Policyand Measures and the Actual trends of Rural Land Use in Malaysia”, "Seminaron Rural Land Use Planning and Management
26. Lu Xinshe (2005) “Land use and planning in China”, Seminar on Land Use Planning and Management, 20/8 -28/8/2005, China Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land use and planning in China”, "Seminar on Land UsePlanning and Management
27. Western Australian Planning Commission and Ministry for Planning (1996), Introduction “Planning for people”, Australia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction “Planning for people”
Tác giả: Western Australian Planning Commission and Ministry for Planning
Năm: 1996
28. Yohei Sato (1996) “Current Status of Land Use planning System in Janpan”, Seminar on Rural Land Use Planning and Management, 24/9 - 04/10/1996, Janpan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Current Status of Land Use planning System in Janpan”,"Seminar on Rural Land Use Planning and Management
15. Đại từ điển Tiếng việt (1998), NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w