1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận hải an thành phố hải phòng

104 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Việc Thu Hồi Đất Giải Phóng Mặt Bằng Tới Sinh Kế Của Người Dân Tại Dự Án Xây Dựng Khu Đô Thị Mới Quận Hải An, Thành Phố Hải Phòng
Tác giả Nguyễn Thị Thuận An
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hà Thành
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Địa chính
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiếuviệc làm và tỷ lệ thất nghiệp cao, cùng với sự di chuyển tự do của lao động nôngthôn lên thành phố tìm việc làm là bài toán khó đang đặt ra cho các nhà quy hoạch,quản lý kinh tế-xã

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TrƯêng §¹i häc Khoa häc Tù nhiªn

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

****************************

NguyÔn ThÞ ThuËn An

Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh

kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An,

thành phố Hải Phòng

Chuyªn ngµnh: §Þa chÝnh

M· sè: 604480

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ HÀ THÀNH

Hà Nội - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc cám

ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thuận

An

Trang 4

LỜI CÁM ƠNTrong quá trình thực hiện công trình luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, nhiều ý kiến đóng góp quý báu và sự tạo điều kiện thuận lợi của nhiều cá nhân và tập thể Để hoàn thành luận văn tôi đã tốn không ít thời gian vàtâm huyến của bản thân Qua quá trình thực hiện luận văn đã cho tôi nhiều kinh nghiệm quý báu nhiều bài học thực tiễn cần thiết cho quá trình công tác của cá nhân tôi sau này.

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Hà Thành,giảng viên khoa địa lý trường Khoa học tự nhiên đại học Quốc gia Hà Nội người

đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu thực hiện đề tài

Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy PGS.TS Trần Văn Tuấn cùng cácthầy cô giáo trong khoa địa lý đã có những góp ý quý báu để tôi hoàn thành tốt luận văn của mình

Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến các cán bộ Phòng Thống kê, phòng Kinh tế, phòng Tài nguyên và môi trường, Trung tâm phát triển quỹ đất quận Hải

An và lãnh đạo UBN phường Đằng Hải đã giúp đỡ tôi thu thập những số liệu cần thiết, cũng như góp ý cho tôi nhiều ý kiến quan trọng để làm định hướng cho đề tài Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các đồng chí tổ trưởng tổ dân phố số 8, 9, 10 phường Đằng Hải đã bỏ thời gian công sức để cùng tôi đi điều tra phỏng vấn từng

hộ có đất thu hồi tại dự án

Tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp những người luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thuận An

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GPMB VÀ TÁC ĐỘNG TỚI

SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG CÔNG CUỘC ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT NAM

6

1.1 Vài nét về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay 6

1.1.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế - xã hội 81.1.3 Thực trạng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong những năm gần đây 91.2 Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam 121.2.1 Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất 121.2.2 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ trước khi có Luật Đất đai năm 2003 121.2.3 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ khi có Luật Đất đai năm 2003 14

1.3 Vấn đề sinh kế và những tác động của việc thu hồi đất tới sinh kế của người dân 20

1.3.3 Thực trạng sinh kế của người nông dân sau khi bị thu hồi đất do công nghiệp

hóa và đô thị hóa ở Việt Nam

21

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ

DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội quận Hải An 25

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đô thị hóa giai đoạn

2005-2010

292.2 Tình hình sử dụng và biến động đất đai của quận Hải An giai đoạn 2005-2010 35

Trang 6

2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 352.2.2 Biến động sử dụng đất phục vụ quá trình đô thị hóa 372.2.3 Tình hình chung về công tác bồi thường, GPMB trên địa bàn quận trong những

năm qua

41

2.3 Khái quát về dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An 43

2.3.3 Các văn bản và căn cứ pháp luật nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu việc thực

hiện dự án

44

2.3.4 Công tác bồi thường, hỗ trợ, GPMB của dự án khi thu hồi đất 46

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

CHO DỰ ÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN ĐẾN SINH KẾ NGƯỜI

DÂN VÀ ĐỀ XUẤT GIAỈ PHÁP

51

3.1 Thực trạng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, số tiền bồi thường và hỗ trợ cho

người dân bị thu hồi đất

của người dân

72

3.3.3 Đối với việc hỗ trợ đào tạo nghề cho người bị thu hồi đất 73

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

1.2 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả nước 17

1.4 Tỷ lệ lao động nông nghiệp bị mất việc làm tại một số vùng 222.1 Tình hình lao động có việc làm của quận Hải An theo ngành kinh tế 282.2 Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế quận Hải An qua các năm 2005,

2008, 2010

31

2.3 Hiện trạng sử dụng đất của quận Hải An giai đoạn 2005-2010 36

3.1 Số hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp ở các mức quy mô diện tích khác

nhau

51

3.2 Bình quân số tiền bồi thường, hỗ trợ việc làm của mỗi hộ dân 52

3.4 Đặc điểm người lao động ở các hộ bị thu hồi đất 553.5 Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân trước và sau khi thu hồi đất

tại dự án

58

3.6 Tình hình thu nhập của các hộ sau khi thu hồi đất 613.7 Bình quân thu nhập/tháng/lao động của các hộ có đất thu hồi 623.8 Thu nhập bình quân theo đầu người/năm phân theo nguồn thu 633.9 Phương thức sử dụng tiền bồi thường của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất 653.10 Tài sản sở hữu của các hộ trước và sau khi thu hồi đất 673.11 Nguồn lực đảm bảo sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đẩt 68

Trang 8

2.2 Biểu đồ so sánh cơ cấu kinh tế quận Hải An quan các năm 2005,

2008, 2010

31

3.1 Biểu đồ so sánh số hộ dân bị thu hồi ở các mức quy mô diện tích

đất nông nghiệp khác nhau

Trang 9

Reduction

Trang 10

MỞ ĐẦU

Cùng với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH), đô thị hoá(ĐTH) là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Thực tiễn cho thấyĐTH là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH-HĐH, chuyển nền kinh tế từ sản xuấtnông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất công nghiệp, dịch vụ Trongquá trình ĐTH, tiến trình phát triển xã hội có sự thay đổi cơ bản, đó là phát triển ĐTkèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, là sự hình thành các khu đô thị khu côngnghiệp (KCN) thay thế cho đất canh tác nông nghiệp Để tạo quỹ đất phục vụ quátrình đô thị hóa, việc thực hiện thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho xây dựng cácKCN, KĐT, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợiích quốc gia là việc làm tất yếu

Chính sách thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2003 có nhiều đổi mới về cơ chế,giá bồi thường, chính sách tái định cư,…được cụ thể hóa ở một số văn bản quy phạmpháp luật được ban hành: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồithường hỗ trợ và tái định cư khu nhà nước thu hồi đất; nghị định 84/2007/NĐ-CPngày 25/5/2007 sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định số 197/2004/NĐ-CP; Quyết định

số 51/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 của Chính phủ về chính sách dạy nghề ngắn hạncho lao động nông thôn trong đó có đối tượng ưu tiên là lao động bị thu hồi đất nôngnghiệp; Chỉ thị số 11/2006/CT-TTg ngày 27/3/2006 của Thủ tướng chính phủ về giảipháp hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đấtnông nghiệp và thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch

sử dụng đất nông nghiệp; Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tàichính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-Cp; Nghị định số69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sửdụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Thông tư số14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chitiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuêđất…

Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và đã được các địa phương nỗ lựcvận dụng để giải quyết vấn đề bồi thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập

và đời sống của người dân có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thấtnghiệp,

Trang 11

không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt nơi ở mới,đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất đã và đang diễn ra tại nhiều địaphương Nguyên nhân này một phần do nhiều nơi thực hiện đền bù, tái định cư, đàotạo, giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi còn chưa hợp lý dẫn đếntình trạng khiếu kiện gây mất trật tự an ninh, xã hội Bên cạnh đó, bản thân người dân

bị thu hồi đất còn thụ động trông chờ vào nhà nước, chưa tích cực tự đào tạo để đápứng với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Sự thay đổi điều kiện sống của người dân có đất bị thu hồi là một vấn đề lớn,mang tính thời sự cấp bách và trở thành vấn đề mang tính xã hội trên cả nước Thiếuviệc làm và tỷ lệ thất nghiệp cao, cùng với sự di chuyển tự do của lao động nôngthôn lên thành phố tìm việc làm là bài toán khó đang đặt ra cho các nhà quy hoạch,quản lý kinh tế-xã hội

Không nằm ngoài những vấn đề chung đó, quận Hải An, Thành phố Hải Phòngcũng gặp những vấn đề khó khăn trong công tác giải quyết việc làm và ổn định đờisống cho người dân sau khi bị thu hồi đất Quận Hải An là một quận mới được thànhlập năm 2003, trên cơ sở tách một phần địa giới hành chính của huyện Hải An cũ (nay

là huyện An Dương) và phường Cát Bi của quận Ngô Quyền, gồm 8 đơn vị hànhchính cấp phường; Đằng Lâm, Đằng Hải, Đông Hải 1, Đông Hải 2, Tràng Cát, NamHải, Thành Tô và Cát Bi

Do là một quận mới thành lập nên Hải An có quỹ đất nông nghiệp còn tươngđối lớn, nhiều dự án xây dựng KĐT, KCN được tập trung triển khai trên địa bàn đểphục vụ cho nhu cầu phát triển thành phố Hải Phòng nói chung và quận Hải An nóiriêng Dự án xây dựng KĐT mới tại quận Hải An do Công ty Cổ phần Đầu tư xâydựng và Phát triển nhà làm chủ đầu tư là một dự án quan trọng của thành phố HảiPhòng năm 2007, là một trong những dự án trọng điểm nhằm phát triển cơ sở hạtầng đô thị của quận Hải An Theo qui hoạch chi tiết, dự án có diện tích119.187,46m2 trên địa bàn 2 phường: Đằng Hải và Đông Hải 2 quận Hải An Trongtổng số 119.187,46m2 đất thu hồi có 80.476,1m2 đất nông nghiệp được giao theoNghị định 03/CP, diện tích đất nông nghiệp tư nhân tự quản lý là 15.290,5m2, đất ở

đã được cấp GCN là 4.242,4m2 Đây là một trong những dự án trọng điểm phát triển

cơ sở hạ tầng của quận Hải An KĐT mới bao gồm các khu đất xây dựng nhà biệtthự kiểu dáng hiện đại cùng với 4 toà nhà cao tầng để phục vụ cho nhu cầu về nhà ở

Trang 12

cho người dân có thu nhập thấp, hệ thống giao thông tĩnh là các bãi đỗ xe được bố trítrên diện tích mương An Kim Hải nằm trong dự án sau khi đã được xây dựng cốnghộp kiên cố đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường trong khu đô thị Như vậy, saukhi dự án được thực hiện và hoàn thành, các hạng mục sẽ tạo ra quỹ nhà ở để phục

vụ công tác an sinh xã hội cho những hộ gia đình có thu nhập thấp và tạo ra mộtKĐT hoàn chỉnh, đồng bộ với kiểu dáng hiện đại và khép kín với đầy đủ các dịch vụcông cộng Việc thực hiện dự án sẽ là một trong những điểm nhấn về cảnh quan đôthị hiện đại trên địa bàn quận Hải An

Tuy nhiên, do diện tích đất nông nghiệp thu hồi cho dự án tương đối lớn nênvấn đề giải quyết việc làm cho người dân sau khi mất đất đã và đang gây ảnh hưởngkhông nhỏ đối với sinh kế của người nông dân, và là một bài toán khó mà chínhquyền địa phương chưa có hướng giải quyết thỏa đáng

Nhằm kịp thời có những đánh giá đúng đắn về ảnh hưởng của dự án, và đưa

ra một số giải pháp hiệu quả cho công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng đối với

dự án này, tôi đã chọn thực hiện đề tài nghiên cứu:“Đánh giá ảnh hưởng của việc

thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng cho dự án xây dựngkhu đô thị mới tới việc làm và thu nhập của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp tạiquận Hải An

- Đề xuất một số giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm góp phần cải thiệnđời sống, việc làm cho người có đất bị thu hồi trên địa bàn nghiên cứu

1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu tổng quan các chính sách, quy định pháp lý về bồi thường, hỗ trợ,tái định cư của Nhà nước ta từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay

- Thu thập tài liệu, số liệu về công tác bồi thường, GPMB dự án xây dựng khu đô thị mới tại quận Hải An

- Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB, và những ảnh hưởng của nó đến người dân bị thu hồi đất

- Rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất một số giải pháp cho công tác thu hồi đất, GPMB ở thành phố Hải Phòng hiện nay

Trang 13

1.5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

Vấn đề nghiên cứu được đặt trong mối quan hệ tổng quan, được tiếp cận từnhiều phía; cụ thể là tiếp cận từ tổng thể tới chi tiết; từ lý luận, phương pháp luận tớithực tiễn; từ chính sách, pháp luật tới thực tế triển khai thực hiện chính sách và thi hànhpháp luật

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, điều tra nhanh

Đề tài thực hiện điều tra thực tế đối với 106 hộ gia đình bị thu hồi đất nôngnghiệp để phục vụ cho dự án xây dựng đô thị quận Hải An bằng phương pháp sửdụng phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp người dân, từ đó tổng hợp nguồn dữ liệu

về trình độ của lao động, việc thay đổi nghề nghiệp, thu nhập, cũng như khả năngthích ứng với việc chuyển đổi sử dụng đất của người dân Đề tài còn thu thập thêmthông tin và ý kiến từ các cán bộ và chuyên gia trong Ban giải phóng mặt bằng để cónhững số liệu và thông tin chi tiết về chuyển đổi sử dụng đất, số tiền đền bù, hỗ trợ

cụ thể, cũng như quá trình thực hiện giải phóng mặt bằng cho dự án

- Phương pháp so sánh, phân tích

Được thực hiện trên cơ sở nguồn số liệu thu thập được từ phiếu điều tra, phỏngvấn, sử dụng các thuật toánvà sự hỗ trợ của phần mềm excel để thống kê, tính toán sốlượng lao động phân theo độ tuổi, phân theo nghề nghiệp, và trình độ văn hóa trước vàsau khi bị thu hồi đất; bình quân mức thu nhập của từng hộ, của các lao động trong hộđối với các loại hình sinh kế khác nhau; số tiền đền bù trung bình mà từng hộ gia đìnhđược nhận; số tiền mà các hộ gia đình sử dụng tiền đền bù và hỗ trợ để chi cho các mụctiêu khác nhau,… Những số liệu thống kê, tính toán được sau đó sử dụng để phân tích,minh chứng vấn đề, hoặc để so sánh giữa thời điểm trước khi thực hiện thu hồi đất vàsau khi thực hiện thu hồi đất cho dự án

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT, GPMB VÀ TÁC ĐỘNG TỚI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG CÔNG CUỘC ĐÔ THỊ HÓA Ở VIỆT

NAM 1.1 Vài nét về quá trình đô thị hóa ở Việt Nam hiện nay

1.1.1 Định nghĩa đô thị hóa

Đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới Trong thờiđại khoa học – công nghệ phát triển nhanh thì đô thị hóa là con đường giúp cho cácnước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước

Brian Berry (1976) cho rằng “ Đô thị hóa được coi như sự tập trung có tínhchất không gian của con người và các hoạt động kinh tế Quá trình đô thị hóa nảysinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau”[36] Quá trình đô thị hóa có thể khác nhau vềthời gian và tốc độ ở các quốc gia, các vùng miền khác nhau, nhưng ở đâu thì quátrình này cũng có thể xảy ra, nó thể hiện sự tăng trưởng và phát triển của loài người.Thậm chí, với nhiều học giả, đô thị hóa là quá trình diễn ra từ rất sớm: “Quá trìnhnày bắt đầu diễn ra ngay từ thời kỳ sơ khai, khi con người bắt đầu chuyển từ giaiđoạn săn bắt – hái lượm sang hoạt động trồng trọt, chăn nuôi” (Brian Robert, 2006)[38] Tác giả Brian Berry có cho rằng “sẽ chẳng thật là khôn ngoan cho lắm khi cốgắng tóm lược một cách chung nhất quá trình đô thị hóa bằng cách này hay cáchkhác” [36] Tuy nhiên, cũng đã có rất nhiều khái niệm về đô thị hóa được các nhànghiên cứu diễn giải ra trên quan điểm riêng của mình

Với Brian Berry, “Đô thị hóa có 2 mặt ý nghĩa, ý nghĩa thứ nhất liên quanđến quá trình tập trung dân cư - khi dân số chuyển cư từ vùng thưa dân đến vùngđông dân hơn; ý nghĩa thứ 2 liên quan đến văn hóa và lối sống của người dân – lốisống thành thị, văn hóa hiện đại và dấu hiệu của sự văn minh, bắt nguồn từ cácthành phố lớn rồi lan tỏa ra các đô thị nhỏ hơn hay thậm chí là vùng nông thôn”[37]

Theo Berd Hamm, khái niệm đô thị hóa được dùng theo ba nghĩa khác nhau:

“1 Sự tăng trưởng vượt quá mức trung bình số những người dân ở đô thị so với toàn

bộ dân cư ở một nước hay một lục địa; 2 Sự tăng trưởng về dân cư và/ hoặc diệntích của từng thành phố riêng; và 3 Sự mở rộng văn hóa và lối sống thành thị Đô

Trang 16

thị hóa theo Bernd Hamm gắn liền với sự thay đổi văn hóa, lối sống, và phát triểnmật độ dân cư hơn là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong khi đô thị hóa và chuyểndịch cơ cấu kinh tế lại là “hai quá trình diễn ra song song, không tách biệtnhau”[20].

“Đô thị hóa là một quá trình diễn thế kinh tế - xã hội – văn hóa – không giangắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự phát triển các nghềnghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sựchuyển đổi lối sống và sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị, song song vớiviệc tổ chức bộ máy hành chính và quân sự” Theo quan điểm trên của Đàm TrungPhường, thì quá trình ĐTH cũng bao gồm sự thay đổi toàn diện về các mặt: khoahọc công nghệ, lối sống, mở rộng không gian đô thị, cơ cấu lao động…Tuy nhiênĐàm Trung Phường đã không nói rõ sự chuyển đổi ấy diễn ra theo chiều hướng nhưthế nào một cách cụ thể, có thể gây ra những nhầm lẫn cho người đọc

Tác giả Trần Cao Sơn có đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn về đô thị hóa nhưsau: "Đô thị hóa thực chất là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội,với các đặc trưng sau:

Một là, hình thành và mở rộng quy mô đô thị với hạ tầng kỹ thuật hiện đại,dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất côngnghiệp và dịch vụ

Hai là, tăng nhanh dân số đô thị trong tổng số dân cư, dẫn đến thay đổi cơ cấugiai cấp, phân tầng xã hội

Ba là, chuyển từ lối sống phân tán (mật độ dân cư thưa) sang sống tập trung(mật độ dân cư rất cao)

Bốn là, chuyển từ lối sống nông thôn sang lối sống đô thị, từ văn hóa làng xãsang văn hóa đô thị, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp"[24]

Trong các định nghĩa đã đề cập đến thì có thể nói định nghĩa trên đưa ra mộtcái nhìn tổng quát nhất và khá đầy đủ về các mặt của quá trình đô thị hóa ở ViệtNam, bao gồm phát triển dân số, mở rộng không gian đô thị, nâng cao lối sống vănminh, hiện đại "Đô thị hóa đã làm thay đổi mọi mặt đời sống của con người, từ lốisống, thu nhập, nghề nghiệp cấu trúc xã hội, đến mối quan hệ giữa con người vớicon người, giữa các hộ gia đình, các tổ chức, và các cơ quan chính quyền"[38]

Trang 17

1.1.2 Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển kinh tế-xã hội

Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy,

đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyểnnền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sảnxuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã hội nông thôn.Trong nền kinh tế hiện đại, CNH-HĐH và đô thị hóacó sự gắn bó chặt chẽ với nhau,tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.[28]

Trong quá trình CNH-HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơbản, đó là: Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi cănbản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp Hiện tượng đô thị hóa được xem như

là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại hiện nay.Cùng với quá trình đô thị hóa , CNH được xem như một khía cạnh quan trọng của

sự vận động đi lên của xã hội Đô thị hóa là một quá trình lịch sử trong đó nổi lênmột vấn đề kinh tế - xã hội là nâng vao vai trò của trong sự phát triển mọi mặt của

xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trướchết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp – xã hội, kết cấu dân số,trong lối sống, văn hóa

Cụ thể hơn, quá trình đô thị hóa tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấukinh tế nhanh hơn; tạo tiền đề và trở thành thị trường lớn cho khu vực công nghiệp,đặc biệt là dịch vụ Nó kích thích cầu và mở đường cho cung ứng;

- Sự giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng, miền, ngành kinh tế được thể hiện nhờquá trình đô thị hóa cũng là quá trình thị trường hóa;

- Đô thị hóacũng kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơn trongtìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh,vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động đượccải thiện – đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hóa;

- Về mặt văn hóa, làn sóng đô thị hóa cùng với sự phát triển hạ tầng văn hóa xã hội,

mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn bán giữacác vùng miền…đã làm cho diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần của cư dânnông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn Ở nông thôn đã xuất hiện những yếu

tố văn hóa đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hóa, các loại hìnhvăn học, nghệ thuật có giá trị, sự du nhập lối sống, phong cách giao

Trang 18

tiếp, ứng xử văn minh, tiến bộ…làm cho văn hóa làng quê có những sắc thái mới.Mức sống văn hóa, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa của nông dâncác vùng đô thị hóa, nhìn trên tổng thể, được nâng lên.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con người,

sự phát triển nhanh chóng của các đô thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh hưởngđến sự gia tăng nhu cầu khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên tự nhiên, trong đó cónguồn tài nguyên nước sạch; gia tăng mức độ ô nhiễm các chất thải công nghiệp vàsinh hoạt ngày càng một lớn; sự gia tăng dòng người di dân từ nông thôn ra đô thịcũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường Đặc biệt, tiếntrình ĐTH được đẩy mạnh đồng nghĩa với việc này sinh mâu thuẫn gay gắt giữa vấn

đề bảo vệ diện tích đất phục vụ cho công tác xây dựng đô thịvà vấn đề bảo vệ diệntích đất phục vụ sản xuất nông nghiệp Công nghiệp hóa, đô thị phát triển mạnhcũng đồng nghĩa với quá trình mất đất nông nghiệp gia tăng và một bộ phận ngườidân bị thu hồi đất bị rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương

1.1.3 Thực trạng quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong những năm gần đây

Quá trình đô thị hóa nông thôn ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn ravới tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội trên cả nước

ĐTH ở Việt Nam phát triển từ năm 1990, lúc đó cả nước có khoảng 520 đôthị (tỷ lệ đô thị hóa vào khoảng 17-18%); đến ngày 01/1/1999 (theo cuộc tổng điềutra dân số cả nước) đã có 624 đô thị với số dân 17,92 triệu người, chiếm 23,5% tổng

số dân Đến năm 2000 số đô thị là 649, và năm 2003 đã tăng lên 656 đô thị Kết quảtổng điều tra dân số lao động của Tổng cục thống kê ngày 01/4/2009 cho thấy, cảnước đã có trên 800 đô thị với dân số 25.374,262 người, chiếm 29,5% tổng số dân.Theo dự báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạtkhoảng 40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị khoảng trên 45 triệudân.[2]

Hiện nay, cả nước có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 44 thành phố trựcthuộc tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sửtiếp tục được mở mang, nâng cấp, còn xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mớitập trung, trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng tỏa rộng, tác động mạnh

mẽ tới khu vực nông thôn

Trang 19

29 29.7 30.524.2

25.8 26.3 26.9 27.1 27.5 21.5

1975 1980 1985 1990 1995 2000 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Năm

Hình 1.1 Biểu đồ so sánh quy mô dân cư đô thị của Việt Nam giai đoạn 1975

-2010

Trang 20

Có thể thấy rằng, từ năm 1974 cho đến nay, tỷ lệ dân cư đô thị của Việt Nam đang

có xu hướng gia tăng đều đặn qua các thời kỳ, và tăng nhanh nhất từ năm 2000 đếnnay Nếu như từ năm 1975 đến năm 1985, quy mô dân số đô thị không những tăng

mà thậm chí còn giảm từ 21,5% xuống còn 19,2% Từ năm 1985 đến năm 2000, tỷ

lệ này tăng nhẹ từ 19,2% lên 24,2% Nhưng chỉ trong vòng 10 năm từ năm 2000 đến

2010, quy mô dân số đô thị đã tăng mạnh từ 24,2% lên 30,5% Vào năm 2011, theobáo cáo của UN thì tỷ lệ dân số đô thị của Việt Nam mới chỉ đạt 31% Mặc dù sốlượng các khu vực đô thị tăng nhanh trong thời gian vừa qua, nhưng mức độ đô thịhóa của Việt Nam vẫn còn ở mức tương đối thấp so với nhiều đô thị khác trong khuvực (Cho đến năm 2011, mức độ đô thị hóa của Philippines đã là 48,8%, củaIndonesia là 50,7%, của Malaysia là 72,8%, của Brunei là 76% và của Singapore là100% - UN, 2012)

Sự tăng trưởng mức độ đô thị hóa ở Việt Nam chủ yếu diễn ra ở các khu vực đôthị lớn, với 200.000 dân trở lên.Các điểm đô thị có mặt trên khắp lãnh thổ đất nước.Tuy nhiên quá trình ĐTH diễn ra không đồng đều Các vùng phía Bắc có tỷ lệ dân

số đô thịthấp hơn hẳn so với vùng phía Nam Mức độ ĐTH tăng lên ở Việt Namtrong thập niên đầu của thế kỷ 21 không hẳn là kết quả của quá trình công nghiệphóa – hiện đại hóa thành công, mà còn do sự hình thành các trung tâm hành chính,

sự mở rộng địa giới hành chính của các đô thị trong thời kỳ này

Chính vì thế,sự phát triển của các thành phố ở Việt Nam đang gặp khó khăn do sựquá tải về lao động, dân cư, còn thiếu thốn về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ

xã hội - nhà ở, điện, nước sạch, giao thông, bệnh viện và trường học chưa được xâydựng tương xứng để đáp ứng được nhu cầu của cư dân Bên cạnh đó, quá trình đôthị hóa nhanh đã gây ra làn sóng di chuyển vào các đô thị để tìm việc làm của số laođộng nông thôn bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, làm cho các đô thị,bản thân đãchưa đủ đáp ứng nhu cầu việc làm, cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội, lại ngày càng trởnên chật chội, đông đúc Bên cạnh đó số nông dân còn lại ở các vùng thôn quêkhông còn đất sản xuất, chuyển đổi nghề không được, đời sống của họ lâm vào cảnhkhó khăn, thất nghiệp

1.2 Cơ sở pháp lý của công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam

Trang 21

t

1.2.1 Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi

Theo luật đất đai sửa đổi năm 2003 các khái niệm có liên quan đến thu hồi

đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được định nghĩa như sau:

Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại

quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã,phường, thị trấn quản lý

Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra, trả lại tương xứng

với giá trị hoặc công lao Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng vớigiá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủthể khác

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị

quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất

Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị

thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí

để di dời đến địa điểm mới

Giá quyền sử dụng đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất

do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sửdụng đất

Giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất

đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định

1.2.2 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ trước khi có Luật Đất đai năm 2003

Từ năm 1965, Việt Nam lại tập trung sức toàn dân vào cuộc kháng chiếnchống lại sự chiếm đóng của Mỹ ở phía Nam, để thống nhất đất nước.Vào năm 1975, chiến tranh kết thúc và nước Việt Nam được thống nhất.Năm 1980, Quốc hội Việt nam đã thông qua Hiến pháp lần thứ ba (gọi làHiến pháp 1980), trong đó Nhà nước công nhận chỉ một hình thức sở hữutoàn dân về đất đai do Nhà nước thống nhất quản lý Như vậy, người đang

sử dụng đất chỉ có quyền được sử dụng, ai có nhu cầu sử dụng đất thìNhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, ai không có nhu cầu sử dụngđất thì Nhà nước thu hồi.Luật Đất đai năm 1988 ra đời dựa trên quy địnhđất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Tại khoản

Trang 22

Điều

48

quy

định:

“Đền

thiệt

Trang 23

Hiến pháp năm 1992 ra đời là bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựngchính sách pháp luật đất đai nói chung và chính sách bồi thường GPMB nói riêng

Tại Điều 23 quy định “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốchữu hóa Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi íchcủa quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cánhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luậtđịnh”

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua

và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 Với quy định “đất có giá” và người sửdụng đất có quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa rất quan trọng đối vớicông tác bồi thường GPMB của Luật Đất đai năm 1993

Để cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi bổsung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính sáchbồi thường GPMB đã được ban hành, bao gồm:

- Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ quy định về việc bồithường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốcphòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất và nội dung, Nghị định90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước, Nghịđịnh này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hóa việc thực hiệnchính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền bù bằng đất cùng mụcđích sử dụng, cùng hạng đất.v.v

- Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất;

- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên Bộ Tài chính- Xây Tổng cục địa chính-Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP;

Trang 24

dựng Thông tư 145/1998/TTdựng BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hànhNghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ.

- Theo Nghị định 22/1998/NĐ-CP giá đất do Nhà nước quy định để bồi thường thiệthại về đất khác xa so với giá thực tế Với giá trị được bồi thường người có đất bị thuhồi không có khả năng tự lập nơi ở mới cũng như không có khả năng đầu tư đểchuyển sang ngành nghề khác, để duy trì cuộc sống tối thiểu Như vậy, dưới tác độngcủa cơ chế thị trường cùng với số lượng dự án gia tăng công tác bồi thường thiệt hạigiải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp,thực tiễn đồi hỏi phải có sự thay đổi về mặt chính sách, cơ chế, năng lực thể chếtrong công tác này

1.2.3 Các chính sách thu hồi đất, GPMB từ khi có Luật Đất đai năm

2003

Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 1 tháng

7 năm 2004 Luật đất đai năm 2003 đề ra một số điểm mới so với những chính sáchthu hồi đất, GPMB có từ trước như:

- Luật quy định về thu hồi đất, việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triểnkinh tế;

- Bổ sung trường hợp thu hồi đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự ánđầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đấtchậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án;

- Quy định thêm về việc thu hồi đất đối với các trường hợp đất bị lấn chiếm;

- Đổi mới về nguyên tắc định giá đất phải đảm bảo sát với chuyển nhượng quyền sửdụng đất thực tế trên thị trường, khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượngquyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho phù hợp

- Về thẩm quyền xác định giá đất: Chính phủ quy định phương pháp xác định giá đấtcho từng vùng, theo từng thời gian; trường hợp phải điều chỉnh giá đất và việc xử lýchênh lệch giá đất liền kề giữa các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Giá đất doUBND thành phố trực thuộc Trung ương công bố vào ngày 01 tháng 1 hàng năm đểngười sử dụng đất thực hiện các nghĩa vụ đất đai trong năm đó;

- Về vấn đề bồi thường, tái định cư cho người có đất thu hồi được quy định tại Điều42: Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới cócùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường giá

Trang 25

trị quyền sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng giá trị quyền

sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi

Ngoài ra, để hướng dẫn việc bồi thường GPMB theo quy định của Luật Đấtđai năm 2003, một số văn bản sau đã được ban hành:

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồithường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;

- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính hướngdẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chínhphủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi,

bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tàichính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm

2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Tuy nhiên để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thườngGPMB ngày 25 tháng 5 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/NĐ-

CP quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụngđất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giảiquyết khiếu nại về đất đai

Thông tư 06 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định

84/2007/NĐ-CP, Thông tư 1445/2007/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số

188/204/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất; Thông tư liêntịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm 2008 hướng dẫn thựchiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 củaChính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền

sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất

và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8năm 2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thuhồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày

01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồithường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất…

- Về Nghị định 69/2009/NĐ-CP tập trung vào việc làm rõ, bãi bỏ một số điều Nghịđịnh 181/2004/NĐ-CP và Nghị định số 84/2007/NĐ-CP… về một số những vấn

Trang 26

đề cơ bản về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

1.2.4 Thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB ở Việt Nam

* Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam

- Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng

Theo số liệu điều tra của BNNPTNT năm 2010 tại 16 tỉnh trọng điểm về thuhồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ

cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất,chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0,5% Những địa phương có diện tích đất thu hồilớn là Tiền Giang (20.308ha), Đồng Nai (19.752ha), Bình Dương (16.627ha), QuảngNam (11.812ha), Cà Mau (13.242ha), Hà Nội (7.776ha), Hà Tĩnh (6.391ha), VĩnhPhúc (5.573ha).[28]

Tính đến tháng 6/2009, nhiều tỉnh thành tiếp tục bị thu hồi một diện tích lớnđất nông nghiệp

Trang 27

Bảng 1.2 Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả

nước

(Tính đến tháng 6/2009)

Tổng diện tích đất nông nghiệp

Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi

Tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi

Trang 28

12 Kiên Giang 576.492,49 42.679,58 7,40

2010

)

(Nguồn: Tổng cục quản lý đất đai, năm

Nhìn bảng số liệu trên ta thấy BắcNinh là tỉnh có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thuhồi cao nhất, chiếm 70,11% tổng diện tích đất nông nghiệp, các tỉnh, thành như HàNội, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hưng Yên có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi tương đốicao, khoảng trên dưới 30%; còn ở một số tỉnh như Kiên Giang, Đồng Tháp, có tỷ lệđất nông nghiệp thu hồi thấp, lần lượt chiếm chỉ khoảng 7,4% và 8,02% tổng diệntích đất nông nghiệp Ở nhiều nơi, mặc dù diện tích đất nông nghiệp bị thu hồichiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích tự nhiên nhưng hầu hết đất nông nghiệp bị thuhồi tập trung ở một số huyện, xã có mật độ dân số cao, diện tích đất nông nghiệpbình quân đầu người thấp, có nhiều xã có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm70-80% diện tích đất canh tác, có nhiều xã chiếm tới 100%, điển hình ở các huyệnnằm trong khu vực Hà Nội mở rộng và các xã, huyện được quy hoạch xây dựng cáckhu công nghiệp, khu đô thị.[5]

Trước tình hình đất nông nghiệp bị thu hẹp đáng báo động, vào năm 2009,

Bộ NNPTNT đã “mạnh tay” đề nghị đưa ra một dự thảo nghị định về quản lý đất lúanước và phát triển lúa đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Theo đó, điều khoản vềquy định đền bù trồng đất lúa với mục đích phi nông nghiệp nêu rõ: Đối với vùngđất trồng lúa thích hợp, có hạ tầng thuận lợi, tiền bồi thường khi thu hồi phải cao gấpđôi giá đất thổ cư ở cùng thời điểm Còn ở vùng đất trồng lúa hạ tầng kém thì tiềnthu hồi đất phải cao gấp 3-4 lần giá đền bù của đất nông nghiệp khác Đặc biệt, nhàđầu tư khi thu hồi đất lúa phải bồi thường toàn bộ số tiền đầu tư hạ tầng trên đất đónhư các công trình về thủy lợi, điện lưới…

* Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở thành phố Hải Phòng

Từ năm 2003 đến nay, toàn thành phố đã kiểm kê, lập phương án bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư cho 625 dự án với tổng diện tích 4.675 ha; tổng số hộ 64.037

hộ, số nhân khẩu 253.012 nhân khẩu, tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 3.738 tỷđồng, trong đó hỗ trợ ổn định cuộc sống và chuyển nghề lao động trị giá hàng trăm

tỷ đồng

Trang 29

Trong đó số 625 dự án, có nhiều dự án trọng điểm quốc gia và thành phố cóquy mô lớn, sử dụng quỹ đất lớn đã bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư như: dự ánsân Golf Quốc tế và khu đô thị du lịch Đồ Sơn; Dự án Nhà máy nhiệt điện 1 HảiPhòng, các khu công nghiệp Tràng Duệ (Giai đoạn 1), Tân Liên (giai đoạn 1, ShinecVinaShin (giai đoạn 1); khu công nghiệp Đồ Sơn, khu công nghiệp Đình Vũ; CảngHải Phòng giai đoạn II…

Việc giải phóng mặt bằng để triển khai các dự án, công trình trọng điểm trêngóp phần quan trọng tạo ra tăng trưởng GDP của thành phố hàng năm trên 10%(2003; 10.71%, 2004: 11.52%, 2005: 12.25%, 2006: 12.51% và 2009: 12.82%) Thungân sách nội địa tăng nhanh từ 1.700 tỷ đồng năm 2003 lên 3.243 tỷ đồng năm

2009 Cơ cấu kinh tế tiếp tục dịch chuyển theo hướng công nghiệp – dịch vụ: Côngnghiệp và xây dựng: 37,5%; Dịch vụ: 51,5%; Nông lâm thuỷ sản: 11,0% nhómngành dịch vụ tăng trưởng nhanh nhất và chiếm trên 50% GDP, công nghiệp duy trìđược tốc độ tăng trưởng khá, tạo ra nhiều ngành có khả năng cạnh tranh trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đâu tư, đặc biệt là việc thu hút FDI và ODA.Nhiều khu công nghiệp được đầu tư, xây dựng và từng bước lấp đầy.[34]

Bộ mặt đô thị có nhiều thay đổi, cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội được quan tâmđầu tư theo hướng đạt tiêu chuẩn đô thị loại I Bước đầu, việc phát triển đã tạo việclàm hàng năm cho trên 4 vạn lao động Tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố giảm còn6,12%.[34]

Nhìn chung công tác bồi thường,GPMB của thành phố Hải Phòng trong thờigian qua đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất cho các dự án đầu tư, gópphần tích cực thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, đẩynhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần tăng trưởng nền kinh tế -

xã hội của thành phố; tạo ra một diện mạo mới cho quá trình đô thị hóa của thànhphố với việc phát triển số lượng quận nội thành lên 08 quận, đặc biệt tạo ra một sốkhu đô thị mới có cảnh quan đẹp như Khu đô thị Ngã 5 – Sân bay Cát Bi và tươnglai gần là Khu đô thị Olympia và một số khu đô thị khác

Bên cạnh những mặt đạt được thì hạn chế và yếu kém lớn nhất trong công tácbồi thường, giải phóng mặt bằng trong thời gian qua là nhiều dự án chậm tiến độbàn giao mặt bằng, nhất là các dự án có quy mô sử dụng đất lớn, các công trình trọngđiểm Đáng lưu ý một số dự án đã được bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư nhưng

Trang 30

việc bồi thường, GPMB thiếu dứt điểm gây khó khăn cho việc triển khai dự án, đâycũng là nguyên nhân để một số nhà đầu tư lấy đó làm lý do để trốn tránh thực hiệnnghĩa vụ tài chính với Nhà nước.

Phần lớn số dự án khi thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ đều phát sinh đơn thưkiến nghị, khiếu kiện ở mức độ khác nhau về chính sách bồi thường, hỗ trợ do vậy

cơ quan nhà nước phải mất rất nhiều thời gian và công sức giải quyết Một sốphương án cán bộ làm thiếu trách nhiệm phải bổ sung nhiều lần, việc giải quyếtkhiếu nại chưa thấu tình đạt lý, không kịp thời, còn có tư tưởng đùn đẩy nên kéo dàikhông dứt điểm của tổ chức làm công tác bồi thường,GPMB và của chính quyền địaphương làm tăng thêm nghi ngờ, bức xúc cho người bị thu hồi đất có khiếu nại Mặtkhác, việc thiếu hiểu biết về chính sách pháp luật của một số hộ dân, do bị lôi kéo,kích động của đối tượng xấu là nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện đông người

1.3 Vấn đề sinh kế và những tác động của việc thu hồi đất tới sinh kế của người dân

1.3.1 Khái niệm về sinh kế

Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhaihay phương kế kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó

Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực vàkhả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạtđộng mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ướcnguyện

Để nghiên cứu những vấn đề phát triển cộng đồng và sinh kế nông thôn, hiệnnay người ta sử dụng khái niệm Sinh kế và Khung phân tích sinh kế bền vững của

Bộ Hợp tác phát triển Quốc tế Anh (DIFD): “Sinh kế của một hộ gia đình, hay một cộng đồng còn gọi là kế sinh nhai hay phương cách kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó Khái niệm về sinh kế có thể miêu tả như là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người có thể kết hợp được với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu và ước nguyện (tham vọng) của họ” [2]

Trang 31

Xuất phát từ những khái niệm trên ta có thể thấy sinh kế là dùng để chỉ kếsinh nhai hay phương cách kiếm sống của một hộ dân hay một cộng đồng, mà ở đâyđối tượng sẽ là cộng đồng nông dân bị thu hồi đất do phát triển công nghiệp và đôthị ở các vùng nông thôn.

Một kế sinh nhai được gọi là bền vững khi con người với khả năng của mình

có thể đối phó, phục hồi lại được sinh kế của mình sau các áp lực và những tổnthương (từ các cú sốc, từ các khuynh hướng và từ thay đổi của kỳ vụ) và đồng thời

có thể duy trì hoặc thậm chí nâng cao khả năng nguồn lực con người và thiên nhiên

1.3.2 Các nguồn lực để đảm bảo sinh kế

DFID cũng đưa ra một khung lý thuyết sinh kế bền vững trong đó chỉ ra rằngcon người muốn đảm bảo sinh kế cho mình thì phải dựa vào 5 loại hình tài sản vốnsau:

-Vốn con người (Human capital)

-Vốn tài chính (financial capital)

- Vốn vật chất (physical capital)

- Vốn xã hội (social capital)

-Vốn tự nhiên (natural capital)

Sinh kế muốn bền vững thì sẽ phải đảm bảo 5 nguồn lực được cụ thể hóa như sau:

Bảng 1.3 Các nguồn vốn đảm bảo sinh kế

Vốn con người Kỹ năng, kiến thức, sức khỏe và khả năng làm việc

Vốn xã hội Tình làng nghĩa xóm, các phong tục truyền thống, các tổ

chức đoàn thể, cơ hội tham gia vào các cơ quan tổ chức ởđịa phương

Vốn tự nhiên Đất đai, nước, rừng và các loài sinh vật khác

Vốn vật chất Cơ sở hạ tầng cơ bản như đường sá, hệ thống nước sinh

hoạt, điều kiện vệ sinh, trường học, trạm xá, hàng hóa sảnxuất bao gồm công cụ, trang thiết bị và gia súc gia cầmVốn tài chính Tiền tiết kiệm, thu nhập từ làm việc, buôn bán và tiền gửi

ngân hàng

(Nguồn: UNDP, UNISDR, IRP, 2010)

1.3.3 Thực trạng sinh kế của người nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam

Nông dân nước ta chiếm 69,5% tổng dân số cả nước Lao động nông nghiệp chiếm 55,7% tổng lao động xã hội và đóng góp tới gần 21% GDP của cả nước

Trang 32

Chính vì thế, người nông dân có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế đất nước

và sinh kế nông thôn, là bộ phận chính cấu thành của nền kinh tế cả nước Nếu vấn

đề sinh kế nông thôn không tốt thì đời sống một bộ phận lớn dân cư trong xã hội(chủ yếu là người nông dân) sẽ không được đảm bảo, tức là khả năng sản xuất ra củacải vật chất cho xã hội sẽ bị hạn chế Thế nhưng, dưới tác động của quá trình côngnghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta trong những năm gần đây, sinh kế của một bộ phậnnông dân đang gặp rất nhiều khó khăn và thiếu bền vững

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc thu hồi đất

đã tác động tới đời sống của 627.495 hộ dân với khoảng 950.000 lao động và 2,5triệu người bị ảnh hưởng, trung bình cứ mỗi ha đất thu hồi, sẽ có 10 lao động mấtviệc Đồng bằng sông Hồng vẫn là nơi có nhiều hộ bị ảnh hưởng nhất với trên

300.000 hộ, kế đến là Đông Nam Bộ 108.000 hộ, trong đó Hà Nội có số hộ bị thuhồi lớn nhất với 138.291 hộ, tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh 52.094 hộ, BắcNinh 40.944 hộ, Hưng Yên 31.033 hộ, Đà Nẵng 29.147 hộ, Vĩnh Phúc 18.000 hộ.[2]

Bảng 1.4 Tỷ lệ lao động nông nghiệp bị mất việc làm tại một số vùng

(Đơn vị: %)

2008

Năm2009

Năm2010

Năm2011

Bắc Trung Bộ và duyên hải

miền Trung

(Nguồn: Tổng cục thống kê, năm 2011)

Điều đáng lo là chỉ có khoảng trên 27% lao động bị thu hồi đất đã tốt nghiệpphổ thông, 14% được đào tạo nghề ngắn hạn Đặc biệt, số lượng lao động quá tuổituyển dụng (trên 35 tuổi) chiếm rất đông và hầu như ít có hy vọng tìm được việc làmtốt trong ngành công nghiệp – dịch vụ

Trang 33

Theo kết quả khảo sát của đề tài "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đảm bảosinh kế bền vững cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa,

đô thị hóa", 60% số hộ bị thu hồi đất vẫn sống dựa vào nông nghiệp, đời sống gặpkhó khăn, chỉ 29% số hộ có điều kiện sống cao hơn trước, trong khi có tới 34,5% số

hộ có mức sống thấp hơn trước và 36,5% thì vẫn như cũ, có tỉnh 25-30% lao độngsau thu hồi đất không có việc làm hoặc việc làm không ổn định Số lao động không

có việc làm sau khi bị thu hồi đất tăng nhanh ở tất cả các tỉnh có khảo sát Tại HàNội, tỷ lệ lao động không có việc làm trước khi thu hồi đất là 4,7% đã tăng lên12,4% sau khi bị thu hồi đất Hai tỷ lệ tương ứng của các tỉnh khác, như Hải Phòng

là 5,1% và 10,8%; Bắc Ninh 5,3% và 7,9% Số người không có việc làm tăng lên, cơcấu nghề nghiệp cũng thay đổi: số người chuyển sang buôn bán tăng 2,72% chuyểnsang làm thuê, xe ôm tăng 3,64%, số người làm công việc khác tăng 4,1% số ngườigắn với các khu công nghiệp chỉ tăng 2,79%

Trong khi đó, tỷ lệ lao động mất đất được doanh nghiệp (nhận đất) đào tạo ởcác tỉnh thành là quá thấp: ở Hà Nội là 0,01%, Hà Tây: 0,02%; Hải Phòng: 0%; BắcNinh: 0% Bộ phận nông dân mất đất được Nhà nước đào tạo nghề cũng rất khókhăn trong việc tìm kiếm việc làm cho mình và cũng chỉ đạt tỷ lệ tìm được việc làmrất thấp: Hà Nội: 0,01%; Hải Phòng: 0%; Bắc Ninh: 1,2%; Hà Tây: 0% Tỷ lệ laođộng do gia đình tự đào tạo có cao hơn những cũng xa so với yêu cầu tạo việc làmmới phi nông nghiệp: Hà Nội: 0,9%; Hải Phòng: 0,01%; Bắc Ninh: 0,3% và Hà Tây:0,09% [2]

Người nông dân có duy nhất đất nông nghiệp là công cụ sản xuất, khi bị thuhồi đất rồi thì người ta không còn công cụ sản xuất nữa Chính vì vậy mà nhu cầuchuyển đổi việc làm là rất cần thiết Những người đang trong độ tuổi lao động phải

đi tìm lấy một nghề để học và đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp.Người nông dân phải tự vay kinh phí từ các chương trình và tự học nghề sau đó họ

tự tạo việc làm Các huyện ngoại thành, các ngành nghề chưa phát triển lắm, phầnlớn là thuần nông cho nên có sự chênh lệch về trình độ đào tạo, giáo dục phổ thông

so với người dân trong nội thành Ngoài ra, các cơ sở dạy nghề tại khu vực nôngthôn còn ít [28]

Tại Hà Nội, số lao động mất đất được đào tạo bằng nguồn vốn của Nhà nước,sau đào tạo được nhận vào làm việc là 33%, bằng vốn của gia đình là 45,6% Cụ thể

Trang 34

là lao động đào tạo bằng nguồn vốn của gia đình là 0,19 người/hộ nhưng chỉ có 0,09người được tuyển dụng nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp nhận đất.

Như vậy, cứ 1.000 hộ mất đất nông nghiệp có 190 người tự bỏ tiền ra họcnghề nhưng cuối cùng chỉ có 90 người được tuyển dụng, còn 100 người thất nghiệp.Tình hình tương tự cũng diễn ra đối với các địa phương khác trong vùng Đồng bằngsông Hồng như Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên…Lao động do các khu công nghiệpđào tại tỷ lệ nhận được việc làm cao hơn: Hà Nội 100%, Hải Phòng 100%, nhưng sốlượng lao động quá ít Tuy nhiên, ngay cả các lao động được các khu công nghiệpđào tạo việc làm cũng không ổn định Do trình độ hạn chế, thời gian đào tạo ngắn,năng lực lao động không cao nên một bộ phận lao động sau một thời gian được nhậnvào khu công nghiệp, doanh nghiệp lại xin thôi việc, rơi vào tình trạng thất nghiệptoàn phần hoặc từng phần [2]

Tỷ lệ thời gian lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn vùng Đồng bằngsông Hồng giảm nhanh trong những năm gần đây từ 80,21% năm 2004 xuống78,85% năm 2005 và 78% năm 2006, thu nhập và đời sống nông dân mất đất tăngchậm, thậm chí giảm ở một số vùng tái định cư Cùng với xu hướng di cư ra thànhthị, làm thuê tại khu công nghiệp, một bộ phận không nhỏ ở lại làng quê tiếp tục làmruộng với quỹ đất giảm dần nên “nhàn cư vi bất thiện” Đó là môi trường để các tệnạn xã hội phát triển

Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định vì họ

có đất sản xuất, có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đó được để thừa

kế từ thế hệ này sang thế hệ sau Sau khi bị thu hồi đất, đặc biệt là những hộ nôngdân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổi hoàntoàn Mặc dù nông dân được giải quyết bồi thường bằng tiền, song họ vẫn chưa địnhhướng ngay những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống Sau khi bịthu hồi đất, chỉ có 32,3% số hộ đánh giá là đời sống có tốt hơn trước, 42,3% số hộcho rằng đời sống không có gì là cải thiện và số hộ còn lại khẳng định đời sống của

họ kém đi so với trước khi bị thu hồi đất Như vậy, có đến 67,7% số hộ dân đượcđiều tra khẳng định đời sống của họ kém đi hoặc không có gì cải thiện hơn sau khiNhà nước thu hồi đất để chuyển sang xây dựng các KCN, KĐT mới và các dự ánkhác về phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương.[28]

Trang 35

Chương 2 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI VÀ DỰÁN XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ MỚI QUẬN HẢI AN

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội quận Hải An

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Quận Hải An được thành lập theo Nghị định số 106/NĐ-CP ngày 20/12/2002của Chính Phủ trên cơ sở sát nhập 05 xã của huyện An Hải và 01 phường của quậnNgô Quyền (đến nay tách ra làm 08 đơn vị hành chính cấp phường: Đằng Lâm,Đằng Hải, Tràng Cát, Nam Hải, Cát Bi, Thành Tô, Đông Hải 1 và Đông Hải 2) Vìvậy kinh tế xã hội, cơ sở vật chất của quận mang dáng dấp của một huyện nhiều hơn

là của quận nội thành Tổng diện tích đất tự nhiên của quận Hải An là 10.484,29ha,với tổng số dân là 104.070 người Quận Hải An nằm ở phía Đông Nam thành phốHải Phòng, có vị trí địa lý như sau (hình 2.1.):

- Phía Tây Bắc giáp quận Ngô Quyền

- Phía Bắc giáp huyện Thủy Nguyên dọc theo sông Cấm

- Phía Nam giáp huyện Kiến Thụy dọc theo ranh giới sông Lạch Tray

- Phía Đông giáp huyện đảo Cát Hải theo ranh giới là cửa biển Nam Triệu

Với vị trí đó, quận Hải An là đầu mối giao thông của thành phố Hải Phòngvới đầy đủ các tuyến đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt và đường hàngkhông Chạy qua địa bàn quận Hải An có trục đường giao thông liên tỉnh quan trọngnhất là quốc lộ 5 nối liền Hà Nội - Hải Phòng, có sân bay Cát Bi Bên cạnh đó quậnHải An là khu vực mở rộng của Thành phố Hải Phòng về phía đông nam, thuận lợicho việc giao lưu với các tỉnh thành khu vực phía bắc, là cửa ngõ có thể đón nhậncác luồng hàng giao lưu với các tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng và mở rộng thịtrường

Với vị trí như vậy, quận Hải An có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, pháttriển các đô thị mới hiện đại, đồng bộ, tiếp nhận trực tiếp tiến bộ khoa học, kỹ thuật,chuyển giao công nghệ và thông tin, góp phần xây dựng một thành phố cảng hiệnđại

Trang 36

2.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Hải An là vùng có địa hình tương đối bằng phẳng: đất thổ cư có cao độ bình quân từ +3,5 đến +4,5m; đất canh tác nông nghiệp có độ cao bình quân từ + 2,5 đến+3m

Tuy nhiên, đất ở quận Hải An được hình thành so sự bồi đắp của phù sa sông

có địa hình bằng phẳng hơi nghiêng ra biển với các lớp đất sét, á sét, á cát, cát vàbùn, bị nhiễm mặn chịu sự tác động của gió biển và thủy triều biến động từ 1-5m.Theo khảo sát địa chất, từ 1-2m đất sét dẻo mềm, dưới đó là các lớp á sét bão hòamềm dẻo, dẻo chảy và thậm chí là bùn, do đó nền đất yếu, cường độ chịu nén:R=0,1-0,25kg/cm2 Quận nằm trong vùng địa chất công trình xấu, cấu tạo địa chấtđiển hình là lớp trầm tích trên lớp đá già Vì vậy việc xây dựng cơ bản hạ tầng cũngnhư xây dựng các công trình khác ở Hải An không được thuận lợi, mà phải đầu tưgia cố nền móng công trình

Hải An nằm ở vành đai nhiệt đới gió mùa châu Á, giáp với biển Đông nên khíhậu chịu sự chi phối trực tiếp của biển, khí hậu vừa mang những đặc điểm chung củakhí hậu miền Bắc vừa mang những đặc điểm khí hậu riêng của vùng ven biển

Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm ở quận Hải An là 23,60C; thời điểmnóng nhất từ tháng 6 đến tháng 8 (nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 29,40C),lạnh nhất từ tháng 11 đến tháng 2 (nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 16,80C)

Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.747mm, trong mùahèlượng mưa chiếm 85% so với cả năm Lượng mưa cực đại trong một ngày đêm ởmùa hè cũng lớn hơn nhiều so với mùa đông, cá biệt có ngày mưa tới 500mm

Độ ẩm không khí:

- Độ ẩm không khí tương đối trung bình hàng năm là 82%, có sự chênh lệch theomùa, dao động trong khoảng 78-91% Độ ẩm thấp nhất vào tháng 11 và tháng 12,cao nhất vào tháng 3 và tháng 4

- Gió, bão: Hướng gió chủ yếu là gió Đông Nam vào mùa hè và gió mùa Đông Bắc vàomùa đông Tốc độ trung bình hàng năm là 2,8-7m/s Trong mùa hè đặc biệt là cáctháng 7, 8, 9 bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Hải An tốc độ bão lớn nhất lên tới50m/s

Trang 37

2.1.1.4 Thủy văn

Là một quận nằm ven biển cho nên Hải An có mạng lưới sông ngòi và kênhmương khá dày đặc: sông Lạch Tray, sông Cấm với cửa Nam Triệu và hệ thốngmương An Kim Hải:

- Sông Cấm: là hợp lưu sông Kinh Môn và Kinh Thầy dài 37km, rộng 400- 500m, sâu6-8m lưu lượng dòng chảy Qmax=2.240m3/s, hàng năm đổ ra biển từ 10-15 triệu km3

nước và trên dưới 2 triệu tấn phù sa, đặc biệt là ở vùng cửa Nam Triệu – Đình Vũ

- Sông Lạch Tray: dài 43km, rộng 100-150m, sâu 3-8m, lưu lượng dòng chảy

Qmax=525 m3/s

Hệ thống sông ngòi vừa cung cấp nước vụ cho sản xuất và đời sống sinh hoạtcho người dân trong quận, nó còn là đường giao thông thủy phục vụ cho việc giaolưu, đi lại của người dân trong vùng

Là vùng đất được hình thành bởi phù sa cho nên thành phần đất của Hải Antương đối phong phú, theo tính chất thổ nhưỡng thì quận gồm những loại đất sau:

- Nhóm đất phù sa:

Đất phù sa glây của sông Cấm, Lạch Tray (Pg): Phân bố tập trung ở cácphường ven quốc lộ 5 (phường Tràng Cát, Cát Bi, Đằng Lâm,Đằng Hải) Loại đấtnày nằm sâu trong nội đồng, không bị ảnh hưởng của nước mặn Thành phần cơ giớinặng ở các tầng trên, còn tầng đáy là lớp đất cát biển có lẫn phù sa sông Đây là mộttrong những loại đất tốt của quận có khả năng thâm canh, tăng vụ và trồng các loạirau mùa vụ đông

Đất phù sa bị glây của sông Cấm, Lạch Tray (Pg/c) phủ trên nền cát biển.Phân bố ở một số phường như Đông Hải 1, Nam Hải, Thành Tô

- Nhóm đất phèn

Đất phèn ít (Si): Đất hình thành do phù sa sông biển lắng đọng lại, khôngcòn chịu tác động ảnh hưởng của thủy triều và của nước mặn Đất có phản ứng từchua đến rất chua và chứa nhiều muối tan mà chủ yếu là F2(SO4)3, Al2(SO4)3 Đất cóthành phần cơ giới nặng trong toàn phẫu diện Trên loại đất này thường trồng 2 vụlúa trong năm với các giống mới là chính

Trang 38

Đất phèn ít và trung bình mặn ít (Msi): Đất có phản ứng rất chua ở tầng mặt,thành phần cơ giới nặng trong toàn phẫu diện, có thể trồng 2 vụ lúa trong năm Phân

bố hầu hết ở các phường ven biển như Đông Hải 2, Nam Hải, Tràng Cát, Thành Tô

- Nhóm đất mặn

Đất mặn ít: Đất có phản ứng chua, mùn vào loại giàu, đạm tổng số khá, lântổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo, kali tổng số rất giàu, thành phần cơ giới rấtnặng Loại đất này phân bố ở ven sông Cấm, Lạch Tray Tập trung chủ yếu ở cácphường Đông Hải 1, Đông Hải 2, Nam Hải

- Nhóm đất cát biển

Đất do phù sa biển mà chủ yếu là đất cát biển Hàm lượng mùn vào loạinghèo trong khi đạm tổng số vào loại khá, chất hữu cơ bị phân giải kiệt, lân và kalitổng số đều nghèo, lân dễ tiêu trung bình Đây là loại đất tốt, có thể thâm canh tăng

vụ, thích hợp với nhiều loại cây, rau màu có giá trị xuất khẩu Loại đất này phân bổ

ở các phường Đông Hải 1, Đông Hải 2, Nam Hải

Trong những năm qua, vấn đề môi trường đã được các cấp, các ngành củaThành phố quan tâm thông qua việc xây dựng và triển khai các chương trình dự ánbảo vệ môi trường, tăng cường công tác quản lý và xây dựng nếp sống văn minh đôthị, quản lý tốt vỉa hè, hành lang an toàn giao thông, trật tự an toàn giao thông, quyhoạch và trật tự xây dựng đô thị qua đó đã góp phần cải thiện chất lượng môitrường của thành phố Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quanmôi trường của thành phố vẫn đang bị ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe củangười dân

Ở một số nơi có khu công nghiệp, các nguồn nước có chứa các nguyên tố độchại ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người dân trong khu vực Nguyên nhângây ô nhiễm môi trường chủ yếu của Thành phố là do công nghiệp, khu tiểu thủcông nghiệp, phương tiện giao thông phát sinh khí thải, bụi và tiếng ồn

Trong thời gian tới Thành phố và quận có quy hoạch cụ thể đối với các khucông nghiệp, các xí nghiệp thải ra chất thải độc hại gây ô nhiễm môi trường

Trang 39

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đô thị hóa giai đoạn 2005-

2.1.2.1. Biến động tình hình dân số và lao động

- Dân số: Dân số quận 2010 là 104.070 người (so với năm 2005 tăng 26.628

người, tức tăng 9,93%); tốc độ tăng dân số tự nhiên 0,85% và tốc độ tăng

dân số cơ học 1,74%; mật độ dân số trung bình đạt 775 người/km2, vào

loại thấp nhất về mật độ dân số trong các quận nội thành Tuy nhiên tốc độ

tăng cơ học trong những năm tới sẽ lớn hơn, có thể đạt tới 95.000-100.000

người Đây cũng là một áp lực rất lớn đối với các quận trong việc giải

quyết việc làm và chỗ ở cho lao động (nguồn phòng thống kê quận Hải An,

năm 2010) Số nhân khẩu nông nghiệp có 21.312 khẩu, chiếm 25,1% tổng

dân số toàn quận

- Lao động: Tính đến năm 2010 quận Hải An có 70.037 người

trong độ tuổi lao độngchiếm 82,39% dân số của quận So với năm

2005,số người trong độ tuổi lao động của quận tăng 8.758 người tương

đương với 18,91% Trong đó 4.572 lao động không có việc làm chiếm

6,53%, lao động có khả năng tham gia các hoạt động kinh tế là 64.108

lao động

Tình hình lao động của quận Hải An trong có sự chuyển biếnmạnh trong những năm gần đây Tình hình phân bổ lao động theo ngành

trong giai đoạn 2005- 2010 được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.1 Tình hình lao động có việc làm của quận Hải An theo ngành kinh tế

9.254(23.94%)

10.580(30.98%)

12.897(31.98 %)

132.99(32.99%)

19.986(33.52%)

24.421(38.09%)

Trang 40

(Nguồn: phòng thống kê quận

Hải An, năm 2010)

sốlao động có việc làmnăm 2010 tăng so với năm 2005 là 25.460 người

Số lao động trong ngành công nghiệp và xây dựng tăng đều qua các năm,tăng từ 23,94% năm 2005 lên 38,09% số lao động năm 2010 Số lao độngtrong ngành nông lâm, thủy sản có chiều hướng giảm mạnh kể từ năm

2007 Năm 2005 ngành này có 15.551 lao động chiếm 40,23% tổng số laođộng có việc làm của quận nhưng năm 2010 số lao động trong ngành nàychỉ còn7.548 lao động chiếm 11,77% Số lao động trong ngành thươngmại và dịch vụ cũng tăng nhanh từ 35,81% năm 2005 đến năm 2010 đãchiếm 50,13% tổng số lao động có việc làm của quận

Sở dĩ có sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành một cáchmạnh mẽ như vậy là do trong những năm gần đây quá trình thu hồi đất nôngnghiệp để phát triển kinh tế xã hội của quận Hải An diễn ra một cách mạnh

mẽ Trong vòng 5 năm từ 2005-2010 đã có 538,15ha đất nông nghiệp bịchuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác.Một bộ phận lao độngtrong ngành nông lâm, thủy sản đã không còn đất để canh tác nên phảichuyển đổi sang ngành nghề khác Bên cạnh đó quá trình đô thị hóa nhanhnên hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của quận ngày càng hoàn thiện, nhiềucông trình trọng điểm của thành phố được triển khai như đường ô tô cao tốc

Hà Nội - Hải Phòng, khu đô thị Ngã 5 sân bay Cát Bi, khu công nghiệpTràng Cát, Khu Kinh tế Đình Vũ – Cát Hải là điều kiện thuận lợi cho cácdoanh nghiệp trong nước và quốc tế đầu tư sản xuất Điều này tạo ra nhiều

cơ hội việc làm cho lao động của quận

Kể từ khi thành lập quận đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế trênđịa bàn tăng khá nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng côngnghiệp và xây dựng

Ngày đăng: 23/12/2021, 21:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo điện tử Tổng hội xây dựng Việt Nam (2009), "Đô thị hóa và vấn đề tam nông", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa và vấn đề tam nông
Tác giả: Báo điện tử Tổng hội xây dựng Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
2. Báo cáo chuyên đề (2010)"Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa", Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam -Viện tài nguyên, môi trường và phát triển cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa
Nhà XB: Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Năm: 2010
3. Bộ tài chính, Thông tư số 116/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ – CP, ngày 07/12/2004 , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 116/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ – CP
Tác giả: Bộ tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
4. Bộ Tài nguyên và môi trường (2005), Đề án tìm hiểu thực trạng đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tìm hiểu thực trạng đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp mới
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
5. Nguyễn Thành Chung (2010), "Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích phi nông nghiệp đến sinh kế của người dân tại xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội", Luận Văn thạc sỹ khoa học ngành Địa chính, trường Đại học Khoa học tự nhiên Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho các mục đích phi nông nghiệp đến sinh kế của người dân tại xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thành Chung
Nhà XB: Luận Văn thạc sỹ khoa học ngành Địa chính, trường Đại học Khoa học tự nhiên Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2010
6. Chính Phủ, Nghị định số 90/1994/NĐ – CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước, ra ngày 17/8/1994, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 90/1994/NĐ – CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước
Tác giả: Chính Phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1994
7. Chính phủ, Nghị định số 22/1998/NĐ – CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, ngày 24/4/1998, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 22/1998/NĐ – CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
8. Chính phủ, Nghị định số 197/2004/NĐ – CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, ra ngày 03/12/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 197/2004/NĐ – CP về bồi thường, hỗ trợ và táiđịnh cư khi Nhà nước thu hồi đất
9. Chính phủ, Nghị định số 17/2006/NĐ – CP về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 187/2004/NĐ-CP, ra ngày 27/01/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 17/2006/NĐ – CP về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 187/2004/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
10. Chính phủ, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, ra ngày 25/5/1007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
11. Nguyễn Sinh Cúc (2008) "Phát triển khu công nghiệp Đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu công nghiệp Đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
12. Lê Ngọc Hải "Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn – nhìn từ góc độ giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa" - Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Bộ quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn – nhìn từ góc độgiữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa
13. Duy Hữu "Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam ",Tạp chí Cộng sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vựcvà Việt Nam
14. Lê Hiền "Tiến trình phân tích sinh kế bền vững cho người dân vùng cao ở Thừa Thiên Huế", Thừa Thiên Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình phân tích sinh kế bền vững cho người dân vùng cao ở Thừa Thiên Huế
Tác giả: Lê Hiền
Nhà XB: Thừa Thiên Huế
15. Nguyễn Đình Liêm "Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam", Tại Hội thảo "Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân: kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc tổ chức Hội thảo quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân: kinhnghiệm của Trung Quốc và Việt Nam", Tại Hội thảo
17. Nguyễn Tấn Lực "Giúp nông dân chủ động trước vấn đề dành đất cho công nghiệp và đô thị" - Tạp chí Cộng sản, Số 17/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giúp nông dân chủ động trước vấn đề dành đất cho công nghiệp và đô thị
Tác giả: Nguyễn Tấn Lực
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2008
18. Hoàng Minh Nguyệt (Thông tấn xã Việt Nam): "Ước muốn của nông dân bị thu hồi đất", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ước muốn của nông dân bị thu hồi đất
Tác giả: Hoàng Minh Nguyệt
Nhà XB: Thông tấn xã Việt Nam
19. Lê Duy Ngọ - Vũ Trọng Bình "Nông dân thời công nghiệp hóa", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông dân thời công nghiệp hóa
Tác giả: Lê Duy Ngọ, Vũ Trọng Bình
Nhà XB: Hà Nội
20. Đàm Trung Phường (2002) "Đô thị Việt Nam", tập 1, Bộ xây dựng, Chương trình KC11, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
21. Lê Du Phong (2007) "Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia
Tác giả: Lê Du Phong
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w