1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi tỉnh đồng tháp

227 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 4,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRANG THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN A. THÔNG TIN CÁ NHÂN: Đề tài luận án: “Nghiên cứu phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi tỉnh Đồng Tháp”. Tên ngành: Giáo dục học Mã ngành: 9140101 Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Hùng Dũng Họ và tên cán bộ hướng dẫn: 1. PGS.TS Nguyễn Quang Vinh; 2. TS Lâm Thị Tuyết Thúy Tên cơ sở đào tạo: Viện Khoa học Thể dục thể thao B. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN Kết quả nghiên cứu đạt được một số thành tựu sau: 1. Thực trạng công tác GDTC cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở các trường mầm non trong tỉnh Đồng Tháp đảm bảo các điều kiện: Về sân bãi, về giáo viên đều trình độ Đại học, cao đẳng và thâm niên dưới 10 năm. Về Chương trình GDTC cho trẻ mẫu giáo tại các trường mầm non tại TP. Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp đều thống nhất thực hiện theo chương trình giáo dục mầm non của BGDĐT đã điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn tại TP. Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp. Thực trạng thể chất: Thực trạng thể chất trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại TP Cao Lãnh tốt hơn trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi một số tỉnh miền Trung ở chiều cao đứng (cm), sức mạnh nhóm cơ chân (nam), sức mạnh nhóm cơ tay vai (nữ) và độ dẻo; tương đương ở sức mạnh nhóm cơ chân (nữ); kém hơn sức nhanh và sức mạnh nhóm cơ tay vai (nam). 2. Thực trạng việc sử dụng TCVĐ trong giảng dạy cho học sinh mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại các trường mầm non tại TP Cao Lãnh là thường xuyên, thời điểm giáo dục trẻ trong các hoạt động chơi ngoài trời và chơi, hoạt động theo ý thích; nội dung giảng dạy GDTC cho trẻ còn hạn chế. Qua tổng hợp tài liệu và phỏng vấn đã chọn được 30 trò chơi vận động (Thỏ đổi chuồng, Ô tô và chim sẻ, Nhóm ba, nhóm bảy, Bóng chuyền 6, trồng nụ trồng hoa, Chuyển vật tiếp sức, Người thừa thứ ba, Cướp cờ, Mèo đuổi chuột, Chạy đổi chỗ vỗ vai, Tàu hỏa chạy, Chạy tiếp sức theo vòng tròn, chạy theo hình tam giác, Chạy tiếp sức ném rổ, Chuyền bóng tiếp sức, Lăn bóng, Ném bóng vào rổ, Qua đường hầm, Câu ếch, Giăng lưới bắt cá, Lò cò tiếp sức, Cắp cua bỏ giỏ, Kéo cưa lừa xẻ, Nhảy ô tiếp sức, Nhảy đúng – nhảy nhanh, Rồng rắn, Qua cầu tiếp sức, Kéo co, Cua bò tiếp sức, Con sâu đo) phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại TP. Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp. 3. Luận án xây dựng kế hoạch tiến hành ứng dụng 30 trò chơi vào thực tiễn công tác giảng dạy trong năm học 2018 – 2019. Trẻ được chơi vận động với dụng cụ để phát triển cơ thể vào buổi sáng trong hoạt động chơi ngoài trời và chơi các trò chơi vận động vào buổi chiều trong hoạt động chơi, hoạt động theo ý thích. Kết quả sau thực nghiệm cho thấy sau thực nghiệm 30 trò chơi có tác động tốt đến thành tích các test đánh giá thể chất của nhóm thực nghiệm tốt hơn nhóm đối chứng sau thực nghiệm. Qua đó đã chứng minh việc sử dụng TCVĐ của luận án giúp học sinh nhóm thực nghiệm phát triển tốt các tố chất thể lực như sức nhanh, sức bền, độ dẻo và khéo léo. Bên cạnh việc phát triển thể lực thì thể hình trẻ có sự phát triển tích cực về chiều cao và chỉ số BMI, số lượng học sinh suy dinh dưỡng và béo phì của nhóm thực nghiệm giảm đáng kể sau thực nghiệm.

Trang 2

PGS.TS NGUYỄN QUANG VINH

TS LÂM THỊ TUYẾT THÚY

HÀ NỘI – 2021

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Hùng Dũng

Trang 5

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

3.1 đánh giá thực trạng công tác gdtc cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non trong tỉnh đồng tháp

56

Trang 6

3.2.3 Lựa chọn một số trò chơi phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo

3.3 đánh giá hiệu quả một số trò chơi vận động phát triển thể chất

cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tỉnh đồng tháp

102

3.3.2 Tiến hành thực nghiệm và đánh giá hiệu quả trò chơi phát triển thể

chất cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tỉnh Đồng Tháp

Trang 7

BMI: Chỉ số khối cơ thể

Trang 9

loại

BẢNG

tỉnh Đồng Tháp

Sau trang 60

giáo tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Sau trang 61

trang 62

5 – 6 tuổi nữ tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Sau trang 66

3.17

So sánh giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nam lớn và nam nhỏ tại TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

68

3.18

So sánh giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nữ lớn và nữ nhỏ tại TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Trang 10

3.21

So sánh giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại một số tỉnh miền Trung

76

mẫu giáo 5 - 6 tuổi tỉnh Đồng Tháp

Sau trang 91

chất cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tỉnh Đồng Tháp

Sau trang 93 3.29

So sánh giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nam 5 – 6 tuổi nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

Sau trang

103

3.31

So sánh giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nữ 5 – 6 tuổi nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

Sau trang

107

– 6 tuổi nam lớn nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

Sau trang

110

trang

111

tuổi nam nhỏ nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

trang

112

tuổi nữ lớn nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

tuổi nữ lớn nhóm đối chứng sau thực nghiệm

Sau trang

Trang 11

3.39 Sự tăng trưởng các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo 5 – 6

tuổi nữ nhỏ nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

113

5 – 6 tuổi nữ nhỏ nhóm đối chứng sau thực nghiệm

Sau trang

114 3.41

So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nam 5 – 6 tuổi nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

116

3.42

So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nữ 5 – 6 tuổi nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

119

BIỂU

ĐỒ

3.9

Mức độ chênh lệch tương đối giữa các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nam lớn 5 – 6 tuổi tại TP Cao Lãnh với trẻ mẫu giáo nam lớn 5 – 6 tuổi tại TP Sa Đéc và huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp

72

3.10

Mức độ chênh lệch tương đối giữa các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nam lớn 5 – 6 tuổi tại TP Cao Lãnh với trẻ mẫu giáo nam nhỏ 5 – 6 tuổi tại TP Sa Đéc và huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp

73

Trang 12

mẫu giáo nữ lớn 5 – 6 tuổi tại TP Sa Đéc và huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp

3.12

Mức độ chênh lệch tương đối giữa các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nữ nhỏ 5 – 6 tuổi tại TP Cao Lãnh với trẻ mẫu giáo nữ nhỏ 5 – 6 tuổi tại TP Sa Đéc và huyện Lai Vung tỉnh Đồng Tháp

78

3.21

So sánh giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nam lớn 5 – 6 tuổi nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

105

3.22

So sánh giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nam nhỏ 5 – 6 tuổi nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

106

3.24

So sánh giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nữ lớn 5 – 6 tuổi nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

108

3.25

So sánh giá trị trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nữ lớn 5 – 6 tuổi nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước thực nghiệm

109

giáo 5 – 6 tuổi nam lớn nhóm đối chứng sau thực nghiệm

Sau trang

Trang 13

3.29 Sự tăng trưởng thành tích các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu

giáo 5 – 6 tuổi nam nhỏ nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

111

trang

112

giáo 5 – 6 tuổi nữ lớn nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

trang

113

giáo 5 – 6 tuổi nữ nhỏ nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm

giáo 5 – 6 tuổi nữ nhỏ nhóm đối chứng sau thực nghiệm

Sau trang

114 3.35

So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nam lớn 5 – 6 tuổi giữa nhóm thực nghiệm

và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

120

3.38

So sánh nhịp tăng trưởng trung bình các tiêu chí đánh giá thể chất trẻ mẫu giáo nữ nhỏ 5 – 6 tuổi giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

121

Trang 14

MỞ ĐẦU

Trước nhu cầu phát triển của xã hội, GDTC cho HS các cấp và đặc biệt là cho trẻ mầm non là nhiệm vụ bức thiết không chỉ của riêng ngành giáo dục, mà luôn luôn là mối quan tâm của toàn Đảng, toàn dân Bác Hồ đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc giáo dục, chăm lo cho sự phát triển về tâm hồn và thể chất cho lứa tuổi thiếu niên nhi đồng, bởi vì, như Bác đã từng viết: “Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy chăm sóc giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt” [148] Người đã chỉ rõ tầm quan trọng của giáo dục, đặc biệt là giáo dục thế hệ trẻ: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Với Bác, giáo dục một con người là một việc làm hết sức quan trọng và lâu dài, việc giáo dục con người ở đây không chỉ là giáo dục về đạo đức, trí tuệ mà còn phải quan tâm đến sự phát triển về sức khỏe thế chất Trong việc giáo dục con người, bởi vì “…Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, xây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công Mỗi người dân khỏe mạnh tức là góp phần làm cho cả nước mạnh khỏe, mỗi người dân yếu

ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, dân cường nước thịnh…” [147]

Trong bối cảnh đất nước đổi mới, xã hội hiện đại hóa như ngày này, nhằm kế thừa tư tưởng của Bác ngày 01/12/2011, BCHTW Đảng khóa 11 cũng đã ban hành nghị quyết số 08/NQ-TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh: "TDTT trường học là bộ phận quan trọng của phong trào TDTT, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách HSSV, cần được quan tâm đầu tư đúng mức" và "Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HSSV Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và TDTT trường học…”.[3]

Theo đó ngày 28/4/2011, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành quyết định số 641/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030, trong đó nhấn mạnh: "Phát triển thể lực, tầm vóc bằng

Trang 15

giải pháp tăng cường GDTC đối với HS từ 03 tuổi đến 18 tuổi" [71]

Với sự quan tâm đặc biệt sâu sắc của Đảng và Nhà nước cho trẻ em lứa tuổi Mầm non, đặc biệt là lứa tuổi tiền học đường mà đã có rất nhiều những nghiên cứu nhằm phát triển, hỗ trợ cho các em ở lứa tuổi này ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: Y học, tâm lí, giáo dục học được triển khai và nghiệm thu trong giai đoạn nữa thập niên kỉ trở lại đây, tiêu biểu trong số đó là các luận án tiến sĩ của các tác giả như: Nguyễn Thị Hoa (2021), Hình thành năng lực đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường Mầm Non [35]; Cao Thị Hồng Nhung (2020), Tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường Mầm non [54]; Trần Thị Kim Yến (2020), Giáo dục kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường Mầm non [95]; Hồ Sỹ Hùng (2020), Giáo dục kĩ năng giáo tiếp cho trẻ khuyết tật trí tuệ nhẹ 5 – 6 tuổi thông qua tổ chức trò chơi đóng vai ở trường Mầm non [39]; Lưu Thị Thu Hằng (2020), Giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 4-5 tuổi ở trường Mầm non [30]; Nguyễn Thị Hằng Nga (2017), Sử dụng trò chơi nhằm phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 5-6 tuổi [52]… Qua phần thống kê luận án ở trên chúng ta

có thể thấy hầu hết các tác giả đều tập trung vào nghiên cứu những mảng như bệnh tật,

kĩ năng, dinh dưỡng, tâm lý mà rất hiếm những tác giả nói đến phát triển thể chất hay TCVĐ cho trẻ lứa tuổi tiền học đường Đây cũng là một điều hết sức đáng lưu ý bởi phát triển thể chất cũng chính là một yếu tố hết sức quan trọng góp phần phát triển toàn diện cho các em cả về thể chất lẫn tinh thần như tác giả Ngô Thị Xuân đã nêu:

“…bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện quan trọng mà các nhà nghiên cứu về sức khỏe trẻ

em cần phải quan tâm, một mặt giúp trẻ tích cực chuẩn bị làm quen dần với những hoạt động học tập và cuộc sống ở trường học, mặt khác giúp trẻ phát triển một cách toàn diện, đầy đủ cả về thể chất lẫn tâm tư, tình cảm.” [97]

Tuân thủ đường lối lãnh đạo của Đảng và hòa vào tinh thần giáo dục chung của

cả nước, các cấp chính quyền và các đơn vị giáo dục tỉnh Đồng Tháp cũng đã có nhiều

nỗ lực đáng kể trong việc phát triển GDTC cho các cấp học Điều này đã và đang được biểu hiện trong những hoạt động cụ thể, triển khai dựa trên Kế hoạch số 58/KH- UBND ngày 18/6/2011 của UBND Tỉnh về thực hiện Đề án Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 – 2015 [85] và Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ Quy định một số chính sách phát triển giáo

Trang 16

dục mầm non giai đoạn 2011 – 2015 [72]

Đồng Tháp là tỉnh với sự phát triển mạnh mẽ và tăng trưởng không ngừng, theo thống kê của UBND tỉnh năm 2018 thì Đồng Tháp thực hiện và vượt 14/16 chỉ tiêu KTXH đề ra Tăng trưởng GRDP 6,92%, thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ 40 triệu đồng Xuất khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1 tỷ USD [149] Với những con số ấn tượng như thế, rõ ràng sự phát triển kinh tế đang được các cấp Ban ngành và Lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm, nhưng kéo theo đó thì sự du nhập của nhiều loại hình sống khác nhau, chế độ sinh hoạt thay đổi, ăn uống nhiều loại thức ăn béo và giàu năng lượng, chế độ tập luyện, hoạt động vui chơi ít… dẫn đến ảnh hưởng sự phát triển thể chất một cách đồng đều ở tất cả các độ tuổi, đặc biệt là lứa tuổi tiền học đường, một lứa tuổi cực

kì quan trọng trong chuyển giao môi trường học tập đầu đời Đến nay, chưa có tác giả nào công bố số liệu về nghiên cứu thể chất, hay hệ thống các TCVĐ phù hợp nhất với điều kiện địa lý, cơ sở vật chất, đặc thù của địa phương… nhằm phát triển thể chất cho HS ở giai đoạn này Do đó, việc nghiên cứu với mong muốn phát triển thể chất cho HS giai đoạn tiền học đường cũng là một nhu cầu cấp thiết hiện nay, được đặc biệt quan tâm của Lãnh đạo tỉnh

Tuy những cố gắng nỗ lực của Tỉnh đã đem lại một số thành quả đáng kể, nhưng theo báo cáo của Ban Lãnh Đạo tỉnh, việc thực hiện chủ trương, chính sách này còn vướng phải một số khó khăn, bất cập, nhất là trong việc đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng phòng học chuyên dụng, đảm bảo trang thiết bị tối thiểu đáp ứng yêu cầu thực hiện GDTC cho trẻ mẫu giáo, chương trình GDMN phù hợp với thực tế của địa phương vẫn còn cần phải được nghiên cứu hỗ trợ phát triển nhiều hơn

Như vậy, để việc thực hiện công tác GDTC ở cấp học mầm non hiệu quả hơn trong giai đoạn phát triển sắp tới, việc cần thiết trước mắt là phải khảo sát thực trạng phát triển GDTC cấp học mầm non ở địa phương, bao hàm cả việc khảo sát về đặc điểm vùng, điều kiện thể chất của đối tượng người học, cũng như đặc điểm về trình độ chuyên môn, của đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của nơi đào tạo ở các xã phường trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, từ đó xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh về GDTC lứa tuổi mầm non, đề ra một chương trình phù hợp, một hệ thống bài tập hợp lí,

để từ thực tiễn, đưa ra giải pháp thiết thực có tính khả thi, giúp cho công tác GDTC ở tỉnh Đồng Tháp có sự chuyển biến tốt hơn, nhằm góp phần nâng cao thể chất cho trẻ

Trang 17

mầm non

Vì những lí do trên, việc nghiên cứu lựa chọn trò chơi vận động và đề ra giải pháp phát triển thể chất cho trẻ mầm non một cách toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần là một việc cần thiết, cấp bách trong giai đoạn hiện nay Phân tích tầm quan trọng

và tính cấp thiết của vấn đề, nên tôi chọn hướng nghiên cứu với đề tài:

“Nghiên cứu phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tỉnh Đồng Tháp” Mục đích nghiên cứu:

Nhằm cung cấp thông tin về thực trạng và sự phát triển thể chất trẻ mẫu giáo 5 -

6 tuổi tỉnh Đồng Tháp Lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động phù hợp nhằm phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

tỉnh Đồng Tháp

Mục tiêu 2: Lựa chọn một số trò chơi vận động phát triển thể chất cho trẻ mẫu

giáo 5 - 6 tuổi tỉnh Đồng Tháp

Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả một số trò chơi vận động phát triển thể chất cho trẻ

mẫu giáo 5 - 6 tuổi tỉnh Đồng Tháp

Giả thuyết khoa học:

Nếu luận án lựa chọn và ứng dụng thành công các trò chơi vận động phát triển thể chất cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tình Đồng Tháp hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương Thì kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng thể chất cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tỉnh Đồng Tháp nói riêng và nâng cao chất lượng thể chất cho trẻ mẫu giáo trong tỉnh Đồng Tháp nói chung

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO 1.1.1 Một số khái niệm

Thể chất

Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P “Thể chất là chất lượng cơ thể con người Đó là những đặc trưng về hình thái và chức năng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn và các thời kỳ kế tiếp nhau theo quy luật sinh học Thể chất được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và những điều kiện sống tác động” [55, tr 10] Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn thì “Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục, rèn luyện) Thể chất bao gồm thể hình, năng lực thể chất và năng lực thích ứng” [76] Thể hình liên quan đến hình thái, cấu trúc của thân thể, bao gồm trình độ phát triển của cơ thể, những chỉ số tuyệt đối và tương đối của toàn thân hoặc từng bộ phận

và tư thế thân thể

Năng lực thể chất thể hiện khả năng chức năng của các hệ thống, cơ quan trong

cơ thể qua hoạt động cơ bắp là chính Nó bao gồm các tố chất vận động (Sức nhanh, sức mạnh, độ dẻo và khả năng phối hợp vận động )

Năng lực thích ứng thể hiện khả năng thích ứng của cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài Không chỉ là sự thích ứng đơn giản mà còn là đề kháng với bệnh tật

Giáo dục thể chất

Theo Nôvicốp A.Đ, Matveep L.P “Giáo dục thể chất là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục-giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm” [33, tr 4], [55, tr 16]

Trang 19

Sự phát triển thể chất biểu hiện như sự thay đổi về chiều cao, cân nặng thay đổi

về hình thái kích thước cơ thể, thay đổi năng lực hoạt động các hệ cơ quan trong cơ thể (của hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, hệ thần kinh, tâm lý và ý chí…) và được biểu hiện phát triển các các tố chất thể lực của con người bao gồm sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp động tác (khéo léo)

Tuy nhiên theo Matveev L.P phát triển thể chất của con người còn phụ thuộc vào các điều kiện sống và hoạt động của con người (điều kiện phân phối và sử dụng sản phẩm vật chất, giáo dục, lao động, sinh hoạt ) và do đó sự “phát triển thể chất của con người là do

xã hội tác động và tác động ở mức độ quyết định”[ 55, tr 296], [70, tr 91] Tuy vậy sự phát triển thể chất của con người còn chịu sự chi phối của môi trường xã hội như: điều kiện sống vật chất, điều kiện vệ sinh, điều kiện lao động, học tập, nghỉ ngơi [76]

Theo Woodfield L (2004) sự phát triển thể chất của con người còn phụ thuộc vào các yếu tố di truyền, dinh dưỡng và môi trường [140, tr 5] Sự phát triển thể chất ảnh hưởng đến toàn bộ cảm xúc, xã hội, tâm lý của con người Sự tăng trưởng và phát triển thể chất không thể được tách rời và được xem như là hình thành một thực thể cụ thể;

nó quản lý cơ thể, kiểm soát năng lực ảnh hưởng đến sự tự tin và tất cả các tương tác với môi trường và với những người khác [114, tr 8]

"Phát triển thể chất là một quá trình hình thành và thay đổi hình thái và chức năng sinh vật học cơ thể con người; quá trình đó xảy ra dưới sự ảnh hưởng của điều kiện sống, mà đặc biệt là giáo dục Sự phát triển thể chất phụ thuộc vào những quy luật khách quan của tự nhiên: quy luật thống nhất giữa cơ thể và môi trường sống, quy luật tác dụng qua lại giữa sự thay đổi chức năng và cấu trúc của cơ thể, quy luật thay đổi dần dần về số lượng và chất lượng trong cơ thể…" [88]

Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Quang Quyền (1994) thì cho rằng: “Phát triển thể chất là một quá trình diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời của một cá thể Những biến đổi về mặt hình thái, chức năng tâm sinh lý và các tố chất vận động

là những yếu tố cơ bản để đánh giá sự phát triển thể chất của cá thể đó Phát triển thể chất là một quá trình chịu sự tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội Trong đó, các yếu tố xã hội đóng vai trò ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến sự phát triển thể chất của cơ thể con người” [63, tr.55]

Theo A.M Macximenko: “Phát triển thể chất là quá trình và kết quả của sự biến

Trang 20

đổi về hình thái và khả năng chức phận của cơ thể con người, đạt được dưới ảnh hưởng của di truyền, môi trường sống và mức độ tích cực vận động của cá nhân” [144, tr.78] Tổng hợp quan điểm của nhiều tác giả cho thấy, phát triển thể chất của con người

là quá trình biến đổi các yếu tố thể chất và tinh thần, quá trình này diễn ra trong suốt cuộc đời của một cá thể theo hai giai đoạn cơ bản là giai đoạn phát triển thuận chiều (dương tính) và phát triển ngược chiều (âm tính hay giai đoạn suy thoái) phát triển thể chất phụ thuộc vào tổng hòa các yếu tố tự nhiên và xã hội

Phát triển thể chất là một quá trình diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời một cá thể Những biến đổi về hình thái, chức năng và tố chất vận động là những yếu tố cơ bản để đánh giá sự phát triển thể chất Phát triển thể chất là một quá trình chịu sự tác động của tổng hợp các yếu tố tự nhiên – xã hội Các yếu tố xã hội đóng vai trò tác động trực tiếp

và quyết định sự phát triển thể chất của cơ thể con người

Từ những luận điểm trên rõ ràng, phát triển thể chất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, và có thể ghép chúng vào các nhóm Nói cách khác, phát triển thể chất có thể nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: Tự nhiên (bẩm sinh và di truyền, điều kiện địa lý, khí hậu,thời tiết), xã hội (điều kiện kinh tế, giáo dục, giáo dục thể chất, lao động, vệ sinh, sinh hoạt )

lệ và mục tiêu" [118] Theo Oxford Dictionary, "Game là một hoạt động mà bạn thực hiện để giải trí, Thường nó có luật lệ và bạn có thể thắng hoặc thua" nghĩa là Trò chơi

là một hoạt động mang tính quy tắc và đem lại niềm vui cho người chơi, trong khi chơi, người chơi có thể thắng hoặc thua [129]

Vận động

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng: “Vận động không chỉ là sự rời chỗ của vật chất trong không gian, mà cả những biến đổi về vật chất của vật chất nữa, nó là phương thức tồn tại của vật chất" [27]

Trang 21

Theo tác giả Hoàng Phê, “Vận động là hoạt động thay đổi tư thế hoặc vị trí của thân thể hoặc bộ phận thân thể” [56]

Trò chơi vận động

Theo tác giả Đinh Văn Lẫm và Đào Bá Trì thì “TCVĐ là hoạt động của con người, được cấu hình bởi hai yếu tố: vui chơi giải trí, thỏa mãn nhu cầu về mặt tinh thần; giáo dục và giáo dưỡng thể chất góp phần giáo dục đạo đức, ý chí, lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết hình thành và phát triển các tố chất, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống " [48, tr 3]

Tác giả Lê Thu Hương cho rằng "TCVĐ là loại trò chơi có luật, thường làm người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi Đó là loại trò chơi đòi hỏi trẻ phải phối hợp các thao tác vận động để giải quyết các nhiệm vụ ít nhất 2 - 3 tháng vận động được đặt ra như một nhiệm vụ chơi, thông qua đó thể chất trẻ được phát triển ” [41]

Vậy có thể hiểu: “TCVĐ là một trò chơi có qui định, do người lớn hoặc trẻ em sáng tạo ra để chơi, trong khi chơi người chơi phải phối hợp các kỹ năng, kỹ xảo, các thao tác trong vận động để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra”

Trò chơi vận động phát triển thể chất là các trò chơi có qui định, do người lớn

hoặc trẻ em sáng tạo ra để chơi, trong khi chơi người chơi phải phối hợp các kỹ năng,

kỹ xảo, các thao tác trong vận động để giải quyết nhiệm vụ phát triển thể chất

1.1.2 Đặc điểm phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo

1.1.2.1 Đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo

Phát triển thể chất là quá trình thay đổi hình thái và chức năng sinh học của cơ thể con người, là tổng hợp các đặc tính về hình thái của cơ thể, đặc trưng cho quá trình trưởng thành của cơ thể ở mỗi giai đoạn phát triển,

Mục tiêu chăm sóc, giáo dục mầm non là tạo điều kiện tốt nhất để trẻ phát triển thể chất, ngôn ngữ, nhận thức và tình cảm

Nói đến sự phát triển thể chất ở trẻ em là đề cập đến sự lớn lên của trẻ về mặt hình thể bên ngoài, những thay đổi và hoàn thiện chức năng của các cơ quan tương ứng với từng độ tuổi [45, tr.15]

Sự phát triển thể chất của trẻ em khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau Tuy nhiên, trong cùng một độ tuổi, sự phát triển thể chất diễn ra theo những quy luật nhất định

Sự phát triển thể chất có liên quan chặt chẽ với các yếu tố di truyền và môi

Trang 22

trường sống của trẻ em Nó có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các lĩnh vực phát triển vận động và tinh thần của trẻ

Trong 6 năm đầu, trẻ em có đặc điểm phát triển mạnh mẽ tất cả các cơ quan và hệ

cơ quan của cơ thể Trẻ em sinh ra được thừa hưởng những đặc điểm sinh vật Những đặc điểm này là cơ sở cho sự phát triển thể chất và tâm lí ở giai đoạn sau Những yếu

tố quyết định từ những tháng đầu tiên trong cuộc đời đứa trẻ chính là môi trường xung quanh và sự giáo dục

Tuổi mẫu giáo: Trẻ em từ 3 đến 6 tuổi

Đây là thời kỳ thuận lợi để trẻ tiếp thu và củng cố các kĩ năng cần thiết Trẻ em lứa tuổi này lớn nhanh, cảm thấy như gầy hơn, mất vẻ tròn trỉnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ Đặc trưng của trẻ em lứa tuổi này là cơ thế phát triển chưa ổn định và khả năng vận động còn hạn chế gầy hơn, mất vẻ tròn trỉnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ [57, tr.62 - 63]

Mỗi giai đoạn tuổi đều chứa đựng các vết tích của giai đoạn trước, những cái hiện

có của giai đoạn này là những mầm mống của giai đoạn sau Như vậy, mỗi lứa tuổi là một hệ thống cơ động độc đáo, và chính sự phát triển cơ động liên tục đó đặt ra trước khoa học giáo dục một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và hết sức tinh tế - xác định cái hiện có và dựa trên nền móng của cái tương lai mà tổ chức việc dạy học và giáo dục [73, tr 9] Cơ thể trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo đang trên con đường phát triển, hoàn thiện về mặt cấu tạo và chức năng hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan, cơ thể chưa ổn định Điều này thể hiện qua các thông số về hình thái chức năng của cơ thể trẻ, cũng như mức độ hình thành và phát triển các kỹ năng vận động và mức độ hình thành về tư duy Do vậy, việc xác định đúng và nắm vững đặc điểm phát triển của trẻ trong từng giai đoạn tuổi là vô cùng quan trọng đối với người làm công tác giáo dục

Trang 23

dạ dày và ruột làm việc yếu hơn, tim và phổi kém phát triển

Vận động là một trong những yếu tố cơ bản để trẻ nhỏ nhận thức thế giới xung quanh Trẻ càng nắm được nhiều, động tác và hành vi phong phú thì sự tiếp xúc với thế giới càng rộng hơn

Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi

Trong nửa năm đầu của trẻ 5 tuổi so với trẻ 4 tuổi thì khoảng cách chất lượng thực hiện các bài tập vận động của trẻ có sự chênh lệch nhưng không đáng kể Nhưng đến nửa năm cuối, ở trẻ 5 tuổi có nhiều dấu hiệu gần giống như trẻ 6 tuổi, hệ cơ và hệ thần kinh có những thay đổi lớn Trẻ trở nên cứng cáp hơn, biết tự lực, rất hiếu động

và không biết mệt mỏi, các vận động của trẻ dần dần đi đến hoàn thiện Vì vậy, sự vận động của trẻ phải được người lớn theo dõi, kiểm tra Các quá trình tâm lí của trẻ ở lứa tuổi này hoàn thiện hơn Khả năng chú ý của trẻ tăng, trẻ hiểu được nhiệm vụ của mình, có thể khái quát hoá một số hiện tượng và nhanh nhẹn nhận thấy những yêu cầu chính trong khi thực hiện vận động Trẻ có thể thực hiện những động tác, vận động quen thuộc bằng nhiều cách, trong một thời gian dài hơn, với lượng vận động lớn hơn Các vận động của trẻ bước đầu đã đạt mức độ chính xác, nhịp nhàng, nhịp điệu ổn định, biết phối hợp vận động của mình với các bạn Trẻ có khả năng quan sát hình ảnh động tác mẫu của giáo viên, ghi nhớ để thực hiện lại Do đó, phải tăng dần yêu cầu đối với trẻ để giúp trẻ hoàn thiện vận động, sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau để giúp trẻ thực hiện động tác một cách có ý thức và đạt kết quả tốt hơn Thường xuyên theo dõi, kiểm tra sự vận động của trẻ Nếu để trẻ vận động lâu, trẻ sẽ mệt; nếu

để trẻ thực hiện vận động sai nhiều lần sẽ khó sửa

Vận động đi, chạy và phát triển cảm giác thăng bằng Vận động đi của trẻ ở lứa tuổi này đã ổn định, biết phối hợp tay chân nhịp nhàng Trẻ đã có phản xạ nhanh đối với hiệu lệnh xuất phát của vận động chạy Bước chân chạy gần giống người lớn: chạy đúng hướng, nhịp điệu các bước chân ổn định, kết hợp tay chân tốt Từ lứa tuổi này đã thấy rõ sự khác nhau giữa trẻ trai và trẻ gái trong thành tích chạy Trẻ thích đi thăng bằng trên ghế, đi nhanh, giữ được thăng bằng toàn thân, đầu còn cúi Vận động nhảy Trẻ 5 tuổi đã biết phối hợp vận động khi nhảy, tay đã góp phần vào việc thúc đẩy lực nhảy Khi hạ xuống mặt đất nhẹ nhàng hơn và biết co đầu gối để giảm xóc, nhưng vẫn đặt cả bàn chân xuống sàn, chưa biết chuyển từ mũi bàn chân đến gót chân

Trang 24

Vận động ném, chuyển, bắt Trẻ đã xác định được hướng ném đúng, biết dùng động tác '"ngắm" để ném trúng đích, nhưng việc xác định vẫn còn yếu, nên bóng thường rơi xung quanh đích cách từ 15- 20cm Khi ném xa, trẻ đã biết phối hợp lực đẩy của thân và tay, hướng ném thẳng Các vận động chuyền, bắt tiếp tục được hoàn thiện Khoảng cách vận động bò, trườn, trèo Trẻ đã định hướng vận động chính xác, phối hợp chân tay, thân mình linh hoạt, tránh chướng ngại vật khéo léo Tốc độ trườn

và trèo nhanh hơn

Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi

Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, tỉ lệ cơ thể đã cân đối, tạo ra tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng được hoàn thiện, sự phối hợp vận động tốt hơn Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt, trẻ có khả năng chú ý cao trong quá trình tập luyện bài tập vận động Các vận động cơ bản được thực hiện tương đối chính xác, mềm dẻo, thể hiện sự khéo léo trong vận động, lực cơ bắp được tăng lên Vận động đi ở trẻ có sự phối hợp nhịp nhàng giữa tay, chân và thân Bàn chân rời khỏi mặt đất nhẹ nhàng, mềm mại khi chân chạm đất Vận động nhảy được hoàn thiện với một niềm tin lớn, nhảy nhẹ nhàng, biết chạm đất bằng hai đầu bàn chân Vận động chạy, bò, ném của trẻ được hoàn thiện rõ nhất, thể hiện sự chính xác của động tác, phát triển khả năng ước lượng bằng mắt, có sự khéo léo khi phối hợp vận động ở từng độ tuổi mầm non, ta sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng dẫn vận động phù hợp với trẻ để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình luyện tập Dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của trẻ em

Trẻ em nói chung và trẻ em ở lứa tuổi mầm non nói riêng đều có những giai đoạn phát triển mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh thần, nhưng trong chính các giai đoạn phát triển này thì các em sẽ chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đến sự phát triển của

cơ thể, do ở các giai đoạn trên cơ thể các em đang dần hoàn thiện về các mặt cơ, xương và các hệ trong cơ thể, vì thế chỉ cần một tác động nhỏ nhưng có tính liên tục cũng sẽ dẫn đến sự sai lệch về thể chất lẫn tinh thần của các em Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự gia tăng sử dụng lượng thức ăn năng lượng cao có nhiều chất béo, giảm hoạt động thể lực, thói quen ăn uống, sinh hoạt không hợp lý và đô thị hóa…là những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển về hình thái và thể lực của trẻ [161]; [133]; [128]

Trang 25

1.1.3.1 Yếu tố di truyền và gia đình

Trong giai đoạn xã hội phát triển ngày nay thì thể chất của trẻ chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố, trong đó có yếu tố di truyền và gia đình là một trong những yếu

tố khá âm thầm trong việc ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của trẻ Như cùng một môi trường sống, cùng chế độ chăm sóc nhưng một số người trở nên BP và những người khác thì phát triển thể chất bình thường, điều này được giải thích bằng yếu tố di truyền Các gen khác nhau có thể được kích hoạt một cách chọn lọc hoặc được áp đặt như là một phần của sự phát triển thời thơ ấu hoặc tương tác với điều kiện môi trường

để thay đổi kiểu hình Hơn nữa, có tồn tại một sự khác biệt sâu sắc giữa nền tảng di truyền và môi trường sống hiện tại [106]

Theo giả thuyết “kiểu gen tiết kiệm”, trong quá trình tiến hóa của loài người, chúng ta đã phải trải qua nhiều thời kỳ thiếu dinh dưỡng, do đó, áp lực lựa chọn rất

có thể đã góp phần vào việc thúc đẩy các hành vi ăn quá nhiều, giảm việc tiêu hao năng lượng và giảm các hoạt động thể lực [97, tr.13] Những người chịu đựng được nạn đói trong thời gian dài và có thể dự trữ, huy động năng lượng hiệu quả hơn thì tái sản sinh nhiều hơn những người không có khả năng thích ứng này, sau đó dẫn đến sự biến đổi quá mức của các biến thể di truyền thúc đẩy khả năng ăn nhiều hơn, hấp thụ calo mức độ cao hơn và tích tụ năng lượng trong các mô mỡ nhiều hơn [138]

Béo phì ảnh hưởng rất lớn đến vẻ thẩm mĩ về hình thái, hạn chế vận động, ảnh hưởng lớn đến thể lực của trẻ Do đó, sự gia tăng bệnh BP có lẽ là do tương tác gen với một môi trường mới có xu hướng dễ gây ra bệnh BP hơn trước kia, chứ không phải

sự thay đổi từ trong gen của con người [123] Tuy nhiên, nhiều gen khác đã được xác định có liên quan đến BP và phân phối chất béo [124], [135] Ngoài ra, các nghiên cứu

về bộ gen cho thấy chỉ có khoảng 2% phương sai của BMI có thể được giải thích bằng các thể đa hình nucleotide [119], [134]

Người ta ngày càng tập trung vào việc xác định mối quan hệ giữa hoạt động thể chất và các mối tương quan tâm lý xã hội như sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè, động lực bên trong, sự tự tin và lòng tự trọng để hiểu rõ hơn về hành vi hoạt động thể chất ở trẻ em [136]

Các thành viên trong gia đình tác động đáng kể đến mô hình hoạt động thể chất của trẻ Nghiên cứu cho thấy: (1) “các hoạt động thể chất của cha mẹ, như một quy

Trang 26

luật, ảnh hưởng đến các hoạt động thể chất của con cái" (2) “các hoạt động thể chất của các bà mẹ ảnh hưởng đến mức độ hoạt động thể chất của trẻ em" và (3) “hoạt động thể chất của người cha ảnh hưởng nhiều hơn đến con trai, và người mẹ ảnh hưởng nhiều hơn đến con gái” [139] Nghiên cứu của Freedson và Evenson chứng minh rằng

“việc cha mẹ không hoạt động vận động tạo ra hình mẫu xấu ảnh hưởng đến hoạt động thể chất của con cái của họ” [111]

Cha mẹ là người kiểm soát việc tiếp cận các môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thể chất của trẻ, chẳng hạn như sân chơi, và chúng ảnh hưởng đến việc tham gia thể thao bằng cách đưa trẻ đến các cơ sở thể thao Hơn nữa, chúng xác định tần suất và thời gian trẻ ở ngoài trời Các hoạt động ngoài trời cũng phụ thuộc vào điều kiện khí hậu hiện hành, ảnh hưởng đến những gì trẻ có thể hoạt động ngoài trời (hoạt động mùa đông hoặc mùa hè) Trẻ em cần một số kiến thức sơ đẳng về các hoạt động thể chất khác nhau trước tuổi dậy thì

1.1.3.2 Yếu tố dinh dưỡng

Dinh dưỡng là một yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu đối với sức khỏe con người nói chung và trẻ em nói riêng, đặc biệt là giai đoạn từ 36 đến 60 tháng tuổi, giai đoạn trẻ phát triển mạnh mẽ nhất Dinh dưỡng hợp lý là yếu tố môi trường quan trọng đối với sự tăng trưởng và kiểm soát sức khỏe, bệnh tật trong các giai đoạn vòng đời [19] Thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng tới quá trình phát triển thể chất, tinh thần, vận động của trẻ, làm cho trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn nặng và có nguy cơ dẫn tới tử vong [4, tr.20] Có rất nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đã ghi nhận dinh dưỡng chính là nền tảng cho sự phát triển thể lực, sức khoẻ, trí tuệ, tầm vóc của trẻ [19],[ 59], [101], [137]

Ngoài ra, “…cơ thể chậm phát triển do thiếu dinh dưỡng, gây giảm năng lượng Tất

cả các chất dinh dưỡng đều có thể thiếu nhưng phổ biến nhất là thiếu protein và năng lượng Bệnh biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng đều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ em” [79, tr.132-144] [80, tr.199- 207] Thể chất phát triển không tốt, biểu hiện là cơ thể thấp còi là tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài ảnh hưởng tới chiều cao, gây nên bệnh SDD khá phổ biến ở trẻ em Nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của trẻ mà còn dẫn đến những hậu quả tầm vóc người trưởng thành thấp bé, kết quả học tập kém, giảm khả năng lao động khi trưởng thành [59]

Trang 27

1.1.3.3 Yếu tố môi trường

Theo Jürimäe T & Jürimäe J (2000) yếu tố như vùng khí hậu, môn thể thao truyền thống, hoặc sự sẵn có của các trang thiết bị thể thao có thể ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của trẻ em Các sự kiện thể thao khác nhau đối với trẻ em của các quốc gia khác nhau Ví dụ, ở các nước Bắc Âu như Phần Lan và Thụy Điển, những cậu bé còn rất nhỏ bắt đầu chơi khúc côn cầu trên băng hoặc học các kỹ năng cơ bản của trượt tuyết băng đồng Ngược lại, ở các nước Nam Mỹ như Brazil và Argentina, bóng đá là lựa chọn hàng đầu của trẻ em trai trước tuổi dậy thì [116]

Môi trường thành thị hay môi trường nông thôn có môi trường hoạt động thể chất tốt hơn? Môi trường khuyến khích hoặc không khuyến khích hoạt động thể lực ?!, sẽ tác động đến mức độ hoạt động thể lực của trẻ, chẳng hạn như cơ hội tiếp cận các cơ sở giải trí ở thành thị sẽ tốt hơn ở nông thôn, điều kiện về cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ở thành thị sẽ đầy đủ, hiện đại hơn ở nông thôn sẽ dẫn đến cơ hội vận động của trẻ thấp đi Hay môi trường có khuyến khích vận động không, môi trường có đảm bảo an toàn cho người đi tập thể dục không Nghiên cứu gần đây nhất của Mc Gregor và cộng

sự đã chỉ ra rằng, ba vấn đề trở ngại đối với hoạt động thể lực (công nghệ giải trí, mối quan tâm an toàn của người chăm sóc và rào cản đối với liên kết cộng đồng) [127] Cùng quan điểm trên Laakso, L và Telama, R có sự khác biệt giữa khu vực thành thị và nông thôn về môi trường, điều kiện hoạt động thể chất và các yếu tố kinh tế xã hội góp phần vào sự khác biệt trong các mô hình hoạt động thể chất Trẻ em thành thị có nhiều lựa chọn hơn cho các hoạt động thể chất, biết thêm thông tin về thể thao và có nhiều cơ hội sử dụng các phương tiện và thiết bị thể thao hơn trẻ em nông thôn Tuy nhiên trẻ em vùng nông thôn có điều kiện tốt hơn cho các hoạt động thể chất bên ngoài như đi dạo trong rừng hoặc bơi lội trong hồ [121]

Môi trường có vai trò quan trọng, là điều kiện đầu tiên và không thể thiếu được

để tổ chức các hoạt động GD trẻ MN nói chung, trong đó có hoạt động tập luyện các bài tập thể chất, trò chơi vận động, các hoạt động thể lực Xây dựng môi trường với đầy đủ các đặc tính như: tích cực, an toàn, phù hợp sẽ làm cho việc tập luyện phát triển thể chất thuận lợi và có hiệu quả Có 2 kiểu môi trường cơ bản tác động tích cực đến ý thức tập luyện và phát triển thể chất cho trẻ gồm: Môi trường vật chất và môi trường tinh thần

- Môi trường vật chất: việc “…lựa chọn, sắp xếp môi trường vật chất chứa đựng

Trang 28

nội dung phong phú, hấp dẫn, thể hiện ý tưởng của mỗi chủ đề sẽ kích thích mọi trẻ cùng tham gia…[20], kích thích trẻ tập luyện cùng các bạn trong bài tập thể chất, hay trò chơi vận động Từ đó hình thành thói quen tập luyện, và ý thức rèn luyện thân thể của các em trong môi trường tập thể Để môi trường vật chất có ảnh hưởng tốt đến việc tập luyện các bài tập thể chất hay trò chơi vận động cần đảm bảo:

+ Không gian đủ rộng

+ Đảm bảo các điều kiện về ánh sáng, không khí, nhiệt độ

+ Các đồ dùng, đồ chơi dành cho trẻ cần phong phú, đa dạng, hấp dẫn đối với trẻ

và phù hợp với khả năng nhận thức, khả năng hoạt động của trẻ

- Môi trường tinh thần: Môi trường tinh thần là yếu tố quan trọng, chi phối và ảnh hưởng tới các hoạt động của con người, đặc biệt là với trẻ nhỏ Sự tin tưởng, thoải mái,

an toàn về mặt tâm lí ở trẻ là những điều kiện không thể thiếu được để khuyến khích trẻ tích cực tham gia…[20] Để việc tập luyện hay vận động cho trẻ 5-6 tuổi một cách hiệu quả, “GVMN cần quan tâm tạo không khí cởi mở, vui tươi trong nhóm/lớp; gần gũi, trò chuyện với trẻ để trẻ có tâm lí hào hứng tham gia…”[20]

Bảng 1.1 Ảnh hưởng của lối sống hiện đại đối với hoạt động thể lực [141]

-Tăng thời gian xem truyền hình, chơi trò chơi vi tính, làm việc vi tính

-Tăng sử dụng các thiết bị hiện đại(máy giặt, lò vi song, máy hút bụi)

-Tăng sử dụng thức ăn nhanh là nguyên nhân góp phần cho TCBP

-Giảm thời gian rảnh rỗi để hoạt động chân tay

-Giảm hoạt động chân tay Trẻ không có cơ hội làm việc chân tay trong gia đình

máy, thang cuốn

Giảm hoạt động leo cầu thang

1.1.3.4 Yếu tố bệnh tật

Trong quá trình phát triển thể chất cho trẻ thì bệnh tật cũng là một yếu tố hết sức quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của trẻ Trong đó, những bệnh đặc trưng và xuất hiện nhiều ở giai đoạn này phải kể đến như: TCBP, SDD, các bệnh về

Trang 29

đường tiêu hóa, hô hấp…Một nghiên cứu về chỉ số BMI liên tục trên mẫu gồm 51.505 trẻ, những trẻ có số liệu nhân trắc học có sẵn từ thời thơ ấu đến tuổi vị thành niên, đã tìm thấy độ tuổi tăng cân nhanh nhất từ 2 đến 6 tuổi và tới 90% trẻ bị BP ở độ tuổi lên 3 cũng sẽ bị TC hoặc BP ở tuổi vị thành niên [117] Một nghiên cứu khác tại Trung Quốc

tỉ lệ trẻ không BP lớn lên trở thành người trưởng thành không BP là 62,6% và trẻ BP lớn lên trở thành người lớn BP là 80,0% [122, tr.162-168], Nội dung can thiệp có thể là thay đổi thói quen ăn uống, thói quen vận động của trẻ Qua tổng kết 25 chương trình can thiệp tại Mỹ về phòng chống TCBP, Doak nhận định 68% can thiệp (17/25 can thiệp) là hiệu quả, hai can thiệp nhằm giảm thời gian xem truyền hình của trẻ, hai can thiệp nhằm tăng thời gian hoạt động thể lực và thay đổi thói quen dinh dưỡng của trẻ cho thấy có hiệu quả cao nhất trong việc giảm BMI của trẻ [97, tr35].Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy giải pháp then chốt nhằm ngăn ngừa sự gia tăng TCBP ở trẻ là thay đổi khẩu phần, thói quen ăn uống và tăng cường các hoạt động thể lực [97, tr35] Cũng như TCBP thì SDD cũng là một nguyên nhân hàng đầu dẫn tới trẻ bị thấp còi, nhẹ cân ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển thể chất của trẻ về sau

Nhiễm các loại giun cũng là vấn đề cần được nghiên cứu để tìm ra các giải pháp phù hợp Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở các nước đang phát triển do điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo [103, pp.120] Nhiễm giun làm cho trẻ chán ăn, giảm hấp thu các chất dinh dưỡng, thiếu máu, và gây ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Nhiễm giun đường ruột với cường

độ cao và trong một thời gian dài có thể gây suy dinh dưỡng như thấp còi, nhẹ cân và

ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong [150] Các nghiên cứu ước tính rằng nhiễm trùng ảnh hưởng đến 30,0% sự giảm chiều cao ở trẻ em [19, tr10]

1.1.3.5 Yếu tố giáo dục

Trẻ em lứa tuổi mầm non nói chung về cơ bản chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều loại yếu tố chi phối đến sự phát triển thể chất, bởi ở giai đoạn này nhất là lứa tuổi tiền học đường việc hình thành một cơ thể khỏe mạnh, một nhân cách tốt và một tâm lý sẵn sàng đương đầu với cái mới sẽ giúp các em hòa nhập nhanh chóng với điều kiện thay đổi của môi trường Ở giai đoạn lứa tuổi mầm non cơ thể trẻ đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện về hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ cơ, xương và các ổ khớp Ngoài ra, còn một số

bộ phận trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn trong các hoạt động vận động, hay trải

Trang 30

nghiệm của quá trình học… vì thế nếu giáo dục và cho các em vận động không đúng sẽ dẫn đến sự phát triển sai lệch không cân đối về hình thái cũng như thể lực của trẻ, chăm sóc và giáo dục ý thức vận động tốt sẽ là nền tảng giúp các em phát triển một cách toàn diện và bền vững Mục tiêu giáo dục trẻ MN hiện nay, đó là “giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách”; “hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những KN sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối

đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời” [25, tr 87]

Quá trình tăng trưởng của trẻ trong giai đoạn này diễn ra rất nhanh, nhưng mặc khác cơ thể trẻ còn quá non nớt, dễ bị ảnh hưởng của những tác động bên ngoài, sức

đề kháng yếu dễ nhiễm bệnh, ngoài ra ở lứa tuổi này tâm hồn các em còn quá mong manh, chưa nhận thức được hết các mối nguy hại của thế giới bên ngoài, cũng như không biết cách thức vận động thể chất phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của từng lứa tuổi khác nhau, mức độ hoạt động thể lực của trẻ mầm non phải được xác định cụ thể dựa vào các nghiên cứu cũng như luận điểm khoa học rõ ràng, đã được kiểm chứng chứ không đơn thuần theo kiểu “thích thì chọn” Như đối với trẻ lứa tuổi 5-6 thì được xác định dựa vào khuyến nghị của Who rằng trẻ từ 5-17 tuổi nên tham gia các hoạt động thể lực 60 phút/ngày, trong đó các hoạt động gắng sức từ mức độ vừa đến nặng nên thực hiện ít nhất 2-3 lần/tuần, độ tuổi này chỉ nên dành tối đa 120 phút/ngày cho tổng các hoạt động tĩnh.[160] Vì thế ở giai đoạn trẻ mầm non thì người lớn đóng vai trò rất lớn trong việc chăm sóc, giáo dục cũng như dìu dắt các em những bước đầu sơ khai vận động thể chất nhằm phát triển thể lực cho các em Như Hồ Chủ Tịch đã dạy:

“Dạy trẻ như trồng cây non Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt Dạy trẻ tốt sau này các cháu thành người tốt” [151]

1.1.3.6 Yếu tố tập luyện TDTT

Hoạt động thể chất dưới các hình thức khác nhau rất quan trọng đối với sức khỏe

và sự phát triển thể chất của trẻ em "Trẻ em cần hoạt động thể chất thường xuyên để tăng trưởng và phát triển bình thường, duy trì sức khỏe và thể chất tốt, phát triển các

kỹ năng hoạt động thể chất” [102] Tại Washington Mỹ từ nhưng năm 2000 theo chương trình sức khỏe quốc gia thì một trong những mục tiêu quan trọng ưu tiên hàng

Trang 31

đầu của đất nước để nâng cao sức khỏe cho nhân dân và phòng ngừa bệnh tật là tăng cường hoạt động vận động phát triển thể chất cho trẻ em [131]

Theo nghiên cứu của Fang H et al (2017) trên 346 trẻ mầm non từ 3.5 – tuổi ở Thượng Hải theo dự án của Bộ Giáo dục Trung Quốc Kết quả cho thấy có mối tương quan rất chặt chẽ giữa hoạt động thể chất đối với sức khỏe, thể lực của trẻ mầm non; nghiên cứu còn chỉ ra rằng các hoạt động thể chất được điều chỉnh theo giới tính và độ tuổi sẽ liên quan tích cực với sự nhanh nhẹn, cân bằng, dẻo dai và sự bền bỉ [112]

Từ đó cho thấy tập thể thao là để nâng cao sức khỏe Khi sức khoẻ được nâng cao thì sức đề kháng với bệnh tật (bệnh cảm, bệnh Parkinson, bệnh giảm trí nhớ, bệnh tim mạch, bệnh thoái hóa cột sống, ) cũng sẽ được nâng lên và tuổi thọ được tăng lên Sức khoẻ không phải là cơ bắp, không phải rèn luyện để có cơ bắp to, không phải rèn luyện để có thành tích cao, mà là làm thế nào để có một sức khoẻ tiềm tàng Tập luyện

là biện pháp quan trọng giúp cơ thể tiêu hao năng lượng, tránh được sự tích lũy lượng

mỡ thừa trong cơ thể Duy trì hoạt động thể lực đều đặn sẽ không bị béo phì, nó còn giúp cải thiện hoạt động của tim, phổi, cơ bắp, nâng cao sự uyển chuyển của cơ thể, làm cho tinh thần hoạt bát nhanh nhẹn, sảng khoái, tránh được stress từ đó tăng sức đề kháng của cơ thể

Tập luyện thường xuyên thể dục thể thao sẽ có những tác động tích cực trong việc phát triển và hoàn thiện các chức năng các hệ cơ quan trong cơ thể, giúp các quá trình sinh lý, sinh hoá xảy ra thuận lợi; điều này có nghĩa là luyện tập luyện thường xuyên thể dục thể thao sẽ làm tăng cường hiệu quả hoạt động các khả năng chức phận của các hệ cơ quan, làm cho cơ thể phát triển và hoàn thiện theo mục đích quá trình tác động đặt ra

Các hệ cơ quan trong cơ thể phát triển theo tuổi sinh lý, song dưới tác động của hoạt động thể lực đặc biệt là tác động các bài tập thể chất ở mỗi một giai đoạn lứa tuổi khác nhau, năng lực hoạt động các hệ cơ quan được kích thích làm gia tăng sự phát triển tự nhiên của con người; hoặc sẽ phát triển và hoàn thiện tối ưu về năng lực thể chất đối với những cá nhân thường xuyên tập luyện thể dục thể thao [32]

Tập luyện thể dục thể thao là việc thực hành các động tác nhằm phát triển và duy trì sức khỏe thể chất và sức khỏe toàn diện Điều này có được nhờ việc rèn luyện các động tác thể dục Tập luyện thường xuyên là thành phần rất quan trọng giúp ngăn ngừa

Trang 32

bệnh tật, ngăn ngừa các "bệnh người giàu" như ung thư, bệnh Gout, bệnh tim, bệnh mạch vành, tiểu đường loại 2, béo phì và đau lưng

Nhìn chung, luyện tập thể dục có thể chia thành hai nhóm theo tác động nói chung lên cơ thể con người:

Tập luyện về cơ bắp, chẳng hạn như uốn dẻo, nhằm chăm sóc chức năng vận động của cơ và các khớp Các bài tập Aerobic như đi bộ và chạy tập trung vào việc tăng sức chịu đựng của hệ tuần hoàn Bài tập Anaerobic chẳng hạn nâng tạ hoặc chạy nước rút tăng sức mạnh của cơ trong thời gian ngắn

Tập luyện về khí huyết, tinh thần, chẳng hạn như việc hô hấp, hít thở, nhằm chăm sóc chức năng vận động khí huyết, thư giãn và tập trung tinh thần Các bài tập thái cực quyền, khí công, yoga làm tăng sự lưu thông khí huyết và hướng tinh thần vào các động tác tập luyện Từ đây làm tăng khả năng tập trung, rèn luyện trí nhớ [152]

Tập luyện thể dục rất quan trọng trong việc giữ gìn sức khỏe thể chất gồm có trọng lượng, thể hình và xương, cơ, khớp, tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch Tập luyện tinh thần làm vững chắc hệ thần kinh, làm hoạt hóa các hoạt động về khí huyết Các danh y nước ta cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của vận động thân thể đối với sức khoẻ con người Tuệ Tĩnh khuyên mọi người muốn bảo dưỡng và tăng cường sức khoẻ thì phải giữ gìn tinh, khí, thần, tâm và vận động thân thể thì con người mới khoẻ mạnh Hải Thượng Lãn Ông cũng nói lên sự cần thiết phải vận động thân thể

để có sức khoẻ như: luyện thân, luyện khí làm cho khí huyết lưu thông, chân tay cứng cáp, tinh thần thoải mái [153]

Các nhà sinh lý học cho rằng nếu con người ít vận động, lười biếng luyện tập thể dục thể thao thì ở tuổi 30 có nguy cơ bị tổn thương ở khớp, tổn thương này tăng dần theo tuổi tác và sự suy thoái sẽ còn tăng nhanh đối với người không vận động và kéo theo sự già nua của cơ thể con người

Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của tập luyện thể dục thể thao, cấu trúc của tim có sự thay đổi, thể hiện ở giãn buồng tim và sự phì đại cơ tim của các vận động viên luyện tập chủ yếu ở các môn sức bền ưa khí tối đa Giãn buồng tim làm cho lượng máu chứa trong các buồng tim tăng lên, đó là yếu tố quan trọng để tăng thể tích tâm thu khi cần thiết Phì đại cơ tim làm tăng lực bóp của tim, tức là làm tăng thể tích tâm thu

Theo Letunốp (1940), không phái tất cả các môn thể thao đều làm thay đổi về

Trang 33

mặt cấu trúc của tim, làm cơ tim phì đại và tăng thể tích buồng tim Sự tăng độ dày của thành tim chủ yếu là tâm thất trái, đó là do tim của các vận động viên co bóp nhiều đẩy máu đi theo nhu cầu của vận động cơ bắp Qua nghiên cứu ông đưa ra quyết định sau: Đối với vận động viên sức bền thì tim giãn to, đối với vận động viên sức mạnh thì cơ tim dày lên [32]

Quá trình tập luyện thể thao ảnh hưởng tới từng thời kỳ của chu chuyển tim, thay đổi thời gian của từng chu chuyển tim, cả hai thời kỳ được rút ngắn, thời tâm thu ngắn hơn thời tâm trương, vì vậy máu trở về tim nhiều hơn Dưới ảnh hưởng của tập luyện thể dục thể thao cơ tim dày lên từ 0,5 đến 1cm, tim to hơn, chắc và khoẻ, được gọi là “tim thể thao”, vì thế tần số mạch của các vận động viên giảm hơn nhiều so với người bình thường khoảng 40 - 45 lần/phút Điều đó cho thấy rằng tim hoạt động kinh tế ít tiêu hao năng lượng hơn và có thời gian nghỉ dài hơn, nhưng vẫn luôn cung cấp đủ máu cho cơ thể trong quá trình vận động, nghĩa là không làm cho thể tích phút của máu bị giảm đi,

vì đồng thời với giảm nhịp tim, lực co bóp của tim, tức là thể tích tâm thu đã tăng lên do phì đại cơ tim và giãn buồng tim

Hồ Chí Minh từng nói, TDTT có tác dụng tăng cường sức đề kháng và năng lực thích ứng của cơ thể con người Việc rèn luyện thân thể có tác dụng phòng bệnh và chữa bệnh rất tích cực, lấy lại sự cân bằng âm dương của cơ thể con người Nếu con người không vận động, không rèn luyện thì khả năng thích nghi kém, tuổi thọ không thể kéo dài Vận động và rèn luyện là để ngày càng hoàn thiện về thể chất, nâng cao thể lực, tinh thần thoải mái Theo Người, rèn luyện thân thể kết hợp với giữ gìn vệ sinh càng có tác dụng trong việc phòng bệnh và nâng cao sức khoẻ con người Khi cơ thể con người khoẻ mạnh thì sẽ vượt qua và đẩy lùi được bệnh tật, chống trả được vi trùng xâm nhập vào cơ thể; khi cơ thể lành mạnh, tinh thần sung mãn thì con người sẽ thích ứng được với những điều kiện thời tiết thay đổi Cơ thể tốt, thần kinh tốt, tinh thần tốt thì tránh được mọi bệnh tật Chính vì vậy, Người yêu cầu: “Phải tuyên truyền một cách thiết thực và rộng khắp trong nhân dân một phong trào thể dục vệ sinh” Người đã phát động trong cả nước phong trào TDTT “Khoẻ vì nước”, “Vệ sinh yêu nước” [154] Ngoài việc tăng cường sức đề kháng và năng lực thích ứng của cơ thể con người, thể dục thể thao có vai trò to lớn trong việc nâng cao sức khoẻ toàn diện cho con người Sức khoẻ toàn diện là sự phát triển đầy đủ các tố chất thể lực như: Sức nhanh,

Trang 34

sức mạnh, sức bền bỉ dẻo dai và sự khéo léo Những yếu tố này chỉ có thể đạt được nhờ luyện tập TDTT thường xuyên Khi con người có sức khoẻ toàn diện thì sẽ nâng cao được năng lực thể chất Năng lực thể chất có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống, trong lao động, trong công tác và trong học tập Có năng lực thể chất tốt sẽ giúp cho con người vượt qua được mọi khó khăn, hoàn thành tốt được mọi công việc Muốn

có năng lực thể chất tốt đòi hỏi con người phải có lòng kiên trì, phải có quyết tâm cao trong việc rèn luyện thân thể Do đó phải thường xuyên vận động thân thể, tập một số động tác thể dục nhẹ nhàng, hoặc đi bộ, tập leo núi

Chính vì thể dục thể thao có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ con người, Hồ Chí Minh yêu cầu phong trào TDTT phải trở thành phong trào chung của toàn dân Người kêu gọi toàn dân luyện tập TDTT, rèn luyện thân thể khoẻ mạnh thì mới đủ sức tham gia mọi công tác cách mạng Người nói: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần; mỗi một người dân mạnh khoẻ, tức là góp phần cho cả nước mạnh khoẻ” [153] Điều đó có ý nghĩa sâu sắc không chỉ về sức khoẻ của nhân dân, mà cả về vật chất và tinh thần của dân tộc

1.2 GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO

Hồ Chủ Tịch đã từng căn dặn: “Dạy trẻ như trồng cây non”, hay “Giáo dục mẫu giáo tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” [86, tr.40]

Giáo dục Mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn lực con người điều đó cho thấy rằng: Việc nuôi dạy “con người” bắt đầu từ những năm đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức quan trọng và có ý nghĩa lớn lao về nhân văn, xã hội và kinh tế, nhưng lại

vô cùng vất vả và khó khăn [2, tr.7]

Trong điều 22 của Luật Giáo dục năm 2005 có ghi: “Mục tiêu của giáo dục Mầm non là giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1” Để thực hiện được mục tiêu trên, cần nhận thức đúng đắn rằng: Mọi năng lực, chức năng của trẻ chỉ có thể hình thành và phát triển tốt, khi cơ thể đạt tới một độ chín nhất định và chỉ khi đó việc tập luyện và giáo dục mới phát huy vai trò chủ đạo, có tính quyết định của mình trong việc hình thành năng lực, chức năng đó Việc luyện tập quá sớm (đốt cháy giai đoạn), hoặc quá muộn (bỏ lỡ thời cơ), đều có thể gây những hậu quả có hại cho sự phát triển của

Trang 35

trẻ [38, tr 17-22] Do vậy, cần phải tổ chức cho trẻ hoạt động phù hợp với lứa tuổi để trẻ phát triển một cách tốt nhất

1.2.1 Nhiệm vụ giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Thể dục mầm non (Sport for children) là hoạt động thể dục để thúc đẩy sự sinh trưởng của trẻ thơ, bồi dưỡng và bảo vệ cơ thể, tăng cường sức khoẻ là chính Thể dục

là một bộ phận quan trọng tổ hợp thành của giáo dục trẻ thơ, có tác dụng quan trọng đối với việc rèn luyện cơ thể (thể lực), thúc đẩy sự sinh trưởng của cơ thể, tăng cường sức khỏe nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức năng và năng lực thích ứng của cơ thể với môi trường bên ngoài [145, tr 94]

Giáo dục thể chất trong nhà trường mầm non là quá trình tác động chủ yếu vào

cơ thể trẻ, tổ chức cho các em vận động, rèn luyện cơ thể, giữ gìn vệ sinh, tổ chức tốt chế độ sinh hoạt hợp lý nhằm bảo vệ và làm cho cơ thể phát triển cân đối, tăng cường sức khoẻ, đạt đến trạng thái hoàn thiện về mặt thể chất, làm cơ sở phát triển nhân cách Các tác giả Caxusec (Nga), Lương Văn Hoa, Chu Thắng Tiên, Trần Quần Anh (Trung Quốc), Tamaxita (Nhật Bản) đều cho rằng phát triển thể dục thể thao cho trẻ thơ đóng vai trò góp phần quan trọng nhằm bồi dưỡng những con người mới phát triển toàn diện cho đất nước [64], [146], [99] thì trẻ thơ trước tuổi đi học là một giai đoạn phát triển quan trọng của con người, giai đoạn này có được phát triển lành mạnh hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của trẻ ở các giai đoạn sau, thậm chí ảnh hưởng của

cả cuộc đời một con người Vì vậy, việc giáo dục thể dục thể thao ở giai đoạn trước tuổi đi học cũng chính là một quá trình nhằm bồi dưỡng con người phát triển toàn diện, làm chủ tương lai đất nước sau này

Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ Các cơ sở xác định nhiệm vụ giáo dục thể chất cho trẻ

- Mục đích giáo dục thể chất cho trẻ mầm non bao gồm:

Góp phần củng cố, tăng cường sức khoẻ, phát triển cân đối, hài hoà về hình thái

và chức năng của cơ thể của trẻ

Rèn luyện tư thế vận động cơ bản; phát triển các tố chất nhanh, mạnh, khéo, bền; phát triển khả năng định hướng trong không gian

Góp phần rèn luyện và phát triển cảm giác nhịp điệu, khả năng cảm nhận cái đẹp

Trang 36

qua vận động nhanh nhẹn, nhịp nhàng, đúng tư thế, sự hứng thú đối với các loại vận động và đối với hoạt động tập thể Rèn luyện tính trung thực, tính tổ chức, kỉ luật, tinh thần tập thể, lòng dũng cảm, tự tin cho trẻ và khả năng tự quản, tự lập cho trẻ

- Đặc điểm phát triển của trẻ mầm non

- Các giai đoạn phát triển thể chất của trẻ mầm non [57, tr.79]

Từ các cơ sở trên, người ta đề ra ba nhiệm vụ GDTC cho trẻ mầm non Nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ

Nhiệm vụ giáo dưỡng Nhiệm vụ giáo dục

Trong quá trình giáo dục thể chất, có thể kết hợp giải quyết những nhiệm vụ giáo dục đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và lao động

Giáo dục thể chất với giáo dục đạo đức [58, tr 68]

Trong các giờ học thể dục, trò chơi vận động hoặc thể dục sáng, giáo viên nên nhận xét, đánh giá hành vi đạo đức của trẻ Điều này tạo cho trẻ những hiểu biết nhất định về đạo đức Mặt khác, trẻ thường phải vận động trong tập thể, phải tuân theo những quy tắc nhất định, biết điều khiển hành vi của mình trong quá trình thực hiện bài tập, do đó có thế phát triển ở trẻ một số thói quen, phẩm chất đạo đức như có thiện

ý, hứng thú đối với hoạt động tập thể, lòng mong muốn giúp đỡ lẫn nhau, tính thẳng thắn, khiêm tốn, tính trung thực, công bằng, Ngoài ra, có thể giáo dục ở trẻ những phẩm chất ý chí như lòng dũng cảm, tính kiên trì, biết kiềm chế, tính kiên quyết, tính

tổ chức kỉ luật,

Cần lưu ý, giáo viên phải là tấm gương để trẻ noi theo, thể hiện ở cử chỉ, tác phong và lời nói hàng ngày

Giáo dục thể chất với giáo dục trí tuệ

Cơ thể con người là một khối thống nhất, trí lực và thể lực đều do hệ thống thần kinh trung ương điều khiển Khoa học về sinh lí và tâm lí đã chỉ rõ, một cơ thể khoẻ mạnh là tiền đề vật chất giúp con người phát triển trí óc của mình

Giáo dục thể chất một cách khoa học sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của hệ thần kinh, giúp cho các quá trình tâm lí như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy phát triển tốt Đặc biệt là bước đầu hình thành ở trẻ một số thao tác tư duy như quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát Ngoài ra còn củng cố ở trẻ những kiến thức không chỉ liên quan sự vật, hiện tượng xung quanh như các loại động

Trang 37

vật, côn trùng, những hiện tượng thiên nhiên và xã hội

Trong quá trình tập luyện, giáo viên sử dụng hệ thống phương pháp dạy học khác nhau tác động đến quá trình nhân thức của trẻ, yêu cầu trẻ phải tư duy tích cực để ghi nhớ và nhớ lại cách thức thực hiện bài tập

Đối với trẻ mầm non, điều quan trọng là phải giáo dục cho trẻ những cảm xúc tích cực, đảm bảo sự sảng khoái, trạng thái vui tươi, phát triển khả năng vượt qua những trạng thái tâm lý tiêu cực

Giáo dục thể chất với giáo dục thẩm mỹ

Giáo dục thể chất tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục thẩm mĩ Trong quá trình thực hiện bài tập thể chất, các động tác được thực hiện một cách khéo léo, nhịp nhàng

sẽ tác động đến nhận thức của trẻ về vẻ đẹp của thân thể con người khi vận động, và cái đẹp của động tác khi thực hiện các tư thế: đi, đứng, chạy, Ngoài ra, màu sắc của dụng cụ thể dục cũng tác động đến việc hình thành ở trẻ óc thẩm mỹ

Giáo dục thể chất với giáo dục thẩm mỹ tác động đến việc hình thành ở trẻ óc thẩm mỹ, phải làm mẫu Các động tác mẫu phải đẹp và chính xác giúp trẻ nhận thức đúng đắn về cái đẹp Chính các bài tập thể dục thể thao cũng chứa đựng nhiều yếu tố nghệ thuật như tập với dụng cụ, tập theo nhạc, thể dục đồng diễn Điều này không những hình thành ở trẻ những nhận thức về cái đẹp mà còn tạo khả năng cảm thụ âm nhạc, nhịp điệu,

Giáo dục thể chất với giáo dục lao động

Quá trình GDTC cũng chính là quá trình giải quyết một số nhiệm vụ lao động

Ở lứa tuổi mầm non, giáo dục lao động cho trẻ là giúp trẻ làm quen với lao động của người lớn, với những kĩ năng lao động đơn giản thể hiện qua lao động tự phục vụ, trực nhật, giáo dục trẻ hứng thú lao động, yêu lao động, có thái độ đúng đắn và tôn trọng lao động của người lớn

Trong quá trình dạy bài tập cho trẻ, bao giờ giáo viên cũng thực hiện mẫu Trong các giờ luyện tập thể duc, trẻ có thể tham gia chuẩn bị và thu dọn dụng cụ thể dục Thông qua các trò chơi vận động có chủ đề, trẻ sẽ hiểu được tính chất của các nghề nghiệp và các thao tác lao động của người lớn

Như vậy GDTC cho trẻ mầm non cần đảm bảo kết hợp chặt chẽ với tất cả các mặt giáo dục toàn diện

Trang 38

1.2.2 Chương trình giáo dục mầm non

Chương trình giáo dục mầm non thực hiện theo Thông tư số: 17/2009/TT- BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo [5] và Thông tư số: 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào sửa đổi bổ sung một số nội dung của chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo [6] cụ thể như sau:

Mục tiêu giáo dục mầm non

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực

và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời

Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non và đánh giá sự phát triển của trẻ

Yêu cầu về nội dung

Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hoà nhập vào cuộc sống

Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học

Yêu cầu về phương pháp

Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi” Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ

Trang 39

tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ Kết hợp hài hoà giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cá nhân, chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp Tổ chức hợp lí các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của nhóm /lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế

Yêu cầu về đánh giá sự phát triển của trẻ

Đánh giá sự phát triển của trẻ (bao gồm đánh giá trẻ hằng ngày và đánh giá trẻ theo giai đoạn) nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch và kịp thời điều chỉnh kế hoạch giáo dục cho phù hợp với trẻ, với tình hình thực

tế ở địa phương Trong đánh giá phải có sự phối hợp nhiều phương pháp, hình thức đánh giá; coi trọng đánh giá sự tiến bộ của từng trẻ, đánh giá trẻ thường xuyên qua quan sát hoạt động hằng ngày [9, tr 3 – 4)]

Chương trình giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Mục tiêu giáo dục phát triển thể chất

Khoẻ mạnh, cân nặng và chiều cao phát triển bình thường theo lứa tuổi Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư thế

Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp nhàng, biết định hướng trong không gian

Có kĩ năng trong một số hoạt động cần sự khéo léo của đôi tay

Có một số hiểu biết về thực phẩm và ích lợi của việc ăn uống đối với sức khoẻ

Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khoẻ và đảm bảo sự

an toàn của bản thân [42, tr 5]

Giáo dục phát triển thể chất

Nội dung giáo dục phát triển thể chất bao gồm: phát triển vận động và giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe

Phát triển vận động

Tập động tác phát triển các nhóm cơ và hô hấp

Tập luyện các kĩ năng vận động cơ bản và phát triển các tố chất trong vận động Tập các cử động bàn tay, ngón tay và sử dụng một số đồ dùng, dụng cụ

Giáo dục dinh dưỡng và sức khoẻ

Trang 40

Nhận biết một số món ăn, thực phẩm thông thường và ích lợi của chúng đối với sức khỏe

Tập làm một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt Giữ gìn sức khoẻ và an toàn

1.2.3 Nội dung giáo dục thể chất cho trẻ mầm non

Nội dung giáo dục thể chất cho trẻ mầm non là một bộ phận kinh nghiệm của xã hội loài người, là bộ phận được chọn lọc trong nền văn hoá thể chất của dân tộc và của loài người Nội dung giáo dục thể chất cho trẻ mầm non quy định hệ thống những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và thói quen mà trẻ em cần nắm vững để đảm bảo sự phát triển thể lực – một mặt quan trọng của giáo dục toàn diện, đồng thời góp phần bảo tồn và phát triển nền văn hoá của loài người[ 57, tr 116 - 117]

Căn cứ vào mục tiêu giáo dục thể chất cho trẻ mầm non, đặc điểm phát triển tâm sinh lí và vận động của trẻ, người ta đã nghiên cứu và lựa chọn những nội dung giáo dục thể chất cho trẻ mầm non về các mặt rèn luyện thể chất và chăm sóc sức khoẻ cho các em

- Nội dung giáo dục thể chất cho trẻ mầm non bao gồm:

Trang bị cho trẻ những kiến thức sơ đẳng về vệ sinh, dinh dưỡng, phòng bệnh và rèn luyện thể dục như:

Vệ sinh cơ thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường, vệ sinh phòng bệnh;

Những kiến thức về thể dục như: các bài tập đội hình đội ngũ, bài tập phát triển chung, bài tập vận động cơ bản và trò chơi vận động

Lợi ích của việc ăn uống, giữ gìn vệ sinh và luyện tập thể dục đối với sức khoẻ của các em

- Giáo dục kĩ năng, kĩ xảo vận động và thói quen vệ sinh

Hình thành ở trẻ kĩ năng, kĩ xảo vận động thô và vận động tinh

Hình thànk ở trẻ các kĩ năng, kĩ xảo và thói quen vệ sinh cơ thể, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường và vệ sinh phòng bệnh

- Giáo dục thái độ đúng đối với việc rèn luyện thể chất và bảo vệ sức khoẻ:

Kích thích ở trẻ sự hứng thú luyện tập thể dục, có thái độ tích cực đối với việc hình thành thói quen văn hoá – vệ sinh

Nội dung giáo dục thể chất cho trẻ mầm non được thực hiện thông qua việc tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày và tổ chức hoạt động vận động cho trẻ ở trường mầm

Ngày đăng: 23/12/2021, 21:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kim Anh (2016), "Trò chơi với nước ở ngoài trời dành cho trẻ mầm non", Giáo dục Mầm non, 1, tr. 32-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi với nước ở ngoài trời dành cho trẻ mầm non
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2016
2. Đào Thanh Âm & Tập thể tác giả (1995), Giáo dục học Mầm non T.2, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Mầm non T.2
Tác giả: Đào Thanh Âm & Tập thể tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
4. Bộ Y tế - Viện Dinh dưỡng (2002), "Dinh dưỡng, sức khỏe và bệnh tật", "Nhu cầu dinh dưỡng", Dinh dưỡng lâm sàng, tr. 20 - 66, 373- 386 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng, sức khỏe và bệnh tật, Nhu cầu dinh dưỡng
Tác giả: Bộ Y tế - Viện Dinh dưỡng
Năm: 2002
7. Bộ GD và ĐT, Trung tâm nghiên cứu GDMN, Vụ GDMN (2004), “Hướng dẫn thực hiện đổi mới hình thưc tổ chức hoạt động giáo dục trẻ 3 - 6 tuổi”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện đổi mới hình thưc tổ chức hoạt động giáo dục trẻ 3 - 6 tuổi”
Tác giả: Bộ GD và ĐT, Trung tâm nghiên cứu GDMN, Vụ GDMN
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
8. Bộ GD và ĐT(2000), “Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục mầm non, Nxb Giáo dục”, Hà Nội, tr 167 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục mầm non", Nxb Giáo dục
Tác giả: Bộ GD và ĐT
Nhà XB: Nxb Giáo dục”
Năm: 2000
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), “Chương trình giáo dục mầm non” (dành cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non), Nxb Giáo dục Việt Nam, tr 3 – 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2018
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), “Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non năm học 2015 – 2016”, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non năm học 2015 – 2016”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), “Chương trình giáo dục Mầm non 2009 (sau sửa đổi, bổ sung)”, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục Mầm non 2009 (sau sửa đổi, bổ sung)”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2017
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm non
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), “Sinh lý học trẻ em” (tài liệu đào tạo giáo viên), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sinh lý học trẻ em” (tài liệu đào tạo giáo viên)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
16. Hoàng Thị Bưởi (2000), “Phương pháp giáo dục thể chất trẻ em”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp giáo dục thể chất trẻ em”
Tác giả: Hoàng Thị Bưởi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
18. Hàn Nguyệt Kim Chi và cộng sự (2005), “Nghiên cứu dọc đặc điểm tăng trưởng cơ thể và phát triển tâm lý của trẻ 37 - 72 tháng tuổi”, Đề tài cấp Bộ mã số B2001- 49 -19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dọc đặc điểm tăng trưởng cơ thể và phát triển tâm lý của trẻ 37 - 72 tháng tuổi”
Tác giả: Hàn Nguyệt Kim Chi và cộng sự
Năm: 2005
19. Nguyễn Thị Minh Chính (2018), Tình trạng dinh dưỡng và hiệu quả can thiệp gạo tăng cường sắt, kẽm ở trẻ em từ 36 đến 60 tháng tuổi tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình, Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và hiệu quả can thiệp gạo tăng cường sắt, kẽm ở trẻ em từ 36 đến 60 tháng tuổi tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Chính
Năm: 2018
20. Cao Thị Cúc (2017), Tập luyện kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi ở trường Mầm non, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập luyện kĩ năng hoạt động nhóm cho trẻ 5-6 tuổi ở trường Mầm non
Tác giả: Cao Thị Cúc
Năm: 2017
150. Dương Thuần (2012), Tên các dân tộc thiểu số và địa bàn cư trú, Báo điện tử, truy cập ngày 6/8/2014, http://www.trithucdantocthieuso.net/ Link
152. Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về vị trí, vai trò của TDTT http://www.upes1.edu.vn/Default.aspx?tabid=36&ctl=ViewItem&mid=365&id=1649 Link
153. Tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT http://www.tdtt.gov.vn/tabid/90/ArticleID/12333/Default.aspx Link
154. Chủ tịch Hồ Chí Minh Với TDTT http://www.tuyengiao.vn/Home/Hochiminh/86303/Chu-tich-Ho-Chi-Minh-voi-The-duc-The-thao Link
160. Who (2012). Physical Activity and Young People. Global Strategy on Diet. Physical Activity and Health. Availabale athttps://www.who.int/dietphysicalactivity/factsheet_young_people/en/,accessed 13 April 2017 Link
161. WHO (2018). Obesity and overweight. Available at http://www.who.int/en/news-room/fact-sheets/detail/obesity-andoverweight, accessed 16 February 2018 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w