Các tranh chấp này khi phát sinh sẽ rất rối rắm, khó giải quyết bởi giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung gắn liền với quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng nên có nhiều tình tiết khó làm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM.
Học phần: Luật Hôn nhân và gia đình Giảng viên: TS Bùi Minh Hồng
Mã học phần: CIL2004 1
Họ và tên sinh viên thực hiện: Đỗ Tiến Dũng
MSV: 18063027 Lớp: K63LKDA
Tháng 06/ 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 3
1.1 Khái niệm cơ bản 3
1.1 Khái niệm giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn 3
1.2 Khái niệm nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn 3
1.2 Vai trò của nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn 4
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 4
2.1 Nội dung nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn 4
2.1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận 4
2.1.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp chế độ tài sản theo quy định pháp luật 6
2.2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ 2014 9
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG CẢI THIỆN CÁC NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 10
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
1
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề chia tài sản khi vợ chồng ly hôn luôn là một vấn đề phức tạp, dễ nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp Các tranh chấp này khi phát sinh sẽ rất rối rắm, khó giải quyết bởi giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung gắn liền với quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng nên có nhiều tình tiết khó làm sáng tỏ bởi trong quá trình hôn nhân có những thỏa thuận, xác lập, định đoạt tài sản của vợ chồng mà chỉ họ mới biết được
Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành
đã có những quy định pháp lý để giải quyết những tranh chấp về chia tài sản của vơ chồng khi
ly hôn, tuy vậy, thực tiễn áp dụng cho thấy Luật HN&GĐ 2014 còn một số vướng mắc, bất cập gây khó khăn trong công tác áp dụng cũng như giải quyết vấn đề tài sản của vợ chồng khi
ly hôn Điều đó đòi hỏi phải có sự hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi các quy định của pháp luật HN&GĐ về vấn đề này để có thể đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn Việc nghiên cứu các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ giúp chúng ta thấy được các ưu điểm cũng như những mặt hạn chế tồn đọng để từ đấy đề ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật
2 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ, phân tích nội dung các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Từ đó chỉ ra những điểm còn hạn chế trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay cũng như trong thực tiễn áp dụng các nguyên tắc, đưa ra được phương hướng, giải pháp hoàn thiện các nguyên tắc, các quy định pháp luật
3 Đối phượng, phạm vi nghiên cứu
- Các văn bản pháp luật
- Các luận văn, luận án, tạp chí khoa học
4 Phương pháp nghiên cứu
- Tổng hợp, so sánh, phân tích
2
Trang 4CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG KHI LY HÔN
1.1 Khái niệm cơ bản
1.1 Khái niệm giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản phát sinh trong quá trình hôn nhân do công sức của một hoặc cả vợ lẫn chồng, tài sản được tặng cho, tài sản vợ chồng được thừa kế chung Vì tính sở hữu chung của cả vợ và chồng nên khi ly hôn, việc chia tài sản giữa hai người rất phức tạp, nhiều vấn đề phải xác định và giải quyết Nếu vợ chồng không thể tự thỏa thuận giải quyết thì phải đưa ra tòa án để giải quyết, Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án “1 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi
ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn 2 Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” 1
Từ đó, giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn có thể hiểu là giải quyết tranh chấp
về chia tài sản của vợ chồng, là hoạt động mang tính tổ chức, quyền lực của nhà nước, trong
đó hội đồng xét xử cần căn cứ vào những quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình, quy phạm pháp luật dân sự,… để giải quyết, đưa ra quyết định hoặc bản án một cách linh hoạt, xác định được quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản
1.2 Khái niệm nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Hoạt động giải quyết tài sản của vợ chồng phải được tuân theo những thủ tục, trình tự theo quy định của pháp luật Nguyên tắc giải quyết tài sản theo pháp luật hôn nhân và gia đình về cơ bản chính là những quy định pháp luật, việc áp dụng những nguyên tắc này là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó có sự can thiệp của Nhà nước nhằm áp dụng các quy định mang tính định hướng để phân định tài sản của vợ chồng
Vậy có thể hiểu, các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn là những những nguyên tắc chung nhất, những quy định cơ bản của pháp luật hôn nhân và gia đình,
1 Khoản 1, 2 điều 28 Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Luật Tố tụng
dân sự
3
Trang 5pháp luật khác có liên quan trong việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn Những nguyên tắc được đặt ra nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng và những chủ thể khác có liên quan
1.2 Vai trò của nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn được xác định là kim chỉ nam cho các hoạt động, các quy định khác trong luật hôn nhân và gia đình Các nguyên tắc là là căn cứ pháp lý để giải quyết việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và những chủ thể khác có liên quan Bởi khi giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn, toàn án phải xem xét đến những phần công nợ, nghĩa vụ của vợ chồng đối với bên thứ ba chứ không chỉ đơn thuần
là phân chia tài sản giữa hai vợ chồng
CHƯƠNG 2:
\NỘI DUNG NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY
HÔN THEO LUẬT HN&GĐ 2014
2.1 Nội dung nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
2.1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp chế
độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận.
So với Luật HN&GD 2000, Luật HN&GĐ 2014 đã thừa nhận thêm một chế độ tài sản mới, đó là chế độ tài sản thỏa thuận Chế độ tài sản thỏa thuận là tập hợp các quy tắc thỏa thuận, do chính vợ chồng tự xây dựng nên dựa trên cơ sở pháp luật nhằm điều chỉnh quan hệ
tài sản của vợ chồng, “Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa
thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn” 2
2 Điều 47 Luật HN&GD 2014
4
Trang 6Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận Tuy vậy, thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực và chế độ tài sản của vợ chồng sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký kết hôn Vì vậy, khi ly hôn mà có yêu cầu chia tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét, nếu có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa
án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng các quy định áp dụng theo luật định, những thỏa thuận có hiệu lực vẫn được tôn trọng và thực hiện.3
Chế độ tài sản theo thỏa thuận là một điểm rất tiến bộ và cởi mở của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam, cho phép các cặp vợ chồng được lựa chọn chế độ tài sản phù hợp với mình Đương nhiên những thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sản vẫn có thể bị vô hiệu nếu như không tuân thủ quy định của pháp luật, rơi vào những trường hợp cụ thể như: (1) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan, (2) Không tuân thủ các nguyên tắc về chế độ tài sản của Luật HN&GĐ (nguyên tắc chung, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, ), (3) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình4
Được hình thành giữa trên sự thỏa thuận giữa hai bên, pháp luật HN&GĐ quy định cụ thể về nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, đồng thời cũng cho phép vợ chồng được quyền sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận Nói là thỏa thuận, nhưng chế độ tài sản này cũng giống như một hợp đồng dân sự khi quy định thỏa thuận có hình thức là văn bản và được công chứng hoặc chứng thực Những quy định này được đặt ra nhằm ngăn chặn những mâu thuẫn giữa hai bên, đảm bảo tính trung thực trong thỏa thuận của hai bên bởi trong việc chia tài sản chung của vợ chồng còn liên quan đến những chủ thể khác, bên thứ ba, những quy định này sẽ là cơ sở quan trọng trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan đến chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
3 Nguyễn Xuân Bình - Lê Văn Anh, Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/nguyen-tac-chia-tai-san-chung-cua-vo-chong-khi-ly-hon , Truy cập 15/06/2021
4 Điều 50 Luật HN&GD 2014
5
Trang 72.1.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp chế
độ tài sản theo quy định pháp luật.
Chế độ tài sản theo luật định là nền tảng trong chế độ tài sản chung của vợ chồng Chế
độ tài sản của vợ chồng theo luật định được quy định của thể trong Luật HN&GĐ 2014 gồm các nội dung cơ bản sau
a) Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng
Quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng đều tôn trọng quyền tự định đoạt của các chủ thể hay nói các khác là tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng đối với tài sản chung khi ly hôn Trong quá trình giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung Tất nhiên thoả thuận này phải phù hợp với quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình Sự tự nguyện thỏa thuận, ý chí đồng thuận của các bên luôn được tôn trọng
dù trong bất kỳ trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận hoặc
theo luật định “Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải
quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4
và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.” 5
b) Nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Công bằng, bình đẳng chính là nguyên tắc cơ bản của pháp luật, vợ và chồng có quyền
và nghĩa vụ như nhau trong mọi mặt, “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ
ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan” 6
5 Khoản 1 điều 59 Luật HN&GĐ 2014
6 Điều 17 Luật HN&GĐ 2014
6
Trang 8Khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia đôi, bởi lẽ hình thức sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, được sử dụng để đảm bảo nhu cầu đời sống chung của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung là như nhau Thế nhưng không phải trường hợp nào, tài sản nào cũng được chia theo nguyên tắc đó, theo khoản 2 Điều 59 LUẬT HN&GĐ 2014 và khoản 4 Điều
7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP7 tài sản khi chia phải tính đến các yếu tố như: (1) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; (2) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; (3) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; (4) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng
Để nắm rõ các yếu tố trên, không chỉ đòi hỏi Thẩm phán phải nắm vững các quy định của pháp luật mà còn phải thu thập, kiểm tra kĩ mọi vấn đề liên quan tới tài sản: hoàn cảnh các bên, công sức đóng góp… Cũng như phải có sự hiểu biết đúng đắn, chính xác và đầy đủ
về các tiêu chí này nhằm phân chia tài sản được chính xác, tránh những sai sót, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên
c) Nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chi bằng hiện vật hoặc chia theo giá trị được hưởng
Thực tiễn cho thấy phân chia tài sản cho vợ chồng khi ly hôn bao giờ cũng phức tạp, nguyên tắc này sẽ giúp cho Toà án chủ động hơn trong khi phân chia nhằm mục đích: chia tài sản không làm mất giá trị sử dụng của tài sản đó Để thực hiện tốt nguyên tắc này, Toà án phải chú trọng trong việc ưu tiên chia bằng hiện vật tương ứng, chỉ khi nào không thể chia bằng hiện vật thì mới tiến hành chia cho một bên nhận hiện vật và bên này có nghĩa vụ trích chia tương ứng giá trị bên kia được nhận 8 Tuy nhiên khi không thể chia bằng hiện vật thì ai
sẽ được nhận tài sản là hiện vật và thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch không phải
là một vấn đề đơn giản Điều đó đặt ra một yêu cầu đối với Thẩm phán phải xem xét nhiều
7 Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ tư pháp (2016), Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành một số quy định của luật hôn nhân và gia đình
8 Nguyễn Xuân Bình - Lê Văn Anh, Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/nguyen-tac-chia-tai-san-chung-cua-vo-chong-khi-ly-hon , Truy cập 15/06/2021
7
Trang 9mặt, nhiều khía cạnh, đánh giá khách quan mới có thể đưa ra quyết định hợp lý, đảm bảo công bằng, tránh nảy sinh xung đốt, tranh chấp sau này
d) Nguyên tắc bảo đảm quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng
Trong quá trình giải quyết tài sản, tài sản chung của hai vợ chồng sẽ được chia theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận, nhưng đó chỉ là phần tài sản chung, tải sản riêng
của vợ chồng vẫn sẽ được giữ nguyên quyền sở hữu “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài
sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38,
39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng, …”9 Tài sản riêng của vợ chồng chỉ bị chia trong trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung, trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp
vợ chồng có thỏa thuận khác 10
e) Nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản
để tự nuôi mình
Nguyên tắc được đặt ra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em, ngăn chặn tàn dư của chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ, coi rẻ con cái Theo góc nhìn của pháp luật HN&GĐ Việt Nam, sau khi ly hôn, phụ nữ và trẻ em thường gặp nhiều khó khăn về cả vật chất lẫn tinh thần hơn, pháp luật đưa ra các quy định nhằm tạo điều kiện giúp nhóm đối tượng này mau ổn định cuộc sống hơn, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực Quy định này có ý nghĩa đặc biệt trong trường hợp vợ chồng ly hôn vì con cái mất năng lực hành vi dân sự, không đủ khả năng tự chăm sóc bản thân
9 Điều 43 Luật HN&GĐ 2014
10 Khoản 4 điều 59 Luật HN&GĐ 2014
8
Trang 10Tuy vậy, nguyên tắc này hiện nay có lẽ không còn phù hợp Khi mà nam nữ bình đẳng, quyền lợi của phụ nữ không còn bị hạn chế so với thời đại trước, họ cũng là những người có khả năng làm việc, lao động, thu nhập không kém đàn ông, vậy nên, nếu người vợ được bảo
vệ quyền và lợi ích hợp thì người chồng cũng phải được như vậy Có vậy mới đảm bảo công bằng giữa vợ và chồng
2.2 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ 2014
Qua từng năm, số vụ việc ly hôn ngày càng tăng, năm 2019 các vụ án hôn nhân và gia đình mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là 256.793 11 Sự tăng nhanh không chỉ về số lượng vụ án mà cả về độ phức tạp Qua nghiên cứu chung về việc giải quyết các vụ án về ly hôn, phần nào có thể nói chất lương xét xử tại Việt Nam ngày càng nâng cao, góp phần hạn chế vi phạm pháp luật về HN&GĐ, đảm bảo lợi ích của các chủ thể có liên quan Bên cạnh những mặt tích cực, việc áp dụng nguyên tắc giải quyết tài của vợ chồng khi
ly hôn theo Luật HN&GĐ 2014 còn một số điểm hạn chế Một số tòa án chưa áp dụng tốt các quy định về đánh giá công sức đóng góp, dẫn đến việc chia tài sản chung chưa đảm bảo công bằng cho các bên VD: Anh P và chị S là vợ chồng, năm 2011 anh chị vay mượn tiền để mua sắm máy móc, tài sản phục vụ công việc làm Sau đó nảy sinh mâu thuẫn, anh P bỏ nhà đi để một mình chị S nuổi con và làm ăn để trả nợ Sau này chị S phát đạt thì anh P quay về đòi ly hôn chia tài sản Bản án sở thẩm của TAND huyện Châu Thành và bản án phúc thẩm số 27/HNGĐ – PT ngày 28/09/2017 của TAND tỉnh Kiên Giang đã xử chia đôi toàn bộ tài sản chung của hai vợ chồng, mỗi người được hưởng 482.500.000 vnđ => Anh P không đóng góp
gì nhiều, lại bỏ bê vợ con nhưng vẫn được chia một khoản tiền rất lớn dựa trên công sức lao động, tích cóp của chị S
Trên thực tế, tất cả các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn đều có những trường hợp, vụ việc vi phạm, áp dụng chưa đúng quy định pháp luật Bởi việc áp dụng các nguyên tắc này phụ thuộc nhiều vào nhận thức, khả năng phân tích, vận dụng pháp luật
11 Tòa án nhân dân tối cao, Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2020 của các tòa án
9