1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận dẫn LUẬN NGÔN NGỮ nêu hiểu biết về các đơn vị chủ yếu của ngôn ngữ

20 64 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 459,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Tuy nhiên, đối tượng mà từ biểu thị lại không phải là một sự vật hay hiện tượng cụ thể, đơn lẻ nào của thực tế khách quan mà là một sự vật hay hiện tượng mang tính khái quát có thể đại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

KHOA NGOẠI NGỮ

Sinh viên: Vũ Đào Minh Hương Mã SV: 183122201078

Lớp: DHNNA2.K19

Học phần: Dẫn Luận Ngôn Ngữ

HẢI PHÒNG - 2021

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngôn ngữ là công cụ của tư duy Dẫn luận ngôn ngữ là một trong những môn học quan trọng nhất trong các môn thuộc khoa học nhân văn, là môn học nền tảng, có liên quan và chi phối nhiều môn học khác Nó cung cấp tri thức về ngôn ngữ, qua đó người học có điều kiện phát triển năng lực tư duy và có kỹ năng sử dụng ngôn ngữ tốt Dẫn luận ngôn ngữ không chỉ cần thiết cho mọi lĩnh vực mà nó còn ngày càng thể hiện vai trò và vị thế của một ngành khoa học chuyên sâu Các môn học thuộc chương trình Ngôn ngữ học không chỉ dành riêng cho học viên ngành Ngôn ngữ học, mà còn cần thiết cho tất cả các học viên các ngành khác ở mức độ khác nhau

Trang 3

BTL DẪN LUẬN NGÔN NGỮ

Câu 1: Nêu hiểu biết về các đơn vị chủ yếu của ngôn ngữ

Âm vị: là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có thể phân tácg được trong chuỗi ngữ

lưu, có chức năng cảm nhận và phân biệt nghĩa

Ví dụ: âm vị /b/ - /m/ 🡪 bàn – màn

Hình vị: là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, có chức năng cấu tạo và biến

đổi từ

Ví dụ: các từ ghép: nhà cửa, quần áo, xe cộ… đều được cấu tạo từ 2 hình vị.

Từ:

- Là đơn vị ngôn ngữ có nghĩa và có thể đứng độc lập để tạo câu

- Toàn bộ từ (và các đơn vị tương đương với từ) tạo nên hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ Hệ thống từ vựng lại bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn:

+ Xét về mặt cấu tạo: từ đơn, từ ghép, từ láy

+ Xét về đặc điểm ngữ pháp: thực từ (danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ),

hư từ (phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ )

+ Xét về ngữ nghĩa: đồng nghĩa, trái nghĩa, gần nghĩa…

Trang 4

+ Xét theo phạm vi và phong cách sử dụng: từ đa phong cách, từ chuyên phong cách…

Ví dụ:học, giảng, (to) study,(to) teach

 Câu:

- Là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có chức năng thực hiện hành động ngôn ngữ Khác với âm vị, hình vị và từ, câu là đơn vị không có sẵn của hệ thống ngôn ngữ mà được tạo ra trong từng hoạt động giao tiếp cụ thể Vì vậy, số lượng câu là vô hạn

- Tuy số lượng các câu là vô hạn nhưng chúng vẫn nằm trong những hệ thống nhất định

+ Xét theo cấu tạo ngữ pháp: câu đơn, câu ghép, câu phức

+ Xét theo mục đích nói: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm than

Ví dụ: Con mèo đang ngủ

Đoạn văn: Là đơn vị cơ sở cấu tạo nên văn bản, trực tiếp đứng trên câu,

diễn đạt một nội dung tương đối trọn vẹn- là một tiểu chủ đề trong chủ đề chung của toàn văn bản Xét về mặt hình thức, đoạn văn được đánh dấu bằng chỗ viết hoa lùi đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng

Trang 5

Văn bản: Là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, tồn tại ở

dạng viết, thường là tập hợp của một số câu Có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức, có tính liên kết và hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định

Câu 2: Chứng minh rằng ngôn ngữ không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội đặc biệt

 Ngôn ngữ không phải là một hiện tượng tự nhiên: Con người khác với các động vật khác là ở chỗ con người có ngôn ngữ Ngôn ngữ là một loại phương tiện mà con người dùng để giao tiếp với nhau Nó không phải là một hiện tượng của tự nhiên, cũng không phải là sự phản xạ có tính bản năng như phản xạ có điều kiện ở một số sinh vật Nó cũng không phải là một hiện tượng có tính cá nhân, tuy rằng ngôn ngữ có liên quan tới mỗi cá nhân con người, nhưng lại không lệ thuộc vào cá nhân con người Nó là sản phẩm của tập thể, nó tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Vì là sản phẩm của tập thể nên sự tồn tại và phát triển của nó có phụ thuộc vào sự tồn tại và phát tiển của cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ ấy

 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì:

- Khi đề cập tới một hiện tượng xã hội, người ta thường xem xét chúng trên

cơ sở của hai phạm trù của một cơ cấu xã hội: cơ sở hạ tầng và kiến trúc

Trang 6

thượng tầng Dĩ nhiên, không thể xếp ngôn ngữ vào cơ sở hạ tầng, bởi tự nó không là công cụ sản xuất mà cũng không là quan hệ sản xuất Nó chỉ là phương tiện mà con người dùng để giao tiếp với nhau Cũng không thể xếp ngôn ngữ vào thiết chế thuộc kiến trúc thượng tầng vì mọi thiết chế của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp luật, thể chế chính trị, tôn giáo đều dựa trên cơ sở của hạ tầng Cơ sở hạng tầng còn thì kiến trúc thượng tầng còn, cơ sở hạng tầng thay đổi thì kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo Khi một cơ sở hạ tầng hạ tầng bị phá vỡ kéo theo sự sụp đổ của kiến trúc thượng tầng, ngôn ngữ vẫn tồn tại, biến đổi liên tục nhưng không tạo ra một ngôn ngữ mới mà chỉ hoàn thiện cái đã có mà thôi, và là phương tiện giao tiếp chung của toàn xã hội

- Ngôn ngữ ra đời từ khi xã hội chưa có giai cấp, ngôn ngữ không có tính giai cấp Tất cả các giai cấp đều dùng chung một ngôn ngữ và nó phục vụ như nhau cho mọi giai cấp Ngôn ngữ liên hệ trực tiếp với sản xuất của con người và tất cả các hoạt động thuộc lĩnh vực khác của con người , trên tất cả mọi lĩnh vực công tác, từ sản xuất đến hạ tầng, từ hạ tầng đến thượng tầng Ngôn ngữ không tạo ra cái gì cả, chỉ tạo ra những lời nói thôi Trong khi đó công cụ sản xuất tạo ra của cải vật chất Ngôn ngữ làm phương tiện giao tiếp giữa mọi người, phục vụ xã hội, làm phương tiện trao dổi ý kiến trong xã

Trang 7

hội, làm phương tiện giúp con ngươif hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt động

Câu 3: Thế nào là từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa? Giải thích ý nghĩa của từ: suy nghĩ, tư duy.

 Từ đồng nghĩa: là những từ giống nhau về nghĩa nhưng khác nhau về âm thanh

Ví dụ: ăn, xơi, chén

Có thể chia từ đồng nghĩa thành 2 loại:

 Từ đồng nghĩa hoàn toàn (đồng nghĩa tuyệt đối): Là những từ có nghĩa hoàn toàn giống nhau, được dùng như nhau và có thể thay đổi cho nhau trong lời nói

Ví dụ : hổ, cọp, hùm; mẹ, má, u,

 Từ đồng nghĩa không hoàn toàn ( đồng nghĩa tương đối, đồng nghĩa khác sắc thái): Là các từ tuy cùng nghĩa nhưng vẫn khác nhau phần nào sắc thái biểu cảm ( biểu thị cảm xúc, thái độ) hoặc cách thức hành động Khi dùng những từ ngữ này, ta phải cân nhắc lựa chọn cho phù hợp

Ví dụ : mang, khiêng, vác, (biểu thị những cách thức hành động khác nhau)

Trang 8

 Từ trái nghĩa: Là những từ có nghĩa trái ngược nhau trong mối quan hệ tương liên Chúng khác nhau về ngữ âm và phản ánh những khái niệm tương phản về logic

Ví dụ : Lành >< rách

Cứng >< mềm

 Ý nghĩa của từ suy nghĩ, tư duy:

 Suy nghĩ: vận dụng sự hoạt động của trí óc để tìm hiểu , nhận biết và giải quyết vấn đề, từ một số phán đoán và ý nghĩ này đi đến những phán đoán và

ý nghĩ khác có chứa tri thức mới

 Tư duy: là sự phản ánh quá trình nhận thức ở trình độ cao một cách khái quát, tích cực, gián tiếp và sáng tạo về thế giới qua các khái niệm, suy lý và phán đoán Đặc điểm của tư duy là sự khái quát hóa, trừu tượng hóa để hình thành khái niệm, lý thuyết và hoạt động nhận thức sáng tạo Có thể nói, trừu tượng hóa và khái quát hóa luôn song hành với nhau

Câu 4: Trình bày hiểu biết về các thành phần ý nghĩa của từ Giải nghĩa từ chăm, giỏi.

 Các thành phần ý nghĩa của từ:

1 Nghĩa biểu vật:

Trang 9

Ý nghĩa biểu vật còn được gọi là ý nghĩa sự vật hoặc ý nghĩa sở chỉ Đây là

thành phần ý nghĩa liên quan đến chức năng biểu thị sự vật/hiện tượng của

từ Ý nghĩa này phản ánh bản thân các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan hoặc đặc trưng, tính chất… của chúng

 Tuy nhiên, đối tượng mà từ biểu thị lại không phải là một sự vật hay hiện tượng cụ thể, đơn lẻ nào của thực tế khách quan mà là một sự vật hay hiện tượng mang tính khái quát có thể đại diện cho các sự vật hay hiện tượng cùng loại Thật vậy, từ ‘bàn’ trong tiếng Việt được dùng để chỉ mọi cái bàn

có thể có trong thực tế khách quan, cho dù đó là bàn gỗ, bàn sắt, bàn vuông, bàn tròn, bàn ba chân, bàn bốn chân… Từ ‘bàn’ chỉ có thể có được khả

năng ấy, nếu nó không gắn với một cái bàn cụ thể nào cả Nói cách khác,

“cái bàn” mà từ ‘bàn’ trong tiếng Việt biểu thị là một cái bàn chung chung, một cái bàn đã được khái quát hoá để đưa vào ngôn ngữ Nhờ đó, trong hoạt động giao tiếp, từ ‘bàn’ sẽ ứng được với tất cả những cái bàn cụ thể, bằng cách gợi lên trong tâm lý người sử dụng ngôn ngữ hình ảnh của những cái bàn mà họ muốn nói tới

Do vậy, có thể nói: ý nghĩa biểu vật là hình ảnh chung nhất của tất cả các

sự vật, hiện tượng cùng loại mà từ có thể gọi tên hay gợi ra Hoặc cũng có

thể nói theo cách khác: Sự tương ứng giữa từ và sự vật hay hiện tượng là sự

Trang 10

tương ứng mang tính tổng loại (toàn loại) chứ không phải sự tương ứng theo kiểu một – một Điều này cũng đúng với cả những trường hợp mà ý nghĩa biểu vật của từ là một sự vật duy nhất thuộc loại, ví dụ như trường hợp các

từ mặt trời, mặt trăng hay thượng đế chẳng hạn, bởi lẽ ngay cả trong các

trường hợp này, từ cũng loại bỏ mọi biểu hiện riêng biệt của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, chỉ giữ lại những gì chung nhất, tức là những cái có tính chất tổng loại Ví dụ: từ ‘mặt trăng’ chỉ biểu thị một mặt trăng chung chung, mà trong thực tế có thể ứng với ‘trăng non’, ‘trăng rằm’,

‘trăng mùa hạ’, ‘trăng mùa thu’, v.v…

 Như vậy, ý nghĩa biểu vật của từ không phải là sự vật hay hiện tượng đúng như nó tồn tại trong thực tế khách quan mà là một sự vật, hiện tượng thuộc phạm trù ngôn ngữ, là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng của thực tế khách quan vào trong ngôn ngữ Cho nên, sự vật/hiện tượng do từ biểu thị được gọi

là ‘cái biểu vật’ (‘denotat’) Cái biểu vật chính là hình ảnh chung nhất về sự vật/ hiện tượng mà từ gợi ra và có thể khác nhau giữa các ngôn ngữ, thậm chí giữa các cá nhân, do đặc điểm hiện thực của mỗi dân tộc hay của mỗi người Ví dụ : Hình ảnh ‘cánh đồng’ trong tâm trí người Nga, người Pháp và người Việt không hoàn toàn giống nhau

2 Nghĩa biểu niệm:

Trang 11

 Đây là thành phần ý nghĩa liên quan đến chức năng biểu thị khái niệm của từ

 Khái niệm về sự vật/ hiện tượng được hình thành trong quá trình nhận thức của con người Đó là kết quả của quá trình tìm hiểu và khái quát hoá nhằm rút ra những thuộc tính quan trọng nhất của sự vật, hiện tượng – tức là những thuộc tính cần và đủ để có thể phân biệt sự vật/ hiện tượng này với sự vật/ hiện tượng khác Chẳng hạn, khi nhận thức những con gà trong thực tế khách quan, một đứa trẻ sẽ tìm hiểu tất cả các thuộc tính của từng con gà cụ thể, song dần dần, nó sẽ loại bỏ đi những thuộc tính không quan trọng của những con gà đó, ví dụ: màu lông, kích thước, kiểu mào…, để cuối cùng chỉ giữ lại những thuộc tính không thể thiếu được khi nói đến con gà, ví dụ như:

gà là ‘động vật nuôi’, ‘thuộc họ chim’, ‘sống trên cạn’, ‘nuôi để lấy thịt hoặc lấy trứng’… Tập hợp những thuộc tính quan trọng đó chính là ý niệm hay khái niệm về loài gà nói chung Sự liên hệ thường xuyên giữa khái niệm về loài gà với âm “gà” của tiếng Việt trong suốt quá trình nhận thức những con

gà sẽ giúp đứa trẻ sử dụng được từ gà mà không cần phải luôn luôn liên hệ

nó với những con gà trong thực tế khách quan nữa Đó cũng chính là lúc mà đứa trẻ hiểu được ý nghĩa của từ gà trong tiếng Việt và sử dụng nó để tiến hành giao tiếp và tư duy trừu tượng Ý nghĩa đó của từ “gà” gọi là ý nghĩa biểu niệm

Trang 12

Như vậy, có thể nói một cách khái quát: Ý nghĩa biểu niệm là nội dung khái niệm về sự vật, hiện tượng mà từ biểu thị.

 Tuy nhiên, mỗi dân tộc lại buộc phải biểu đạt những mảng thực tế khác nhau

và bị chi phối bởi những yếu tố lịch sử – văn hoá – xã hội khác nhau Điều

đó dẫn đến kết quả là các dân tộc nhìn nhận và chia cắt thực tế khách quan theo những cách thức khác nhau Cho nên, khi các ngôn ngữ gán vỏ âm thanh cho các khái niệm thì nội dung khái niệm về sự vật, hiện tượng được sắp xếp, tổ chức lại cho phù hợp với cách nhìn, cách chia cắt hiện thực khách quan của từng dân tộc Nói cách khác, giữa khái niệm mà con người

có được sau khi nhận thức sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan và khái niệm do từ của một ngôn ngữ cụ thể biểu thị có thể có chỗ không giống nhau Vì vậy, cần phải phân biệt ‘khái niệm của tư duy lôgích’ với khái niệm

do các từ biểu thị: nội dung khái niệm được các từ biểu thị gọi là ‘ý nghĩa biểu niệm’ của từ Như vậy, sự khác nhau cơ bản ở đây sẽ là: khái niệm của

tư duy lôgích mang tính toàn nhân loại còn ý nghĩa biểu niệm thì riêng cho từng ngôn ngữ Thực vậy, cây lúa và những sản phẩm của nó như thóc, gạo, cơm, v.v… đối với người châu Âu không phải là những sự vật gần gũi, gắn

bó với đời sồng hàng ngày của họ, do đó trong tiếng Nga hay tiếng Anh người ta chỉ dành một từ – từ rix/ rice – để chỉ chung tất cả các sự vật đó Ngược lại, người Việt chỉ có một từ bánh mì duy nhất để chỉ tất cả các loại

Trang 13

bánh mì mà người Nga thường phân biệt tỉ mỉ bằng các tên gọi riêng, ví dụ: khleb, bulka, but’erbrod, v.v… Do đó, ý nghĩa biểu niệm (và kéo theo nó là

ý nghĩa biểu vật) của từ rix trong tiếng Nga hay rice trong tiếng Anh không giống với ý nghĩa biểu niệm của từ ‘lúa’ trong tiếng Việt Tương tự như vậy,

ý nghĩa biểu niệm của từ bánh mì trong tiếng Việt sẽ không trùng với ý nghĩa biểu niệm của từ ‘khleb’ trong tiếng Nga Song, điều đó không có nghĩa là người Nga không phân biệt được cây lúa và những sản phẩm của

nó, hay người Việt không phân biệt được các loại bánh mì khác nhau Ở đây chỉ có sự « mù mờ » về mặt ngôn ngữ mà thôi, còn nếu xét về khả năng nhận thức thì mọi người trên thế giới, nói chung, đều giống nhau

 Tóm lại, ý nghĩa biểu niệm của từ là kết quả nhìn nhận và chia cắt hiện thực khách quan theo những cách thức khác nhau của mỗi dân tộc hoặc thậm chí của một địa phương Do đó ý nghĩa biểu niệm của các từ là hiện tượng thuộc ngôn ngữ chứ không phải hoặc không nhất thiết phải là hiện tượng thuộc hiện thực khách quan Cho nên, về nguyên tắc, ý nghĩa biểu niệm của từ có thể không trùng với khái niệm của tư duy lôgích Đây chính là lí do vì sao cùng một sự vật hay hiện tượng nhưng các ngôn ngữ lại quan niệm theo những cách thức khác nhau thông qua việc gọi tên Ví dụ: khái niệm “khăn mỏng hình vuông, thường được mang theo người để lau tay, lau miệng, chùi mũi, phủi quần áo…” được tiếng Việt quan niệm là ‘khăn tay’, trong khi

Trang 14

tiếng Nga là ‘noxovoi platok’ – dịch thẳng là ‘khăn mũi’, còn tiếng Đức là

‘Taschentuch’ – dịch thẳng là ‘vải túi’

 Đi sâu vào bản chất của ý nghĩa biểu niệm, người ta còn phân biệt được

những thành tố nhỏ hơn của nó – đó là cái ‘nét nghĩa’ hay ‘nghĩa vị’ ‘Nét

nghĩa’ chính là những thuộc tính được rút ra từ khái niệm và được giữ lại để

tổ chức nên ý nghĩa biểu niệm của từ Vấn đề là, các ngôn ngữ có thể giữ lại những thuộc tính khác nhau và/ hoặc có cách thức riêng để tổ chức các nét nghĩa thành ý nghĩa của từ Điều này khiến cho ý nghĩa biểu niệm của từ trong các ngôn ngữ thường khác nhau và do đó cũng khác với khái niệm tư duy lôgích.

 Thực vậy, từ ‘nước’ trong tiếng Việt chỉ bao gồm nét nghĩa ‘chất lỏng’, trong khi từ ‘water’ của tiếng Anh bao gồm các nét nghĩa:

Do vậy, ý nghĩa biểu niệm của từ ‘water’tiếng Anh gần với khái niệm tư duy lôgích hơn ý nghĩa biểu niệm của từ ‘nước’ tiếng Việt Điều đó dẫn đến những khác biệt về cách thức và khả năng gọi tên những sự vật liên quan:

Ngày đăng: 23/12/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w