Thuật ngữ "ngôn ngữ" có những nghĩa sau: - Tiếng nói của một dân tộc ngôn ngữ Việt Nam - Khái quát về lời nói của một cá nhân ngôn ngữ của nhân vật X trong vở kịch Y - Tiếng nói của l
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Các bạn sinh viên thân mến!
Chào mừng các bạn tham dự chương trình đào tạo Cử nhân biên dịch (B.A in Translation) - Chương trình
đào tạo qua mạng của CCE - Đại học Đà Nẵng nhằm nâng cao các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh trong cáchoạt động thương mại, biên soạn văn bản, dịch tài liệu Ngoài ra học viên còn được trang bị thêm những kiếnthức về ngôn ngữ học, về nền văn minh và văn hoá các dân tộc trên thế giới
Đây là môn học Dẫn luận ngôn ngữ do Th.s Nguyễn Thị Trúc biên soạn Môn học này cung cấp cho ngườingười học một số kiến thức cơ bản nhất của ngôn ngữ học cần thiết cho việc học tập và nghiên cứu các ngoạingữ đồng thời giúp người học làm quen với những tư tưởng cơ bản của ngôn ngữ học hiện đại
Môn học sẽ kéo dài trong 12 tuần với 12 bài học (units) Tất cả các bài học đều được truyền đạt dưới dạngcác file văn bản và hệ thống các câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá Để có thể nhận được bài học một cách tốtnhất, bạn cần sử dụng một máy tính với đường truyền có kết nối tốc độ cao
Để hoàn thành chứng chỉ môn học này, bạn cần tự vạch cho mình một lịch học tập cụ thể (ví dụ: truy cậpvào mạng và học vào những thời gian nhất định trong tuần) Kinh nghiệm của những học viên tham dự cáckhóa đào tạo qua mạng cho thấy nếu không tự vạch cho mình lịch học tập, bạn rất dễ bị "trôi", nghĩa là khôngtheo kịp lớp học Cần nhớ mỗi bài học chỉ tồn tại trên mạng trong năm tuần lễ Giảng viên hướng dẫn khoá học
sẽ nhắc khi bạn chưa nộp bài tập đúng hạn theo quy định
Trong quá trình học, bạn thường xuyên cần tận dụng các công cụ học trên mạng như Presentation (thường được thiết kế gắn với một bài tập nào đó), Chat Room (trao đổi với thầy giáo và bạn học trong lớp), Class Roster (danh sách các học viên của lớp), My Grades (bảng điểm cá nhân) vv Bạn cũng có thể đặt câu hỏi
hoặc nêu thắc mắc nhờ giảng viên giải đáp qua địa chỉ email: elearning@cce.com.vn Chúng tôi rất mong cácbạn tận dụng một ưu điểm của đào tạo qua mạng là tính giao tiếp hai chiều giữa giảng viên và học viên Tất cảnhững thắc mắc liên quan đến bài học của bạn sẽ được giảng viên nhanh chóng giải đáp!
Chúc các bạn thành công!
Trang 2
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC
Bài 1 NGÔN NGỮ HỌC
I ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA NGÔN NGỮ HỌC
1 Đối tượng của ngôn ngữ học
Trên thế giới hiện nay có khoảng trên 5000 ngôn ngữ Mỗi ngôn ngữ là tài liệu vô giá của một cộng đồng người nhất định
Nghiên cứu ngôn ngữ, tài sản vô giá của loài người là nhiệm vụ của các nhà ngôn ngữ học ngành khoa học nghiên cứu ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học
Đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học là ngôn ngữ của con người Thuật ngữ "ngôn ngữ" có những nghĩa sau:
- Tiếng nói của một dân tộc (ngôn ngữ Việt Nam)
- Khái quát về lời nói của một cá nhân (ngôn ngữ của nhân vật X trong vở kịch Y)
- Tiếng nói của loài người nói chung (con người có tư duy và ngôn ngữ)
Ngôn ngữ học nghiên cứu ngôn ngữ với cả ba nghĩa nói trên Trong ngôn ngữ học, người ta còn phân biệt ngôn ngữ và lời nói:
a Phân biệt ngôn ngữ và lời nói:
Trong giao tiếp ngôn ngữ, sở dĩ người nói và người nghe hiểu được nhau, nhận biết được nội dung thông
tin là bởi vì giữa họ có nhiều cái chung
Chẳng hạn ta nói một câu: " Bố đọc báo", người nghe có thể hiểu ngay được là vì giữa ta và họ đều hiểu nhưnhau về:
+ Các âm chung như âm /b/, âm /a/, âm /o/
+ Các từ và nghĩa chung: Nghĩa của từ "bố", từ "báo", từ "đọc"
+ Qui tắc chung sắp xếp các âm, các từ Các từ ở đây được sắp xếp theo mô hình chung: C- V- B.
Cái chung đó, trong ngôn ngữ học, được gọi là ngôn ngữ
Vậy, ngôn ngữ là một hệ thống những đơn vị (âm, từ, hình vị, câu ) và những qui tắc hoạt động của chúng, dùng làm phương tiện giao tiếp của con người, được phản ánh trong ý thức cộng đồng và trừu tượng hoá khỏi bất kỳ một tư tưởng, cảm xúc, ước muốn cụ thể nào.
Ví dụ trên "bố đọc báo" là một sản phẩm của sự nói năng, nó chứa đựng một nội dung nhất định, do một cá nhân nhất định nói ra, ta có thể quan sát được bằng thích giác(âm thanh) hoặc bằng tri giác (chữ viết) Đó là
b Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng trong triết học Mác -
Lênin:
- Ngôn ngữ học trong lời nói, là cốt lõi của lời nói, nhờ đó mọi người hiểu được lời nói của nhau.
Nếu không nắm được ngôn ngữ ta vẫn có thể nghe thấy lời nói của người khác nhưng không hiểu biết người
ta nói gì vì ta không biết phân tích chuỗi âm thanh ra từng phần, từng khúc đoạn và mối quan hệ giữa những khúc đoạn đó cũng như các qui luật vận dụng chúng Một đứa trẻ sơ sinh, trong nhưng tháng đầu tiên, tiếng nóicủa những người xung quanh nó chẳng khác gì những tiếng động khác
Lời nói là hình thức tồn tại của ngôn ngữ, là ngôn ngữ ở dạng hiện thực hoá, chứa những nội dung cụ thể Lời nói là ngữ liệu để tách ra những cái lặp lại, cái chung cho nhiều người, từ đó xác lập nên những yếu tố ngôn ngữ
- Ngôn ngữ là cái bất biến thể, có tính khái quát, tiềm tàng được tập thể lưu trữ dưới một dạng chung:
Trang 3Ngôn ngữ học có hai nhiệm vụ cơ bản:
a Miêu tả và phân tích các hiện tượng của ngôn ngữ:
- Miêu tả và làm lịch sử tất cả các ngôn ngữ, các dân tộc
- Tìm ra những qui luật tác động thường xuyên và phổ biến trong các ngôn ngữ, rút ra những qui luật khái quát có thể giải thích tất cả các hiện tượng cá biệt
b Can thiệp vào quá trình phát triển của ngôn ngữ nhằm làm cho ngôn ngữ phục vụ xã hội một cách tốt nhất:
- Đánh giá các hiện tượng ngôn ngữ, đấu tranh chống các hiện tượng ngôn ngữ tiêu cực
- Đoán trước chiều hướng phát triển của ngôn ngữ và hướng dẫn sự phát triển đó Các việc làm có tính can thiệp vào quá trình phát triển của ngôn ngữ như: Biên soạn từ điển, xây dựng hệ thống ngôn ngữ chuyên ngành, cải tiến văn tự, đặt chữ viết cho các dân tộc chưa có văn tự, sáng tạo chữ tốc ký, phiên dịch bằng máy
- Ngôn ngữ do con người tạo ra nhưng phát triển theo những qui luật riêng, không tuân theo ý muốn chủ quan của bất cứ cá nhân nào Thực hiên tốt nhiệm vụ này, con người sẽ tiến tới kiểm soát được tài sản vô cùng quí báu của mình là ngôn ngữ
II CÁC NGÀNH NGÔN NGỮ
Tuỳ theo nhiệm vụ cụ thể mà ngôn ngữ học chia ra các ngành, các bộ môn khác nhau
1 Ngôn ngữ học đại cương và ngôn ngữ học bộ phận
Ngôn ngữ học đại cương có nhiệm vụ phát hiện và miêu tả các qui luật chung nhất đối với nhiều ngôn ngữ trên thế giới, nghiên cứu bản chất, nguồn gốc của ngôn ngữ, nghiên cứu các đặc điểm của ngôn ngữ loài người
và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Ngôn ngữ học bộ phận nghiên cứu từng ngôn ngữ cụ thể (như tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp ), ngôn ngữ học bộ phận tìm hiểu sự khúc xạ khác nhau của các qui luật riêng của ngôn ngữ
2 Ngôn ngữ học đồng đại và ngôn ngữ học lịch đại.
Ngôn ngữ tồn tại trong thời gian và biến đổi theo thời gian, do đó chúng ta có thể nghiên cứu sự tồn tại của
nó trong một thời điểm hay sự biến đổi của nó qua các thời kỳ lịch sử Đó là ngôn ngữ học đồng đại và ngôn ngữ học lịch đại
Ngôn ngữ học đồng đại là sự miêu tả ngôn ngữ ở một thời điểm nào đó Ngôn ngữ học đồng đại thường được hiểu là miêu tả trạng thái ngôn ngữ hiện thời và phần lớn các công trình đồng đại thuộc nghóm này Ví du: "động từ Tiếng Việt" của Nguyên Kim Thản; "Phong cách học tiếng Việt"của Đinh Trọng Lạc là công trình nghiên cứu ngôn ngữ học đồng đại
Ngôn ngữ học lịch đại miêu tả ngôn ngữ trong sự phát triển lịch sử của nó, nghiên cứu sự thay đổi của ngônngữ qua thời gian
Ví dụ "Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt" của Nguyễn Tài Cẩn là công trình nghiên cứu ngôn ngữ học
III CÁC BỘ MÔN NGÔN NGỮ HỌC
Ngôn ngữ học có nhiều bộ môn khác nhau Sau đây là những bộ môn ngôn ngữ học tiêu biểu:
1 Ngữ âm học
a Âm thanh của ngôn ngữ học gọi là ngữ âm Ngữ âm là vỏ vật chất của ngôn ngữ, là hình thức tồn tại
của ngôn ngữ
b Ngữ âm học là khoa học nghiên cứu về âm thanh của ngôn ngữ loài người trong tất cả các hình thái
và chức năng của nó Bộ môn này còn nghiên cứu mối quan hệ giữa âm và chữ viết của ngôn ngữ.
Trang 4Ngữ âm có hai mặt tự nhiên(cấu âm, âm học) và xã hội, nên ngữ âm hoc có hai phân môn khác nhau tương ứng với hai mặt đó:
- Ngữ âm học nghĩa hẹp (ngữ âm học cục bộ) là phân môn nghiên cứu mặt tự nhiên của ngữ âm, tức là phântích, miêu tả các âm thanh của ngôn ngữ trên hai bìnhdiện:Vật lý học(âm học) và sinh lý học(cấu âm) Phân môn này áp dụng các phương pháp của khoa học tự nhiên để nghiên cứu đặc trưng âm học của âm thanh và phương cách cấu âm chúng, không cần biết chúng thuộc ngôn ngữ nhất định nào
- Âm vi học là phân môn nghiên cứu mặt xã hội của ngữ âm, tức là nghiên cứu sự sử dụng hay chức năng của ngữ âm trong từng ngôn ngữ cụ thể Phân môn này, với phương pháp và khái niệm riêng, sẽ cho ta biết trong một ngôn ngữ nhất định có những đơn vị ngữ âm gì và đặc điểm hoạt động của chúng
Ngữ âm học nghĩa hẹp và âm vị học không đối lập mà bổ sung cho nhau, gắn bó chặc chẽ với mhau vì chức năng xã hội của âm không thể tồn tại bên ngoài vỏ vật chất của nó.K.L.Pike đã nói :"Ngữ âm học thu thập các nguyên liệu về ngữ âm và âm vị học thì chế biến các nguyên liệu đó"
c Ký hiệu ngữ âm
Để nghi lại lời nói người ta dùng chữ viết nhưng có những cộng đồng dùng loại văn tự ghi hình hay ghi ý như loại chữ vuông của Trung Quốc, nên không ghi âm được chính xác Ngay cả văn tự ghi âm như chữ của người Anh, người Pháp, hay chữ "quốc ngữ"của người Việt, mối quan hệ giữa âm và chữ không nhất quán
trong mọi trường hợp (Xem bài 4) Ví dụ từ "gà " và từ "gì" tuy đều có chữ "g" nhưng chữ đó thể hiện hai âm
khác nhau Do đó cần có một bộ ký hiệu thống nhất dùng trong mọi trường hợp, để mọi người ghi lại những ngôn ngữ khác nhau Năm 1888, Hội ngữ âm học quốc tế đã đề nghị một bộ ký hiệu như thế, ta thường gọi là
hệ thống ký hiệu ngữ âm quốc tế Nó hoàn toàn tuân thủ nguyên tắc một đối một giữa âm và ký hiệu Ví dụ:
ba con chữ c, k, q trong Tiếng Việt chỉ ghi lại một âm, âm đó được ghi lại trong một ký hiệu ngữ âm quốc tế là [k]
2 Từ vựng học
Từ vựng là tập hợp từ và các đơn vị tương đương của ngôn ngữ
Từ vựng có hai loại đơn vị : Từ và ngữ cố định (đơn vị tương đương) trong đó, từ là đơn vị cơ bản Ngữ cố định cũng là đơn vị từ vựng nhưng ngữ do từ cấu tạo nên, muốn có ngữ trước hết phải có các từ
Từ vựng là bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu từ vựng của ngôn ngữ.
Từ vựng học có 5 nhiệm vụ chính:
- Nghiên cứu cấu tạo
- Nghiên cứu ý nghĩa của từ
- Nghiên cứu từng lớp từ về tổ chức cấu tạo và ý nghĩa, vai trò của chúng trong ngôn ngữ
- Nghiên cứu nguồn gốc của từ
- Nghiên cứu việc biên soạn từ điển (từ điển học)
3 Ngữ pháp học
Ngữ pháp học là một bộ phận của hệ thống ngôn ngữ Ngữ pháp là hệ thống các nguyên tắc về cấu tạo từ, biến hình từ, và các qui tắc cấu tạo câu, cấu tạo đơn vị trên câu của một ngôn ngữ.
Ngữ pháp học là bộ phận ngôn ngữ học nghiên cứu ngữ pháp của ngôn ngữ.
Theo truyền thống ngữ pháp học có hai bộ phận:
- Từ pháp học: Từ pháp học nghiên cứu các qui tắc cấu tạo từ, hình thái của từ và từ loại.
- Cú pháp học: Cú pháp học nghiên cứu các qui tắc kết hợp từ thành cụm từ và câu.Cú pháp học nghiên cứu
các kết cấu ngữ pháp, các quan hệ ngữ pháp và các phương tiện biểu hiện quan hệ ngữ pháp
Hiện nay những người nghiên cứu và học tập ngôn ngữ đã quen thuộc với thuuật ngữ "ngữ pháp văn bản" Ngữ pháp văn bản miêu tả, nghiên cứu hình thức, cấu trúc của các chỉnh thể trên câu, đoạn văn, văn bản
4 Ngữ nghĩa học: là bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu ý nghĩa của ngôn ngữ.
5 Ngữ dụng học: là bộ môn ngôn ngữ nghiên cứu ngôn ngữ trong sự sử dụng và giao tiếp.
6 Phong cách học: là bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu các phong cách ngôn ngữ khác nhau, các phong cách
cá nhân lẫn phong cách thể loại; nghiên cứu các thuộc tính biểu cảm và bình giá của các phương tiện ngôn ngữ
IV QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC KHÁC
Ngôn ngữ học quan hệ với rất nhiều khoa học khác nhau:
Trang 51 Tín hiệu học: Tín hiệu học là khoa học đại cương về các loại tín hiệu Là một hệ thông tín hiệu, ngôn ngữ
học phải vận dụng nhũng nguyên lý chung của tín hiệu học để xác lập các qui tắc riêng của mình
2 Lôgích học: Lôgích học là khoa học nghiên cứu các qui luật của tư duy và các hình thức của ý nghĩa Ngôn
ngữ và tư duy gắn bó chặc chẽ với nhau cho nên việc vận dụng những khái niệm lôgích học vào ngôn ngữ rất quan trọng
3 Tâm lý học: Một trong những nhiệm vụ của tâm lý học là miêu tả hành vi nói năng của con người như nhiên
cứu sự hình thành lời nói trẻ em, sự phát triển lời nói của học sinh Ngôn ngữ cũng nghiên cứu lời nói, nó phảichú ý tới các cứ liệu tâm lý học
4 Sinh lý học: Sinh lý học nghiên cứu hoạt động nói năng của con người Sinh lý học lời nói nghiên cứu quá
trình cấu tạo các âm của lời nói trong bộ máy phát âm và quá trình tri giác bằng tai
5 Y học: Trong y học nhiều bệnh liên quan đến ngôn ngữ như bệnh tâm thần, chứng mất ngôn,, bệnh câm -
điếc Tri thức ngôn ngữ sẽ giúp ích cho các bác sĩ trong việc chữa các bệnh có liên quan đến ngôn ngữ kể trên
6 Sử học: Cơ cấu và sự tiến hóa xã hội chi phối sự phát triển cảu ngôn ngữ Tài liệu lich sử là một trong
những bằng chứng để giải thích các hiện tượng ngôn ngữ Ngựơc lại các cứ liệu ngôn ngữ có thể làm sáng tỏ một phần các sự kiện lịch sử nào đó
7 Dân tộc học: Ngôn ngữ là một trong những đặc trưng cơ bản của dân tộc Nghiên cứu đời sống vật chất và
tinh thần của các dân tộc, dân tộc không thể không chú ý đến các tài liệu ngôn ngữ
8 Khảo cổ học: Khảo cổ học là khoa học nghiên cứu lịch sử quá khứ của xã hội loài người dựa theo các dư chỉ
văn hoá vật chất đã được phát hiện qua khai quật Cứ liệu khảo cổhọc giúp các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu các ngôn ngữ cổ (các từ ngữ), xác định khu vực hoạt động và di chuyển của các ngôn ngữ đó Các văn tự cổ có ghi rõ thời gian sẽ giúp khảo cổ học định niên đại các sự kiện một cách chính xác
9.Văn học: Ngôn ngữ là chất liệu của văn học nên ngôn ngữ gắn bó trực tiếp đến văn học Nhà văn là người sử
dụng một cách sáng tạo ngôn ngữ của dân tộc Nhà phê bình văn học phải có sự hiểu biết về ngôn ngữ học
10 Các khoa học tự nhiên: Nhà ngôn ngữ học cần biết những tri thức thuộc vật lý học(các thuộc tính âm học
như cao độ, cường độ, trường độ, âm sắc, cộng hưởng ) Các phương pháp toán học đã được vận dụng vào
ngôn ngữ như lý thuyết xác suất, lý thuyết thống kê, lý thuyết tập hợp và người ta xây dựng ngôn ngữ toán học Do ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu làm công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người nên nó liên quan chặt chẽ đến lý thuyêt thông tin và điều khiển học Nhờ các thành tựu của hai khoa học tự nhiên này mà
ngôn ngữ ứng dụng ra đời
V VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÔN NGỮ
Ngôn ngữ học có từ rất lâu, chậm nhất vào cuối thế kỷ thứ IV trước công nguyên Những tài liệu ngôn ngữ học tìm thấy ở Ấn Độ, Trung Quốc, Hi lạp và Ả rập
Những thành tựu của ngôn ngữ học cổ đại không được phát huy trong thời kỳ trung đại vì hệ giáo lý và triết học kinh viện đè nặng lên khoa học Suốt thời kỳ trung thế kỷ, ngôn ngữ học không tiến lên được bao nhiêu Tới thời kỳ Phục Hưng mới dần dần phục hưng lại
Do sự sự phát triển của hàng hải và thương mại, những phát minh về địa lý và việc xâm chiếm thuộc địa, việc truyền bá đạo Cơ đốc, việc phát minh ra máy in , người châu âu làm quen với nhiều ngôn ngữ mới ở châu á, châu Phi, châu Mỹ Ngôn ngữ học bắt buộc phải vược ra ngoài sơ đồ pháp ngữ la tinh.Các nhà bác học hướng vào những nhiệm vụ thực tiễn: Biên soạn từ điển và các cuốn ngữ pháp của nhiều ngôn ngữ, đặt cơ sở cho sự ra đời của ngôn ngữ học so sánh - lich sử
Đầu thế kỷ XIX, sự ra đời của phương pháp so sánh - lịch sử lá cái mốc lớn trên con đường phát triển của ngôn ngữ học Các nhà ngôn ngữ học đặt nền móng cho phương pháp này là: Phranxơ-Bốp, Ranmunxơ Raxca, Iacôp Grim, Alexandrơ Vantôcôp Ngôn ngữ học so sánh - lịch sử coi ngôn ngữ là bằng chứng của lịch sử dântộc, thừa nhận sự biến đổi của ngôn ngữ trong thời gian Các nhà ngôn ngữ học so sánh - lịch sử xác lập được các họ ngôn ngữ, nghiên cứu ngôn ngữ ngược đến tận quá khứ xa xôi mà người ta giả thiết có một ngôn ngữ cơ
sở Trong ngôn ngữ học so sánh - lịch sử sự xuất hiện một số trường phái ngôn ngữ như: Trường phái tự nhiên,trường phái tâm lý, trường phái logich ngữ pháp, trường phái ngữ pháp hình thức
Sau ngôn ngữ so sánh - lịch sử là huynh hướng ngữ pháp trẻ vào những năm 70 của thế kỷ 19 Các nhà ngônngữ trẻ chú ý tới các sự kiện của hoạt động lời nói cá nhân và các tiếng địa phương Họ nghiên cứu các sự kiện ngôn ngữ một cách rời rạc, riêng lẻ Đồng thời với phái ngữ pháp trẻ, ở Nga có hai trường phái ngôn ngữ
Trang 6đặc sắc: Trường phái Cadan do Giáo sư Boduen dơ Cuôctơne đứng đầu và trường phái Matxcova của viện sĩ P.P Phoetunatôp
Đầu thế kỷ XX, xuất hiện huynh hướng xã hội học trong ngôn ngữ mà những người đứng đầu là F.de
Saussure, Angtoan Mâyê, Giôdep Vanderiet Huynh hướng này coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, thừa nhận sự tác động của xã hội đối với sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ, coi trọng việc nghiên cứu sinh ngữ
và các tiếng địa phương
Học thuyết của F.de Saussure trong cuốn "Giáo trình ngôn ngữ học đại cương" là xuất phát điểm của huyng hướng mạnh nhất trong ngôn ngữ đầu thế kỷ XX: Chủ nghĩa cấu trúc Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa cấu trúc
là coi ngôn ngữ là một kết cấu, một thể toàn vẹn, chặt chẽ của các yếu tố khách quan Nhiệm vụ hàng đầu của ngôn ngữ học cấu trúc là nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ Ngôn ngữ học cấu trúc phân biệt rạch ròi "ngôn ngữ" và " lời nói", "đồng đại" và" lịch đại" Nhiều phương pháp mới trong nghiên cứu ngônngữ đã được áp dụng: Phép đối lập, phép phân bố, phép chuyển hoá, phép phân tích thành tố trực tiếp , phép thay thế
Hiện nay ngôn ngữ học lại xuất hiện các huynh hướng mới, đó là:
- Nhân chủng - ngôn ngữ học coi ngôn ngữ là bộ phận quan trọng trong sinh hoạt văn hoá và tinh thần dân tộc, có tác động rõ rệt đến thế giới quan và tư cách con người Nhân chủng- ngôn ngữ học đặc ra vấn đề nghiên
cứ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tâm lý, giữa ngôn ngữ và văn hoá, ngôn ngữ và lịch sử dân tộc
- Tâm lý - ngôn ngữ học là khoa học về các qui luật tâm lý và ngôn ngữ của việc tạo thành lời nói từ những yếu tố ngôn ngữ và của việc hiểu kết cấu ngôn ngữ trong lời nói, tức là hiểu các yếu tố cấu tạo thành lời nói
Có thể xêm tâm lý - ngôn ngữ học là khoa học nằm ở ranh giới giữa ngôn ngữ học tâm lý và lý thuyết thông tin
- Ngôn ngữ học khu vực chú ý tới vai trò của các điều kiện không gian, địa lý trong lịch sử các ngôn ngữ vàtrong việc nghiên cứu ngôn ngữ Nó nghiên cứu sự phân bố các sự kiện ngôn ngữ giống nhau, cách vạch đường đồng tuyến Ngôn ngữ học khu vực gắn liền với tên tuổi của Gilerôn, M.Bactôlơ, và G Bôngphăngtê Các nhà bác học thuộc huynh hướng này đặc biệt chú ý tới các quá trình ảnh hưởng qua lại phức tạp của các ngôn ngữ được sử dụng đồng thời ở một địa phương
Trang 7Bài 2 NGÔN NGỮ LÀ HỆ THỐNG KÍ HIỆU ĐẶC BIỆT
I BẢN CHẤT TÍN HIỆU CỦA NGÔN NGỮ
1 Khái niệm tín hiệu
a Tín hiệu là gì ?
Tín hiệu là một đối tượng vật chất kích thích vào giác quan của con người, từ đó người ta nhận thức được một đối tượng khác
Ví dụ: Đèn đỏ trong bảng đèn tín hiệu giao thông đường bộ khi sáng lên, con người nhìn thấy nó và nhận
thức được một nội dung: “dừng lại” Đó là một tín hiệu
Tín hiệu trên gồm:
- Một đối tượng vật chất tác động vào thị giác: Màu đỏ của ánh sáng đèn
- Một đối tượng khác con người suy diễn ra khi nhìn thấy ánh sáng đỏ của đèn: Dừng lại
Đối tượng vật chất của tín hiệu (màu đỏ ánh sáng đèn) được F de Saussure gọi là cái biểu hiện
Đối tượng được thay thế (nội dung: dừng lại) là cái được biểu hiện
Vậy tín hiệu là một thể thống nhất hai mặt: cái biểu hiện và cái được biểu hiện được F de Saussure vẽ thành
sơ dồ sau:
b Điều kiện của tín hiệu:
- Tín hiệu phải có tính vật chất, được cảm nhận qua giác quan của con người
Ví dụ: màu đỏ ánh sáng của tín hiệu đèn giao thông tác động vào thị giác; âm thanh của tiếng chuông báo giờ tác động vào thính giác; chữ nổi dành cho người mù tác động vào xúc giác v.v
- Tín hiệu phải có nội dung tức là phải gợi lên một vật hay một điều gì đó không phải là chính nó.
Ví dụ: đèn đỏ trong hệ thống đèn giao thông có nội dung: “dừng lại” Đó là một tín hiệu Ngược lại màu đỏ
của một chiếc áo hay của một chiếc phích không phải là tín hiệu vì nó không gợi lên, không thay thế cho một nội dung, một vật nào cả Trong nhận thức của con người chiếc áo đỏ vẫn là chiếc áo đỏ, chiếc phích đỏ cũng chỉ là chiếc phích đỏ Chúng không có nội dung nên không thể là tín hiệu
- Tín hiệu phải có chủ thể lý giải:
Mỗi tín hiệu phải có ít nhất người nhận hay người phát tín hiệu giải thích được
Ví dụ: Trong một phòng ký túc xá, có mặt nhiều người Bỗng ngoài hành lang vang lên tiếng bước chân Đốivới tất cả mọi người, đó không phải là tín hiệu, riêng cô A, đó là tín hiệu vì cô nhận ra tiếng bước chân đó là của X Đây là một loại tín hiệu tự nhiên
- Tín hiệu phải có tính hệ thống:
+ Một tín hiệu thường nằm trong một hệ thống tín hiệu nhất định để xác định tư cách tín hiệu của mình
Ví dụ: Đèn đỏ là một tín hiệu khi nó nằm trong hệ thống đèn hiệu giao thông Nhưng nếu ta đưa chính nó
vào chùm đèn trang trí sân vườn thì nó không phải là tín hiệu nữa Sở dĩ như thế vì chỉ có nằm trong hện thống tín hiệu đèn giao thông nó mới có tư cách tín hiệu, được xác định cùng với đèn xanh, đèn vàng nhờ sự đối lập qui ước giữa chúng với nhau
Trang 8
+ Nhưng một tín hiệu duy nhất cũng có tính hệ thống vì nó đối lập với những gì không phải là nó
Ví dụ: Ngày xưa, để báo tin giặc ngoại xâm đến, người ta thường đốt lửa trên các đỉnh núi cao đã qui ước
sẵn Ở kinh đô nhìn thấy khói sẽ biết có giặc ngoại xâm Đó là một tín hiệu riêng lẻ, duy nhất
Khói Đối lập với Không khói
Có giặc Không có giặc
2 Bản chất tín hiệu của ngôn ngữ
a Tín hiệu ngôn ngữ là hình vị và từ
Hình vị và từ được coi là tín hiệu vì chúng là một thể thống nhất hai mặt: âm thanh (cái biểu hiện) và ý nghĩa (cái được biểu hiện)
Ví dụ 1: từ “xe” là một tín hiệu, trong đó:
- cái biểu hiện: âm “xe”
- cái được biểu hiện: nghĩa: phương tiện đi lại, chuyên chở
b Các đặc điểm bản chất của tín hiệu ngôn ngữ:
(1) Tính võ đoán (tính không lí do)
Cái biểu hiện của tín hiệu không có quan hệ bản chất với cái được biểu hiện Điều này có nghĩa là chúng ta không tìm được lý do để giải thích vì sao âm này lại mang ý nghĩa này mà không mang nghĩa kia Con người lấy một âm bất kỳ gắn với một nghĩa bất kỳ nên giữa âm và nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ không có mối ràng buộc bên trong nào
Trong ví dụ vừa nêu, bản thân âm “xe” không hề có mối liên hệ bên trong với nghĩa mà nó biểu thị Ngược lại nghĩa “phương tiện đi lại, chuyên chở” không có sức mạnh qui định, chi phối âm “xe”, không hề tự mình qui định tên gọi cho mình
Dùng âm này hay âm kia để biểu thị nghĩa này hay nghĩa khác tất cả đều do qui ước, do thói quen của tập thể cộng đồng bản ngữ
Do có tính võ đoán trong các ngôn ngữ nên cùng một ý nghĩa, một khái niệm mỗi ngôn ngữ lại gán cho nó một âm khác nhau, và trong mỗi ngôn ngữ đều có hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa
Tuy nhiên trong vốn từ của mỗi ngôn ngữ, có một số ít từ có tính nửa võ đoán Đó là các từ tượng thanh Mối quan hệ giữa âm và ý của chúng là mối quan hệ có lý do Chẳng hạn, trong từ tượng thanh, âm thanh của
từ đã nhại lại các âm thanh của các vật thể trong cuộc sống Như vậy âm thanh của vật thể đã qui định âm thanh của từ Nhưng sự qui định này ở mỗi ngôn ngữ lại có sự khác nhau nên các từ tượng thanh có tính nửa võđoán
Ví dụ: để nhại lại tiếng gà gáy, tiếng Việt có từ cúc cù cu nhưng tiếng Nga nhại lại bằng từ ky - ka - pe -
ky
(2)Tính hình tuyến
Cái biểu hiện của các tín hiệu ngôn ngữ lần lượt xuất hiện nối tiếp nhau làm thành một chuỗi, một tuyến theo bề rộng một chiều của thời gian Người ta không thể “nói ra” hai yếu tố ngôn ngữ cùng một lúc Chúng phải được phát âm nối tiếp theo nhau trong ngữ lưu, hết yếu tố này đến yếu tố kia
Khi phát ra câu nói “ Tôi đi học” ta phải phát âm lần lượt: trước hết ta phát âm tín hiệu “tôi”, rồi đến tín hiệu
“đi” và cuối cùng là tín hiệu “học” Dù cố gắng đến bao nhiêu, ta cũng không thể phát ra hai tín hiệu cùng một lúc
Tính hình tuyến được coi là một nguyên lý cơ bản của ngôn ngữ, chi phối cơ chế hoạt động của ngôn ngữ
Nó dẫn đến rất nhiều hệ quả, trong đó có một trong những hệ quả quan trọng nhất là quan hệ ngữ đoạn giữa các đơn vị ngôn ngữ
Trang 9(3) Tính phân tiết và tính kết hợp
Khác với nhiều loại tín hiệu khác, tín hiệu ngôn ngữ vừa có tính phân tiết vừa có tính kết hợp:
+Tính phân tiết: Mỗi tín hiệu ngôn ngữ có thể tách ra thành những yếu tố nhỏ hơn:
Ví dụ: từ “học” có thể tách thành các âm “h”, “o” và “c”
+ Tính kết hợp: Các tín hiệu ngôn ngữ có thể kết hợp lại để tạo thành một đơn vị lớn hơn:
Ví dụ: tín hiệu “học” có thể kết hợp với những tín hiệu khác như “tôi”, “bài” tạo thành câu: Tôi học bài.
Do có tính phân tiết và tính kết hợp nên ngôn ngữ có tính sản sinh rất lớn: từ một số yếu tố gốc ít ỏi nào đó,
ta có thể tạo ra vô số các tổ hợp phức hợp dài bao nhiêu cũng được
Ví dụ: Trong tiếng Việt có 46 âm và 6 thanh điệu Từ những đơn vị đó ta có thể tạo ra hàng triệu trang văn
Một hệ thống phải thỏa mãn hai điều kiện:
- Tập hợp các yếu tố Số lượng các yếu tố phải³ 2
- Mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó
Trong thực tế, ta thường gặp những tập hợp ngẫu nhiên các yếu tố
Ví dụ: một đống củi, một rổ khoai, một bao gạo Các tập hợp yếu tố trên không thể trở thành hệ thống vì
giữa các thanh củi, các củ khoai, các hạt gạo không có mối quan hệ tất yếu nào
b Cấu trúc (kết cấu) là tổng thể các mối quan hệ và liên hệ trong hệ thống.
Cấu trúc là một bộ phận của hệ thống Nó nằm trong hệ thống Mỗi hệ thống có một cấu trúc riêng Tuy nhiên khi ta nói cấu trúc là một mạng lưới các mối quan hệ và liên hệ, ta đã trừu tượng hóa các yếu tố Sự trừu tượng hóa các yếu tố có tính chất lâm thời Thực tế, khi xem xét miêu tả cấu trúc, ta thường vẫn phải tính đến các yếu tố
c Giá trị của yếu tố trong hệ thống
Trong hệ thống, mối quan hệ và liên hệ giữa các yếu tố sẽ tạo cho mỗi yếu tố những thuộc tính, những phẩmchất riêng F.d Saussure gọi chúng là “giá trị” Giá trị của yếu tố sẽ mất đi nếu tách yếu tố ra khỏi các quan hệ của nó, tách yếu tố ra khỏi hệ thống.“Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng đều do những yếu tố xung quanh qui định” (F.d Saussure)
Ví dụ: Nếu bộ cờ tướng mất đi một quân cờ, quân xe chẳng hạn, ta có thể lấy một viên sỏi thay vào vị trí của
quân xe Lúc này viên sỏi có giá trị của một quân xe vì nó nằm trong hệ thống các quân cờ, mang các mối quan
hệ với các quân cờ khác như: tốt, pháo, mã, tướng, sĩ, tượng Nếu ta tách viên sỏi ra khỏi bàn cờ, viên sỏi không còn là quân xe nữa, nó chỉ là một viên sỏi mà thôi
Nguyên lý giá trị trên đúng cho tất cả các đơn vị ngôn ngữ, các hiện tượng ngôn ngữ
Ví dụ: Ta có một đơn vị “u” Vậy “u” có giá trị gì là tùy thuộc vào mối quan hệ giữa u với các đơn vị trong
hệ thống:
- U là một âm trong câu “Nó đi tu” vì u quan hệ với âm “t”
- U là một từ trong câu “U đã về!” vì u quan hệ với các từ “đã”, “về”
- U là một hình vị nếu ta đặt nó quan hệ với “ám” trong từ “u ám” v.v
Trang 10Qua ví dụ trên ta có thể thấy một thực thể nếu tham gia vào nhiều hệ thống sẽ có những giá trị khác nhau.
2 Ngôn ngữ là một hệ thống
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp vì nó có nhiều loại đơn vị và nhiều kiểu quan hệ giữa những đơn vị đó
a Các loại đơn vị chủ yếu của ngôn ngữ
- Âm vị: Âm vị là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ Ví du: các âm /b/ , /t / , /v /
- Hình vị: là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa Ví dụ: từ “phụ huynh” có hai hình vị: hình vị “phụ” và hình
vị “huynh”
- Từ: là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất độc lập về nghĩa và hình thức
Ví dụ: các từ “đi” , “”tủ” , “ghế” , “xa”
- Câu: là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có chức năng thông báo.
b.Những kiểu quan hệ chủ yếu của ngôn ngữ:
(1) Quan hệ ngang:
- Quan hệ ngang còn được gọi là quan hệ tuyến tính, quan hệ hình tuyến, quan hệ ngữ đoạn Đó là quan hệ kết hợp các đơn vị ngôn ngữ thành chuỗi khi ngôn ngữ đi vào hoạt động Cơ sở của quan hệ này chính là tính hình tuyến của ngôn ngữ Tính chất này bắt buộc các đơn vị ngôn ngữ lần lượt nối tiếp nhau trong dòng ngữ
âm, tạo ra các ngữ đoạn, các câu
Ví dụ:
- Áo xanh
- Áo xanh này còn mới
- Nhân dân ta rất anh hùng
Trong ví dụ cuối ta thấy các đơn vị “nhân dân”, “ta”, “rất”, “anh hùng” kết hợp lại theo dòng ngữ âm, tạo thành câu Ta nói chúng có quan hệ ngang
(2) Quan hệ dọc
- Quan hệ dọc còn gọi là quan hệ liên tưởng Đó là quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ có thể xuất hiện ở cùng một vị trí trong chuỗi lời nói và có thể thay thế cho nhau ở vị trí đó Chẳng hạn vị trí của từ “nhân dân” trong chuỗi tuyến tính “Nhân dân ta rất anh hùng” có thể thay thế bằng các từ “quân đội”, “phụ nữ”, “thanh niên” Các từ “nhân dân”, “quân đội”, “phụ nữ”, “thanh niên” nằm trong quan hệ dọc với nhau
- Quan hệ ngang là quan hệ hiện diện: khi nói năng, các yếu tố nằm ngang trong quan hệ này lần lượt xuất hiện Ngược lại, quan hệ dọc là quan hệ phiến diện: khi nói năng, chỉ có một yếu tố xuất hiện, những yếu tố còn lại khiếm diện, tồn tại tiềm tàng trong trí nhớ, ta có thể liên tưởng được
(3) Quan hệ cấp bậc
- Quan hệ cấp bậc là quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ khác cấp độ
Cấp độ là hệ thống con nằm trong một hệ thống lớn hơn Các đơn vị cùng cấp độ có cùng tên gọi, đồng nhất
về cấu trúc, chức năng và khác biệt với các đơn vị thuộc cấp độ khác trên những phương diện đó
Với cách hiểu về cấp độ như trên, ta có các cấp độ ngôn ngữ sau: âm vị, hình vị, từ, câu Các đơn vị của các cấp độ trên có quan hệ tôn ti, tức là các đơn vị bậc thấp “nằm trong” các đơn vị bậc cao và các đơn vị bậc cao “bao gồm” các đơn vị bậc thấp
Ví dụ: Câu bao gồm các từ, từ bao gồm các hình vị, hình vị bao gồm các âm vị Ngược lại, âm vị nằm trong
hình vị, hình vị nằm trong từ, từ nằm trong câu
Trang 11- Mối quan hệ giữa một âm vị và một hình vị, một hình vị với một từ, một từ với một câu là mối quan hệ cấp bậc.
Ví dụ: Câu “Tôi học bài.” có quan hệ cấp bậc với từ “học”, từ “học” có mối quan hệ cấp bậc với âm “h”.
- Nếu quan hệ ngang và quan hệ dọc luôn đi đôi với nhau thì ngược lại quan hệ cấp bậc và quan hệ ngang dọc luôn loại trừ lẫn nhau Điều đó có nghĩa là hai đơn vị có quan hệ ngang hay dọc sẽ không bao giờ có quan
hệ cấp bậc và ngược lại
III NGÔN NGỮ LÀ HỆ THỐNG TÍN HIỆU ĐẶC BIỆT
Tính đặc biệt của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ở các điểm sau:
1 Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu phức tạp
Tính phức tạp của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ được thể hiện bằng hai điểm sau:
- Mỗi ngôn ngữ là một hệ thống gồm nhiều cấp độ, nhiều yếu tố đồng loại và không đồng loại với số lượng không xác định
- Ngôn ngữ biểu đạt thông báo bằng cách kết hợp nhiều tín hiệu với nhau Ngược lại, trong các hệ thống tín hiệu khác, mỗi tín hiệu có thể biểu đạt một thông báo nguyên vẹn
2 Tín hiệu ngôn ngữ có tính đa trị
Trong các hệ thống tín hiệu khác, mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện có tính đơn trị, tức làmỗi cái biểu hiện chỉ tương ứng với một cái được biểu hiện Ngược lại, trong tín hiệu ngôn ngữ không luôn luôn có sự tương ứng một - một giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện: Một âm có thể ứng với nhiều nghĩa (các từ đa nghĩa, đồng âm) hoặc một nghĩa có thể ứng với nhiều âm (các từ đồng nghĩa)
Ví dụ: ta có một âm “đỏ” có thể ứng với 3 nghĩa: Đỏ:
- Có màu như màu của máu tươi
- May mắn
- Cách mạng
3 Tín hiệu ngôn ngữ có màu sắc tu từ - diễn cảm
Tín hiệu ngôn ngữ do cơ thể con người phát ra nên ngoài biểu hiện khái niệm còn biểu hiện thái độ, tình cảm
của con người Ngược lại, các tín hiệu nhân tạo khác được phát ra từ những vật liệu bên ngoài con người nên chỉ có thể biểu thị thông báo, không biểu thị các sắc thái tình cảm của con người
4 Hệ thống tín hiệu ngôn ngữ có tính độc lập tương đối, có giá trị đồng đại và lịch đại.
Ngôn ngữ phát triển theo qui luật riêng, không lệ thuộc vào ý muốn của con người Ngược lại, các hệ thống tín hiệu nhân tạo khác được tạo ra theo sự thỏa thuận của một số người, do đó có thể thay đổi theo ý muốn của con người theo từng giai đoạn lịch sử
Ngôn ngữ lại là sản phẩm của quá khứ để lại nên vừa có giá trị đồng đại vừa có giá trị lịch đại Ngược lại các hệ thống tín hiệu nhân tạo khác chỉ có giá trị đồng đại, tức là được sáng tạo ra để phục vụ nhu cầu của con người trong một giai đoạn nhất định
5 Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu tổng hợp
Nó phục vụ cho con người trong mọi lĩnh vực đời sống, trong mọi lĩnh vực hoạt động vì nó có khả năng biểuhiện bất cứ nội dung nào.Ngược lại các tín hiệu nhân tạo khác không có khả năng đó vì chúng chỉ phục vụ con người trong những lĩnh vực nhất định, lượng nội dung do chúng truyền đạt rất hạn chế
Trang 12Bài 3 HAI CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA NGÔN NGỮ
Ngôn ngữ có nhiều chức năng khác nhau, trong đó có hai chức năng cơ bản, quan trọng nhất là chức năng
làm phương tiện giao tiếp và làm phương tiện để tư duy
I NGÔN NGỮ - PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP QUAN TRỌNG NHẤT CỦA CON NGƯỜI
1 Ngôn ngữ không phải là phương tiện giao tiếp duy nhất
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người Ngoài ngôn ngữ, con người còn dùng những phương tiện giao tiếp khác như điệu bộ, cử chỉ, các tín hiệu giao thông, tín hiệu hàng hải, các ký hiệu toán học , những kếthợp âm thanh của âm nhạc, kết hợp màu sắc của hội họa v.v
Điệu bộ cử chỉ là các yếu tố cận ngôn ngữ Trong điều kiện bình thường điệu bộ cử chỉ đi kèm theo lời nói, thể hiện tâm trạng của người nói và có lúc làm cho lời nói thêm chính xác Trong trường hợp đặc biệt, điệu bộ
cử chỉ đóng vai trò độc lập, không đi kèm theo lời nói Chẳng hạn khi người câm điếc trao đổi với nhau, họ dùng ngôn ngữ cử chỉ Dù điệu bộ cử chỉ có vai trò quan trọng trong giao tiếp, chúng cũng chỉ có tính chất phụ trợ So với ngôn ngữ âm thanh, ngôn ngữ cử chỉ nghèo nàn và hạn chế Đó là một số ít những động tác giản đơn như lắc đầu, gật đầu, nhún vai, nheo mắt, khom lưng, vẫy tay, chỉ tay v.v Những tư tưởng khái quát, trừutượng không
thể được chuyển tải đầy đủ bằng ngôn ngữ cử chỉ
Những tín hiệu khác nhau như tín hiệu giao thông, tín hiệu hàng hải, ký hiệu toán học v.v chỉ được áp dụng trong những phạm vi hạn chế, trong các lĩnh vực chuyên môn hạn hẹp Bản thân những tín hiệu trên muốn hiểu được phải dùng ngôn ngữ âm thanh để giải thích Chính vì vậy chúng là các phương tiện giao tiếp
có tính chất phái sinh, bổ sung cho ngôn ngữ thành tiếng
Âm nhạc, hội họa, điêu khắc tuy có những khả năng vĩ đại nhưng với tư cách là phương tiện giao tiếp, chúng vẫn bị hạn chế và có tính chất phiến diện so với ngôn ngữ Âm nhạc, hội họa, điêu khắc không thể truyền đạt khái niệm, tư tưởng mà chỉ khêu gợi chúng trên cơ sở những hình ảnh, cảm xúc đã gây ra được ở người nghe và người xem Những tư tưởng mà các tác phẩm nghệ thuật đó gây ra ở người nghe, người xem có tính chất mơ hồ, không rõ rệt và rất khác nhau ở những người khác nhau Vì vậy, không thể dùng chúng làm phương tiện giao tiếp thay cho ngôn ngữ
2."Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người"(Lê nin)
Qua phần đã trình bày trên, ta thấy các phương tiện giao tiếp khác (tín hiệu giao thông, tín hiệu hàng hải, điệu bộ cử chỉ ) đều có những nhược điểm so với ngôn ngữ
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất bởi các lý do sau:
- Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp được sử dụng rộng rãi trong xã hội, trong tất cả các ngành nghề, các lĩnh vực chuyên môn khác nhau
- Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp gốc, giữ vai trò chủ đạo trong các phương tiện giao tiếp Các phương tiện giao tiếp khác hoặc có tính chất phụ trợ (điệu bộ cử chỉ) hoặc có tính phái sinh, xuất hiện sau ngôn ngữ, dựa vào ngôn ngữ mà tồn tại, chỉ có thể giải thích được bằng ngôn ngữ
- Ngôn ngữ là phương tiện phong phú nhất về khả năng giao tiếp, có thể biểu đạt chính xác tất cả các nội dung tư tưởng, tình cảm của con người
II NGÔN NGỮ LÀ PHƯƠNG TIỆN ĐỂ TƯ DUY
1 Chức năng làm phương tiện tư duy của ngôn ngữ
a." Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng" (Các Mác)
Ngôn ngữ là hình thức tồn tại, là phương tiện vật chất để tư duy Tư duy là cái được biểu hiện, ngôn ngữ là cái biểu hiện Các kết quả hoạt động của tư duy (khái niệm, phán đoán) được khoác một cái vỏ vật chất âm
Trang 13thanh (ngôn ngữ) để thể hiện ra bên ngoài dưới dạng vật chất làm cho người khác “thấy được” Không có ý nghĩ, tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ Ngôn ngữ là biểu hiện thực tế của tư tưởng
b Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng, phát triển tư tưởng Nó là công cụ để
tư duy.
Vốn tri thức mà con người thu nhận được qua hoạt động thực tiễn được tàng trữ, bảo toàn chủ yếu nhờ ngôn ngữ; rồi chính nhờ ngôn ngữ mà người ta truyền thụ vốn tri thức đó từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ nơi này đến nơi khác
Khi con người đã có ngôn ngữ và đã có vốn tri thức do thế hệ trước truyền lại, họ không nhất thiết phải tìm hiểu thế giới bằng con đường nhận thức “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” nữa Họ có thể đi từ những khái niệm đã biết tiến lên những khái niệm chưa biết, đi từ những phán đoán cũ tiến lên những phán đoán mới Con người dùng ngôn ngữ để suy luận và cuối cùng áp dụng các kết quả suy luận của mình vào thực
tế để kiểm nghiệm chân lý và phát triển xã hội, cải tạo thế giới
Tóm lại, nhờ có ngôn ngữ tư tưởng được hiện thực hóa Từ đó, con người có thể truyền đạt, tích lũy, phát
triển thêm vốn tri thức của mình Tư duy con người ngày càng trở nên phong phú và sâu xa hơn
2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy
a Ngôn ngữ thống nhất với tư duy
- Ngôn ngữ và tư duy ra đời cùng một lúc trong lịch sử hình thành và phát triển của con người
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Mác và Ăngghen đã viết: “Ngay từ đầu, đã có một rủi ro đè nặng lên
tinh thần”, đó là sự rủi ro bị một “vật chất” làm hoen ố và vật chất đó thể hiện ở đây dưới hình thức những lớp không khí chuyển động, những thanh âm, tóm lại là dưới hình thức ngôn ngữ Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vậy - ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn”
- Ngôn ngữ và tư duy phụ thuộc vào nhau mà tồn tại:
+ Không có ngôn ngữ thì con người không thể tư duy vì ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư tưởng, là công cụ để hình thành tư tưởng Theo triết học Mác, một thực thể tinh thần, muốn tồn tại, phải dựa vào một thực thể vật chất nhất định Tư duy là một thực thể tinh thần, muốn tồn tại, muốn được truyền bá và phát triển trong xã hội con người, phải “nương tựa” vào thực thể vật chất là ngôn ngữ
+ Ngược lại, không có tư duy thì sẽ không bao giờ có ngôn ngữ vì tư duy cung cấp nội dung tinh thần, đảm bảo cho ngôn ngữ tồn tại Không có các kết quả tư duy (khái niệm, phán đoán ) ngôn ngữ chỉ còn là hình thức âm thanh thuần túy, không khác gì tiếng nước chảy, gió thổi hay tiếng ho, hắt hơi, tiếng khóc của con người
- Ngôn ngữ và tư duy hỗ trợ lẫn nhau mà phát triển:
Tư duy phát triển, có thêm nhiều khái niệm phán đoán thì đồng thời ngôn ngữ cũng có thêm nhiều từ ngữ mới Ngược lại ngôn ngữ càng phong phú về khả năng diễn đạt, càng phản ánh trung thực, chính xác tư tưởng, quá trình tư duy của con người càng phát triển, tiến xa thêm mãi
Tóm lại, ngôn ngữ và tư duy thống nhất với nhau như “hai mặt của một tờ giấy không thể cắt mặt phải màkhông đồng thời cắt luôn cả mặt trái
b Sự khác nhau giữa ngôn ngữ và tư duy
Trang 14Nhằm đạt được mục đích giao tiếp, con người có thể “bóp méo” hiện thực, tạo ra các yếu tố phi lô gích trongvăn bản Các yếu tố phi lô gich đều được chấp nhận trong ngôn ngữ nếu nó diễn đạt được điều cá nhân định nói hoặc có vai trò trong tổ chức lời nói, tổ chức thông điệp Tuy nhiên, trong ngôn ngữ có quá nhiều yếu tố phi lô gich, các yếu tố đó lại hết sức quen thuộc với người bản ngữ nên con người dễ bị nhận thức hiện thực theo ngôn ngữ.
Ví dụ: ba từ tươi, sống, mộc trong các kết hợp “thịt tươi”, “gạo sống”, “gạch mộc” đều dùng để chỉ tính chất
“chưa trải qua nhiệt độc cao, chưa được nấu chín” Ba từ thể hiện một khái niệm nên con người dễ lầm tưởng
đó là ba khái niệm
Các kết hợp phi lô gich khác như “lòng yêu thương”, “trái tim nồng nhiệt”, “mặt trời mọc” quá quen thuộc đến mức người bản ngữ không chú ý nên dễ mắc sai lầm trong nhận thức thế giới khách quan Lênin đã từng nói: con người dễ nhận biết bao nhiêu sự lừa dối của cảm giác thì khó nhận biết bấy nhiêu sự lừa dối của ngôn ngữ; sự lừa dối của cảm giác thô thiển bao nhiêu thì sự lừa dối của ngôn ngữ tinh vi đến bấy nhiêu
- Về bản thể, ngôn ngữ và tư duy khác nhau ở các điểm sau:
+ Ngôn ngữ là một thực thể vật chất vì các đơn vị của nó đều mang thể chất âm thanh, có những thuộc tính vật lý nhất định (độ cao, độ dài, bản sắc ) Ngược lại, tư duy là một thực thể tinh thần Nó nảy sinh và phụ thuộc vào một vật chất được tổ chức đặc biệt là não nhưng bản thân nó lại có tính tinh thần Tư duy không có các đặc tính của vật chất như khối lượng, trọng lượng, mùi, vị
+ Các đơn vị của tư duy không đồng nhất với các đơn vị ngôn ngữ Nhiều người đã cố lập một thế song songgiữa khái niệm và từ, phán đoán và câu nhưng thực tế không hẳn như vậy Một khái niệm có thể được biểu hiện bằng những từ khác nhau, trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng một ngôn ngữ
Ví dụ: một khái niệm “hoạt động ngừng trao đổi chất của cơ thể sống với môi trường bên ngoài” được thể
hiện bằng các từ đồng nghĩa: chết, hy sinh, từ trần, băng hà, thác, đi, mất, ngoẻo
Ngược lại, một vỏ ngữ âm có thể tương ứng với nhiều khái niệm khác nhau; đó là các từ đồng âm, đa nghĩa:
Ví dụ: “đài” vừa là một từ đa nghĩa vừa là các từ đồng âm:
đài 1:
1 nơi cao, để làm lễ (lễ đài, đài tưởng niệm)
2 nơi phát sóng truyền thanh, truyền hình (đài truyền hình Việt Nam)
3 máy thu sóng truyền thanh (đài Sony)
đài 2: phần dưới của bông hoa (đài hoa)
đài 3: gàu múc nước (chằm đài múc nước)
Ngoài ra, có những từ không biểu thị khái niệm (thán từ, đại từ, danh từ riêng), những câu không biểu thị phán đoán (câu hỏi, câu cầu khiến) Các thành phần câu không trùng với các thành phần phán đoán
+ Nội dung các đơn vị ngôn ngữ không đồng nhất với nội dung các đơn vị tư duy vì:
Ngôn ngữ lựa chọn nội dung khái niệm, phán đoán để xây dựng nghĩa của từ và câu Nhưng nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ còn chịu ảnh hưởng của các đơn vị đứng trước và đứng sau nó (ngữ cảnh) và hoàn cảnh giao tiếp
Ví dụ: Khái niệm nước trong hóa học có các dấu hiệu lôgich:
- Chất lỏng
- H2O
- Không màu, không mùi, không vị
- Nhưng từ “nước” trong tiếng Việt chỉ có nghĩa là “chất lỏng” (nước biển, nước mắm, nước mắt ) vì nó chịu ảnh hưởng của những từ xung quanh (biển, mắm, mắt )
+ Nội dung các đơn vị ngôn ngữ không chỉ phản ánh các đơn vị tư duy mà còn phản ánh thái độ, tình cảm,
sự đánh giá của con người
Ví dụ: ba câu cùng chứa một phán đoán nhưng thể hiện 3 thái độ đánh giá:
1.Còn 3 chai rượu (Không thể hiện thái độ đánh giá)
Trang 152.Chỉ còn 3 chai rượu (đánh giá: ít)
3.Còn những 3 chai rượu (đánh giá: nhiều)
- Về tính chất:
Tư duy mang tính nhân loại, qui luật của tư duy là qui luật chung cho toàn nhân loại Ngược lại, ngôn ngữ
có tính dân tộc vì ngôn ngữ biểu hiện tư duy nhưng mỗi ngôn ngữ lại biểu hiện theo cách riêng của mình
Trang 16Bài 4 NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÔN NGỮ
A NGUỒN GỐC CỦA NGÔN NGỮ
I MỘT SỐ GIẢ THUYẾT VỀ NGUỒN GỐC CỦA NGÔN NGỮ
- Từ thời xa xưa, con người đã quan tâm đến vấn đề nguồn gốc của ngôn ngữ Nhưng suốt trong thời gian dài
từ thời cổ đại đến thời trung thế kỷ, người ta vẫn lẫn lộn vấn đề nguồn gốc của ngôn ngữ với vấn đề lý luận nhận thức Chỉ từ thời kỳ Phục hưng trở đi, vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ mới được rọi dưới những ánh sáng mới
Hiện nay đã có trên 500 giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ Sau đây là một số giả thuyết phổ biến:
1 Thuyết tượng thanh
Thuyết tượng thanh manh nha từ thời cổ đại, phát triển mạnh vào thế kỷ 17 đến thế kỷ 19 Theo thuyết này, toàn bộ ngôn ngữ nói chung và các từ riêng biệt của nó đều là do ý muốn tự giác hay không tự giác của con người bắt chước những âm thanh của thế giới bao quanh
Cơ sở của thuyết này là trong tất cả các ngôn ngữ đều có một số lượng nhất định các từ tượng thanh và từ sao phỏng Nhưng những người theo thuyết này không tính đến các điểm sau:
Một là, muốn bắt chước các âm thanh tự nhiên con người phải có các cơ quan phát âm đã phát triển, có tiếng
nói và tư duy hoàn thiện
Hai là, những từ tượng thanh và từ sao phỏng trong mỗi ngôn ngữ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với những từ
cần thiết và thường dùng nhất
Ba là, tính tượng thanh là qui ước, tức là trong những ngôn ngữ khác nhau, từ tượng thanh cùng mô phỏng
một sự vật có sự khác nhau
Hơn nữa, có nhiều từ trong ngôn ngữ này là tượng thanh nhưng trong ngôn ngữ khác lại không tượng thanh
Ví dụ “cười ha ha” trong tiếng Nga là XOXOTATь nhưng trong tiếng Pháp là “rire aux éclats”
2 Thuyết cảm thán
Thuyết cảm thán phát triển mạnh vào thế kỷ 18 - 20 Những người chủ trương thuyết này là Humboldt, Steithal, Grim đều cho rằng ngôn ngữ loài người bắt nguồn từ những âm thanh của mừng, giận, buồn, vui, đau đớn phát ra lúc tình cảm bị xúc động
Cơ sở của thuyết này là trong các ngôn ngữ đều có các thán từ và những từ phái sinh từ thán từ Ví dụ: tiếng
Việt có các từ: ối, chao ôi, ái, a ha v.v , tiếng Nga có các từ AX, OX, AXATb, OXATb v.v Tuy nhiên nhu cầu biểu hiện tình cảm không phải là điều kiện nảy sinh ngôn ngữ Bằng chứng là động vật và trẻ sơ sinh cũng biết biểu hiện tình cảm nhưng chúng không có ngôn ngữ Nếu loài người chỉ vì biểu hiện tình cảm mà tạo ra ngôn ngữ thì về căn bản loài người không thể tạo ra ngôn ngữ được vì họ sớm đã có công cụ để biểu hiện tình cảm rồi (như tiếng khóc, tiếng cười) Sự ra đời của ngôn ngữ là do xã hội qui định Một đứa trẻ sẽ không bao giờ biết nói nếu xung quanh chúng không có người lớn biết nói
3 Thuyết tiếng kêu trong lao động
Thuyết tiếng kêu trong lao động xuất hiện vào thế kỷ 19, trong các công trình nghiên cứu của các nhà duy vật như L Nuare, K Biukher
Theo thuyết này, ngôn ngữ đã xuất hiện từ những tiếng kêu trong lao động tập thể Thuyết tiếng kêu trong lao động có cơ sở thực tế trong sinh hoạt lao động của con người hiện nay Các tác giả đã nói đến nhu cầu phốihợp lẫn nhau trong lao động tập thể nhưng không nói rõ được điều kiện nảy sinh của ngôn ngữ Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lao động được giải thích quá thô sơ; với lý thuyết trên, những động vật có thể phát ra tiếng thở và có đời sống tập thể cũng có thể tạo ra ngôn ngữ
Trang 175 Thuyết khế ước xã hội
Thuyết khế ước xã hội bắt nguồn từ một số ý kiến của nhà triết học cổ đại Đemôcrit và thịnh hành vào thế
kỷ 18 với các tác giả Adam Smith, Rousseau
Thuyết này cho rằng: ngôn ngữ do con người thỏa thuận với nhau mà qui định ra.
Muốn có khế ước xã hội để tạo ra ngôn ngữ thì phải có ngôn ngữ trước đã Người nguyên thủy chưa có ngôn ngữ không thể nào bàn bạc với nhau về phương án tạo ra ngôn ngữ được Muốn qui ước với nhau, con người phải có ngôn ngữ và tư duy phát triển
Tất cả các thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ trên đều có những thiếu sót chung, cơ bản sau đây:
- Tách rời ngôn ngữ khỏi tư duy, cho tư duy có trước ngôn ngữ
- Tách rời nguồn gốc ngôn ngữ khỏi nguồn gốc của con người cho rằng con người ra đời trước ngôn ngữ
- Không tính đến chức năng giao tiếp của ngôn ngữ
- Không tính đến vai trò của lao động trong quá trình hình thành con người và ngôn ngữ
II NGUỒN GỐC CỦA NGÔN NGỮ THEO NGÔN NGỮ HỌC MÁCXÍT
Ngôn ngữ học Mác-xit luôn quan tâm đến vấn đề nguồn gốc của ngôn ngữ Những điểm xuất phát cơ bản để giải quyết vấn đề này đã được Mác và Ăngghen nêu lên trong các tác phẩm: “Hệ tư tưởng Đức”, “Phép biện chứng tự nhiên”, “Những nhận xét về cuốn sách của A Vahner”
1 Điều kiện nảy sinh ngôn ngữ:
Trong cuốn “Tác dụng của lao động trong sự chuyển biến từ vượn thành người” Ăngghen viết: “Đem so sánh con người với các loài động vật, ta sẽ thấy rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng nảy sinhvới lao động, đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”
Như vậy, theo Ăngghen, lao động chẳng những là điều kiện nảy sinh ra con người mà còn là điều kiện nảy sinh ra ngôn ngữ nữa Vì sao vậy?
Bước quyết định trong quá trình vượn biến thành người là sự kiện đôi tay được giải phóng Nhờ có đôi bàn tay được giải phóng, con người có thể chế ra công cụ để lao động, điều mà bất cứ loài vượn nào cũng không làm được Nhờ có lao động bằng công cụ mà tư duy con người đã phát triển Nói cách khác, năng lực tư duy trừu tượng của con người lớn lên cùng với lao động Nhưng tư duy không thể tồn tại trần trụi, thoát khỏi ngữ liệu cho nên tư duy hình thành thì ngôn ngữ cũng ra đời Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vậy
Mặt khác, ngôn ngữ chỉ sinh ra do nhu cầu giao tiếp Nhu cầu giao tiếp ấy của con người cũng lại do lao động quyết định Lao động đã liên kết con người thành cộng đồng và về sau, thành xã hội có tổ chức Muốn chung sức làm việc gì đó, người ta cần phải thỏa thuận với nhau sẽ làm gì, làm như thế nào Người ta thấy đã đến lúc “cần phải nói với nhau một cái gì đó” Lao động đã quyết định nhu cầu tạo ra ngôn ngữ
Trang 18Nhưng chỉ có nhu cầu thì vẫn chưa có ngôn ngữ Con người còn phải có khả năng tạo ra ngôn ngữ nữa Khả năng tạo ra ngôn ngữ của người nguyên thủy cũng bắt nguồn từ lao động Lao động đã hoàn thiện cơ thể con người, trong đó có cơ quan phát âm Nếu loài vượn trước đây cứ mãi mãi đi bốn chân mà không bao giờ đứng thẳng mình lên được thì con cháu của nó - loài người - sẽ không thể nào tự do sử dụng bộ phổi và các thanh hầu của mình và do đó, không thể nào nói được, như thế về căn bản, sẽ có thể làm chậm sự phát triển ý thức của con người
Tóm lại, con người cũng như tư duy trừu tượng và ngôn ngữ cùng ra đời một lúc dưới tác động của lao động.
Lao động quyết định nhu cầu tạo ra ngôn ngữ Lao động cũng quyết định khả năng tạo ra ngôn ngữ của con người Lao động đã quyết định sự ra đời của ngôn ngữ
2 Tiền thân của ngôn ngữ loài người:
Những giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ trước Mác nếu không giải thích được những điều kiện tạo ra ngôn ngữ thì ít nhiều đều hướng đến tiền thân của ngôn ngữ loài người
Ngôn ngữ, với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai, phải bắt nguồn từ hệ thống tín hiệu thứ nhất ở con người
Hệ thống tín hiệu thứ nhất là tất cả những ấn tượng, cảm giác và biểu tượng thu được từ bối cảnh tự nhiên bên ngoài thông qua những phản xạ, kích thích ở mọi dạng cảm giác: thính giác, thị giác, xúc giác v.v Hệ thống tín hiệu thứ nhất tiến hành giao tiếp trong phạm vi tư duy hình tượng
Sự giao tiếp như vậy rất đơn sơ nhưng dầu sao vẫn có tác dụng giao tiếp Phạm vi của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở người nguyên thủy rất rộng Bất cứ hình tượng nào mà bộ máy cảm giác hình thành nên đều có thể trở thành cái biểu hiện của hệ thống tín hiệu thứ nhất Nhưng không phải ngôn ngữ bắt nguồn từ tất cả hệ thống tínhiệu thứ nhất Vì ngôn ngữ lấy âm thanh làm vật kích thích, lấy nội dung khái niệm làm nội dung chính cho những vật kích thích ấy cho nên chỉ bộ phận hệ thống tín hiệu thứ nhất nào lấy âm thanh làm vật kích thích, có tác dụng giao tiếp, mới trở thành ngôn ngữ
Với cách hiểu trên, một phần sự bắt chước âm thanh, bộ phận tiếng kêu trong lao động, tiếng kêu cảm thán
có tác dụng giao tiếp với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ nhất, đều có thể trở thành những bộ phận cấu thành ngôn ngữ sau này
B SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÔN NGỮ
I QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÔN NGỮ
Sự phát triển của xã hội loài người, từ các thị tộc, bộ lạc nguyên thủy đến các dân tộc ngày nay trải qua những chặng đường khúc khuỷu, quanh co, rất phức tạp, trong đó, quá trình thống nhất và quá trình phân ly chồng chéo lẫn nhau Ngôn ngữ phát sinh và phát triển cùng với xã hội loài người nên nó cũng trải qua những chặng đường khúc khuỷu, quanh co, cũng phải tuân theo qui luật thống nhất và phân ly như thế Qua mỗi chặng đường, ngôn ngữ cũng được thay đổi về chất Trong toàn bộ quá trình phát triển của ngôn ngữ, có các bước quan trọng sau:
1 Ngôn ngữ bộ lạc và các biến thể của nó
Những ngôn ngữ đầu tiên của loài người là những ngôn ngữ bộ lạc Trong thực tế, mỗi bộ lạc có một ngôn ngữ Nếu hai bộ lạc đã suy yếu hợp lại với nhau thì rất ít khi trong cùng một bộ lạc người ta nói hai ngôn ngữ rất gần nhau Do sự phân chia của một bộ lạc đã hình thành một số bộ lạc độc lập, có họ hàng với nhau Ngôn ngữ của các bộ lạc này cũng phát triển thành những nét riêng, độc lập Đó là những biến thể về mặt cội nguồn của một ngôn ngữ bộ lạc Khi hợp nhất một số bộ lạc thành liên minh bộ lạc, ngôn ngữ riêng của từng bộ lạc vẫn giữ vai trò chủ yếu
2 Ngôn ngữ dân tộc và các biến thể của nó
Các bộ lạc, liên minh bộ lạc đến một lúc nào đó thì tan rã nhường bước cho các dân tộc ra đời Dân tộc là
một khối cộng đồng ổn định, hình thành trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về ngôn ngữ, lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về cấu tạo tâm lý, về văn hóa v.v Dân tộc có thể bao gồm các bộ lạc hoàn toàn khác nhau, nói
Trang 19tiếng khác nhau Chẳng hạn, dân tộc Pháp do người Gô loa, La Mã, Bơrơtông, Giecmani v.v hợp thành Sự hình thành dân tộc và ngôn ngữ dân tộc là một quá trình, phải trải qua những bước quá độ Trước khi thống nhất thành ngôn ngữ chung của toàn dân tộc đã diễn ra sự thống nhất ngôn ngữ trong phạm vi từng khu vực Ngôn ngữ khu vực chính là bước quá độ trên con đường phát triển ngôn ngữ dân tộc Nó là phương tiện giao tiếp chung của tất cả mọi người trong một vùng, không phân biệt thị tộc hay bộ lạc Ngôn ngữ khu vực là tiếng nói trên bộ lạc Các ngôn ngữ khu vực nằm trong một quốc gia thống nhất có thể rất gần nhau như các tiếng địaphương ở Nga, có thể rất xa nhau như các tiếng địa phương ở Đức hay Trung Quốc
Sự phát triển của dân tộc và nhà nước đã đẩy mạnh sự thống nhất bên trong về kinh tế và chính trị xã hội, đã tăng cường mở rộng quan hệ giữa người với người trong quá trình lao động, trao đổi kinh tế và quan hệ nội bộ quốc gia v.v Tình hình đó đòi hỏi phải có một ngôn ngữ chung cho toàn xã hội: ngôn ngữ dân tộc ra đời Ngôn ngữ dân tộc là phương tiện giao tiếp chung cho toàn dân tộc, bất kể sự khác nhau về lãnh thổ hay xã hội Tùy theo hoàn cảnh lịch sử mà sự hình thành của dân tộc và ngôn ngữ dân tộc mỗi nơi, mỗi thời kỳ một khác, theo những con đường khác nhau Mác và Ăngghen đã đề cập đến 3 con đường hình thành ngôn ngữ dân tộc:
a Từ chất liệu vốn có:
Ngôn ngữ dân tộc hình thành trên cơ sở một trong những tiếng địa phương, thường là tiếng nói của trung
tâm chính trị, văn hóa trong cả nước Ví dụ: tiếng Pháp Trước khi ngôn ngữ dân tộc Pháp hình thành thì trên đất Gô-Loa đã có sự pha trộn của tiếng La tinh với tiếng Xentich Trên cơ sở này phát triển thành nhiều tiếng địa phương trên đất Pháp Đến thời kỳ Phục hưng, tiếng địa phương miền Pari đã chiếm ưu thế, dần dần phát triển thành ngôn ngữ dân tộc vào thế kỷ 16, 17 Ở Việt Nam, ngôn ngữ dân tộc được xây dựng trên cơ sở phương ngữ Bắc (mà trung tâm là hai vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã)
b Pha trộn nhiều ngôn ngữ dân tộc:
Tức là chịu ảnh hưởng rõ rệt của các ngôn ngữ khác Ví dụ: tiếng Anh Các tiếng Anglô Xăcxông vốn ngự trị trên đất Anh từ thời cổ, đến thế kỷ 9 và 10, do sự xâm lược của người Đan Mạch mà có sự pha trộn với tiếng Đan Mạch Từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 16, do sự xâm lược của người Noocmăng nên lại được pha trộn một lần nữa với tiếng Noocmăng Như vậy, ngôn ngữ dân tộc Anh hiện đại hình thành trên cơ sở tiếng địa phương Luânđôn, là do sự pha trộn của 3 thứ tiếng: Anglô Xăcxông, Đan Mạch và Noocmăng
c Do tập trung nhiều tiếng địa phương:
Ngôn ngữ dân tộc được xây dựng nhờ tập trung nhiều tiếng địa phương Ví dụ: tiếng Nga Ngôn ngữ dân tộc
Nga hình thành vào thế kỷ 16, 17 cùng với sự thành lập quốc gia Matxcơva, trên cơ sở tiếng địa phương Matxcơva có tính chất chuyển tiếp của tiếng địa phương Bắc Nga và Nam Nga cùng một phần tiếng Slavơ cổ
3 Ngôn ngữ văn hóa và các biến thể của nó
Sự xuất hiện quốc gia đã đặt ra nhu cầu phải có một ngôn ngữ thống nhất để làm chức năng của ngôn ngữ
nhà nước Nền văn hóa, khoa học, văn học càng phát triển cũng cần có một ngôn ngữ thống nhất Tất cả những điều đó thúc đẩy sự ra đời của một dạng ngôn ngữ: ngôn ngữ văn hóa
Nội dung của thuật ngữ “ngôn ngữ văn hóa” trong các giai đoạn lịch sử khác nhau có những đặc điểm riêng gắn liền với những điều kiện hoạt động và vai trò của nó trong đời sống xã hội Tuy nhiên, ở mọi giai đoạn lịch
sử, ngôn ngữ văn hóa vẫn có những nét đặc thù chung: Đó là ngôn ngữ được chuẩn hóa phục vụ những nhu cầukhác nhau của đời sống tinh thần xã hội, ngôn ngữ được nhà nước sử dụng chính thức, ngôn ngữ của khoa học,văn học Đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ văn hóa là được sử dụng như nhau trên toàn lãnh thổ
Ngôn ngữ văn hóa trong thời kỳ phong kiến thường xuất phát từ một trong các tiếng địa phương Địa
phương này thường là trung tâm chính trị của đất nước Ví dụ: ở nước Nga, lúc đầu tiếng địa phương Kiep được dùng làm ngôn ngữ văn hóa nhưng khi thành lập quốc gia Matxcơva thì tiếng địa phương Matxcơva lại trở thành ngôn ngữ chính thống Hoặc ngôn ngữ văn hóa lại là một tử ngữ hay tiếng nước ngoài vì nhữnglý do lịch sử nào đó - như quan hệ nhà nước cũ, ảnh hưởng văn hóa, các tiếng địa phương phát triển yếu, các tiếng địa phương khác nhau quá lớn v.v Ví dụ nhiều nước Châu Âu đã dùng tiếng La tinh làm ngôn ngữ chính thống Ở Cận đông dùng tiếng Ả Rập làm ngôn ngữ văn hóa Vùng Lào, Thái Lan, Campuchia dùng tiếng Pali,Sanskrit Việt Nam dùng tiếng Hán
Trang 20Chủ nghĩa tư bản ra đời và phát triển Các dân tộc cũng phát triển, ngôn ngữ văn hóa dân tộc ra đời Các nước Châu Âu dùng ngôn ngữ nước ngoài làm ngôn ngữ văn hóa bắt đầu đấu tranh và cấm chỉ việc này Pháp cấm dùng tiếng nước ngoài làm ngôn ngữ văn hóa từ năm 1539 đến năm 1629 Năm 1253, Tây Ban Nha có đạo luật về dùng tiếng Tây Ban Nha Từ năm 1477, tiếng Anh được dùng để giảng dạy ở nhà trường.
Ngôn ngữ văn hóa dân tộc dựa trên ngôn ngữ nói của toàn dân tộc nhưng khác với ngôn ngữ dân tộc ở sự thống nhất to lớn trong kết cấu của nó Ngôn ngữ văn hóa dân tộc hoạt động tuân theo những qui tắc chặt chẽ được gọi là chuẩn mực
Ngôn ngữ văn hóa dân tộc và ngôn ngữ dân tộc phân biệt nhau ở chỗ một đằng là ngôn ngữ gọt giũa, một đằng là ngôn ngữ “nguyên liệu” Ngôn ngữ nói toàn dân là nguồn bổ sung vô tận cho ngôn ngữ văn hóa, ngượclại, ngôn ngữ văn hóa là đòn bẩy làm cho ngôn ngữ dân tộc ngày càng thống nhất
Ngôn ngữ văn hóa có thể tồn tại dưới hai hình thức nói và viết Nó là sản phẩm của xã hội nhưng biểu hiện
cụ thể của ngôn ngữ văn hóa trong các tác phẩm riêng biệt còn có sự vận dụng sáng tạo có tính cá nhân Bởi vậy, ngôn ngữ văn hóa phải luôn vươn lên để đạt tới mức ngôn ngữ chuẩn Đó chính là nhiệm vụ cấp thiết hiệnnay và sau này của việc chuẩn hóa ngôn ngữ
II CÁCH THỨC PHÁT TRIỂN CỦA NGÔN NGỮ
1 Ngôn ngữ phát triển từ từ, liên tục, không đột biến, nhảy vọt
Ngôn ngữ không phát triển bằng cách phá hủy ngôn ngữ cũ và tạo ra ngôn ngữ mới mà theo con đường cải
tiến những yếu tố căn bản của ngôn ngữ hiện có Sự chuyển biến từ tính chất này sang tính chất khác của ngôn ngữ có tính tuần tự, lâu dài, tích cóp những yếu tố của tính chất mới, của cơ cấu mới và tiêu ma dần những yếu
tố của tính chất cũ Trong ngôn ngữ không hề có cuộc cách mạng bột phát nào như Laphacgơ đã lầm tưởng
Sự phối hợp và phân ly giữa các ngôn ngữ là một quá trình trường kỳ, kéo dài hàng thế kỷ, không thể có sự đột biến, nhảy vọt Hai quá trình phối hợp (pha trộn) và phân ly giữa các ngôn ngữ diễn ra trong suốt toàn bộ lịch sử phát triển của ngôn ngữ nhưng tính chất biểu hiện của chúng trong các giai đoạn lịch sử không giống nhau
2 Ngôn ngữ phát triển không đồng đều giữa các mặt
Trong các bộ phận của ngôn ngữ, từ vựng là bộ phận biến đổi nhiều và nhanh nhất vì nó trực tiếp phản ánh
đời sống xã hội Từ vựng của một ngôn ngữ ở trong tình trạng biến đổi liên miên Tuy nhiên, trong từ vựng có một vốn từ rất bền vững là từ vựng cơ bản Từ vựng cơ bản hẹp hơn nhiều so với từ vựng của một ngôn ngữ nhưng sống rất lâu, qua nhiều thế kỷ và cấp cho ngôn ngữ đó những từ gốc để cấu tạo từ mới
Ngữ âm của ngôn ngữ biến đổi chậm và không đều do đó dẫn đến sự khác biệt về ngữ âm giữa các địa phương Chẳng hạn, trong tiếng Việt toàn dân đã có các từ: “gạo”, “nước”, “gái” nhưng trong tiếng địa phươngvùng Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên vẫn giữ nguyên hình thức ngữ âm cũ là “cấu”, “nác”, “cấy” Ngữ âm của một ngôn ngữ phải biến đổi chậm hơn từ vựng nếu không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc giao tiếp ngôn ngữ của
xã hội loài người
Hệ thống ngữ pháp biến đổi chậm nhất Tuy nhiên, với thời gian, hệ thống ngữ pháp cũng biến đổi, cải tiến,
tu bổ thêm làm cho những qui luật của nó chính xác hơn, thậm chí có thể bổ sung thêm những qui luật mới Tuy nhiên, cơ sở của hệ thống ngữ pháp được bảo tồn dài lâu, thậm chí còn bền vững hơn cả từ vựng cơ bản
Trang 21Bài 5 CÁC ĐƠN VỊ NGỮ ÂM
A TÍNH CHẤT CỦA NGỮ ÂM
Âm thanh của ngôn ngữ có những thuộc tính chung với những âm thanh khác trong tự nhiên Đồng thời, âm
thanh của ngôn ngữ cũng có những đặc tính riêng, khác với các âm thanh tự nhiên Sau đây, chúng ta lần lượt xem xét các thuộc tính đó:
1.Tính chất sinh lý (về phương diện cấu âm)
Bộ máy cấu âm (xem hình vẽ)
Âm thanh của ngôn ngữ được tạo ra do sự hoạt động của bộ máy cấu âm của con người Bộ máy đó gồm phổi, thanh hầu và các khoang trên của thanh hầu Các chủng tộc đều có bộ máy cấu âm về cơ bản như nhau, chính vì vậy về nguyên tắc không thể có âm nào người bản ngữ phát ra được mà người nước ngoài thì không.
Phổi và khí quản cung cấp và dẫn truyền luồng hơi Chúng không trực tiếp tham gia vào việc phát âm
I Đầu lưỡi
Thanh hầu là bộ phận trên cùng của khí quản, nhìn từ phía ngoài đó là chỗ nhô ra ở cổ đàn ông Thanh hầugiống như một cái hộp do bốn miếng xương sụn hợp thành: một xương sụn hình giáp, một xương sụn hìnhnhẫn, và hai xương sụn hình chóp Giữa hộp có một bộ phận hết sức quan trọng trong việc cấu âm, gọi là dâythanh Dây thanh là hai màng mỏng giống hình đôi môi, có thể rung động, mở ra khép lại, căng lên chùngxuống theo sự chỉ huy của hệ thần kinh
Khoảng trống giữa các dây thanh gọi là thanh môn Nếu dây thanh tách xa nhau, không rung, luồng hơi thoátqua tự do, đó là hiện tượng vô thanh (ví dụ các âm p, s, t, f ) Nếu dây thanh khép lại nhưng vẫn chừa một khe
hở hẹp cho phép luồng hơi đi qua, đồng thời dây thanh rung lên, đó là hiện tượng hữu thanh (ví dụ các âm b, z,
v, l )
Trên thanh hầu là khoang yết hầu Hoạt động cấu âm của khoang yết hầu diễn ra ít nhất theo hai cách: gốc lưỡi kéo lui, chạm vào thành họng, khiến cho luồng hơi bị cản bít, tạo nên âm tắc yết hầu; gốc lưỡi lui về sau nhưng vẫn còn một khe hẹp, khiến luồng hơi bị cọ xát vào đó, sinh ra một âm xát yết hầu, có thể hữu thanh hoặc vô thanh
Khoang miệng là nơi xảy ra nhiều hoạt động cấu âm Trong khoang miệng có nhiều bộ phận tham gia vào việc cấu âm (môi, răng, lợi, ngạc, lưỡi, lưỡi con ) trong đó lưỡi là bộ phận quan trọng nhất: đầu lưỡi có thể chạm vào răng, lợi, ngạc, hoặc rung động, hoặc uốn cong; mặt lưỡi có thể nâng lên đến ngạc; gốc lưỡi chạm vào mạc hoặc dịch về sau chạm vào thành họng Ở cuối mạc có một bộ phận nhỏ là lưỡi con Môi có thể chúm tròn hay bẹt, ngậm hay mở, mở ít hay mở nhiều
Khoang mũi có vai trò trong việc cấu âm nhờ vào hoạt động của mạc: mạc buông tự do, luồng hơi có thể đi qua mũi lẫn miệng - đó là các âm mũi; hoặc mặt trên của mạc chạm vào thành họng chắn lối thông lên mũi, luồng hơi chỉ có thể thoát theo đường miệng - đó là các âm miệng
2.Tính chất vật lý của ngữ âm (về phương diện âm học)
Cũng như các âm thanh khác trong tự nhiên, âm trong ngôn ngữ là một sự chấn động của không khí bắt nguồn từ sự rung động của một vật thể nào đó Âm truyền đi trong không khí dưới hình thức là những làn sóng
Trang 22nối tiếp nhau, với tốc độ chừng 340m/giây Khi sự rung động có tính chất đều đặn, gây nên một ấn tượng thính giác êm tai, âm là một tiếng thanh Khi sự rung động không đều đặn, thì kết quả là một tiếng động Tiếng thanhtrong lời nói con người được tạo ra do dây thanh rung động, luồng hơi vì thế bị liên tiếp thay đổi áp suất, mạnhrồi yếu đều đặn nối nhau Trái lại, nếu luồng hơi bị cọ xát vào một khe hẹp thì áp suất sẽ thay đổi một cách hỗnloạn, làm nảy sinh tiếng động Nhìn chung, nguyên âm chủ yếu thuộc loại tiếng thanh, còn phụ âm có sự tham gia của tiếng động, đa số phụ âm có tỷ lệ tiếng động cao hơn tiếng thanh
Cũng giống như các âm thanh trong tự nhiên, mỗi âm của ngôn ngữ được phân biệt theo ba yếu tố:
- Cao độ: Cao độ phụ thuộc vào tốc độ rung động, nghĩa là phụ thuộc vào số lượng rung động xảy ra trong một
đơn vị thời gian: số rung động càng nhiều (tần số càng lớn) thì âm càng cao Đơn vị đo rung động là hertz (viếttắt là Hz) Lỗ tai bình thường của con người chỉ nghe được trong giới hạn từ 16 Hz đến 20.000 Hz Độ cao của ngữ âm bị qui định bởi nhiều nhân tố, mà quan trọng nhất là sự căng các dây thanh Âm sẽ cao, nếu dây thanh căng, sẽ thấp nếu dây thanh chùng Mặt khác, sự biến đổi vị trí dây thanh cũng kéo theo sự biến đổi về độ cao Ngoài ra, lượng hơi từ phổi gia tăng cũng làm âm cao lên Giọng phụ nữ thường cao hơn giọng nam giới do dây thanh của phụ nữ ngắn và bé hơn Độ cao của ngữ âm cho ta biết những thông tin phi ngôn ngữ (giới tính, tuổi tác, xúc cảm) và những thông tin ngôn ngữ học Cao độ của ngữ âm là yếu tố cơ bản để tạo nên thanh điệu, ngữ điệu và trọng âm
- Cường độ: Cường độ do biên độ dao động của vật thể quyết định Đơn vị đo cường độ là decibel (viết tắt là
dB) Dây thanh chấn động mạnh so với tư thế nghỉ ngơi thì âm phát ra lớn và ngược lại thì âm phát ra nhỏ Nóichung, khi có sự rung động của dây thanh, nguyên âm nghe to nhất, sau đó kém một chút là các phụ âm có luồng hơi thoát ra bên lưỡi hay theo đường mũi Các âm xát vô thanh nghe rất yếu, còn các âm tắc vô thanh -p, -k, -t hoàn toàn không có độ mạnh Trong một số ngôn ngữ như tiếng Anh, Nga, cường độ đóng vai trò chủ yếutrong việc tạo trọng âm của từ
- Âm sắc: Âm sắc là sắc thái riêng của âm thanh Âm thanh của lời nói cũng như hầu hết các âm thanh của thế
giới tự nhiên không phải là một sự rung động đơn giản, mà là hợp thể của nhiều rung động xảy ra đồng thời Gảy vào một sợi dây đàn, không những sợi dây sẽ rung lên toàn bộ mà còn chấn động từng phần: nửa dây, một phần ba, một phần tư dây Sự chấn động toàn bộ có tần số thấp nhất, gọi là âm cơ bản, quyết định độ cao của
cả âm phức hợp Các âm cục bộ, gọi là họa âm, có tần số cao hơn Âm thanh do dây thanh chấn động mà có cũng như vậy Khi nó đi qua yết hầu, miệng và mũi do hiện tượng cộng hưởng xảy ra ở những khoang rỗng này và tùy theo từng trường hợp mà một số họa âm này hay số họa âm khác được tăng cường
Chính mối tương quan giữa âm cơ bản và các họa âm về cao độ và cường độ đã tạo nên âm sắc khác nhau Nguồn gốc của sự khác nhau về âm sắc là sự khác nhau của các hộp cộng hưởng Cùng một dây đàn, cùng một nhạc công, cùng một nốt nhạc nhưng tiếng đàn khác nhau do các thùng đàn, với tư cách là các hộp cộng hưởng, khác nhau Trong bộ máy phát âm, khoang miệng, khoang mũi và khoang yết hầu có vai trò là các hộp cộng hưởng, trong đó quan trọng nhất là khoang miệng Do vị trí của lưỡi, môi, hàm thay đổi, mà miệng của con người trở thành muôn vàn những cái hộp cộng hưởng khác nhau, từ đó tạo ra những âm với những âm sắc khác nhau Các khoang cộng hưởng trong bộ máy cấu âm của mỗi người không hoàn toàn giống nhau, điều đó
là một trong những cơ sở quan trọng khiến mỗi người có một giọng nói riêng
3.Tính chất xã hội của ngữ âm (về phương diện chức năng)
Khi xét ngữ âm về cấu âm và âm học, ta chỉ chú ý đến nó với tư cách là một chất liệu Nhưng ngữ âm còn cần được xét về mặt chức năng bởi vì ngữ âm mang nghĩa và cùng với nghĩa ngữ âm hợp thành tín hiệu, làm phương tiện giao tiếp trong xã hội loài người
Tính xã hội (mặt chức năng) của ngữ âm thể hiện ở các điểm sau:
- Mỗi xã hội, mỗi dân tộc có một ngôn ngữ với hệ thống ngữ âm riêng Có âm được xã hội này sử dụng mà
xa lạ với xã hội kia Trong tiếng Anh, tiếng Nga có những âm xa lạ với người Việt, ngược lại tiếng Việt có những âm (như ư, nh; h, th) mà tiếng Anh, Nga không có
- Mỗi xã hội xử lý âm thanh theo cách riêng của mình Tiếng Việt phân biệt hai âm ô và o trong khi đó sự phân biệt đó không có trong tiếng Nga Tiếng Việt cũng phân biệt âm t và th nhưng tiếng Anh chỉ coi đó là một
mà thôi
B CÁC ĐƠN VỊ NGỮ ÂM ĐOẠN TÍNH
I KHÁI NIỆM
Trang 23Về mặt âm thanh, có thể chia cắt lời nói thành những khúc đoạn ngày càng nhỏ, cho đến lúc không thể phân chia được nữa.
Ví dụ: Câu nói “Nhân dân Việt Nam rất anh hùng” nếu chỉ tính đến âm, ta gọi đó là một âm cú Âm cú này có
thể cắt ra hai khúc đoạn: Nhân dân Việt Nam // rất anh hùng
Mỗi khúc đoạn có thể chia tách thành những đoạn nhỏ hơn:
nhân dân // Việt Nam
Tiếp tục chia tách khúc đoạn “Nhân dân” ta sẽ có hai âm tiết:
nhân // dân
Tách âm tiết “nhân” thành các đơn vị nhỏ hơn, ta có ba âm tố:
nh // â // n
Các khúc đoạn trên ta gọi là các đơn vị ngữ âm đoạn tính, gồm:
âm cú: Nhân dân Việt Nam rất anh hùng
âm đoạn: Nhân dân Việt Nam
âm tự: Nhân dân
âm tiết: Nhân
âm tố: Nh
Các đơn vị ngữ âm đoạn tính là các đơn vị ngữ âm được tạo thành nhờ sự phân đoạn chuỗi lời nói
Trong các đơn vị ngữ âm trên, có hai đơn vị đoạn tính quan trọng nhất là âm tiết và âm tố
II ÂM TIẾT
1 Khái niệm
- Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất Dù phát âm chậm đến đâu, cũng chỉ tách đến âm tiết là hết
Ví dụ: từ “đẹp đẽ” có hai âm tiết: “đẹp”, “đẽ”
father có hai âm tiết: [fa:- θə]
book có một âm tiết
- Âm tiết là đơn vị dễ nhận diện nhất, dễ hơn cả các âm tố “Cái mà ta có được trước tiên không phải là âm;
âm tiết hiện ra một cách trực tiếp hơn các âm thanh cấu tạo nó một số văn tự nguyên thuỷ chỉ ghi những đơn
vị âm tiết; chỉ mãi về sau người ta mới đạt đến hệ thống chữ cái.” ( F de Saussure Sđd tr 93)
- Âm tiết còn là đơn vị mang các sự kiện ngôn điệu như thanh điệu, trọng âm
2 Phân định âm tiết
Âm tiết dễ nhận diện bao nhiêu thì khó phân định bấy nhiêu Trả lời ranh giới âm tiết nằm ở đâu là một việc không chỉ gây bối rối cho những người bình thường mà cả cho các nhà chuyên môn Có thể phân định âm tiết theo các quan niệm sau:
a Theo lý thuyết độ vang của Otto Jesperson, âm tiết gồm những âm tập hợp xung quanh một âm có độ
vang lớn nhất Âm có độ vang lớn nhất thường là nguyên âm nhưng không phải bao giờ cũng như vậy
Jesperson chia các âm theo độ vang từ thấp đến cao như sau:
1 Phụ âm vô thanh
- âm tắc ( p , t , k )
- âm xát ( f , s )
2 Phụ âm tắc hữu thanh (b , d )
3 Phụ âm xát hữu thanh ( v, z )
4 Phụ âm mũi và phụ âm bên ( m, n, l )
5 Phụ âm rung ( r)
6 Nguyên âm hẹp ( i, u)
7 Nguyên âm vừa ( o, e )
8 Nguyên âm rộng (a )
Trang 24Từ đó ông phân định âm tiết là quãng cách giữa hai độ vang ít nhất Với những âm tiết toàn phụ âm, thì sẽ
có một phụ âm có độ vang lớn nhất Chẳng hạn từ tiếng Anh table hoặc bottle thì âm tiết thứ hai gồm toàn các phụ âm [tei-bl], [bo-tl], theo các phân chia thành 8 độ vang trên thì âm l sẽ đứng ở đỉnh âm tiết vì nó có độ vang lớn nhất
b Theo lý thuyết về độ căng cơ của các tác giả M Grammont, P Fouché, L.V Sherba, âm tiết tương ứng
với sự căng lên rồi chùng xuống của cơ bắp trong bộ máy cấu âm Khi phát ra các âm tiết, cơ bắp sẽ căng dần ởđầu âm tiết và giảm dần từ giữa âm tiết Ranh giới giữa các âm tiết là nơi độ căng ở mức thấp nhất Các đợt căng cơ bắp tạo nên các âm tiết thường được biểu diễn bằng các sơ đồ đường cong hình sin
Ví dụ, khi phát âm hai âm tiết “độc lập” ta sẽ có sơ đồ hình sin sau:
Đỉnh của âm tiết là điểm mà độ căng đạt đến mức cao nhất Theo sơ đồ trên A, B là đỉnh của hai âm tiết, C
là ranh giới giữa hai âm tiết Đường cong biểu diễn sự biến thiên của cơ bắp hoàn toàn trùng hợp với đường cong biểu diễn cường độ âm thanh Bởi vậy âm nằm ở đỉnh âm tiết cũng là âm có độ vang lớn nhất, nó được
gọi là âm tạo đỉnh Trong ví dụ trên các âm o và ɤ là những âm vừa có độ vang lớn nhất, vừa ở đỉnh âm tiết,
chúng được gọi là âm tạo đỉnh hay âm âm tiết tính của “độc” và “lập” Các âm còn lại như d, k, l, p được gọi là
âm phi âm tiết tính
Tuy nhiên, lý thuyết về độ vang và độ căng cơ giúp các nhà ngôn ngữ phân định âm tiết trên lý thuyết và trong thực nghiệm Đối với những người bình thường, khi gặp một từ cụ thể, việc phân ranh giới âm tiết không
dễ dàng Ranh giới giữa các âm tiết và cách cắt âm tiết còn tùy thuộc vào tập quán của từng ngôn ngữ Ví dụ với từ “cyclo” (xích lô) tiếng Pháp và tiếng Việt cắt hai âm tiết trong từ này ở những chỗ khác nhau
tiếng Pháp : si - klo
tiếng Việt : sik - lo (xích lô)
Đối với người bản ngữ, phân định ranh giới âm tiết dễ dàng hơn nhiều so với người nước ngoài Khi học một ngoại ngữ, người học cần nắm được tập quán cắt âm tiết của ngôn ngữ đó và so sánh với tập quán của tiếng mẹ đẻ
3 Phân loại âm tiết
Người ta thường phân loại âm tiết dựa vào cách kết thúc âm tiết:
a Âm tiết mở: là âm tiết tận cùng bằng nguyên âm
Ví dụ: cha, mẹ, see (thấy), we (chúng tôi)
b Âm tiết khép: là âm tiết tận cùng bằng phụ âm
Ví dụ: độc, lập, mắt, meat (thịt), keep (giữ)
Giữa hai loại âm tiết này còn có những loại trung gian tùy theo từng ngôn ngữ Ví dụ, trong tiếng Việt, ngoài
hai loại trên còn có các loại trung gian là âm tiết nửa mở và âm tiết nửa khép
III ÂM TỐ
1 Khái niệm
Âm tố là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất, không thể phân chia được nữa
Khi ta đọc âm tiết “xa” thật chậm và quan sát động tác của lưỡi, ta thấy lưỡi có hai vị thế: đầu lưỡi nâng lên gần lợi của hàm trên, sau đó lưỡi hạ thấp xuống Mỗi vị thế là một động tác cấu âm để tạo ra một âm tố, vị thế đầu tạo ra âm tố s (x), vị thế sau tạo ra âm tố a Âm tiết “xa” có hai âm tố
Để ghi lại âm tố, người ta đặt ký hiệu ngữ âm giữa hai dấu ngoặc vuông: [a], [t ], [ s] (x) , [ɤ] (ơ)
2 Phân loại âm tố
Trang 25Số lượng âm tố là vô hạn, tuy nhiên giữa chúng có một số đặc trưng cấu âm - âm học chung, cho phép phân loại chúng thành những tập hợp mà hai tập hợp lớn đầu tiên là nguyên âm và phụ âm
Nguyên âm và phụ âm khác nhau ở mấy điểm sau:
- Nguyên âm chủ yếu được cấu tạo bằng tiếng thanh; còn phụ âm chủ yếu là tiếng động
- Khi phát ra nguyên âm, luồng hơi ra tự do; khi phát ra phụ âm luồng hơi bị cản trở Đây là sự khác nhau quan trọng nhất, tạo ra các hệ quả sau:
- Khi phát ra nguyên âm, luồng hơi ra yếu; khi phát ra phụ âm luồng hơi ra mạnh
- Khi phát ra nguyên âm, độ căng của các bộ phận cấu âm đều đặn; khi phát ra phụ âm, độ căng thường tập trung ở một bộ phận, tạo nên điểm cấu âm khá rõ rệt
3 Nguyên âm
a Phân loại:
- Phân loại trên cơ sở cấu âm:
+ Độ mở của miệng: tùy theo miệng mở ra ít hay nhiều mà ta có các nguyên âm khác nhau Có bốn độ mở chính: hẹp (khép), nửa hẹp (khép vừa), nửa rộng (mở vừa) và rộng (mở); do đó các nguyên âm được phân ra thành bốn loại tương ứng sau:
1 Nguyên âm hẹp: [i ] ty , [u] lu đù , [Ɯ] tư lự
2 Nguyên âm nửa hẹp: [e] lê, [ o] tô , [ɤ] lơ mơ
3 Nguyên âm nửa rộng: [ε] le te , [] le te , [ɔ] lo , [٨] trong từ but của tiếng Anh
4 Nguyên âm rộng: [a] ta , [ɑ] pâté (patê) của tiếng Pháp, [ɐ] hot (nóng) của tiếng Anh
Độ mở của miệng phụ thuộc vào vị trí của lưỡi, lưỡi nâng cao, miệng sẽ mở hẹp; lưỡi hạ thấp miệng sẽ mở rộng Do đó có khi người ta gọi nguyên âm hẹp là nguyên âm cao và nguyên âm rộng là nguyên âm thấp + Chiều hướng của lưỡi:
Tùy theo chiều hướng của lưỡi nhích ra trước, lùi về sau hay ở giữa mà ta có các loại nguyên âm sau:
1 Nguyên âm dòng (hàng) trước: lưỡi đưa ra phía trước, mặt lưỡi nâng lên về phía ngạc: [ i] , [ e] , [ε] le te , []
2 Nguyên âm dòng (hàng) sau: lưỡi lùi về phía sau, gốc lưỡi đưa lên về phía mạc: [u] , [o] , [ɔ]
3 Nguyên âm dòng (hàng) giữa: lưỡi ở giữa: [ə] trong từ about (về ) của tiếng Anh, [ɨ] trong từ “bích” theo cách phát âm của người miền Nam Việt Nam
+ Hình dáng của môi:
1 Nguyên âm tròn môi: môi chúm tròn lại: [u], [o] [ɔ]
2 Nguyên âm không tròn môi: môi không chúm tròn, ở tư thế bình thường, nhệch ra: [ i ] , [e] , [ε] le te , [] , [Ɯ] , [ɤ]
Các phân loại trên được tóm tắt bằng một đa giác, gọi là hình thang nguyên âm quốc tế Trong hình thang, người ta qui ước như sau:
1.Ba vạch đứng biểu thị ba hàng nguyên âm trước, giữa, sau theo thứ tự lần lượt từ trái qua phải
2.Bên trái mỗi vạch đứng là các nguyên âm không tròn môi, bên phải mỗi vạch đứng là các nguyên âm tròn môi
3.Trên mỗi vạch đứng, từ trên xuống dưới lần lượt ghi các nguyên âm hẹp, nửa hẹp, nửa rộng, rộng
Ghi chú: Trong hình thang nguyên âm quốc tế, có những âm sau:
- Nguyên âm dòng trước:
i : trong tiếng Việt : li ti
Y : trong tiếng Pháp : tu (mày)
Trang 26e : trong tiếng Việt: lê thê
θ : trong tiếng Pháp: deux (hai)
I : trong tiếng Việt: mẹ , tiếng Anh : men (đàn ông, số nhiều)
œ: trong tiếng Pháp: peur (sợ)
a : trong tiếng Việt: ta , tiếng Pháp : patte (chân)
I : trong tiếng Anh: sit (chỗ ngồi) , ill (đau ốm)
æ : trong tiếng Anh: cat (mèo)
- Nguyên âm dòng giữa:
ɨ : trong tiếng Việt , phương ngữ Nam : bích , kịch
ɨɨ : như ɨ nhưng tròn môi
ə : trong tiếng Anh: about, father
- Nguyên âm dòng sau:
Ɯ: trong tiếng Việt : thư từ
u : trong tiếng Việt : tu hú
ɤ : trong tiếng Việt : lơ thơ
o : trong tiếng Việt : cô , tiếng Anh : home (nhà)
٨ : trong tiếng Anh : but
ɔ : trong tiếng Việt : lo , tiếng Anh : law (luật)
ɑ : như trong tiếng Pháp : pâté (patê) , Việt : sáng
ɐ : trong tiếng Anh : not , dog (chó)
ʊ : trong tiếng Anh, là âm như âm u nhưng miệng mở rộng hơn: good
- Phân loại trên cơ sở âm học:
+ Trường độ: các nguyên âm có thể khác nhau về độ dài thời gian của chúng Người ta phân biệt các độ dài
+ Cao độ: theo tiêu chí này, nguyên âm được phân thành ba loại:
1 Nguyên âm bổng: là các nguyên âm dòng trước: [i, e, ε] le te , []
2 Nguyên âm trầm là các nguyên âm dòng sau: [u , o , ɔ]
3 Nguyên âm trung hòa là nguyên âm dòng giữa: [ə]
Nói chung, tính tròn môi làm nguyên âm kém bổng, tính không tròn môi làm nguyên âm kém trầm
+ Cường độ: Độ mở của miệng càng rộng, nguyên âm càng có độ vang lớn (hay âm lượng lớn); ngược lại,
độ mở càng hẹp nguyên âm càng có độ vang nhỏ (hay âm lượng nhỏ) Vậy, có các nguyên âm sau:
1 Nguyên âm có độ vang nhỏ: là các nguyên âm hẹp (khép) [i, Ɯ, u]
2 Nguyên âm có độ vang lớn: là các nguyên âm rộng (mở) hoặc nửa rộng ( mở vừa) [ε] le te , [, ɔ, a ]
3 Nguyên âm có độ vang trung bình: là các nguyên âm nửa khép [e, o, ɤ]
Sự phân loại theo âm học trên có liên quan đến sự phân loại theo cấu âm vì hiệu quả âm học của một âm là
do cách thức cấu âm của nó: sự sắp xếp khác nhau của các bộ phận cấu âm, tạo ra những khoang cộng hưởng khác nhau, đưa tới các phẩm chất âm sắc khác nhau
b Miêu tả nguyên âm:
Miêu tả một nguyên âm là nói rõ nguyên âm đó thuộc nhóm nào, theo các tiêu chí ta vừa phân loại, trong đó
các tiêu chí cấu âm được chú ý hơn các tiêu chí âm học: ví dụ [i] có thể được miêu tả như sau:
[i]: hẹp, dòng trước, không tròn môi, bổng, độ vang nhỏ
c Nguyên âm đôi:
Thông thường, khi phát ra một nguyên âm, lưỡi chỉ có một vị thế, nghĩa là bộ máy cấu âm chỉ làm một động tác cấu âm Những nguyên âm nào được cấu âm như thế là những nguyên âm đơn
Khi phát ra nguyên âm đôi, lưỡi sẽ lướt từ vị thế của nguyên âm này sang vị thế của nguyên âm khác Ví dụ:
Trang 27[ie ] trong các từ Việt: miến, tia Thực tế đó là hai nguyên âm đi liên tiếp nhau Theo quan niệm âm vị học, hai
âm này phát liền nhau và ở trong phạm vi một âm tiết nên người ta coi chúng chỉ có giá trị một đơn vị âm Nếu
ba nguyên âm đi liên tiếp nhau trong phạm vi một âm tiết thì gọi là nguyên âm ba, như [auə] trong power, [aiə] trong fire của tiếng Anh
a Phân loại theo cấu âm
Phân loại theo cấu âm được căn cứ theo hai tiêu chí lớn:
* Theo phương thức cấu âm:
Phương thức cấu âm là cách cản trở luồng hơi khi ta phát âm Có bốn phương thức chính:
+ Phương thức tắc: Luồng hơi bị cản trở hoàn toàn ở miệng sau đó thoát ra ngoài Tùy theo nơi luồng hơi
thoát ra, ta có các loại phụ âm sau:
1 Phụ âm tắc: luồng hơi thoát ra ở đằng miệng:
[b] bé , [d] đi , [k] cô , [p] pin , [t] ta
2 Phụ âm mũi: luồng hơi thoát ra đằng mũi:
+ Phương thức tắc - xát: luồng hơi bị cản trở hoàn toàn như ở phương thức tắc, rồi thoát ra một khe hẹp như
ở phương thứcxát, tạo ra phụ âm tắc-xát như [ t∫ ] trong từ tiếng Anh child
+ Phương thức rung: luồng hơi bị chặn lại ở một vị trí nào đó như đầu lưỡi chẳng hạn, nó vượt qua chướng
ngại, rồi lại bị chặn lại, cứ diễn ra liên tiếp như thế, ta có phụ âm rung
Ví dụ: [ r] của tiếng Nga trong từ “nepo” [pero] (ngòi bút)
[ʐ ] của phương ngữ ở một số vùng ven biển Bắc
Việt Nam, chẳng hạn trong từ “rổ rá”
* Theo điểm cấu âm
Điểm cấu âm là nơi luồng hơi bị cản trở Khi phát ra phụ âm hai bộ phận cấu âm sẽ khép đường thông từ phổi lên miệng, tạo nên nơi cản trở Theo các điểm cấu âm từ ngoài vào trong ta có các loại phụ âm sau:
1 Phụ âm môi: luồng hơi bị cản trở ở hai môi hoặc ở môi và răng
Ví dụ: [ p , b], [ f , v]
2 Phụ âm giữa răng: đầu lưỡi đặt ở giữa các răng cửa của hai hàm răng, tạo nên điểm cấu âm
Ví dụ: trong tiếng Anh có các âm [θ , ð] (thing, this)
3 Phụ âm đầu lưỡi-lợi: điểm cấu âm là đầu lưỡi và lợi của hàm răng trên
Trang 286 Phụ âm mạc (gốc lưỡi): gốc lưỡi nâng lên hướng đến ngạc mềm
Ví dụ: [ k] , [ŋ] nghé , [γ] gừ , [χ] khế] gừ , [χ] khế] khế
7 Phụ âm lưỡi con: gốc lưỡi lùi lại và nâng lên về phía lưỡi con; hoặc lưỡi con hạ xuống gốc lưỡi và rung động như âm [R] rung của tiếng Pháp trong từ Paris [PaRi] hoặc một âm xát [ʁ] trong từ rouge [ʁuʒ] (đỏ, tiếng Pháp)
8 Phụ âm yết hầu: gốc lưỡi lùi hẳn ra sau, khoang yết hầu bị thu hẹp lại Ví dụ [ħ] trong từ “tắm”, phát âm là[ ħammaam] của tiếng Ả rập
9 Phụ âm thanh hầu: được tạo nên bởi sự thu hẹp dây thanh
Ví dụ: [ h] hát hò
b Phân loại theo âm học:
Căn cứ vào tỷ lệ tiếng thanh so với tiếng động khi cấu âm, ta có các loại phụ âm sau:
- Phụ âm hữu thanh là phụ âm có tiếng thanh, tỷ lệ tiếng thanh thấp hơn tiếng động, do có sự rung động của dây thanh khi phát âm
Ví dụ: [b] , [d] , [z], [γ] gừ , [χ] khế]
- Phụ âm vô thanh là phụ âm không có tiếng thanh
Ví dụ: [ p , t , k , f , s ]
Hai loại phụ âm hữu thanh và vô thanh được gọi là phụ âm ồn Đối lập với phụ âm ồn là phụ âm vang.
- Phụ âm vang là phụ âm có tỷ lệ tiếng thanh cao hơn tiếng động Đó là các âm mũi, âm bên và âm rung
Ví dụ: [ m , n , ɲ, ŋ, l, r ]
c Cách miêu tả một phụ âm:
Khi miêu tả một phụ âm, ta lần lượt xác định xem âm đó thuộc loại nào theo các tiêu chí phân loại trên Nếukết hợp phụ âm đó với một nguyên âm khác, ta còn phải xem xét nó còn có hiện tượng gì kèm theo
Ví dụ: [ k] là phụ âm tắc, vô thanh, mạc (gốc lưỡi)
[ k] trong từ “co” là phụ âm tắc, vô thanh, mạc (gốc lưỡi), môi hóa
5 Cấu âm phụ (Cấu âm bổ sung)
Nguyên âm và phụ âm có thể bị biến đổi âm sắc do thêm một cách cấu âm khác nữa xảy ra đồng thời với cấu
âm cơ bản Đó là cấu âm phụ Cấu âm phụ thường có mức độ tắc bít ít hơn cấu âm cơ bản Sau đây là các loại cấu âm phụ quan trọng:
a Môi hóa: là hiện tượng thêm động tác tròn môi vào cấu âm cơ bản Ký hiệu dùng để chỉ môi hóa là [ w]
Ví dụ: âm [ t] trong từ “to” bị môi hóa do đứng cạnh nguyên âm [ɔ] tròn môi [ t] môi hóa sẽ ký hiệu là [t w]
hoặc [ t°]
b Ngạc hóa: là hiện tượng nâng phần trước lưỡi lên cao ở vào vị trí như của âm [ i] Ký hiệu dùng để chỉ
ngạc hoá là [ j ]
Ví dụ: trong từ tinh nghịch, 2 phụ âm cuối [ŋ] (tinh) và [k] (nghịch) bị ngạc hóa nên được ký hiệu là [ŋ j, kj ]
Trong tiếng Việt cách phát âm ngạc hóa thường tạo nên các biến thể tự do, mang tính cá nhân
c Mũi hóa: là hiện tượng ngạc mềm buông xuống tự do để luồng hơi thông lên mũi Ký hiệu chỉ mũi hóa là
[~]
Ví dụ [ã] Nguyên âm bị mũi hóa phổ biến trong tiếng Pháp, Ba Lan, Bồ Đào Nha v.v
Trang 29Bài 6 HIỆN TƯỢNG BIẾN ÂM MỐI QUAN HỆ GIỮA ÂM VÀ CHỮ VIẾT
A HIỆN TƯỢNG BIẾN ÂM
I BIẾN ÂM TRONG NGỮ LƯU
Biến âm trong ngữ lưu là hiện tượng biến đổi âm thanh trong chuỗi ngữ âm do các âm kết hợp với nhau,
ảnh hưởng lẫn nhau.
Biến âm trong ngữ lưu xảy ra trong quá khứ được gọi là biến âm lịch sử
1 Đồng hóa
Đồng hoá là sự biến đổi hai âm khác nhau, đứng cạnh nhau, trở thành giống nhau để thuận lợi cho việc phát
âm Trong đồng hóa, một âm sẽ bị biến đổi cho giống với âm kia
Sự đồng hóa có thể khác nhau về mức độ: Đồng hóa toàn bộ khi âm này bị biến đổi hoàn toàn giống với âm kia: trong tiếng Anh, is she [iz∫i] được phát âm là [i∫∫i] Sự đồng hóa có thể không hoàn toàn, gọi là đồng hóa
bộ phận, khi âm bị biến đổi giống âm kia một phần nào thôi: trong tiếng Việt, phụ âm xát [γ] gừ , [χ] khế] sẽ biến thành tắc khi đi sau các âm tắc [-ŋ] hay [-k], như trong các tổ hợp “xuống ga”, “trước ga”
Do chiều tác động của âm đồng hóa mà người ta phân biệt: đồng hóa xuôi và đồng hóa ngược
a Đồng hóa xuôi: âm đi trước đồng hóa âm đi sau.
Ví dụ 1: dogs [dɔgs] (những con chó) âm [s] hóa thành [z] để đồng nhất với tính chất hữu thanh của [g]:
[dɔgz]
Ví dụ 2: trong tiếng Việt, hiện tượng âm xát [γ] gừ , [χ] khế] biến thành âm tắc trong tổ hợp “trước ga” để cho giống với âmtắc [k] đứng trước cũng là đồng hóa xuôi Đồng hóa xuôi có thể tìm thấy trong thanh điệu như: nơi nào → nơi nao
b Đồng hóa ngược: âm đi sau đồng hóa âm đi trước.
Ví dụ 1: trong tiếng Anh, ở tổ hợp ten minutes (10 phút) âm cuối [n] của “ten” sẽ bị âm [m] của minutes đồng
hóa hoàn toàn thành [tem minits]
Ví dụ 2: trong tiếng Việt: tít mắt → típ mắt, ở đây [m] đã đồng hóa [t] biến nó thành [p]; [m] , [p] đều là âm
Ví dụ 2: trong tiếng Việt, dị hóa thường xảy ra nhiều ở các từ láy hoàn toàn Dị hóa có thể xảy ra ở thanh điệu
hoặc cả thanh điệu và phụ âm cuối: nhỏ nhỏ → nho nhỏ, nượp nượp → nườm nượp, sát sát → san sát v.v
3 Bớt âm
Trong ngữ lưu, do qui luật tiết kiệm, có một số âm bị giảm bớt, vì thế hai âm tiết có thể nhập thành một
Ví dụ 1: trong tiếng Việt, cụm từ “nghỉ một tý” có thể bị bớt chỉ còn hai âm tiết: “nghỉ m-tý”, hai mươi hai →
hăm hai
Ví dụ 2: trong tiếng Anh: do not → don’t , he is → he’s v.v
4 Thêm âm
Để dễ phát âm, có khi trong ngữ lưu có thêm một âm, thường là thêm một phụ âm giữa hai nguyên âm
Ví dụ: trong tiếng Pháp: va il được thêm âm [t] vào giữa thành va-t-il ? (nó đi ?).
Trang 30II BIẾN ÂM VĂN HÓA
1 Biến âm do sự trang nhã
Biến âm do sự trang nhã là hiện tượng biến âm để tránh sự liên tưởng không hay ở người nghe.
Ví dụ: khỉ đầu → khởi đầu cục → cuộc v.v
2 Biến âm do sự kiêng kỵ
Ngày xưa, có tục lệ kiêng cữ tên gọi Do lòng tôn kính hoặc do sự bắt buộc mà mỗi khi nói đến tên gọi của
vua, quan, thần thánh, tổ tiên, người ta chọn một âm tương tự để thay thế
Ví dụ: (bà) Thủy → (bà) Thoải Chu → Châu
Hoàng → Huỳnh Long → Luông
Nghĩa → Ngãi Mệnh → Mạng
Hồng → Hường Thì → Thời
3 Biến âm do dụng ý chê bai
Biến âm do dụng ý chê bai là sự thay đổi một phần vỏ âm thanh của từ để thể hiện ý chê bai, tạo ra nghĩa đốilập:
Ví dụ: ca sĩ → ca sỡi, ca sản anh hùng → yêng hùng
Mỹ → Mẽo
4 Biến âm do từ nguyên dân gian
Do không nắm vững một số từ cổ xưa hoặc từ ngoại lai, dân gian đã thay thế bằng những từ có vỏ âm thanh gần giống và có một nét nghĩa tương tự
Ví dụ: chân đăm đá chân chiêu → chân nam đá chân xiêu
5 Biến âm để tạo tiếng lóng
Một số tiếng lóng được tạo ra bằng cách thay đổi vỏ âm thanh của các tư
Ví dụ: xe → xế chích → choác
đồng hồ → đổng
B MỐI QUAN HỆ GIỮA ÂM VÀ CHỮ VIẾT
I KHÁI NIỆM CHỮ VIẾT
a Chữ viết ghi ý (chữ tượng hình)
Chữ viết ghi ý là chữ viết tối cổ của loài người Đó là chữ viết mà mỗi chữ biểu thị nội dung ý nghĩa của một từ Chữ
ghi ý không luên quan đến âm thanh cấu tạo nên từ Thoạt đầu, chữ tượng hình là những hình vẽ mô phỏng sự vật, rồi dần dần được đơn giản hóa Thứ chữ tượng hình xưa nhất có thể là chữ Sumer ở vùng Lưỡng Hà, xuất hiện cách đây khoảng 6.000 năm Những loại chữ xuất hiện muộn hơn, cách đây khoảng 4.500 - 5.000 năm là chữ Ai Cập cổ, chữ Hán, chữ tiền Ân Độ, chữ Hittite (ở vùng Tiểu Á, Syria) chữ Crete (ở Địa Trung Hải) Sau đây là một vài chữ Hán minh họa:
nguyệt (mặt trăng)
b Chữ ghi âm:
Trang 31Chữ ghi âm là loại chữ phản ánh mặt âm thanh của ngôn ngữ Chữ ghi âm có hai loại:
- Chữ ghi âm tiết là kiểu chữ viết mà mỗi ký hiệu biểu hiện một âm tiết trong từ Chữ ghi âm tiết cổ nhất là chữ Sumer hậu kỳ, cách đây khoảng 4.000 năm, sau đó là chữ Atsiri - Babilon Chữ Triều Tiên, Nhật Bản hiện nay cũng là chữ ghi âm tiết
Ví dụ: chữ Nhật
ha hi hu hê hô
- Chữ ghi âm tố là kiểu chữ viết mà mỗi ký hiệu biểu thị một âm tố
Chữ ghi âm tố là kiểu chữ thường dùng nhất hiện nay và được gọi là chữ viết a, b, c Những chữ ghi âm tố
cổ xưa nhất có lẽ là chữ của người Semite ở ven biển Đỏ và Địa Trung Hải cách đây khoảng hơn 4.000 năm Vào khoảng thế kỷ 13 trước Công Nguyên, người Phoenicia đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống chữ cái của mình gồm 22 ký hiệu Sau đó vào khoảng thế kỷ 10 trước Công Nguyên, người Hy Lạp mượn chữ cái
Phoenicia và đặt thêm một số ký hiệu nữa để ghi ngôn ngữ của mình, do đó có chữ cái Hy Lạp gồm 24 con chữ
Chữ Hy Lạp truyền qua Ý, hình thành nên chữ cái Latinh, khoảng thế kỷ I trước Công Nguyên Chữ Hy Lạp còn truyền đến các dân tộc Slave vào thế kỷ thứ 9, tạo ra chữ Cyrille để ghi nhiều ngôn ngữ của các dân tộc Slave, trong đó có chữ Nga
Vào thế kỷ 11 trước Công Nguyên, chữ Phoenicia được người Aram (dân tộc du mục ở sa mạc Syria) muợn để ghi ngôn ngữ của họ Chữ Aram là ngồn gốc của chữ Do Thái và chữ Arập trong thế giới Hồi Giáo
II QUAN HỆ GIỮA ÂM VÀ CHỮ VIẾT
Chữ viết biểu thị ngữ âm nhưng sự biểu thị này có thể chính xác hoặc gần đúng Cụ thể như sau:
1 Số lượng âm và con chữ trùng nhau
Mỗi con chữ truyền đạt một âm; ngược lại, mỗi âm chỉ được ghi bằng một con chữ
Ví dụ: Việt: Âm Con chữ
2 Số lượng âm và con chữ không trùng nhau
a Một con chữ truyền đạt nhiều âm
Ví dụ: con chữ a của tiếng Việt có thể truyền đạt các âm [a] (na) [ ă ] (tay) [a] anh
Cùng một con chữ có thể truyền đạt hai hoặc ba âm đi liền nhau:
Ví dụ: trong tiếng Anh, con chữ a có thể truyền đạt một nguyên âm đôi (hai âm đi liền nhau): [ei] (cake).
Cùng một con chữ, ngôn ngữ này ghi âm này nhưng ngôn ngữ kia ghi âm khác Trong trường hợp này, giá trị con chữ đã thay đổi tùy theo ngôn ngữ sử dụng chúng
Ví dụ: Chữ Âm: Việt Anh Pháp
c /k/ /k/, /s/ /k/, /s/
ch /c/ / tʃ / /S/
th /t’/ /ð/, /θ/ /t/
b Nhiều con chữ truyền đạt một âm.
Một âm, trong trường hợp này thì ghi bằng con chữ này, trường hợp kia ghi bằng con chữ khác:
Ví dụ: trong tiếng Việt các con chữ k, c, q tùy theo từng trường hợp, có thể xuất hiện để ghi lại âm /k/: ca , kí ,
qúi Âm /z/ được thể hiện bằng các con chữ d (da), gi (giống)
Các con chữ có thể đi liền nhau để truyền đạt một âm Hệ quả là một từ có thể được viết bằng nhiều con chữ nhưng thực chất chỉ gồm rất ít âm
Trang 32Ví dụ: trong tiếng Anh, từ daughter có 8 con chữ nhưng chỉ thể hiện 4 âm [dɔ:t∂] Trong tiếng Việt âm /ŋ/
được thể hiện bằng hai hoặc ba con chữ liên tiếp: nga, nghe
c Con chữ không truyền đạt âm nào mà chỉ giúp cho các con chữ khác được phát âm chính xác.
Ví dụ: con chữ trong tiếng Nga dùng để ghi rằng phụ âm trước nó là phụ âm mềm.
Do mối quan hệ giữa âm và chữ viết phức tạp như trên nên con người đã tiến hành các công việc sau:
- Phiên âm để truyền đạt chính xác vỏ âm thanh của các từ, theo hệ thống ký hiệu ngữ âm quốc tế được Hội Ngữ âm học quốc tế đặt ra vào năm 1888
- Biên soạn từ điển chính âm phục vụ cho việc phát âm đúng từ qua chữ viết
- Cải tiến chữ viết
- Xây dựng chính tả
Trang 34Bài 7 NGHĨA CỦA TỪ
I KHÁI NIỆM NGHĨA CỦA TỪ
Ta có thể thấy rõ mối liên hệ giữa từ với các đối tượng ngoài từ khi quan sát trẻ em mới học nói Một đứa trẻhiểu được từ “gà” khi nghe được âm thanh của từ đó trong các phát ngôn và có sự hiện diện của con gà Dần dần, trong nhận thức của trẻ, âm “gà” có quan hệ với con gà, từ con gà cụ thể nào đấy đến cả loài gà nói chung.Tiến thêm một bước, em bé có thể phân biệt con gà với con chim, vịt, ngan, ngỗng và sử dụng được từ “gà” trong các phát ngôn như: Gà trống đẹp.; Gà con, gà mẹ đi chơi.; Thịt gà thơm v.v Như vậy, đứa trẻ đã nắm được nghĩa của từ “gà”
2 Nghĩa của từ tồn tại ở đâu?
Nghĩa của từ không tồn tại trong sự vật hiện tượng, không tồn tại trong ý thức, trong bộ óc của con người
Nghĩa của từ tồn tại trong từ, nói rộng ra là trong hệ thống ngôn ngữ Hai mặt hình thức âm thanh và nội dung
ý nghĩa của từ gắn bó chặt chẽ, không tách rời nhau
Nghĩa của từ khác với sự hiểu biết về nghĩa của từ Sự hiểu biết về nghĩa của từ tồn tại trong ý thức của con người Nghĩa của từ tồn tại trong ngôn ngữ Những lời trình bày, giải thích về nghĩa của từ trong từ điển là những hiểu biết của con người về nghĩa của từ
3 Các loại nghĩa cơ bản của từ
Như trên đã nói, nghĩa của từ là những liên hệ giữa từ với những cái mà từ chỉ ra Những cái mà từ chỉ ra,
mà từ làm tín hiệu cho chúng là những cái gì? Đó chính là các nhân tố hình thành nghĩa của từ, gồm: đối tượng(sự vật, cái sở chỉ), khái niệm (cái sở biểu), người dùng từ, hệ thống ngôn ngữ
Nghĩa của từ được hình thành từ nhiều nhân tố nên có tính phức tạp, nhiều mặt Người ta thường qui nghĩa của từ thành hai loại cơ bản:
- Nghĩa từ vựng là các mối quan hệ giữa từ với sự vật, giữa từ và khái niệm, giữa từ với người dùng, giữa từ với các từ khác trong hệ thống ngôn ngữ
Một nghĩa từ vựng bao gồm các thành phần nghĩa: nghĩa biểu vật (nghĩa sở chỉ), nghĩa biểu niệm (nghĩa sở biểu), nghĩa biểu thái và nghĩa cấu trúc
Theo từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, nghĩa từ vựng là nội dung của từ, phản ánh và lưu giữ trong nhận thức quan niệm, sự hiểu biết về sự vật, thuộc tính, quá trình
- Nghĩa ngữ pháp là các mối quan hệ giữa từ với các từ khác, giữa từ với các chức năng của từ, giữa hình thức của từ và nghĩa của từ
Trong chương này, chúng tôi chỉ đề cập đến nghĩa từ vựng của từ
II CÁC THÀNH PHẦN NGHĨA CỦA TỪ
1 Nghĩa biểu vật (denotative meaning)
a Nghĩa biểu vật là gì?
Nghĩa biểu vật là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động, quá trình ) Khi từ biểu thị (chỉ ra, gọi tên) sự vật, ta nói từ có nghĩa biểu vật Với nghĩa biểu vật, từ là tên gọi của sự vật, thuộc tính, quá trình
Ví dụ: từ “lá” chỉ ra một bộ phận thực vật
từ “đi” chỉ ra một hoạt động
từ “dài” chỉ ra một thuộc tính
Trang 35Nếu thay thế nghĩa biểu vật của từ với các hình thức biểu vật phi ngôn ngữ tương ứng (dùng tay để chỉ, dùnghình vẽ ) ta sẽ thấy rõ hơn nghĩa biểu vật của từ đó: ở các ví dụ trên, ta có thể thay nghĩa biểu vật của từ “lá” bằng hình vẽ chiếc lá, thay nghĩa biểu vật của từ “đi” bằng cách chỉ ra một hoạt động đi v.v
Nghĩa biểu vật không chỉ tồn tại trong từ mà còn ở trong cụm từ Tuy nhiên nghĩa biểu vật của từ mang tính tổng hợp, nó chỉ gọi tên đối tượng một cách trực tiếp, không nêu rõ các đặc điểm của đối tượng Nó chỉ là tên gọi có tính “ngẫu nhiên, không biểu thị bản chất của sự vật” (Lênin), nên mang tính không lý do Người ta gọi
đó là biểu vật theo lối định danh
Đối tượng được gọi tên (sự vật, thuộc tính, quá trình ) được gọi là cái biểu vật (cái sở chỉ - denota) Cái biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hoặc vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất, có thể nằm trong hoặc nằm ngoài ngôn ngữ Ví dụ: lá, bàn, không khí, thiên thể, câu, từ, ma, quỉ, rồng, thần, thiênđường, địa ngục, linh
Toàn bộ cá thể đối tượng được từ gọi tên là phạm vi biểu vật của từ đó
Ví dụ: từ “người” có phạm vi biểu vật là toàn thể loài người trên thế giới, từ “đi” có phạm vi biểu vật là toàn
thể hoạt động đi lại của con người, từ “Đà Nẵng” có phạm vi biểu vật là một thành phố hoặc một con đường v.v
b Đặc điểm của nghĩa biểu vật
So sánh nghĩa biểu vật với sự vật mà nó gọi tên, ta thấy nghĩa biểu vật không phải luôn luôn tương ứng với
sự vật, trừ nghĩa biểu vật của thuật ngữ khoa học và từ nghề nghiệp
- Nghĩa biểu vật của các từ trong các ngôn ngữ không tương đương nhau do sự chia cắt thực tế khách quan trong những ngôn ngữ đó khác nhau
Thực tế khách quan về cơ bản đồng nhất với mọi dân tộc, với mọi ngôn ngữ Song mỗi ngôn ngữ lại có những tên gọi ứng với những bộ phận không đồng đều, ứng với những đoạn cắt thực tế khác nhau Chẳng hạn, một phạm vi hiện thực “những người cùng thế hệ, có quan hệ ruột thịt”, tiếng Việt chia cắt ra làm ba và gọi tênbằng ba từ: anh, chị, em; tiếng Hán gọi tên bằng bốn từ: "huynh, tỷ, muội, đệ"; tiếng Anh có hai từ: brother và sister Như vậy, nghĩa biểu vật của từ “anh” trong tiếng Việt hẹp hơn từ “brother” trong tiếng Anh
Qua ví dụ trên, có thể thấy, ứng với một phạm vi hiện thực các ngôn ngữ có số lượng từ không giống nhau Thậm chí, cùng một phạm vi sự vật, hiện tượng nhưng ngôn ngữ này có từ, ngôn ngữ kia lại không có từ để biểu thị
Nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ Đó là những mẩu, mảnh, những đoạn cắt thực tế nhưng không trùng với thực tế
- Nghĩa biểu vật (cũng như nghĩa từ vựng nói chung) đều có tính khái quát Sự vật hiện tượng trong thực
tế có tính cá thể, cụ thể
Trong thực tế khách quan, sự vật hiện tượng tồn tại trong dạng cá thể: chúng ta gặp từng chiếc lá, từng cái bàn, từng hoạt động đi, từng tính chất đẹp Nhưng nghĩa biểu vật của các từ: lá, bàn, đi, đẹp không chỉ ra riêng một cá thể nào, chúng gọi tên các tập hợp cá thể cùng loại: từ “lá” gọi tên tất cả các loại lá, từ “đi” gọi têntất cả các hoạt động đi, từ “đẹp” gọi tên tất cả các vẻ đẹp
Sự vật hiện tượng trong thực tế tồn tại trong tính cụ thể: cái bàn trong thực tế luôn mang những biểu hiện cụ thể như chất liệu: gỗ, sắt, nhôm, kính, đá , màu sắc: nâu, đen, trắng, xanh, đỏ , hình dáng: vuông, chữ nhật, tròn, bầu dục , diện tích: 1m2, 1,5m2, 2m2 , nó tồn tại với từng chiều cao cụ thể, trong một không gian, thời gian cụ thể Nghĩa của từ “bàn” chỉ phản ánh sự vật trong dạng khái quát, loại trừ tất cả các biểu hiện cụ thể của đối tượng
Sự vật, hiện tượng tồn tại trong thực tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng tồn tại trong một thể thống nhất: sự vật gắn liền với tính chất, hoạt động gắn liền với chủ thể Hoạt động đi trong thực tế bao giờ cũng do một chủ thể nào đó tiến hành Tính chất xanh bao giờ cũng nằm trong một sự vật như trong một lá cây, một bức tường, một làn ánh sáng v.v Tư duy tách tính chất ra khỏi sự vật, tách hoạt động ra khỏi chủ thể Nghĩa biểu vật lưu giữ sự tách rời đó, nó gọi tên sự vật trong dạng độc lập, riêng rẽ
Nghĩa biểu vật mang tính khái quát nhưng sự khái quát này trong các từ không giống nhau Khi từ hoạt động, hành chức trong lời nói, tính khái quát có thể được khắc phục, từ có thể kết hợp với những từ khác để chỉmột sự vật cá thể, cụ thể, nằm trong mối tương quan với các sự vật khác
2 Nghĩa biểu niệm (significative meaning)
a Nghĩa biểu niệm là mối liên hệ giữa từ với khái niệm và biểu tượng của sự vật