Quản lý vĩ mô đối với đầu tư và xây dựng được tiến hành một cách gián tiếp thông qua hệthống chính sách, các công cụ, nguyên tắc tổ chức quản lý; các quy định định về trình tự, thủ tụcph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
Đề tài : Đặc trưng trong quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư tại Việt Nam giai đoạn 1986 đến nay
Hà nội, tháng 05 năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
Hà nội, tháng 05 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
Đầu tư là một hoạt động không thể thiếu của bất cứ quốc gia nào Đầu tư tạo cơ sở cho sựtăng trưởng và phát triển cho tương lai Điều này còn đặc biệt có ý nghĩa đối với các nước đangphát triển như Việt Nam
Nền kinh tế nước ta đã trải qua những thời kỳ với cơ cấu nền kinh tế thay đổi ngày càng trởlên phức tạp hơn Trước những thay đổi và biến động đó nhà nước ta đã có những chính sách thayđổi góp phần tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam được thực hiện nghiêm túc tạo điềukiện cho nền kinh tế phát triển Tuy lịch sử còn tồn tại những hạn chế nhưng qua thời gian nhànước đã thực hiện điều chỉnh cơ chế cho phù hợp với quan điểm công bằng, tự do và bình đẳng.Những thay đổi sau thời kỳ đổi mới đã đánh dấu bước ngoặt về sự phát triển kinh tế đất nước,mang tính quyết định dần dần giúp Việt Nam xóa bỏ được lối quản lý bao cấp của thời kỳ trước
Ở mỗi giai đoạn thay đổi đều có những Điểm tích cực tích cực và những hạn chế còn tồn tại.Với mong muốn phân tích sâu thêm, đánh giá toàn diện thực trạng cơ chế đầu tư qua các năm qua
để từ đó tìm ra nguyên nhân, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư, nhóm 2 chọn đề tài
“Hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư tại Việt Nam”.
Để giải quyết các vấn đề cơ bản nêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu các cơ chế quản lý đầu
tư, thực trạng qua các giai đoạn cùng các Nghị định, Quyết định, Quy chế, Luật Đầu tư, LuậtDoanh nghiệp, …
Đề tài bao gồm :
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư tại Việt Nam
Chương 3: Bài học kinh nghiệm từ quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư tại Việt Nam thời gian qua
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Một số khái niệm về quản lý đầu tư
1.1 Đầu tư
Là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định nhằm đạtđược kết quả hoặc tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
1.2 Phân loại đầu tư:
Tùy theo tiêu chí phân loại mà có thể có nhiều loại đầu tư khác nhau
Theo nguồn vốn và mục tiêu đầu tư, chia ra thành:
• Đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng
đầu tư công khác theo quy định của pháp luật Đầu tư công sẽ tạo ra tài sản công để cungứng các dịch vụ và hàng hóa công đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
• Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh thông
qua việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, đầu tư theo hình thứchợp đòng hoặc thực hiện dự án đầu tư
• Đầu tư theo hình thức thức đối tác công tư (PPP) là nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án ký
kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tư xâydựng mới, cải tạo, mở rộng, nâng cấp, quản lý vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặccung ứng dịch vụ công
Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư:
• Đầu tư trực tiếp là phương thức đầu tư, trong đó chủ đầu tư trực tiếp tham gia quản trị
Về hình thức, dự án đầu tư thường được thể hiện dưới hình thức một tập tài liệu kinh tế - kỹthuật về kế hoạch huy động tổng thể các hoạt động và chi phí liên quan được hoạch định mộtcách hệ thống, khoa học nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời hạn xác định
Về nội dung: Thông qua tập tài liệu kinh tế - kỹ thuật nêu trên, nhu cầu sử dụng các nguồnlực để đạt được mục tiêu đầu tư được xác lập Nội dung của một dự án thường phải thể hiện được
4 vấn đề cơ bản sau: sự cần thiết và mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư và các giải pháp thực hiện,chi phí và hiệu quả đầu tư, độ an toàn và tính khả thi của dự án
Tóm lại, dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí liên quan được hoạch định mộtcách hệ thống, khoa học nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời hạn xác định
Trang 61.4 Vai trò của dự án đầu tư
Dự án đầu tư là một trong những khâu đầu tiên thuộc giai đoạn chuẩn bị đầu tư và xâydựng Do được thiết lập dựa trên hệ thống các dữ liệu thực tế và theo một trình tự nhất đinh,thông qua các bước tính toán, phan tích của quy trình thẩm định, phê duyệt một cách khá chặt chẽ
và toàn diện , nên dự án đầu tư vừa mang tính khóa học, thực tiễn lại vừa có tính kế hoạch vàpháp lý cao, giữ vai trò trọng yếu đối với toàn bộ quá trình hoàn thành dự án, cụ thể:
Dự án đầu tư là cơ sở nền tảng cho các quyết định đầu tư
Dự án đầu tư, sau khi được phê duyệt, trở thành căn cứ pháp lý cho toàn bộ các khâu tiếptheo của quá trình tiến hành thực hiện dự án;
Là cơ sở để doanh nghiệp quản lý đầu tư và xây dựng từ khâu hình chủ trương đầu tư, thựchiện đầu tư… cho đến khâu nghiệm thu & bàn giao công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng
a) Nguyên tắc tổ chức và quản lý đầu tư và xây dựng
Quản lý đầu tư và xây dựng được thực hiện ở cả cấp vĩ mô và vi mô
Quản lý vĩ mô đối với đầu tư và xây dựng được tiến hành một cách gián tiếp thông qua hệthống chính sách, các công cụ, nguyên tắc tổ chức quản lý; các quy định định về trình tự, thủ tụcphê duyệt, thẩm định của các cơ quan chức năng của Nhà nước Hay nói một cách khác, đó là quátrình quản lý theo dự án
Quản lý vi mô là quá trình quản lý trực tiếp và cụ thể đối với từng khâu của hoạt động đầu
tư và xây dựng Quản lý vi mô chính là quản lý của các chủ đầu tư đối với từng dự án
b) Quản lý đầu tư và xây dựng theo dự án
Một dự án đầu tư bất kỳ nào dù là xây dựng một nhà máy mới, một hệ thống thiết bị, máymóc, dây chuyền công nghệ mới, một nhà kho mới hay đơn giản là mua sắm và thay thế một máymóc đơn lẻ… khi tiến hành thực hiện đều đòi hỏi phải sử dụng các nguồn lực về tài chính, laođộng, kỹ thuật, vật chất và cả thời gian trong mối quan hệ hỗ tương với nhiều yếu tố khác về kinh
tế, kỹ thuật, công nghệ, xây dựng, tài nguyên, môi trường… kể cả các yếu tố xã hội và pháp lý
Do vậy, quá trình sử dụng các nguồn lực này, đòi hỏi phải được quan tâm và phối hợp một cáchđồng bộ và đúng mức nhằm đảm bảo mục tiêu toàn diện của dự án: phục vụ hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp có hiệu quả cao đồng thời phải phù hợp với lợi ích của ngành, địaphương, vùng lãnh thổ và cả quốc gia Do tầm quan trọng như trên, các yếu tổ ảnh hưởng và liênquan trong quá trình sử dụng các nguồn lực phải được xem xét, phân tích, tính toán, so sánh,đánh giá và lựa chọn một cách khoa học và thận trọng phù hợp với tính chất và đặc thù riêng củatừng dự án đầu tư Việc tiến hành các công việc như vậy chính là lập và thực hiện dự án Hay nóicách khác, hoạt động đầu tư cần được tiến hành theo dự án
c) Nguyên tắc quản lý của nhà nước về đầu tư và xây dựng
Quản lý đầu tư và xây dựng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Toàn bộ các dự án đầu tư và xây dựng trong cả nước phải được thực hiện theo dự án, quyhoạch và pháp luật
Riêng các dự án đầu tư thuộc vốn ngân sách nhà nước, thuộc tính dụng do nhà nước bảolãnh, vốn do doanh nghiệp nhà nước đầu tư … còn phải được quản lý chặt chẽ theo trình tự đầu
tư và xây dựng được theo quy định đối với từng loại nguồn vốn đầu tư
Còn các hoạt động đầu tư xây dựng của nhân dân và các tổ chức khác, chỉ được quản lýgiới hạn tỏng phạm vi quy hoạch, kiến trúc và môi trường sinh thái
d) Quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư và xây dựng
Nhằm đảm bảo cho các mục tiêu, ngoài các nguyên tắc nêu trên, bộ máy quản lý đầu tư vàxây dựng; phân định trách nhiệm, quyền hạn và sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý
Trang 7nhà nước hữu quan các cấp,; giữa cơ quan quản lý nhà nước với các bên có liên quan như chủđầu tư, ban quản lý dự án, các tổ chứ tư vấn và các nhà thầu tham gia trong quá trình đầu tư vàxây dựng… cũng được quy định phù hợp theo từng nhóm đối tượng quản lý khác nhau… thôngqua hệ thống các văn bản pháp quy được ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung một cách thường xuyên
để ngày càng sát hợp hơn với yêu cầu quản lý trong thực tiễn
Quản lý của Nhà nước đối với các dự án là quản lý ở tầm vĩ mô Thông qua hệ thống cáccông cụ quản lý nhà nước như chính sách, chế độ về đầu tư, tài chính, thuế, hệ thống định mức,tiêu chuẩn kỹ thuật, quy hoạch ngành, vùng lãnh thổ…
Nhà nước tiến hành các biện pháp tác động và điều phối toàn bộ các khâu trong quá trình
sử dụng nguồn lực có liên quan đến đầu tư và xây dựng Do vậy, quản lý nhà nước về đầu tư vàxây dựng cũng chính là quản lý toàn bộ quá trình của dự án, từ lúc có chủ trương đầu tư và xâydựng cho đến khi hoàn thành dự án
Quản lý của nhà nước về đầu tư và xây dựng được thực hiện nhằm các mục tiêu sau:Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược
và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước; phù hợp với định hướng phát triển của ngành
e) Đối tượng quản lý của nhà nước về đầu tư và xây dựng
Đối tượng quản lý đầu tư và xây dựng bao gồm các nhóm dự án sau:
Đầu tư và xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa lớn hoặc nhâng cấp các dự án đã đầu tư và xâydựng
Đầu tư mua sắm tài sản kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt hay các sản phẩm côngnghệ khoa học
Quy hoạch phát triển vùng, lãnh thổ, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng đôthị, nông thôn bằng nguồn vốn NSNN
Các công trình sử dụng vốn nhà nước mà không cần phải lập dự án đầu tư (ví dụ như cáccông trình an ninh, quốc phòng, phòng chống lụt bão cấp bách…)
Và kể cả các dự án đầu tư và xây dựng không sử dụng nguồn vốn nhà nước
Như vậy có thể thấy, nhà nước đã quy định phạm vi đối tượng được quản lý bao quát hầuhết tát cả các loại đầu tư và xây dựng của xã hội
2 Hệ thống Bộ máy quản lý đầu tư và xây dựng
Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đầu tư hiện nay gồm có:
- Các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Xây dựng, Bộ Tàichính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Các bộ, ngành có liên quan khác cùng các cơ quan trựcthuộc; Ủy ban nhân dân các cấp
- Các doanh nghiệp, gồm cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư, các đơn vị chứ năng cũng như banquản lý dự án
- Các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng với những chức năng như lập dự án đầu tư, khảo sát, thiết
kế, giám sát thi công, thanh toán vốn đầu tư… ể các tư vấn về mặt pháp lý trong đầu tư và xâydựng
- Các doanh nghiệp xây dựng: là doanh nghiệp có đăng ký về kinh doanh xây dựng
- Tùy theo đặc điểm và yêu cầu mà nhiệm vụ và quyền hạn cũng như mối quan hệ phối hợp giữacác đơn vị trong hệ thống được quy định khác nhau/
Trang 8• Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Theo quy định hiện hành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm và
các quyền hạn sau đây:
Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách về đầu tư, quản lý Nhà nước về lĩnh vực đầu tưtrong nước, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của người Việt Nam tại nước ngoài
Xác định phương hướng và cơ cấu vốn đầu tư bảo đảm sự cân đối giữa đầu tư trong nước
và nước ngoài trình Chính phủ quyết định
Trình chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quanđến cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước nhằm thựchiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy hoaoachj, kế hoạch để ổn định kinh tế xã hội
Cấp giấy phép đầu tư và hướng dẫn các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khaicông tác chuẩn bị đầu tư theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các quy chế có liên quancủa quy chế này
Tổ chức thẩm định các dự án đầu tư thuốc nhóm A trình Tuhr tướng Chính phủ xem xét,quyết định đầu tư hoặc đồng ý để bộ cấp đăng ký kinh doanh cho các dự án đầu tư thuộc nhóm Akhông dùng vốn Nhà nước; theo dõi quyas tình đầu tư các dự án tỏng kế hoạch Nhà nước
Tổng hợp trình Chính phủ kế hoạch đầu tư phát triển từng giai đoạn 5 năm và hàng năm.Phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch đầu tư các nguồn vốn doNhà nước quản lý
Chủ trì phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính và các bộ, ngành, địaphương hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quy chế đấu thầu
Quản lý Nhà nước về việc lập, thẩm tra, xét duyệt, thực hiện các dự án quy hoạch pháttriển kinh tế xã hội
• Bộ Xây dựng có trách nhiêm và quyền hạn về kỹ thuật xây dựng và kiến trúc, thể hiện cụ thể:
Nghiên cứu các cơ chế chính sách về quản lý xây dựng, quy hoach xây dựng đô thị vànông thông trình thủ tướng chính phủ ban hành và được thủ tướng chính phủ ủy quyền ban hành
Ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm, quy chuẩn xây dựng, quy trình thiết kế xây dựng, cácquy định quản lý chất lượng công trình, hệ thống định mức, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật xây dựng,định mức chi phí tư vấn đầu tư và xây dựng; thỏa thuận để bộ có xây dựng chuyên ngành banhành các tiêu chuẩn, định mức, quy phạm, các quy định quản lý chất lượng công trình kỹ thuậtchuyên ngành
Chủ trì cùng bộ chuyên ngành kỹ thuật tổ chức thẩm định thiết kế kỹ thuật và tổng dựtoán các dự án đầu tư thuộc nhốm A để cấp có thẩm quyền phê duyệt Thống nhất quản lý Nhànước về chất lượng công trình xây dựng, theo dõi, kiểm tra, phát hiện và kiến nghị xử lý chấtlượng các công trình xây dựng, đặc biệt về chất lượng công trình xây dựng thuộc dự án nhóm A
Hướng dẫn hoạt động của các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, doanh nghiệp xây dựng vàcác tổ chức quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Phối hợp với Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành
và các địa phương để thực hiện việc hướng dẫn và kiểm tra việc chấp hành Quy chế quản lý đầu
tư và xây dựng đối với các cá nhân và tổ chức có liên quan
• Bộ Tài chính có trách nhiệm quản lý đầu tư và xây dựng chủ yếu vè mặt tài chính cụ thể:
Nghiên cứu các chính sách, chế độ về huy động các nguồn vốn đầu tư để trình Thủ tướngchính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền
Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc phân bổ kế hoạch cấp phát vốn đầu tưcho các bộ, địa phương và các dự án quan trọng quốc gia sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Thống nhất quản lý vốn vay và viện trợ của Chính phủ dành cho đầu tư phát triển
Trang 9Cấp bảo lãnh Chính phủ cho doanh nghiệp (trừ các tổ chức tín dụng) vay vốn nước ngoàitheo Quy định của Chính phủ.
Thanh tra, kiểm tra tài chính đối với dự án của các đơn vị sử dụng nguồn vốn đầu tư củaNhà nước; hướng dẫn, kiểm tra việc quyết toán vốn đầu tư các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhànước và thực hiện quyết toán vốn đầu tư các dự án nhóm A sử dụng vốn Nhà nước
Hướng dẫn việc cấp vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư, vốn sự nghiệp có tính chất đầu
tư và xây dựng đối với các dự án, chuwong trình theo kế hoạch đầu tư và theo chỉ đạo của Thủtướng Chỉnh phủ
• Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là có quan có chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ
và tín dụng Đối với đầu tư và xây dựng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm và quyềnhạn ở phạm vi quy định sau:
Nghiên cứu cơ chế, chính sách quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong đầu
tư và xây dựng trình Thru tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền
Giám sát các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính, tín dụng khác thực hiện nhiệm vụ:Huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước để cho vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn đốivới các dự án đầu tư phát triển và sản xuất kinh doanh
Cho vay vốn đối với các dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, khả thi và có khả năngtrả nợ, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn thực hiện được các cơhội đầu tư có hiệu quả
Bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầy và cáchình thức bảo lãnh khác theo quy định của pháp luật
Thực hiện bảo lãnh các khoản vốn vay nước ngoài của các tổ chức tín dụng để đầu tư vàxây dựng
• Các bộ, ngành khác có liên quan:
Ngoài các cơ quan kể trên, thực hiện quản lý nhà nước trong đầu tư và xây dựng còn cócác bộ, cơ quan ngang bô hoặc cơ quan trực thuộc Chính phủ khác Nhiệm vụ và quyền hạn củamỗi đơn vị nói trên trong quản lý đầu tư và xây dựng được quy định cụ thể như sau:
Các bộ có chức năng quản lý công trình xây dựng chuyên ngành có trách nhiệm xây dựng
và ban hành các quy phạm, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật có liên quan đến xây dựng saukhi có sự thỏa thuận của Bộ Xây dựng
Các bộ quản lý ngành và các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực có liên quan thường xuyênđến đầu tư và xây dựng như về đất đai, tài nguyên, sinh học, công nghệ, môi trường, thương mại,bảo tồn, bảo tang di tích, di sản văn hóa, cảnh quan, quốc phòng, an ninh, phòng cháy và chữacáy… có trách nhiệm xem xét và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề liên quan của dự án đầu
tư trong thời gian quy đinh Sau thời gian quy định, nếu không nhận được ý kiến trả lời của các
bộ quản lý ngành có liên quan thì được xem như các bộ, ngành và cơ quan đó đã thống nhất vớivăn bản đề nghị
• Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Tỉnh & thành phố thuộc trung ương)
Trong phạm vi chức năng, quyền hạn đã được phân cấp, thực hiện trách nhiệm quản lýNhà nước đối với tất cả các tổ chức và cá nhân thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn theo quy địnhcủa pháp luật
Ngoài quy định đối với các cơ quan quản lý nhà nước, còn có các quy định về trách nhiệm
và quyền hạn của chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và doanh nghiệp xây dựng
3 Trách nhiệm và Quyền hạn chủ đầu tư
Chủ đầu tư là người chủ sở hữu vốn, người vay vốn hoặc người được giao trách nhiệmtrực tiếp quản lý và sử dụng vốn để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật Đối với hoạtđộng đầu tư và xây dựng, chủ đầu tư có trách nhiệm và quyền hạn sau:
Trang 10- Tổ chức lập dự án, xác định rõ nguồn vốn đầu tư, thực hiện các thủ tục về đầu tư và trình cấp cóthẩm quyền phê duyệt.
- Tổ chức tự thực hiện đầu tư bao gồm: tổ chức đấu thầu để lựa chọn Nhà thầu, ký kết hợp đồng vàthực hiện hợp đồng đã ký theo quy định của pháp luật
- Các dự án đầu tư sử dụng một hay nhiều nguồn vốn khác nhau thì chủ đầu tư có trách nhiệm toàndiện, liên tục về quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư vàđưa dự án và khai thác sử dụng, thu hồi và hoàn trả vốn đầu tư
- Khi thay đổi chủ đầu tư, chủ đầu tư mới được thay thế phải chịu trách nhiệm kế thừa toàn bộcông việc đầu tư của chủ đầu tư trước
- Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án, phải có bộ máy có đủ năng lực quản lý và đăng kýtại cơ quan có thẩm quyền
- Chủ đầu tư có quyền yêu cầu các cơ quan hữu quan của Nhà nước công bố công khai các quyđịnh có liên quan đến công việc đầu tư như quy hoạch xây dựng đất đai, tài nguyên, nguồn nước,điện, giao thông vận tải, môi trường sinh thái, phòng chống cháy, nổ, bảo vệ si tích văn hóa, lịch
sử, an ninh, quốc phòng để chủ đầu tư biết và thực hiện
- Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án và ban quản lý dự án có trách nhiệm sử dụng có hiệuquả vốn đầu tư; thực hiện đầy đủ các nội dung quy định về quản lý tài chính; phải bồi thườngthiệt hại vật chất nếu gây lãng phí vốn đầu tư của Nhà nước hay của doanh nghiệp và bị truy cứutrách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
- Ban quản lý dự án là tổ chức thực hiện vai trò, trách nhiệm của chủ đầu tư, có nhiệm vụ trực tiếpquản lý thực hiện dự án, chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư
Ngoài ra, quá trình thực hiện dự án đầu tư, quy định hiện hành còn có một số nghiêm cấmhoặc hạn chế đối với chủ đầu tư như:
- Trong giao nhận thầu, nghiệm thu và thanh quyết toán vốn đầu tư, nghiêm cấm chủ đầu tư cóhành vi yêu sách, nhận hối lộ của các nhà thầu (NĐ 07-CP);
- Trong hồ sơ mời thầu, nghiêm cấm chủ đầu tư quy định nội dung để tạo ra sự cạnh tranh khôngbình đẳng giữa các nhà thầu; nghiêm cấm việc dàn xếp thầu và áp đặt các điều kiện trái quy địnhnhằm vụ lợi
3.1 Trách nhiệm của các tổ chức hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng
Tổ chức tư vấn là các tổ chức nghề nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, có tư cách phápnhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn đầu tư và xây dựng theo quy định của pháp luật
Nội dung hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng bao gồm cung cấp thông tin về văn bảnquy phạm pháp luật, về cơ chế chính sách đầu tư và xây dựng, lập các dự án đầu tư, quản lý dự ánđầu tư, thiết kế, soạn thảo hồ sơ mời thầu, giám sát và quản lý quá trình thi công xây lắp, quản lýchi phí xây dựng, nghiệm thu công trình
Các tổ chức tư vấn có thể ký hợp đồng lại với các tổ chức tư vấn đầu tư xây dựng khác đểthực hiện một phần nhiệm vụ của công tác tư vấn
Khi tham gia tư vấn về đầu tư và xây dựng, tổ chức này phải:
- Đảm bảo đầy đủ các điều kiện, năng lực theo quy định của Bộ Xây dựng và chịu trách nhiệmtrước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, đặc biệt là các nộidung kinh tế kỹ thuật được xác định trong sản phẩm tư vấn của mình và phải bồi thường thiệt hạicho chủ đầu tư nếu sản phẩm tư vấn của mình gây ra
- Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (mức phí và quy định cụ thể do Bộ Tài chính chính quyđịnh) Phí bảo hiểm được tính vào giá sản phẩm tư vấn Việc mua bảo hiểm nghề nghiệp tư vấn làmột điều kiện pháp lý trong hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng
Trang 11- Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tíndụng đầu tư phát triển của Nhà nước có yêu cầu phải thuê tư vấn nướ ngoài thì các tổ chức,chuyên gia tu vấn nước ngoài được thuê phải liên doanh với tư vấn Việt Nam để thực hiện (trừtrường hợp được Thủ tướng Chính phủ cho phép Tư vấn trong nước được phép liên doanh, liênkết hoặc thuê tổ chức, chuyên gia tư vấn nước ngoài trong hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng.
Ngoài ra, cũng như chủ đầu tư, để phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực, một số nghiêmcấm và hạn chế đối với tổ chức tư vấn được quy định như sau:
- Trong các sản phẩm tư vấn, nghiêm cấm các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng chỉ định dùng cácloại vật liệu hay vật tư kỹ thuật của một nơi sản xuất, cung ứng nào đó mà chỉ được phép yêu cầuchung về tính năng kỹ thuật của vật liệu hoặc vật tư kỹ thuật
- Nghiêm cấm các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng mua, bán tư cách pháp lý để tham gia dự thầuhoặc mua bán thầu hoặc tiết lộ thông tin về đấu thầu cho các nhà thầu tham dự đấu thầu
3.2 Trách nhiệm của các doanh nghiệp xây dựng
Doanh nghiệp xây dựng là doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập, cóđăng ký kinh doanh về xây dựng
Khi hoạt động thi công xây lắp công trình, các doanh nghiệp này phải đảm bảo đầy đủ cácđiều kiện và năng lực theo quy định của Bộ Xây dựng, chịu trách nhiệm thực hiện xây dựngcông trình hoặc lắp đặt máy móc thiết bị, gồm các quy định cụ thể sau:
Chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợpđồng giao nhận thầu xây lắp và phải bồi thường thiệt hại phát sinh nếu do lỗi của mình gây ra.Phải mua bảo hiểm cho vật tư, thiết bị, Nhà xưởng phục vụ thi công, bảo hiểm tai nạn đốivới người lao động, bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3 Phí bảo hiểm được tínhvào chi phí sản xuất Việc mua bảo hiểm là một điều kiện pháp lý trong hoạt động xây dựng củacác doanh nghiệp xây dựng
Đồng thời nghiêm cấm các doanh nghiệp xây dựng mua bán tư cách pháp lý để tham gia
dự thầu hoặc dàn xếp, mua, bán thầu hoặc thông đồng, móc ngoặc với chủ đầu tư trong đấu thầu
3.3 Yêu cầu và nội dung giám sát, đánh giá đầu tư
Để tổ chức quản lý tốt về đầu tư, NĐ 07-CP còn quy định hệ thống tổ chức bộ máy giámsát và đánh giá đầu tư
Hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư có thể phân biệt theo hai góc độ:
Giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư là hoạt động giám sát, đánh giá các hoạt động đầu tưmang tính chất vĩ mô của nền kinh tế hoặc các ngành, các lĩnh vực hay các địa phương
Nội dung chủ yếu của Giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư là theo dõi, đánh giá về quymôn, tốc độ, cơ cấu, hiệu quả đầu tư của nền kinh tế, các ngành, các địa phương trong từng thờikỳ; theo dõi đánh giá việc thực hiện đầu tư theo quy hoạch, kế hoạch, chương trình đã được phêduyệt; giám sát, đánh giá mức độ phù hợp của việc ra quyết định đầu tư dự án của các Bộ, ngành
và cấp thẩm quyền so với quy hoạch, kế hoạch được duyệt, cũng như việc thực hiện dự án củachủ đầu tư theo các nội dung đã được cáp có thẩm quyền phê duyệt và viecj chấp hành các quyđịnh của Nhà nước về đầu tư xây dựng
Có giám sát, đánh giá đầu tư là hoạt động giám sát, đánh giá các dự án đầu tư do người cóthẩm quyền cho phép đầu tư hoặc quyết định đầu tư thực hiện Thông qua hoạt động giám sát,đánh giá đầu tư, tình hình thực hiện dự án sẽ được theo dõi và phân tích làm cơ sở kiến nghị đến
cơ quan quyết định đầu tư, chủ đầu tư hoặc các cơ quan liên quan xem xét, xử lý các vấn đề phátsinh
Theo quy định hiện hành, việc tổ chức thực hiện và phối hợp giữa các cơ quan chức năngtrong hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư có thể khái quát như sau:
Trang 12- Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư và các dự án quantrọng quốc gia, các dự án nhóm A do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư hoặc cho phép đầutư.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn công tác giám sát, đánh giá đầu tư trong toàn quốc; tổ chứcthực hiện giám sát, đánh giá tổng thẻ đầu tư và các dự án quan trọng quốc gia, các dự án nhóm A
do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư hoặc cho phép đầu tư; tổng hợp công tác giám sát,đánh giá đầu tư trong toàn quốc, định kỳ hàng quý báo cáo Thủ tướng Chính phủ
- Các Bộ, tỉnh, thành phối trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá tổng thể các
dự án thuộc thẩm quyền quản lý; định kỳ 6 tháng báo cáo Thủ tướng Chính phủ
- Chủ đầu tư, ban quản lý dự án có nhiệm vụ giám sát, đánh giá dự án đầu tư theo quy định; định
kỳ ba tháng một lần tổng hợp báo cáo với cấp thẩm quyền quyết định đầu tư dự án (vốn, tiến độ,đấu thầu, chất lượng) và kiến nghị các giải pháp khắc phục Các cấp có thẩm quyền không đượcphép điều chỉnh đầu tư với các dự án không qua giám sát, đánh gia đầu tư theo đúng thủ tục quyđịnh
- Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về chi phí cho công tác giám sát,đánh giá đầu tư
3.4 Quy chế đấu thầu
Để quản lý tốt hơn về mặt tài chính, tạo sự công bằng trong việc tham gia vào các hạngmục trong các dự án đầu tư, Nhà nước còn quy định thực hiện theo quy chế đấu thầu đối với các
dự án đầu tư
Quy chế đấu thầu hiện hành được áp dụng cho các dự án đầu tư tại Việt Nam Việc đấuthầu này phải được tổ chức và thực hiện tại Việt Nam
Theo quy định hiện hành, đối tượng bị bắt buộc phải áp dụng quy chế đấu thầu là:
- Các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách hoặc vốn của các doanh nghiệp Nhà nước
- Các dự án liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc cổ phần có sự tham gia của các tổ chứckinh tế Nhà nước (các DNNN) từ 30% trở lên vào vốn pháp định, vốn kinh doanh hoặc vốn cổphần;
- Các dự án sử dụng vốn tài trợ của các tổ chức quốc tế hoặc nước ngoài được thực hiện trên cơ sởnội dung điều ước được các bên ký kết (các bên tài trợ và bên Việt Nam) Trường hợp có nhữngnội dung trong dự thảo điều ước khác với quy chế này thì cơ quan được giao trách nhiệm đàmphán ký kết điều ước này giải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định trước khi ký kết
- Đối với các dự án cần chọn đối tác thực hiện, bắt buộc phải áp dụng quy chế đấu thầu khi có từhai nhà đầu tư muốn tham gia dự án trở lên hoặc trong trường hợp có yêu cầu của Thủ tướngchỉnh phủ (đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài)>
- Đầu tư mua sắm đồ dùng, vật tư, trang thiết bị, phương tiện làm việc của cơ quan Nhà nước, đoànthể, doanh nghiệp Nhà nước; đồ dùng và phương tiện làm việc của lực lượng vũ trang Bộ Tàichính quy định chi tiết phạm vi mua sắm, giá trị mua sắm, trách nhiệm, quyền hạn của đơn vịmua sắm theo luật ngân sách Nhà nước
Ngoài các dự án kể trên, các đối tượng khác chỉ khuyến khích áp dụng quy chế đấu thầu
3.5 Quản lý dự án đầu tư
Đây là hình thức quản lý vi mô – quản lý của cấp cơ sở đối với dự án đầu tư và xây dựng,
có tính chất trực tiếp và cụ thể đối với từng khâu của hoạt động đầu tư và xây dựng Nói cáchkhác, quản lý vi mô chính là quản lý của các chủ đầu tư đối với từng dự án
Quản lý dự án đầu tư được thực hiện nhằm mục đích đảm bảo cho các dự án hoạt độngtheo đúng quy định của luật pháp; kiểm soát được các chi phí, tiến độ thực hiện kế hoạch; Bảođảm chất lượng, kiến trúc và mỹ quan của công trình xây dựng đồng thời đạt được các mục tiêu
Trang 13hiện đại hóa công nghệ, máy móc thiết bị, bảo đảm môi trường sinh thái, an toàn lao động phòngchống cháy nổi mà dự án đã đề ra.
Với các mục tiêu này, yêu cầu đối với hoạt động quản lý dự án đầu tư đã được quy địnhkhá cao, như:
- Quản lý dự án phải đúng pháp luật và chính sách của Nhà nước, của các ngành, các địa phương
để hướng hoạt động cảu dự án đạt được mục tiêu đã đề ra
- Quản lý một cách liên tục và toàn diện tất cả các khâu của quá trình đầu tư, từ chuẩn bị đầu tư,thực hiện đầu tư và hoàn thành, nghiệm thu công trình để đưa vào khai thác sử dụng
- Quản lý dự án phải gắn liền với yêu cầu thực hiện đúng lịch trình và tiến độ đã đề ra trong dự án
Vì dự án mang tính kế hoạch và khóa học rất cao, nên việc tuân thủ đúng tiến độ và kế hoạchxây dựng sẽ bảo đảm tiêu tốn nguồn lực ít nhất
- Quản lý dự án còn đòi hỏi phải quản lý cả hoạt động thẩm định dự án, bao gồm cả thẩm địnhnghiên cứu và thẩm định thực hiện
- Quản lý việc thẩm định nghiên cứu dự án bao gồm việc tổ chức các cơ quan thẩm định, xác địnhthành phần của hội đồng thẩm định dự án; quy định nội dung và trình tự thẩm định; xem xét,đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế xã hội của dự án như thị trườngsản phẩm, giải pháp công nghệ, kỹ thuạt… Quản lý thẩm định phải coi trọng và tuân thủ các chỉtiêu, định mức, các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật… Ngoài ra, quản lý thẩm định còn phải bảo đảmtính khách quan, khoa học, chính xác, trung thực và hướng đến mục tiêu cuối cùng là chất lượngtốt nhất với chi phí hợp lý, tiết kiệm và thời gian thực hiện nhanh nhất
a Nội dung quản lý
Để việc theo dõi và quản lý được thuận tiện, căn cứ vào đặc điểm riêng của các công việctiến hành, người ta chia toàn bộ quá trình thực hiện dự án làm ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư,thực hiện đầu tư và giai đoạn hoàn thành, đưa dự án vào khai thác sử dụng
f) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư
Chuẩn bị đầu tư là giai đoạn hình thành sản phẩm nghiên cứu Chi phí trong giai đoạn nàythường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chi phí của dự án Ở giai đoạn này mặc dù các nghiên cứuchỉ mới mang tính sơ bộ, chưa đi sâu chi tiết, các kết luận chỉ ở dạng khái quát, nhưng đây làgiai đoạn hết sức quan trọng, mang ý nghĩa quyết định và là nền móng cho việc thành công haythất bại của một dự án đầu tư Việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và gần như đầy đủ mọithông tin cần thiết được tiến hành để có được thông số kinh tế - kỹ thuật mang tính thuyết phụclàm cơ sở cho quyết định đầu tư của một sự án là không thể thiếu được để dự án đạt hiệu quả.Thông thường, nội dung của việc nghiên cứu trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư phải tuần tựtrải qua 4 khâu chính là: nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi vàthẩm định dự án đầu tư Trong đó, 3 khâu đầu thuộc phần hành của lập dự án đầu tư còn thẩmđịnh dự án đầu tư khâu cuối cùng thuộc trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu
tư Tùy theo quy mô và tính chất quan trọng của từng dự án mà các khâu trên có thể được vậndụng toàn bộ hay lược bỏ bớt
Nghiên cứu cơ hội đầu tư là quá trình tìm kiếm và đánh giá một cách khái quát nhưng khátoàn diện các yesu tố thuận cũng như bất lợi và đánh giá một cách khái quát nhưng khá toàn diệncác yếu tố thuận cũng như bất lợi đối với việc thục hiện mục tiêu mà dự án đầu tư nhắm đến.Nói chung giai đoạn này phải tiến hành điều tra, nghiên cứu nhiều mặt có liên quan như thịtrường, công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị, chất lượng sản phẩm, khả năng cung ứng đầu racũng như các yếu tố đầu vào cần thiết khác… để trên cơ sở đó, đánh giá được cơ hội và kể cảcác yếu tố rủi ro sẽ mang đến nếu dự án được thực hiện
Trang 14Nghiên cứu tiền khả thi và khả thi Đây là bước quan trọng nhằm đưa ra các số liệu, cácluận cứ khoa học và pháp lý để chứng minh cho dự cần thiết và hiệu quả dự án đầu tư Trongbước này, nghiên cứu tiền khả thi thì đòi hỏi mức độ không chỉ tiết bằng nghiên cứu khả thi Kếtquả của bước nghiên cứu khả thi là căn cứ cho quyết định dự án có được tiếp tục thực hiện ởbước tiếp theo hay không.
Thẩm định dự án đầu tư là đánh giá kết quả đã nghiên cứu ở các khâu trươc Kết quả củaquá trình thẩm định này không những chỉ là các nhận định về nội dung, hình thức và phươngpháp đã nghiên cứu, mà còn phải đưa ra được kết luận dự án có được đầu tư hay không Nộidung thẩm định hiện hành được quy định rất rõ trong nghị định 52-CP Như vậy, khâu thẩm địnhcũng là khâu quan trọng vì chính khâu này sẽ cho câu trả lời là thực hiện tiếp hay ngưng dự án.Nội dung trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư thường bao gồm các bước cụ thể sau:
Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư;
Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để xác định như cầu tiêuthụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm; tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất; xemxét khả năng nguồn vốn và lựa chọn hình thức đầu tư thích hợp
Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước và ngoài nước để xác định nhu cầu tiêuthụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm; tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất; xemxét khả năng nguồn vốn và lựa chọn hình thức đầu tư thích hợp’
Tiến hành điều tra khảo sát và chọn địa điểm xây dựng;
sẽ tạo cơ sở cho dự án đạt có hiệu quả cao hoặc ngược lại
Do vậy, yêu cầu đối với người quản lý ở giai đọn này là phải có đủ năng lực và trình độchuyên môn để tổ chức công việc và phân công hợp lý, bảo đảm cho việc thu thập, tính toán vàphân tích các số liệu trong quá trình lập dự án được tiến hành một cách thận trọng, đầy đủ, cậpnhật chính xác và khách quan, làm cơ sở khoa học cho quyết định đầu tư của dự án
g) Giai đoạn thực hiện đầu tư
Đầu tư được tiến hành sau khi có quyết định đầu tư Đây là giai đoạn tạo cơ sở vật chất kỹthuật cho dự án Tổng chi phí trong giai đoạn này thường chiếm tỷ trọng cao, khoảng từ 80%đến 90% trong tổng chi phí của dự án Trọng tâm của giai đoạn này là tổ chức thực hiện tất cácmục tiêu của quyết định đầu tư Đây là giai đoạn có tính chất quyết định trực tiếp đến chất lượngcông trình và máy móc thiết bị cũng như hiệu quả khai thác của dự án về sau Do vậy, yêu cầuquan trong của giai đoạn này sự phối hợp trong tổ chức, điều phối và kiểm tra các hoạt độngtheo đúng tiến độ và kế hoạch đã đề ra
Nội dung của giai đoạn thực hiện dự án đầu tư bao gồm các bước:
Xin giao đát hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng đất);
Xin giấy phép xây dựng (nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng) và giấy phép khai tháctài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên);
Thực hiện việc đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi(đối với các dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi) và chuẩn bị mặt bằng xây dựng;
Mua sắm thiết bị công nghệ;
Thực hiện khảo sat, thiết kế xây dựng
Thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình;
Trang 15Tiến hành thi công xây lắp;
Kiểm tra và thực hiện các hợp đồng;
Quản lý kỹ thuật, chất lượng đối với công trình xây lắp
h) Giai đoạn được công trình đã hoàn thành vào khai thác sử dụng
Đây là giai đoạn kết thúc quá trình xây lắp Mục tiêu của giai đoạn này là nghiệm thu toàn
bộ các hạng mục công trình đã hoàn thành, đánh giá hiệu quả khai thác công suất của máy mócthiết bị, tiến hành nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng và quyết toán vốn đầu tư.Tóm tại, với nội dung và nhiệm vụ của toàn bộ các khâu trong 3 giai đoạn kể trên đòi hỏinhà quản lý không chỉ có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ giỏi mà còn có cả kinh nghiệm dàydặn và tư duy quản lý nhạy bén Người quản lý phải hiểu rõ nội dung yêu cầu nhiệm vụ đối vớitừng công việc, trong mỗi giai đoạn của dự án đầu tư, để từ đó có sự phân công, quản lý cácnhân viên thực hiện các công việc một cách khoa học và hợp lý
i) Phân loại dự án đầu tư
Để thuận lợi hơn trong tổ chức và phân công quản lý, dự án đầu tư được phân loại theođặc điểm của các ngành kinh tế và theo tổn mức đầu tư
Với các phân loại này, dự án đầu tư trong nước được phân làm 3 nhóm: A, B, C theo cáctiêu thức cụ thể sau:
Thuộc nhóm A gồm, Không phân biệt tổng mức đầu tư: Dự án tại địa bàn có di tích quốc
gia đặc biệt, Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh theoquy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh Dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, anninh có tính chất bảo mật quốc gia Dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ Dự án hạ tầng khucông nghiệp, khu chế xuất Không phân biệt tổng mức đầu tư
Còn các dự án khác, chỉ được xếp vào nhóm này nếu có tổng mức vốn đầu tư đạt một mức
độ tối thiểu Mức này hiện này được quy định từ trên 800 tỷ đồng đến trên 2300 tỷ đồng tùy theotừng ngành
Nhóm B gồm có các dự án còn lịa với tổng mức vốn đầu tư thấp hơn ngưỡng quy định của
nhóm A kể trên, từ 45 tỷ đến 2300 tỷ đồng tùy theo ngành
Thuộc nhóm C là các dự án còn lại, có tầm quan trọng và mức vốn đầu tư nhỏ.
3.6 Về quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển của DNNN
Một trong những đặc điểm quản lý có ảnh hưởng lớn đến phương thức quản lý dự án là cơcấu nguồn vốn đầu tư tham gia vào dự án Theo NĐ 52-CP, nếu một dự án có nhiều loại nguồnvốn đầu tư, như vốn từ Ngân sách nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước
và các nguồn vốn khác,… cùng tham gia, thì việc quản lý sẽ được thực hiện riêng đối với từnghạng mục và cho từng loại nguồn vốn, hoặc theo loại nguồn vốn có tỷ trọng cao nhất
Vốn đầu tư phát triển của DNNN được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu và vốn huyđộng
Vốn chủ sở hữu của DNNN được hình thành từ các nguồn:
Quỹ đầu tư phát triển
Vốn khấu hao tài sản cố định
Trang 16Vốn có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước
Vốn ngân sách Nhà nước cấp ban đầu
Quỹ phúc lợi (sử dụng cho đầu tư các công trình phúc lợi);
Các khoản thu của Nhà nước để lại doanh nghiệp đầu tư
Việc sử dụng quỹ dự phòng tài chính chỉ để bù đắp tổn thất tài sản của DNNN do mất mát,
hư hỏng, giảm giá bởi các nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra
Vốn huy động được hình thành từ các nguồn:
- Vốn đầu tư từ NSNN: Việc sử dụng nguồn vốn này phải theo đúng quy định của luật NSNN vàquy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành
- Vốn tính dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh: chi phốiviệc sử dụng các nguồn vốn đầu tư này hiện nay là Nghị định số 43/1999/NĐ-CP của Chính phủ
về tín dụng đầu tư phát triển cùng các quy định khác về quản lý đầu tư
- Vốn tín dụng thương mại: nguồn vốn này ngoài việc phải tuân thủ đúng theo các quy định hiệnhành về đầu tư và xây dựng của Nhà nước còn bị chi phối bởi các tổ chức tín dụng thông qua cácđiều khoản trong hợp đồng vay vốn
- Ngoài các nguồn kể trên, vốn đầu tư phát triển của DNNN còn có thể được huy động từ nhiềunguồn khác như phát hành trái phiếu doanh nghiệp, liên doanh, liên kết… và cũng phải thực hiệnđúng theo quy định hiện hành của Nhà nước
a Mục đích sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNN là nhằm thực hiện:
- Các dự án đầu tư và xây dựng mới hoặc cải tạo nâng cấp các công trình đã được đầu tư
- Các dự án đầu tư mua sắm tài sản, máy móc thiết bị hoặc các sản phẩm công nghệ khoahọc mới
- Mục cổ phiếu, góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh và các hình thức đầu tư khác
Thẩm quyền quyết định đầu tư đối với từng loại nguồn vốn khác nhau được quy định thựchiện theo những trình tự và thủ tục khác nhau
j) Quy định thẩm quyền quyết định đầu tư
Thẩm quyền quyết định đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư phát triển của DNNN trong các
dự án, hiện nay được quy định như sau:
• Các dự án có tầm quan trọng quốc gia mà chủ trương đầu tư do Quốc hội quyết định và được tổchức thẩm định bởi Hội đồng Nhà nước về các dự án đầu tư thì Thủ tướng Chính phủ ra quyếtđịnh đầu tư
Trang 17• Đối với các dự án không thuộc diện kể trên thì doanh nghiệp đầu tư có quyền tự thẩm định và raquyết định đầu tư nhưng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định cũng như đảm bảocho dự án đầu tư phù hợp với quy hoạch đã được duyệt.
Riêng đối với dự án nhóm A, trước khi quyết định đầu tư doanh nghiệp phải được thủtướng chính phủ, Bộ trưởng hay Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (do Thủ tướng Chính phủ ủyquyền) cho phép đầu tư và được Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm tra.Các đơn vị này tổ chức thẩm tra báo cáo nghiên cứu khả thi đối với các doanh nghiệp thuộcquyền quarl ý và có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xâydựng (đối với các dự án đầu tư xây dựng), Bộ Tài chính và các Bộ, ngành, địa phương có liênquan đến dự án để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư Việc thẩm tra báocáo nghiên cứu khả thi đối với dự án nhóm này chủ yếu tập trung vào những nội dung mà chủđầu tư phải xin phép đầu tư, gồm:
- Sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triểnngành, quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Chế độ khai thác tài nguyên quốc gia
- Các ưu đãi hỗ trợ của Nhà nước đối với dự án;
- Thời gian thực hiện dự án;
- Các ảnh hưởng về môi trường sinh thái, phòng chống cháy nổi, an toàn, tái định cư, anhninh quốc phòng
Trường hợp chưa có trong quy hoạch được duyệt hoặc chưa có văn bản quyết định chủtrương đầu tư của cấp có thẩm quyền, thì trước khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi thì các dự ánnhóm A phải được Thủ tướng Chỉnh phủ xem xét, thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi vàcho phép đầu tư, còn dự án nhóm B phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyềnphe duyệt quy hoach
k) Hình thức quản lý thực hiện dự án
Căn cứ trên quy mô, tính chất và đặc điểm riêng của dự án và theo năng lực của mình, chủđầu tư có thể lựa chọn một trong các hình thức quản lý thực hiện dự án sau:
Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án: hình thức này được thực hiện nếu chủ đầu tư
có đủ trình độ và nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu quản lý dự án
Chủ nhiệm điều hành dự án: nếu chủ đầu tư không đủ điều khiện trực tiếp quản lý thựchiện dự án thì phải thuê tổ chức chuyên môn hoặc giao cho ban quản lý chuyên ngành làm chủnhiệm điều hành dự án Chủ nhiệm điều hành dự án phải là một pháp nhân có năng lực và cóđăng ký về tư vấn đầu tư và xây dựng Chủ nhiệm điều hành dự án có trách nhiệm:
Trực tiếp ký kết hợp đồng và thanh toán hợp đồng (trường hợp được chủ đầu tự giao)hoặc giao dịch để chủ đầu tự ký kết hợp đồng và thanh toán hợp đồng với các tổ chức khảo sát,thiết kế, cung ứng vật tư thiết bị, xây lắp và thanh toán hợp đồng với Nhà thầu trên cơ sở xácnhận của chủ nhiệm điều hành dự án
Chịu trách nhiệm thay mặt chủ đầu tư giám sát, quản lý toàn bộ quá trình thực hiện dự án
Trang 18Chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư toàn bộ quá trình quản lý thực hiện đầu tưcho đến khi kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Chịu trách nhiệm thay mặt chủ đầu tư giám sát, quản lý toàn bộ quá trình thực hiện dự án.Chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư toàn bộ quá trình quản lý thực hiện đầu tưcho đến khi kết thúc xây đựng đưa dự án vào khai thác sử dụng
Chìa khóa trao tay: là hình thức quản lý thực hiện dự án sau khi đã có quyết định đầu tư,trên cơ sở báo cáo nghiên cứu khả thi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chủ đầu tư lựa chọnNhà thầu và giao cho Nhà thầu thực hiện trọn gói các khâu tiếp theo từ khảo sát thiết kết, muasắm vật tư, thiết bị, xây lắp,… cho đến khi hoàn thành bàn giao công trình cho chủ đầu tư thôngqua hợp đồng EPC (Engineering Procurement Contruction)
Hình thức tự thực hiện dự án: hình thức này chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau:a) Chủ đầu tư là doanh nghiệp có đăng ký hoạt dộng sản xuất, xây dựng phù hợp với yêu cầu của
dự án (không phân biệt nguồn vốn đầu tư)
b) Chủ đầu tư có đủ năng lực hoạt động sản xuất, xây dựng phù hợp với yêu cầu của dự án (đốivới các dự án trồng rừng, trồng cây lâu năm; dự án nuôi, trồng thủy sản; dự án giống cây trồngvật nuôi, khai hoang xây dựng đồng ruộng; dự án đầu tư hầm lò, khai thác than quặng, duy tu bảodưỡng, sữa chữa thường xuyên các công trình xây dựng, thiết bị sản xuất; các công trình xâydựng trại giam)
Trang 19CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ
ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM
1 Thực trạng quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư tại Việt Nam thời gian qua
1.1 Cơ chế quản lí đầu tư trước 1986
a Nghị định 232/CP ngày 6/6/1981
Giai đoạn 1976-1986 hay còn gọi là Thời kỳ bao cấp là giai đoạn áp dụng mô hình kinh tế
cũ Thời kỳ này, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệthống chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở cácquyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Nhìnchung, tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ này thấp và kém hiệu quả Nông, lâm nghiệp là ngànhkinh tế quan trọng (chiếm 38,92% GDP trong giai đoạn này), nhưng chủ yếu dựa vào độc canhtrồng lúa nước Công nghiệp được dồn lực đầu tư nên có mức tăng khá hơn nông nghiệp, nhưng
tỷ trọng trong toàn nền kinh tế còn thấp (chiếm 39,74% GDP), chưa là động lực để thúc đẩy nềnkinh tế tăng trưởng
Trước đổi mới, các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâuvào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Tất cả phương hướng sản xuất, nguồnvật tư, tiền vốn; định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương đều do các cấp có thẩmquyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanhnghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
Quan hệ hàng hóa - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu Nhà nướcquản lý kinh tế thông qua chế độ "cấp phát - giao nộp" Vì vậy, rất nhiều hàng hóa quan trọng nhưsức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa về mặtpháp lý
Nghị định 232/CP ngày 6/6/1981 ra đời mang các đặc điểm sau:
• Chủ yếu đề cập đến nguồn vốn xây dựng cơ bản tập trung của ngân sách nhà nước với cơchế kế hoạch hoá tập trung cứng nhắc
• Nghị định này chỉ thích hợp với các công trình đầu tư có quy mô lớn; hầu như không cóđấu thầu Vì vậy các dự án không được quan tâm đến hiệu quả Về bản chất cơ bản là cấpphát và đầu tư nhà nước Quy mô đầu tư còn hạn chế, đầu tư trên GDP chiếm 2 – 3% ngânsách Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách, nhưng không có chế tài ràng buộctrách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng
Trang 20đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế "xin cho".
-• Chấp hành trình tự trong đầu tư chưa đồng bộ
• Cơ chế giao nhận thầu còn nhiều bất cập, mang nặng tính bao cấp chưa chú trọng đếnhiệu quả Cơ chế còn khá cứng nhắc vì vậy hầu như không có cạnh tranh
l) Điểm hạn chế trong Nghị định 232/CP
Nghị định 232/CP còn tồn tại một số hạn chế như sau:
• Thứ nhất, quy mô vốn huy động hạn chế Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạnphát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoahọc — công nghệ hiện tại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khiếm khuyết của
nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; trong đó có nước ta, lâm vàotình trạng khủng hoảng
• Thứ hai, cơ chế cứng nhắc hiệu quả hoạt động không cao Khi nền kinh tế thế giớichuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựucủa cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện tại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộnhững khiếm khuyết của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây; trong
đó có nước ta, lâm vào tình trạng khủng hoảng
• Thứ ba, tính cạnh tranh trong đầu tư hầu như không có Trước đổi mới, do chưa thừanhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, chúng ta xem kế hoạch hóa là đặc trưngquan trọng nhất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch
là chủ yếu; coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch Đồng thời,không thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳquá độ, lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, lại muốn nhanh chóng xóa sở hữu
tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân Từ đó, nền kinh tế của chúng ta vào khoảng thời gian
đó bị rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng
1.2 Cơ chế quản lí đầu tư sau 1986 – trước 1990
a Quyết định 80/HĐBT ngày 8/5/1988
Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, giai đoạn đầu của côngcuộc đổi mới Chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế dần dần khắc phục được những yếu kém và cónhững bước phát triển
Nhằm phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội của cả nước, trong 5 năm 1986 - 1990, ngân sách
đã chi cho tích luỹ với khối lượng bằng 27,61 lần và chi cho tiêu dùng bằng 32,63 lần so với 5năm 1981 - 1985 Cơ cấu chi ngân sách tiếp tục biến động: chi tích luỹ từ chỗ chiếm tỷ trọng31,2% trong giai đoạn 1981 - 1985 giảm xuống 29,6% trong giai đoạn 1986-1990, kéo theo tỷtrọng chi tiêu dùng tăng tương ứng từ 68,8% lên 70,4% Trong chi tích luỹ đã phân phối 78,6%cho vốn xây dựng cơ bản, 21,4% cho vốn lưu động và vốn dự trữ Nhà nước
Bước đầu kiềm chế được đà lạm phát Nếu chỉ số tăng giá bình quân hàng tháng trên thịtrường năm 1986 là 20%, năm 1987 là 10%, năm 1988 là 14%, thì năm 1989 là 2,5% và năm
1990 là 4,4% Đây là kết quả tổng hợp của việc thực hiện Ba chương trình kinh tế và đổi mới cơchế quản lí, đổi mới chính sách giá và lãi suất, mở rộng thông thương và điều hòa cung cầu hànghóa Từ đó dẫn tới những chuyển biến tích cực trong việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư và bố trí lại cơ
Trang 21cấu kinh tế Nhà nước cho đình và hoãn nhiều công trình đã kí với nước ngoài và của một sốngành, địa phương để tập trung vốn cho các công trình trọng điểm trực tiếp phục vụ Ba chươngtrình kinh tế hoặc có ý nghĩa trọng yếu Trong 5 năm 1986-1990, ta đã dành cho Ba chương trìnhkinh tế hơn 60% vốn đầu tư của ngân sách trung ương, 75%-80% vốn đầu tư của địa phương.Ngoài ra, phần đầu tư của nhân dân cũng rất lớn, đồng thời đã thu hút được một số vốn đầu tưcủa nước ngoài Nhiều công trình công nghiệp nặng quan trọng được khởi công từ những nămtrước, nay được đưa vào sử dụng Một số ngành sản xuất mới, có triển vọng tốt như dầu khí đượchình thành Một số loại hình kinh tế dịch vụ mới ra đời và phát triển nhanh, góp phần thúc đẩykinh tế hàng hóa và phục vụ đời sống nhân dân.
Giai đoạn đầu của đổi mới, lĩnh vực đầu tư được mở cửa đầu tiên trong các lĩnh vực kinh tếbằng việc ban hành một loạt các luật và quyết định Năm 1987, luật đầu tư nước ngoài đượcthông qua, trong 3 năm từ 1988-1990, kết quả thu hút FDI đạt 211 dự án với tổng vốn đăng kýđạt 1.603,5 triệu USD
Đặc biệt giai đoạn này, quyết định 80/HĐBT ngày 8/5/1988 đã làm mềm nghị định 232 năm
1981 với các đặc điểm sau:
• Tập trung vốn ngân sách cho các công trình lớn, xây dựng cơ sở hạ tầng, công trìnhphúc lợi, bước đầu đa dạng hoá các nguồn vốn Vốn xây dựng cơ bản vẫn là khoản chiquan trọng: chiếm tỷ trọng 23,3% tổng số chi ngân sách Nhà nước và tăng 24,0 lần sovới giai đoạn 1981 - 1985 Đặc biệt trong giai đoạn 1986 - 1990, ngoài nguồn vốn đầu
tư của ngân sách, còn có nguồn vốn tự có của xí nghiệp, vốn khấu hao cơ bản để lại,vốn hợp tác, vốn tự vay tự trả của các ngành, các địa phương, các cơ sở, vốn tín dụngcủa ngân hàng đầu tư và phát triển Cứ 1 đồng vốn xây dựng cơ bản của ngân sách thì
có 0,22 đồng vốn huy động khác Ngoài ra trong 3 năm 1988 - 1990 đã có nhiều dự ánhợp tác đầu tư với nước ngoài được triển khai thực hiện trị giá trên 300 triệu đô la sovới tổng trị giá các dự án là 1.470 triệu đô la (Trong số các dự án được triển khai,ngành dầu khí chiếm tỷ trọng 58,0%, ngành du lịch 26,1%, ngành công, nông, lâmnghiệp 8,7%, ngành giao thông bưu điện và các ngành khác 7,2%) Trong cơ cấu vốnđầu tư XDCB của ngân sách Nhà nước thì 60% được dành cho việc phục vụ 3 chươngtrình kinh tế lớn (trong đó 1/2 dành cho chương trình lương thực - thực phẩm, 1/2 dànhcho các chương trình hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) Còn lại 40% được bố trí chocác công trình giao thông vận tải, y tế, giáo dục, văn hoá và các cơ sở hạ tầng
• Cơ chế kế hoạch hoá giảm bớt sự sơ cứng, Ủy ban kế hoạch nhà nước chỉ trực tiếp cânđối vốn cho các dự án quan trọng, còn lại giao cho các ngành và địa phương
• Giảm bớt các bộ máy Ban quản lý Công trình, chỉ thành lập Ban quản lý với các côngtrình lớn, kỹ thuật phức tạp, thời gian thi công dài
m) Điểm tích cực trong Quyết định 80/HĐBT
• Một thành tựu quan trọng khác về đối mới kinh tế là bước đầu hình thành nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhànước
• Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàngtiêu dùng và hàng xuất khẩu đã phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chếlạm phát, …
• Đây được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của công nghiệp hóaXHCN trong chặng đường đầu tiên
Trang 22• Điều quan trọng nhất, đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chếquản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội và bướcđầu giải phóng được lực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới.
n) Điểm hạn chế trong Quyết định 80/HĐBT
Quyết định 80/HĐBT ngày 8/5/1988 cũng có một số hạn chế:
• Không bao quát các dự án quy mô nhỏ, buông lỏng quản lý theo danh mục: vốn tại địaphương bị chia nhỏ, dẫn đến sự xuất hiện tính phân tán trong đầu tư Đây là giai đoạnđầu của thời kỳ Đổi mới với việc chủ yếu là đổi mới cơ chế quản lý Trong thời gian này
đã ban hành nhiều nghị quyết và quyết định của Đảng và Chính phủ nhằm cải tiến quản
lý kinh tế, chính sách tiền tệ, chính sách nông nghiệp Tuy nhiên trong những năm đầucủa kế hoạch 5 năm này cơ chế cũ chưa mất đi, cơ chế mới chưa hình thành nên Đổimới chưa có hiệu quả đáng kể
• Cho phép chủ đầu tư có quyền lựa chọn tổ chức xây lắp quốc doanh hoặc tập thể hoặc
tư cách pháp nhân không hạn chế theo ngành nghề và vùng lãnh thổ, dẫn đến tình trạngmua bán thầu, lại quả phần trăm
1.3 Cơ chế quản lí đầu tư giai đoạn 1990
a Luật công ty 1990
• Điểm nổi bật Luật công ty 1990
Từ năm 1990, Nhà nước ban hành hai đạo luật dành cho doanh nghiệp, mở ra một kỷ nguyênmới cho sự phát triển kinh tế của nền kinh tế Việt Nam Sau gần 30 năm kề từ khi có những đạoluật đầu tiên cho doanh nghiệp, bộ mặt kinh tế - xã hội của Việt Nam thay đổi rõ rệt, trở thànhmột vùng đất có nền kinh tế năng động, nhiều tiềm năng và thu hút đầu tư Chính vì sự phát triểnmạnh mẽ của khối kinh tế tư nhân, đòi hỏi Nhà nước phải ban hành những chính sách pháp lýphù hợp để điều chỉnh hoạt động của những chủ thể kinh doanh này Luật Công ty 1990 và Luậtdoanh nghiệp tư nhân 1990 là những văn bản pháp lý đầu tiên quy định về việc thành lập và hoạtđộng của các chủ thể kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tư nhân Lúc này, khối kinh tế tư nhânđược pháp luật quy định gồm các loại hình: Công ty TNHH, Công ty cổ phần (theo Luật Công ty1990) và Doanh nghiệp tư nhân (theo Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990)
• Điểm tích cực trong Luật công ty 1990
Khi Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty được ban hành vào năm 1990, bước ngoặttrong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam mới thực sự được tạo ra
Khuyến khích việc thành lập doanh nghiệp mới Từ 1990 tới năm 1996 tổng cộng đã
có khoảng 21.000 doanh nghiệp tư nhân, 9.000 công ty trách nhiệm hữu hạn, 210công ty cổ phần được thành lập, một con số rất ấn tượng Trong khi đó, số hộ kinhdoanh gia đình cũng tăng từ 840.000 hộ năm 1990 lên 2,2 triệu hộ vào đầu năm 1996
Mở ra một hành lang pháp lý và con đường phát triển của doanh nghiệp khối tư nhân.Không còn hoạt động trong sự mò mẫm, trầy trật làm ăn trong sự thận trọng của Nhànước và sự kỳ thị của xã hội, khối kinh tế tư nhân đã có vị trí nhất định trong nền kinh
tế Từ thời điểm đó, nền kinh tế trở thành một chiến trường khốc liệt với cuộc va chạmgiữa tư duy cũ và tư duy kinh tế thị trường
Trang 23• Điểm hạn chế trong Luật công ty 1990
Luật có hiệu lực từ 15/4/1991, nhưng phải đến năm 1992 Quốc hội mới ban hành hiến phápmới, công nhận công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật Từ đó, Luậtdoanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty mới thực sự đi vào hoạt động chính thức Những năm
1980 – 1990 là thiên đường đối với những công ty quốc doanh và thị trường là con số 0 củanhững công ty tư nhân, vì không có chỗ chen chân vào
Luật doanh nghiệp 1990 được ban hành mở ra con đường phát triển cho khối doanh nghiệp
tư nhân Tuy nhiên, thực tế áp dụng pháp luật lại gặp rất nhiều khó khăn và gây ra nhiều rào cản
về mặt thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp Thời đó, muốn thành lập một doanh nghiệp phải
có rất nhiều chữ ký và con dấu, thời hạn cấp phép hoạt động cho doanh nghiệp có thể kéo dài đếnvài năm Qua những quy định trong luật và quá trình thực thi trong thực tiển, dường như Nhànước vẫn còn thận trọng và đặt nhiều hoài nghi cho hoạt động của khối kinh tế tư nhân, nên phảixem xét thật kỹ để cho phép thành lập một doanh nghiệp
o) Điều lệ quản lý Đầu tư và Xây dựng theo Nghị định 385–HĐBT ngày 07/11/1990
• Điểm nổi bật Điều lệ quản lý Đầu tư và Xây dựng theo Nghị định 385–HĐBT
Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng được cụ thể rõ dần qua các Nghị quyết của Trung ươngkhóa V và cho đến Đại hội VI (1986), chiến lược đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng đãkhẳng định “Cho tới nay, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về cơ bản chưa bị xóa bỏ, cơ chếmới chưa được thiết lập đồng bộ” Nghị quyết của Đảng cũng đã chỉ rõ “Đổi mới cơ chế quản lý
là một quá trình cải cách có ý nghĩa cách mạng sâu sắc, là cuộc đấu tranh giữa cái mới với cái cũ,cái tiến bộ với cái lạc hậu” Về quản lý xây dựng cơ bản, tư tưởng chỉ đạo này đã được thể hiệntrong Nghị định 385/HĐBT ngày 7-11-1990
Vào cuối năm 1979 và những năm của thập kỷ 80, tư tưởng “nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trường” chưa du nhập vào được trong các văn bản quản lýxây dựng cơ bản Do đó Nghị định 232/CP ngày 6-6-1981 chỉ là hệ thống hóa, tập hợp và thaythế một loạt các văn bản cũ mà chưa có sự thay đổi nào về chất lượng, vẫn là văn bản phục vụcho chế độ bao cấp, kế hoạch hóa
Nhận thấy Nghị định 232 – CP năm 1981 còn sơ sài, nhiều điểm chưa rõ ràng Do đó Hộiđồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 385-HĐBT ngày 07/11/1990 sửa đổi thay thế Điều lệ quản
lý xây dựng cơ bản kèm theo Nghị định 232-CP năm 1981 Thay đổi ở rất nhiều điểm:
Chương I (những quy định chung): sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh các điều 1, 2, 3, 4, 5
Chương V (quản lý vốn): thay toàn bộ điều 36 đến điều 42;
Chương VI (thưởng, phạt): thay bằng chương VI mới (xử lý vi phạm và thưởng phạt
từ điều 43 đến điều 47);
Chương VII (Điều khoản thi hành): thay điều 48 và điều 50;
Trang 24• Điểm tích cực trong Nghị định 385–HĐBT
Thứ nhất, quy định rõ cơ chế huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư; đa dạng hóa cácnguồn vốn Các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản rất đa dạng, được nêu cụ thể cách sử dụngtrong Nghị định 385–HĐBT năm 1990:
Vốn Nhà nước đầu tư cho những công trình sản xuất then chốt của nền kinh tế, nhữngcông trình kết cấu hạ tầng quan trọng một số công trình sự nghiệp văn hoá xã hội, khoahọc kỹ thuật quan trọng, công trình an ninh quốc phòng và quản lý Nhà nước
Vốn tín dụng đầu tư dùng để: Đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, đổi mới kỹ thuật vàcông nghệ các công trình sản xuất kinh doanh dịch vụ có hiệu quả, có khả năng thu hồivốn và có đủ điều kiện vay vốn theo quy định của ngân hàng đầu tư và phát triển
Vốn xí nghiệp tích luỹ được dùng để đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, đổi mới kỹthuật và công nghệ các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các công trình phúc lợi chocông nhân viên chức của đơn vị
Vốn vay nước ngoài của các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ do đơn vị tự vay, tự trả
nợ vay và lãi cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài
Vốn viện trợ không hoàn lại thuộc lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản được cân đối trongngân sách và đưa vào kế hoạch đầu tư của Nhà nước Riêng với những đối tượng cụ thểđược viện trợ trực tiếp thì tổ chức được viện trợ được quyền sử dụng khoản viện trợ đóđúng mục đích và quyết toán với Bộ Tài chính
Vốn hợp tác, liên doanh với nước ngoài sử dụng theo quy định của Luật đầu tư nướcngoài tại Việt Nam
Vốn đóng góp của nhân dân bằng tiền, vật liệu hoặc công lao động chủ yếu sử dụng vàocác công trình hoặc lĩnh vực đem lại lợi ích thiết thực trực tiếp cho bản thân người gópvốn (như các công trình thuỷ lợi, nội đồng, giao thông nông thôn, các công trình phúc lợicông cộng)
Thứ hai, trách nhiệm hoàn trả vốn đầu tư đã được quy định rõ Thu hồi vốn đầu tư là nguyêntắc bắt buộc với tất cả các công trình có khả năng thu hồi được vốn Đối với những công trìnhNhà nước vay vốn nước ngoài để đầu tư thì chủ đầu tư có trách nhiệm trả nợ Trường hợp chưatrả hoặc chưa trả hết số nợ đã vay thì các chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ củamình Đối với những công trình vay vốn Ngân hàng để đầu tư thì trong thời hạn trả nợ chủ đầu tưđược sử dụng toàn bộ vốn khấu hao, một phần lợi nhuận và các nguồn vốn hợp pháp khác (nếucó) để trả nợ Đối với những công trình vay vốn nước ngoài Nếu chủ đầu tư trực tiếp vay thì chủđầu tư có trách nhiệm trả theo hợp đồng vay vốn và được tính bằng nguyên tệ
Thứ ba, quy định về lập và duyệt luận chứng kinh tế – kỹ thuật khi thực hiện đầu tư Điều 8đến 14 của Nghị định 385–HĐBT nêu rất rõ về việc lập và duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuậtkhi thực hiện đầu tư:
Tất cả các công trình đầu tư phải lập luận chứng kinh tế kỹ thuật hoặc báo cáo kinh tế
-kỹ thuật để từ đó quyết định chủ trương đầu tư
Chủ đầu tư là người chịu trách nhiệm về lập và trình luận chứng kinh tế - kỹ thuật để trìnhcác cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét cấp giấy phép hoặc xét duyệt
Nội dung chủ yếu để làm căn cứ tính toán, lập, xét duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật là:
Sự cần thiết phải đầu tư; Các phương án về hình thức đầu tư; Các phương án về địa điểm;
Trang 25Các phương án về sản phẩm, công nghệ; Nhu cầu về nguyên liệu, lao động; Các phương
án xây dựng; Các chỉ tiêu kinh tế…
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng xét duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật các công trình quantrọng, sau khi xem xét ý kiến của Hội đồng thẩm tra luận chứng kinh tế - kỹ thuật cấp Nhànước Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh xét duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuậtcác công trình còn lại, sau khi xem xét ý kiến của Hội đồng thẩm tra luận chứng kinh tế -
kỹ thuật cấp ngành hoặc địa phương
Thứ tư, xóa bỏ cơ chế chủ đầu tư tự ý giao thầu Quy định rõ 03 hình thức giao nhận thầu.Giao nhận thầu xây lắp có 03 hình thức, được quy định tại điều 23:
Việc xây lắp công trình được thực hiện thông qua hợp đồng xây lắp giữa chủ đầu tư vớicác tổ chức xây lắp có tư cách pháp nhân đúng ngành nghề theo đăng ký được cấp theoquy chế của Nhà nước
Những công trình xây dựng cơ bản của Nhà nước chưa chuẩn bị đủ điều kiện để tổ chứcđấu thầu thì chủ đầu tư hoặc cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của chủ đầu tư có tráchnhiệm thống nhất với các Bộ (Sở) quản lý xây dựng chuyên ngành (của các công trình đó)
để lựa chọn đơn vị xây dựng đủ năng lực và đúng ngành nghề
Đối với một số công trình trọng điểm quốc gia có quy mô xây dựng lớn, kỹ thuật phứctạp, thời gian xây dựng dài, Nhà nước chỉ định tổ chức tổng thầu (hoặc thầu chính) đúngngành nghề
Thứ năm, quy định rõ trách nhiệm quản lý đầu tư xây dựng đối với các Bộ, Ủy ban Nhànước, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố: là chủ quản đầu tư các công trình của các đơn vị quốcdoanh trực thuộc và chịu trách nhiệm về hiệu quả của các công trình này
Với những điểm tích cực này, Giai đoạn 1991-1995, FDI vào Việt Nam đã tăng vượt bậcvới 1.409 dự án, với tổng số vốn đăng ký là 18.379,1 triệu USD Đây có thể coi là thời kỳ bắt đầu
sự bùng nổ FDI tại Việt Nam Giai đoạn này môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam bắt đầuhấp dẫn nhà đầu tư, do chi phí đầu tư – kinh doanh thấp so với một số nước trong khu vực; lựclượng lao động với giá nhân công rẻ có sẵn; nhiều thị trường tiềm năng chưa được khai thác Bêncạnh đó, các yếu tố bên ngoài cũng đã đóng góp làm gia tăng FDI như: làn sóng vốn FDI chảydồn về các thị trường mới nổi trong đầu những năm 90; dòng vốn nước ngoài vào các nền kinh tếquá độ khối xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng vốn FDI hàng năm khácao, nhiều năm đạt trên 50%, đặc biệt là năm 1995 thu hút được 415 dự án, với tổng số vốn đăng
ký là 7.925,2 triệu USD, tăng trưởng 85,95% so với số vốn đăng ký năm 1990
• Điểm hạn chế trong Nghị định 385–HĐBT
Thứ nhất, chưa thống nhất quan điểm Nhà nước phải quản lý mọi nguồn vốn đầu tư Nhànước Việc này thể hiện ở các điểm: Không phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước và quản lýkinh doanh; Dự án chưa được xếp thành các nhóm theo quy mô và đặc thù ngành; Chưa có phâncấp trong quản lý…
Thứ hai, trình tự thực hiện đầu tư chưa theo thông lệ Quốc tế và yêu cầu mở cửa Tất cả cáccông trình dự định đầu tư đều phải được chuẩn bị chu đáo của các công việc sau đây:
Xác định rõ sự cần thiết phải xây dựng công trình
Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước, nếu là công trình cóliên quan đến nguồn cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm trong nước hoặcngoài nước
Trang 26 Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm để có căn cứ lập luận chứng kinh tế kỹthuật.
Lập, thẩm tra, xét duyệt luận chứng kinh tế-kỹ thuật
Thứ ba, chưa chú ý đến yếu tố thị trường trong quản lý giá Nhà nước quản lý giá xây dựngthông qua việc ban hành các nguyên tắc, phương pháp xác định giá, các định mức kinh tế kỹthuật và các yếu tố khác cấu thành giá; trên cơ sở đó xác định và ban hành đơn giá xây dựng cơbản, các bảng giá chuẩn cho một đơn vị diện tích hoặc một đơn vị công suất sử dụng Trong từngthời kỳ các chỉ tiêu trên được soát xét lại để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế
1.4 Cơ chế quản lí đầu tư giai đoạn 1994 – 1996
a Quy chế quản lý Đầu tư và Xây dựng theo Nghị định 177–CP ngày 10/10/1994
• Điểm nổi bật Nghị định 177–CP ngày 10/10/1994
Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng được cụ thể rõ dần qua các Nghị quyết của Trung ươngkhóa V và cho đến Đại hội VI (1986), chiến lược đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng đãkhẳng định “Cho tới nay, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về cơ bản chưa bị xóa bỏ, cơ chếmới chưa được thiết lập đồng bộ” Nghị quyết của Đảng cũng đã chỉ rõ “Đổi mới cơ chế quản lý
là một quá trình cải cách có ý nghĩa cách mạng sâu sắc, là cuộc đấu tranh giữa cái mới với cái cũ,cái tiến bộ với cái lạc hậu” Về quản lý xây dựng cơ bản, tư tưởng chỉ đạo này đã được thể hiệntrong Nghị định 385/HĐBT ngày 7-11-1990 Tuy vậy Nghị định 385/HĐBT cũng không đáp ứngđược vì còn mang nặng cơ chế quản lý tập trung của thời bao cấp, thể hiện ở chỗ vẫn coi việc đầu
tư xây dựng cơ bản phải thực hiện theo kế hoạch hóa toàn diện và đồng bộ, đó là một yêu cầu màtrong thực tế không thể làm được ngay từ khâu lập kế hoạch chứ chưa nói đến kiểm soát kế hoạchhoặc điều hành việc thực hiện kế hoạch đó
Chỉ đến khi có Nghị định 177/CP ngày 20-10-1994 thay thế cho các Nghị định 385/HĐBTngày 7-11-1990 và Nghị định 237-HĐBT ngày 19-9-1985 thì lúc đó không còn nhắc đến nguyêntắc phải thực hiện theo kế hoạch hóa toàn diện và đồng bộ cũng như không nhắc đến chủ trươngđầu tư và kế hoạch hóa đầu tư xây dựng cơ bản phải góp phần đảm bảo nhịp độ phát triển nềnkinh tế một cách cân đối nhịp nhàng Yêu cầu cơ bản của quản lý đầu tư và xây dựng trong Nghịđịnh 177/CP là: Đảm bảo mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ theođịnh hướng XHCN, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân;huy động sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất, khai thác tốt tài nguyên, tiềm năng lao động, đất đai,bảo vệ môi trường sinh thái; xây dựng theo quy hoạch, đảm bảo thẩm mỹ, an toàn cho công trình
Thực hiện quản lý thống nhất của Nhà nước về cơ chế, chính sách và tiêu chuẩn kinh tế,
kỹ thuật đối với toàn bộ quá trình đầu tư và xây dựng từ khâu quy hoạch, kế hoạch đếnkhâu huy động và sử dụng vốn, lựa chọn công nghệ, các giải pháp thiết kế kiến trúc, thiết
kế kỹ thuật, xây lắp, bảo hiểm, bảo hành công trình
Trang 27 Thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng.
Phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh Quy định rõtrách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn, các doanhnghiệp xây dựng, cung ứng vật tư thiết bị trong quá trình đầu tư và xây dựng
Thứ hai, thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng Trình tự đầu tư và xây dựng bao gồm 3giai đoạn:
Chuẩn bị đầu tư
Thực hiện đầu tư
Kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng
Thứ ba, phân định rõ chắc năng quản lý Nhà nước và quản lý kinh doanh Chia dự án thànhcác nhóm theo quy mô và đặc thù ngành Phân cấp trong quản lý Quản lý đầu tư và xây dựng làquản lý Nhà nước về quá trình đầu tư và xây dựng từ bước xác định dự án đầu tư đến thực hiệnđầu tư và cả quá trình đưa dự án vào khai thác, sử dụng đạt mục tiêu đã định Phân định rõ chứcnăng quản lý Nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh Quy định rõ trách nhiệm của các cơquan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn, các doanh nghiệp xây dựng, cung ứng vật
tư thiết bị trong quá trình đầu tư và xây dựng Tuỳ theo tính chất và quy mô, dự án đầu tư đượcphân loại thành 3 nhóm: A, B, C Đặc trưng của mỗi nhóm được quy định trong phụ lục ban hànhkèm theo Điều lệ này (riêng đối với dự án đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoàiđược phân loại theo quy định riêng)
Thứ tư, tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước đều phải tham gia đấu thầu theo quychế đấu thầu Các dự án đầu tư thuộc sở hữu Nhà nước đều phải tổ chức đấu thầu hoặc chọn thầutheo quy chế do Nhà nước ban hành (bao gồm đấu thầu hoặc chọn thầu mua sắm thiết bị; xây lắp;
và tư vấn) trừ các dự án có tính chất nghiên cứu thử nghiệm hoặc có tính cấp bách do thiên tai,đặc thù ngành được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện phương thức chỉ định thầu
Cơ quan tài chính hoặc ngân hàng các cấp không cấp vốn hoặc cho vay vốn đối với dự án
mà Chủ đầu tư tự tiện giao thầu trái với quy định trên, đồng thời xử lý các vấn đề có liênquan tuỳ theo mức độ vi phạm của chủ đầu tư
Tuỳ theo quy mô, tính chất, loại hình các dự án và những điều kiện cụ thể của mỗi dự án,
có thể tổ chức đấu thầu hoặc chọn thầu toàn bộ dự án, hoặc từng công trình, hạng mụccông trình, hay loại công tác có khối lượng lớn
Việc tổ chức đấu thầu quốc tế các dự án nói trên được tổ chức tại Việt Nam
Nhìn chung trong giai đoạn này, chính sách quản lý đầu tư đã cơ bản được hoàn thiện thúcđẩy phát triển đầu tư các ngành Trong 5 năm 1991-1995, nhịp độ tăng bình quân hăng năm vềtổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2% (kế hoạch là 5,5 – 6,5%), về sản xuất công nghiệp là13,3%, sản xuất nông nghiệp 4,5%, kim ngạch xuất khẩu 20% Cơ cấu kinh tế có bước chuyểnđổi: tỉ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22,6% năm 1990 đến 29,1% năm 1995; dịch
vụ từ 39,6% lên 41,9% Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Vốn đầu tư cơ bản toàn xã hộinăm 1990 chiếm 15,8% GDP; năm 1995 là 27,4% (trong đó nguồn đầu tư trong nước chiếm16,7% GDP) Đến cuối năm 1995, tổng vốn đăng ký của các dự án đầu tư trực tiếp của nướcngoài đạt trên 19 tỉ USD, gần 1/3 đã được thực hiện Lạm phát từ mức 67,1% năm 1991 giảmxuống còn 12,7% năm 1995 Như vậy có thể thấy chính sách quản lý đầu tư thay đổi là bướcngoặt giúp Việt Nam phát triển được hoạt động đầu tư tạo đà cho sự phát triển của nền kinh tế
Trang 28p) Quy chế quản lý Đầu tư và Xây dựng theo Nghị định 42/CP ngày 16/07/1996
• Điểm tích cực trong Nghị định 42/CP
Thứ nhất, tăng quy mô phân loại dự án Nghị định 42 – CP đã nêu rõ được tính quy mô trongphân loại dự án mà trong các nghị định trước chưa quy định cụ thể, quy mô dự án được phân loạinhư sau:
Dự án ODA có vốn từ 1,5 triệu USD vốn nước ngoài trở lên
Các dự án phi sản xuất ngành y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựngdân dụng, du lịch, nghiên cứu khoa học trên 75 tỷ đồng (không kể trụ sở, nhà làm việccủa cơ quan nhà nước)
Các dự án có tổng mức đầu tư lớn (trên 400 tỷ đồng đối với các dự án thuộc các ngànhcông nghiệp điện, dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện kim, khaithác khoáng sản, cảng biển, sân bay, đường quốc lộ và trên 200 tỷ đồng đối với các dự
án về thuỷ lợi, giao thông (khác ở điểm a), cấp thoát nước và công trình kỹ thuật hạ tầng
đô thị, khu công nghiệp, kỹ thuật điện, điện tử tin học, công trình cơ khí, sản xuất vậtliệu, bưu chính viễn thông)
Trang 29thuộc các ngành: kỹ thuật điện, điện tử tin học, công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, giấy,
da, dệt, may mặc, chế biến nông lâm thổ sản, thuỷ sản, hoá dược, thuốc chữa bệnh)
Thứ hai, thẩm quyền quyết định đầu tư thay đổi Thẩm quyền quyết định đầu tư, cho phépđầu tư và cấp giấy phép đầu tư Thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốnNhà nước:
Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư các dự án thuộc nhóm A
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cáctỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định đầu tư các dự án thuộc nhóm B và C.Riêng các dự án nhóm B trước khi quyết định đầu tư cần có ý kiến thống nhất của Bộtrưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về kế hoạch đầu tư và Bộ trưởng Bộ quản lý ngành về quyhoạch phát triển ngành và nội dung kinh tế - kỹ thuật của dự án
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định đầu tư các dự án ODA có mức vốn nhỏ hơn1,5 triệu USD (không kể phần vốn đối ứng trong nước)
Các Tổng cục và Cục trực thuộc các Bộ được Bộ trưởng uỷ quyền quyết định đầu tư các
dự án thuộc nhóm C
Hội đồng quản trị các Tổng công ty thành lập theo Quyết định 91/TTg ngày 7 tháng 3năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ được quyết định đầu tư các dự án nhóm B có mứcvốn nhỏ hơn 50% mức vốn giới hạn trên tương ứng của các dự án thuộc nhóm B quy địnhtại phụ lục phân loại dự án đầu tư kèm theo Điều lệ này và được quyền quyết định đầu tưcác dự án thuộc nhóm C Trường hợp đặc biệt ngoài quy định trên phải được Thủ tướngChính phủ cho phép Riêng đối với các dự án thuộc nhóm B trước khi quyết định đầu tưcần thực hiện theo quy định tại điểm 1-b của điều này
Hội đồng quản trị các Tổng công ty thành lập theo Quyết định 90/TTg ngày 7 tháng 3năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ được quyết định đầu tư các dự án thuộc nhóm C
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được uỷ quyềncho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện quyết định đầu tư các dự án có mức vốn đầu
tư dưới 2 tỷ đồng tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng thành phố Đối với các tỉnh và thànhphố còn lại, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh được uỷ quyền cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dânquận, huyện quyết định đầu tư các dự án có mức vốn đầu tư dưới 500 triệu đồng tuỳ theođiều kiện cụ thể của địa phương
Thẩm quyền cho phép và cấp giấy phép đầu tư các dự án trong nước không sử dụng vốn Nhànước
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép đầu tư dự án thuộc nhóm A sau khi đượcThủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho phép đồng thời cấpgiấy phép đầu tư dự án thuộc nhóm B sau khi có ý kiến của Bộ trưởng Bộ Quản lý ngành
Sở Kế hoạch và đầu tư cấp giấy phép đầu tư dự án thuộc nhóm C sau khi được Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho phép đầu tư
Thứ ba, quản lý đầu tư tiếp cận dần với cơ chế thị trường, quy chế đấu thầu được hoàn thiện
Kế hoạch đấu thầu dự án do bên mời thầu lập phải được người có thẩm quyền quyết định đầu tưphê duyệt Trường hợp chưa đủ điều kiện lập kế hoạch đấu thầu toàn bộ dự án, thì bên mời thầu
có thể lập kế hoạch đấu thầu từng phần dự án theo giai đoạn đầu tư Nội dung kế hoạch đấu thầu
dự án bao gồm:
Phân chia dự án thành các gói thầu
Trang 30 Ước tính giá của từng gói thầu.
Hình thức lựa chọn nhà thầu và phương thức áp dụng
Thời gian tổ chức đấu thầu cho từng gói thầu
Phương thức thực hiện hợp đồng
Thời gian thực hiện hợp đồng
Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản ngày càng hoàn thiện hơn đã đem lại những kếtquả đang kể Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) tăng nhanh, đến cuối năm 1995, các dự
án được cấp giấy phép đạt trên 19 tỉ USD vốn đăng ký Tỉ trọng đầu tư vào công nghiệp chiếm40% tổng số vốn theo dự án (nếu kể cả dầu khí thì chiếm trên 60%), trong đó hơn 60% là đầu tưchiều sâu Địa bàn đầu tư phân bố rộng trên hơn các vùng lãnh thổ Hình thức đầu tư chủ yếu là
xí nghiệp liên doanh, chiến trên 65% tổng số vốn; xí nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm gần18%; hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm gần 17% Nhà nước đã bổ sung, hoàn thiện từng bướckhuôn khổ pháp lý cho đầu tư nước ngoài
Mối quan hệ hợp tác phát triển đã được khôi phục, khai thông và mở rộng với nhiều nước vàcác tổ chức tài chính quốc tế; cơ chế thu hút nguồn tài trợ phát triển song phương và đa phương
đã được thiết lập Nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODA) tăng dần lên và được tập trung chủyếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội
1.5 Cơ chế quản lí đầu tư giai đoạn 1999
a Luật doanh nghiệp 1999
Luật doanh nghiệp 1999 được đánh giá là bộ luật quan trọng trong phát triển kinh tế và khốidoanh nghiệp tư nhân, đã tạo ra bước đột phá về tư duy, từ tư duy chỉ được kinh doanh trongphạm vi Nhà nước cho phép sang tư duy người dân được quyền tự do kinh doanh tất cả nhữnglĩnh vực nhà nước không cấm đồng thời chuyển cách quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, theonguyên tắc công khai minh bạch
Điểm tích cực trong Luật doanh nghiệp 1999
Thứ nhất, luật DOANH NGHIỆP 1999 đã phân rõ về trách nhiệm trong thẩm quyền quyếtđịnh đầu tư, điều chỉnh quy mô dự án, quy định danh mục ngành nghề kinh doanh, phân chiathành 3 loại đồng thời hạn chế tùy tiện ban hành quy định về điều kiện kinh doanh của các bộ,ngành và chính quyền địa phương các cấp
Thứ hai, quy định rõ về trách nhiệm, quyền quyết định đầu tư ở cấp huyện, xã cũng như đãtạo ra hành lang pháp lý thuận lợi cho gia nhập thị trường; nâng cao năng lực quản trị để doanhnghiệp tồn tại, phát triển Trước khi có Luật doanh nghiệp 1999, thủ tục hành chính để thành lậpdoanh nghiệp khá phức tạp rườm rà, việc thành lập 1 công ty hay doanh nghiệp tư nhân kéo dàitrung bình từ 3-6 tháng, thậm chí 1 năm, khối lượng giấy tờ lớn, có những giấy tờ rất khó khănkhi thực hiện đối những những quy định pháp luật giai đoạn đó Khi Luật doanh nghiệp 1999 cóhiệu lực, các DOANH NGHIỆP chỉ mất 4-6 tuần để xin giấy phép thành lập với thành phần hồ sơ
và thủ tục thực hiện đơn giản Từ đó, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện rõ rệt
Kết quả, thời điểm này tỷ trọng đầu tư công trên tổng vốn đầu tư luôn đạt mức trên 39%.Trong giai đoạn 1995-2000, việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài, Luật DOANH NGHIỆP 1999thay thế cho Luật doanh nghiệp 1994 giúp cho phạm vi đầu tư công đã được mở rộng và mức độđầu tư tăng nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng trung bình năm của nhà đầu tư nhà nước đạt 19,4%
và tăng trưởng GDP ở mức cao nhất
Trang 31q) Nghị định số 52/1999/NĐ-CP quy định về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.
Nghị định số 52/1999/NĐ-CP quy định về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng
đã mang lại nhiều tín hiệu tích cực:
Thứ nhất, nghị định này quy định rõ nét hơn về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng nhằmkhuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược và quyhoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời kỳ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của nhân dân, sử dụng các nguồn vốn đầu tư do Nhà nước quản lý đạt hiệu quả caonhất, chống tham ô, lãng phí
Thứ hai, bảo đảm xây dựng theo quy hoạch xây dựng, kiến trúc, đáp ứng yêu cầu bền vững,
mỹ quan, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong xây dựng, ápdụng công nghệ tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý
Thứ ba, việc đưa ra một văn bản về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng đã góp phần phânđịnh rõ chức năng của quản lý nhà nước và phân cấp quản lý về đầu tư xây dựng phù hợp vớitừng loại nguồn vốn đầu tư và chủ đầu tư Thực hiện quản lý đầu tư và xây dựng theo dự án, quyhoạch và pháp luật
Các dự án đầu tư thuộc vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh,vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn do doanh nghiệp nhà nước đầu tư
sẽ được quản lý chặt chẽ theo trình tự đầu tư và xây dựng quy định với từng loại vốn
Đối với các hoạt động đầu tư, xây dựng cuả nhân dân, Nhà nước chỉ quản lý về quyhoạch, kiến trúc và môi trường sinh thái đồng thời phân định rõ trách nhiêm và quyềnhạn của cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quátrình đầu tư và xây dựng
Quy chế quản lý đầu tư quy định rõ đối tượng, trách nhiệm của từng đối tượng, phạm
vi, quy chế cũng như trình tự quản lý đầu tư và xây dựng
r) Nghi định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ về hoạt động đầu tư nước ngoài
• Điểm tích cực trong Nghi định số 22/1999/NĐ-CP
Nghị định là cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài cho phép doanhnghiệp Việt Nam đưa vốn bằng tiền, tài sản khác ra nước ngoài để đầu tư trực tiếp ở nướcngoài Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong nhữngkênh hội nhập hiệu quả nhất, nhanh nhất để các nền kinh tế trên thế giới giao thương với nhau.Trong xu thế đó, những năm gần đây, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam có xu hướnggia tăng và đạt được nhiều kết quả tích cực với số dự án và vốn đăng ký năm sau luôn cao hơnnăm trước
Điểm tích cực trong Nghi định số 22/1999/NĐ-CP là đã ban hành là cơ sở pháp lý đầu tiêncho hoạt động đầu tư ra nước ngoài Trước khi nghị định ra đời, một số doanh nghiệp tư nhân đãđầu tư 18 dự án tại Lào và Campuchia với tổng vốn đăng ký trên 13,6 triệu USD, bình quân chưađến 1 triệu USD/dự án Sau khi nghị định 22 ra đời, giai đoạn 1999-2005, bắt đầu có sự thay đổilớn, VN có thêm 131 dự án đầu tư ra nước ngoài với tổng đăng lý trên 559,89 triệu USD, tănggấp 7 lần về số dự án và 40 lần về vốn đăng lý so với các giai đoạn trước đó, các dự án chủ yếu
Trang 32tập trung ở các lĩnh vực khai thác dầu khí và phát triển nguồn điện (chiếm 40,09% số dự ánnhưng chiếm 74,5 số vốn đầu tư), nông nghiệp chiếm 19,6% số dự án và 13,3% số vốn đầu tư,còn lại là thương mại dịch vụ.
• Điểm hạn chế trong Nghi định số 22/1999/NĐ-CP
Thứ nhất, nghị định 22/1999/NĐ-CP chưa quy định về các hoạt động đầu tư gián tiếp nhưmua cổ phần, hoạt động thuê mua, đấu thầu quốc tế, đầu tư trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng,bảo hiểm, đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI tại ViệtNam, điều này cản trờ việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và cơ hội thâm nhập thị trường tiềmnăng cho các doanh nghiệp Việt Nam
Thứ hai, việc vay ngoại tệ của ngân hàng thương mại để đầu tư ra nước ngoài vẫn gặp nhiềukhó khăn, lý do là các ngân hàng thương mại chưa có cơ chế để quản lý nguồn tiền vay khi họkhông có văn phòng đại diện ở quốc gia và doanh nghiệp đầu tư Ngoài ra cơ chế quản lý ngoạihối của Ngân hàng nhà nước hiện nay chưa có quy định về quản lý đồng tiền đầu tư ra nướcngoài, dù cho việc vay ngoại tệ đã được quy định trong nghị định, sự thiếu hụt vốn đã khiến dự
án chỉ tổn tại được một thời gian ngắn
Thứ ba, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng của chính phủ trong việc quản lý các dự ánđầu tư ra nước ngoài còn hạn chế, chưa thành lập được các đoàn khảo sát tại chỗ để đánh giá sâuhiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài Mối quan hệ giữa cơ quan đại diện ngoại giao vàthương vụ Việt Nam ở nước ngoài với các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài còn lỏng lẻo nên dễgập vướng mắc khi có tranh chấp xảy ra
Thứ tư, quy trình thẩm định cấp phép cho các dự án đầu tư ra nước ngoài còn chậm, chưa rõràng, mặc dù quy định là không quá 30 ngày nhưng vẫn có dự án kéo dài đến cả năm, khiếndoanh nghiệp lỡ mất cơ hội đầu tư
Thứ năm, tính pháp luật về đầu tư nước ngoài vẫn còn thiếu tính đồng bộ, ổn định và cụ thể,
có những quy định còn mâu thuẫn nhau, nguyên nhân xuất phát từ môi trường pháp lý còn đangtrong quá trình hoàn thiện, biểu hiện ở
1.6 Cơ chế quản lí đầu tư giai đoạn 2000 - 2003
a Nghị định 12/2000/NĐ-CP ban hành ngày 05/05/2000
Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý đầu tư xây dựng ban hành kèmtheo nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999 Căn cứ theo nghị định này, tùy theo tính chấtcủa dự án sẽ phân loại thành 3 nhóm theo từng đặc trưng riêng, từ đó phân cấp quản lý và có cácgian đoạn triển khai khác nhau Do đó đã mang lại những tín hiệu tích cực:
Thứ nhất, quy định rõ về trách nhiệm của chủ đầu tư đối với các khoản vốn vay
Thứ hai, phân rõ hơn trách nhiệm trong thẩm quyền quyết định đầu tư, điều chỉnh quy mô dự
án (dự án B không phải thỏa thuận với Bộ kế hoạch đầu tư, vốn dân doanh tự chịu về hiệu quảđầu tư)
Vốn để lập các dự án quy hoạch tổng thể bao gồm vốn điều tra, khảo sát, nghiên cứu, lập
và xét duyệt dự án quy hoạch và được sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước và cân đốitrong kế hoạch đầu tư hàng năm của nhà nước
Bộ kế hoạch và đầu tư là cơ quan chủ trì tổ chức thẩm định các loại dự án quy hoạch pháttriển kinh tế xã hội, phát triển ngành, vùng kinh tế trọng điểm trình thủ tướng chính phủ
Trang 33phê duyệt Đồng thời quy định rõ về trách nhiệm và quyền quyết định đầu tư ở cấp huyện
Thứ nhất, nghị định quy định rõ về các đối tượng tham gia hợp tác, danh mục dự án và hìnhthức đầu tư, giúp các DOANH NGHIỆP nước ngoài có một hình dung rõ nét về điều kiện gianhập và cách thức
Thứ hai, nghị định đưa ra giúp mở rộng hợp tác kinh tế với nước ngoài, phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế quốc dân trên cơ sở khai thác và sử dụng hiệuquả các nguồn lực của đất nước
Thứ ba, nghị định mở ra những cơ chế mới và mở cửa hơn đối với các doanh nghiệp nướcngoài kinh doanh tại Việt Nam
• Điểm hạn chế trong Nghị định 24/2000/NĐ-CP
Bên cạnh những điểm tích cực, nghị định còn tồn tại một số hạn chế sau:
Thức nhất, phạm vi quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài ít được đề cập cụ thể trong nghịđịnh, phần lớn các văn bản trong luật chỉ mới tập trung vào giai đoạn cấp giấy phép đầu tư, chưaquy định cụ thể phạm vi, đối tượng quản lý trong quá trình hoạt động của đầu tư nước ngoài giaiđoạn sau cấp phép dẫn đến tình trạng các cơ quan quản lý không nắm được thực trạng kinh doanhcủa khu vực mà lại tập trung vào các thủ tục hành chính phiền hà, phức tạp, nhất là thủ tục lienquan đến đất đai, xây dựng xuất nhập khẩu, hải quan Các vấn đề đòi hỏi vai trò quản lý của nhànước như kiểm tra giám sát sử dụng máy móc thiết bị, vận chuyển vật tư thì chưa có bộ ngànhnào chịu trách nhiệm quản lý
Thứ hai, chưa đảm bảo tính ổn định trong các quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài
Do còn thiếu kinh nghiệm nên quá trình điều hành vĩ mô còn nhiều lúng túng, chưa chủ động,mang tính chất đối phó dẫn đến việc có quá trình văn bản pháp quy được ban hành Tuy nhiên cómột số quy định mới lại mâu thuẫn với những quy định trong văn bản trước đó nên không nhữngkhông tại điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài mà còn tạo kẽ hở cho những tiêu cực không đángcó
Thứ ba, pháp luật về đầu tư nước ngoài đôi khi còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau, không nhấtquán về chủ trương, thậm chí bỏ ngỏ, ví dụ như việc xử lý giá trị quyền sử dụng đất trong trườnghợp giải thể, phá sản của DOANH NGHIỆP có vốn đầu tư nước ngoài
Thứ tư, phần nhiều văn bản pháp luật về đầu tư nước ngoài chỉ dừng lại ở các quy địnhkhung, chưa thể hiện được tính rõ ràng, cụ thể dẫn đến việc áp dụng trực tiếp gặp nhiều khó khăn.Cho đến nay đã có hơn 120 văn bản liên quan đến hướng dẫn thi hành Luật đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam, trong một số trường hợp, văn bản hướng dẫn còn ban hành chậm và trái với quy định