1. Hoàn cảnh ra đời sáng kiến 1.1. Cơ sở lí luận Bước sang thế kỉ XXI, điều kiện kinh tế xã hội nước ta có những thay đổi lớn. Đất nước bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cơ cấu kinh tế, trình độ phát triển sản xuất, khoa học kĩ thuật, nhu cầu xã hội thu nhập quốc dân có những bước phát triển quan trọng. Vấn đề hội nhập, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, vấn đề về kinh tế tri thức, công nghệ thông tin, xu hướng quốc tế hoá trong kinh tế đang thường xuyên đặt ra và ngày càng cấp bách. Những thay đổi đó trong kinh tế xã hội, trong giáo dục dẫn tới những yêu cầu đòi hỏi trong việc dạy Tiếng Việt nói chung và dạy tiếng mẹ đẻ nói riêng. Đối với môn Tiếng Việt trong nhà trường tiểu học nó không thể là bản sao từ chương trình khoa học Tiếng Việt. Vì nhà trường có nhiệm vụ riêng của mình. Nhưng với tư cách là một môn học độc lậpTiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho HS những tri thức về hệ thống Tiếng Việt (hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp khả năng biểu cảm của ngôn ngữ quy tắc hoạt động của ngôn ngữ). Đồng thời hình thành cho HS kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết). Ngoài ra Tiếng Việt còn là công cụ giao tiếp và tư duy cho nên nó còn có chức năng kép mà các môn học khác không có được, đó là: Trang bị cho HS một số công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhà trường. Tiếng Việt là công cụ để học các môn học khác; kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là phương tiện là điều kiện thiết yếu của qúa trình học tập. Bên cạnh chức năng giao tiếp, tư duy ngôn ngữ còn có chức năng quan trọng nữa đó là thẩm mĩ, ngôn ngữ là phương tiện để tạo nên cái đẹp; hình tượng nghệ thuật. Trong văn học HS phải thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ vì thế ở trường tiểu học Tiếng Việt và văn học được tích hợp với nhau,Văn học giúp HS có thẩm lành mạnh, nhận thức đúng đắn, có tình cảm thái độ hành vi của con người Việt Nam hiện đại, có khả năng hòa nhập và phát triển cộng đồng. Mặt khác, ngôn ngữ văn học còn là biểu hiện bậc cao của nghệ thuật ngôn từ. Cho nên dạy tiếng trong khi dạy văn là cách bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ tối ưu cho người học. Dạy Tiếng Việt là đưa các em hoà nhập vào một môi trường sống của thời kì hội nhập. Ngược lại hiểu sâu sắc về Tiếng Việt lại tác động đến kĩ năng cảm thụ thơ văn của HS. Kết hợp giữa dạy văn và dạy tiếng sẽ tạo được hiệu quả cao giữa hai môn Văn Tiếng Việt. Để đạt được hiệu quả giữa hai môn VănTiếng Việt đòi hỏi người giáo viên cần phải dạy ở mọi nơi mọi lúc trong tất cả các môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt. Phải có những phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn này phải có kiến thức Tiếng Việt vững vàng và không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ. 1.2. Cơ sở thực tiễn Thực tế ở đây đã cho thấy điều đó: Có nhiều GV không ngừng say sưa tìm tòi sáng tạo trong giảng dạy, đưa chất lượng ngày càng đi lên về mọi mặt, đáp ứng được với nhu cầu đòi hỏi của xã hội trong thời kì đổi mới; nhưng cũng thật đáng buồn vì còn có một số ít GV còn coi nhẹ vấn đề này. Mặt khác chương trình các môn học ở trường tiểu học hiện nay đã được sắp xếp một cách khoa học hệ thống song đối với học sinh tiểu học là bậc học nền tảng. Đến trường là một bước ngoặt lớn của các em, trong đó hoạt động học là hoạt động chủ đạo, kiến thức các môn học về tự nhiên và xã hội chưa được bao nhiêu, vốn từ sử dụng vào trong cuộc sống để diễn đạt trình bày tư tưởng, tỉnh cảm của mình còn quá ít. Các em thường lẫn lộn giữa từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm. Hơn thế nữa các em chưa ý thức được vai trò xã hội của ngôn ngữ, chưa nắm được các phương tiện kết cấu và quy luật cũng như hoạt động chức năng của nó. Mặt khác HS cần hiểu rõ người ta nói và viết không chỉ cho riêng mình mà cho người khác ngôn ngữ cần chính xác, rõ ràng đúng đắn và dễ hiểu, tránh làm cho người khác hiểu sai nội dung câu, từ, ý nghĩa diễn đạt. Qua thực tế giảng dạy dự giờ đồng nghiệp ở trường sở tại, trường bạn, tôi nhận thấy việc dạy và học về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm còn có một số tồn tại sau : + GV truyền kiến thức về khái niệm từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm còn máy móc, rập khuôn và sơ sài, lấy ví dụ mà chưa hiểu được bản chất của nó. Chỉ bó hẹp trong phạm vi SGK. Khi thoát khỏi phạm vi này thì HS hầu hết đều luống cuống và nhầm lẫn. + Khi thể hiện tiết dạy hầu như GV chỉ chú ý đến đối tượng học sinh tiếp thu nhanh còn lại đa số HS khác thụ động ngồi nghe rồi một số em khác có muốn nêu cách hiểu của mình về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm cũng sợ sai lệch, từ đó tạo nên không khí một lớp học trầm lắng, HS làm việc tẻ nhạt, thiếu hứng thú không tạo được hiệu quả trong giờ học. + Trong những bài dạy về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm hầu như GV ít đọc tài liệu tham khảo, ít học hỏi và trao đổi với đồng nghiệp. Phải chăng những tồn tại đó còn tiềm ẩn trong mỗi tiết dạy để rồi GV tự dấu đi những kiến thức tài năng sẵn có và những gì đã được học tập, lĩnh hội ở nhà trường sư phạm rồi dần dần đánh mất. Đứng trước thực trạng như vậy và rút kinh nghiệm qua 2 năm dạy học lớp 5, năm nay tôi có: “Một số kinh nghiệm giúp HS lớp 5 phân bịêt từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm”. Nhằm giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm tạo nền tảng để các em học tốt môn Tiếng Vịêt. Tuy là bước đầu nhưng tôi mạnh dạn nêu lên và mong được sự ủng hộ quan tâm, đóng góp của các bạn đồng nghiệp để tôi được hoµn thiện hơn về kinh nghiệm này. 2. Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Tôi chọn đề tài này nghiên cứu với mục đích : Giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm. Góp phần làm giàu thêm vốn từ cho HS. Giúp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật. Giúp HS biết sử dụng từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm khi nói hoặc viết. 2.2. Đối tượng nghiên cứu Một số kinh nghiệm giúp HS phân bịêt về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm 2.3. Nhiệm vụ nghiên cứu a. Nghiên cứu vấn đề lí luận b. Nghiên cứu thực trạng và đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm cho HS. c. Rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc dạyhọc từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm 2.4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp điều tra. Phương pháp trắc nghiệm Phương pháp nghiên cứu sản phẩm Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 3. Nội dung nghiên cứu 3.1. Những vấn đề lý luận 3.1.1. Nguyên tắc dạy học a) Khái niệm : Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lí luận dạy học, có tác dụng chỉ đạo toàn bộ tiến trình giảng dạy và học tập phù hợp với mục đích dạy học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. b) Nguyên tắc đồng bộ : Đây là nguyên tắc đòi hỏi người giáo viên trong việc dạy từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm là phải tiến hành ở mọi nơi trong tất cả các môn học. Dạy từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm phải trở thành một bộ phận không thể thiếu được của mỗi giờ Tiếng Việt, đặc biệt là phần dạy về từ vựng Tiếng Việt cần chú trọng đi sâu về bản chất của từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm. c) Nguyên tắc thực hành: Đòi hỏi hoạt động ngôn ngữ thường xuyên, đó là những bài tập miệng, bài viết trình bày ý nghĩa, ứng dụng lí thuyết vào thực hành vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể của ngữ pháp, Chính tả, Tập làm văn. Dạy từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm phải gắn làm giàu những biểu tượng tư duy bằng con đường quan sát trực tiếp và thông qua những mẫu lời nói, hội thoại. d) Nguyên tắc cụ thế: HS tiểu học còn nhận thức theo kiểu “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn nên giai đoạn đầu khi giới thiệu về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm cần phải tác động bằng kích thích vật thật và bằng lời. Mặt khác các em cần được nghe, thấy, phát âm và viết từ mới để các em nói thành tiếng hoặc nói thầm đều do chúng quan sát được. e) Nguyên tắc tính đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ Nghĩa là khi dạy từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm cần được trình bày như là việc thiết lập quan hệ giữa từ và yếu tố hiện thực, quan hệ giữa từ với một lớp sự vật cùng loại được biểu thị bởi từ. Đó là hai mặt hình thức và nội dung của tín hiệu từ, hai mặt này gắn chặt với nhau, tác động lẫn nhau, phải làm cho HS nắm vững hai mặt này và mối tương quan giữa chúng. 3.2. Phương pháp dạy học a) Khái niệm: Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học . b) Các phương pháp dạy học cơ bản Phương pháp thuyết trình Phương pháp đàm thoại Phương pháp trực quan Phương pháp thực hành luyện tập …………………………….. 4. Thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu 4.1. Đặc điểm địa phương Địa phương là một xã xa trung t©m kinh tÕ vµ v¨n ho¸ nên HS trường tôi hầu hết là con em có hoàn cảnh kinh tế gia đình còn khó khăn, điều kiện học tập của con em còn thấp, đặc biệt lµ cã nhiÒu em cã bè mÑ lµm ¨n xa ph¶i ë víi «ng bµ nªn sự quan tâm của phụ huynh còn hạn chế, phần nào làm ảnh hưỏng đến kết quả học tập của học sinh. 4.2. Đặc điểm của nhà trường Năm học 2014 2015 Trường tiểu học nơi tôi công tác có hơn hai trăm học sinh. Ban giám hiệu vững về chuyên môn, có bề dày kinh nghiệm trong giảng dạy và nhiều giáo viên là giáo viên giỏi cã tr×nh ®é chuyªn m«n v÷ng ch¾c, đã có nhiều tiết thao giảng về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm. Trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ I. 4.3. Đặc điểm của lớp Năm học 2014 – 2015, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5B là lớp có trình độ nhận thức không đồng đều. Một số phụ huynh thiếu sự quan tâm đến việc học của con cái, số lượng HS đông, ý thức học của một số HS còn chưa tốt. Tuy vậy tôi vẫn mạnh dạn đăng kí thi đua : Đánh giá thường xuyên đối với tất cả các môn học, hoạt động giáo dục: Hoàn thành: 29 em = 100% (trong đó: Hoàn thành Tốt 14 em). Mức độ hình thành và phát triển năng lực: Đạt 29 em = 100% Mức độ hình thành và phát triển phẩm chất: Đạt 29 em = 100% Hoàn thành chương trình Tiểu học 29 em = 100% Chất lượng vở sạch chữ đẹp: Loai A ; 26 em = 89,6% còn lại là loại B. 5
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1.Tên sáng kiến: Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa và từ đồng âm
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Văn học
3 Tác giả:
Họ và tên: Nam (nữ): nữ
Ngày tháng/năm sinh:
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phạm Thái
Điện thoại:
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo
- Giáo viên phải tâm huyết với nghề và quan tâm tới học sinh
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2014 - 2015
Trang 2TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Dạy Tiếng Việt là đưa các em hoà nhập vào một môi trường sống của thời kìhội nhập Để đạt được điều đó thì người giáo viên cần phải có những phương phápdạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn này, phải có kiến thức Tiếng Việt vữngvàng và không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ Thực tế, 2 năm giảng dạy ởlớp 5 tôi thấy vốn từ sử dụng vào trong cuộc sống để diễn đạt, trình bày tư tưởng,tỉnh cảm của các em còn quá ít Các em thường lẫn lộn giữa từ nhiều nghĩa, từđồng nghĩa và từ đồng âm Khi nói hoặc viết đôi lúc các em còn hiểu sai lệch cácloại từ này dẫn đến hiệu quả đạt được trong các giờ học Tiếng Việt chưa cao Một
số GV truyền đạt kiến thức về khái niệm từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng
âm còn máy móc, rập khuôn và sơ sài, lấy ví dụ mà chưa hiểu được bản chất của
nó Chỉ bó hẹp trong phạm vi SGK Khi thoát khỏi phạm vi này thì HS hầu hết đềuluống cuống và nhầm lẫn
Đứng trước thực trạng như vậy và rút kinh nghiệm qua 2 năm dạy học lớp
5, năm nay tôi có: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa và từ đồng âm” Nhằm giúp học sinh tháo gỡ
những nhầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm tạo nềntảng để các em học tốt môn Tiếng Vịêt
Thời gian áp dụng sáng kiến: Năm học 2019 – 2020 và các năm học tiếptheo
Đối tượng áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 5
Nội dung sáng kiến:
+ Những vấn đề lý luận
+ Thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu
+ Một số giải pháp cụ thể
Trang 3- Khả năng áp dụng sáng kiến: Gv và học sinh áp dụng sáng kiến này trongdạy và học đặc biệt là trong giờ Luyện từ và câu, Tập làm văn có sử dụng các loại
từ này
Để áp dụng sáng kiến, tôi xin đề xuất một số vấn đề sau :
1/ Giáo viên phải đạt từ trình độ chuẩn trở lên; luôn bổ sung cho mìnhnhững kiến thức còn thiếu, luôn luôn đổi mới phương pháp dạy học; chuẩn bị tốtbài giảng trước khi lên lớp trong đó chú trọng việc thiết kế bài dạy theo hướng tíchcực hoá các hoạt động học tập của học sinh
2/ Trường phải đạt danh hiệu Trường chuẩn Quốc gia
Trang 4có những bước phát triển quan trọng Vấn đề hội nhập, giữ gìn và phát huy bản sắcvăn hoá dân tộc, vấn đề về kinh tế tri thức, công nghệ thông tin, xu hướng quốc tếhoá trong kinh tế đang thường xuyên đặt ra và ngày càng cấp bách Những thayđổi đó trong kinh tế xã hội, trong giáo dục dẫn tới những yêu cầu đòi hỏi trongviệc dạy Tiếng Việt nói chung và dạy tiếng mẹ đẻ nói riêng Đối với môn TiếngViệt trong nhà trường tiểu học nó không thể là bản sao từ chương trình khoa họcTiếng Việt Vì nhà trường có nhiệm vụ riêng của mình Nhưng với tư cách là mộtmôn học độc lậpTiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho HS những tri thức về hệthống Tiếng Việt (hệ thống âm thanh, cấu tạo từ, cấu trúc ngữ pháp khả năng biểucảm của ngôn ngữ quy tắc hoạt động của ngôn ngữ) Đồng thời hình thành cho HS
kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) Ngoài ra Tiếng Việt còn là công cụ giaotiếp và tư duy cho nên nó còn có chức năng kép mà các môn học khác không cóđược, đó là: Trang bị cho HS một số công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiếnthức khoa học trong nhà trường Tiếng Việt là công cụ để học các môn học khác;
kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là phương tiện là điều kiện thiết yếu của qúa trình họctập Bên cạnh chức năng giao tiếp, tư duy ngôn ngữ còn có chức năng quan trọngnữa đó là thẩm mĩ, ngôn ngữ là phương tiện để tạo nên cái đẹp; hình tượng nghệthuật Trong văn học HS phải thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ vì thế ở trường tiểuhọc Tiếng Việt và văn học được tích hợp với nhau,Văn học giúp HS có thẩm lànhmạnh, nhận thức đúng đắn, có tình cảm thái độ hành vi của con người Việt Namhiện đại, có khả năng hòa nhập và phát triển cộng đồng Mặt khác, ngôn ngữ văn
Trang 5học còn là biểu hiện bậc cao của nghệ thuật ngôn từ Cho nên dạy tiếng trong khidạy văn là cách bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ tối ưu cho người học
Dạy Tiếng Việt là đưa các em hoà nhập vào một môi trường sống của thời kìhội nhập Ngược lại hiểu sâu sắc về Tiếng Việt lại tác động đến kĩ năng cảm thụthơ văn của HS Kết hợp giữa dạy văn và dạy tiếng sẽ tạo được hiệu quả cao giữahai môn Văn -Tiếng Việt Để đạt được hiệu quả giữa hai môn Văn-Tiếng Việt đòihỏi người giáo viên cần phải dạy ở mọi nơi mọi lúc trong tất cả các môn học đặcbiệt là môn Tiếng Việt Phải có những phương pháp dạy học phù hợp với đặctrưng của bộ môn này phải có kiến thức Tiếng Việt vững vàng và không ngừnghọc hỏi để nâng cao trình độ
1.2 Cơ sở thực tiễn
Thực tế ở đây đã cho thấy điều đó: Có nhiều GV không ngừng say sưa tìmtòi sáng tạo trong giảng dạy, đưa chất lượng ngày càng đi lên về mọi mặt, đáp ứngđược với nhu cầu đòi hỏi của xã hội trong thời kì đổi mới; nhưng cũng thật đángbuồn vì còn có một số ít GV còn coi nhẹ vấn đề này Mặt khác chương trình cácmôn học ở trường tiểu học hiện nay đã được sắp xếp một cách khoa học hệ thốngsong đối với học sinh tiểu học là bậc học nền tảng Đến trường là một bước ngoặtlớn của các em, trong đó hoạt động học là hoạt động chủ đạo, kiến thức các mônhọc về tự nhiên và xã hội chưa được bao nhiêu, vốn từ sử dụng vào trong cuộcsống để diễn đạt trình bày tư tưởng, tỉnh cảm của mình còn quá ít Các em thườnglẫn lộn giữa từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm Hơn thế nữa các emchưa ý thức được vai trò xã hội của ngôn ngữ, chưa nắm được các phương tiện kếtcấu và quy luật cũng như hoạt động chức năng của nó Mặt khác HS cần hiểu rõngười ta nói và viết không chỉ cho riêng mình mà cho người khác ngôn ngữ cầnchính xác, rõ ràng đúng đắn và dễ hiểu, tránh làm cho người khác hiểu sai nộidung câu, từ, ý nghĩa diễn đạt
Trang 6Qua thực tế giảng dạy dự giờ đồng nghiệp ở trường sở tại, trường bạn, tôinhận thấy việc dạy và học về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm còn cómột số tồn tại sau :
+ GV truyền kiến thức về khái niệm từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từđồng âm còn máy móc, rập khuôn và sơ sài, lấy ví dụ mà chưa hiểu được bản chấtcủa nó Chỉ bó hẹp trong phạm vi SGK Khi thoát khỏi phạm vi này thì HS hầu hếtđều luống cuống và nhầm lẫn
+ Khi thể hiện tiết dạy hầu như GV chỉ chú ý đến đối tượng học sinh tiếpthu nhanh còn lại đa số HS khác thụ động ngồi nghe rồi một số em khác có muốnnêu cách hiểu của mình về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm cũng sợsai lệch, từ đó tạo nên không khí một lớp học trầm lắng, HS làm việc tẻ nhạt, thiếuhứng thú không tạo được hiệu quả trong giờ học
+ Trong những bài dạy về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm hầunhư GV ít đọc tài liệu tham khảo, ít học hỏi và trao đổi với đồng nghiệp
Phải chăng những tồn tại đó còn tiềm ẩn trong mỗi tiết dạy để rồi GV tự dấu
đi những kiến thức tài năng sẵn có và những gì đã được học tập, lĩnh hội ở nhàtrường sư phạm rồi dần dần đánh mất Đứng trước thực trạng như vậy và rút kinh
nghiệm qua 2 năm dạy học lớp 5, năm nay tôi có: “Một số kinh nghiệm giúp HS lớp 5 phân bịêt từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm” Nhằm giúp học
sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng
âm tạo nền tảng để các em học tốt môn Tiếng Vịêt Tuy là bước đầu nhưng tôimạnh dạn nêu lên và mong được sự ủng hộ quan tâm, đóng góp của các bạn đồngnghiệp để tôi được hoµn thiện hơn về kinh nghiệm này
2 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tôi chọn đề tài này nghiên cứu với mục đích :
Trang 7- Giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa các từ nhiều nghĩa, từ đồngnghĩa và từ đồng âm Góp phần làm giàu thêm vốn từ cho HS.
- Giúp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật
- Giúp HS biết sử dụng từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm khi nóihoặc viết
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm giúp HS phân bịêt về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và
từ đồng âm
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
a Nghiên cứu vấn đề lí luận
b Nghiên cứu thực trạng và đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm cho HS
c Rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc dạy-học từ nhiều nghĩa, từđồng nghĩa và từ đồng âm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Những vấn đề lý luận
3.1.1 Nguyên tắc dạy học
a) Khái niệm : Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy
luật của lí luận dạy học, có tác dụng chỉ đạo toàn bộ tiến trình giảng dạy và họctập phù hợp với mục đích dạy học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học
b) Nguyên tắc đồng bộ : Đây là nguyên tắc đòi hỏi người giáo viên trong
việc dạy từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm là phải tiến hành ở mọi nơi
Trang 8trong tất cả các môn học Dạy từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm phảitrở thành một bộ phận không thể thiếu được của mỗi giờ Tiếng Việt, đặc biệt làphần dạy về từ vựng Tiếng Việt cần chú trọng đi sâu về bản chất của từ nhiềunghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm.
c) Nguyên tắc thực hành: Đòi hỏi hoạt động ngôn ngữ thường xuyên, đó là
những bài tập miệng, bài viết trình bày ý nghĩa, ứng dụng lí thuyết vào thực hànhvào việc giải quyết những vấn đề cụ thể của ngữ pháp, Chính tả, Tập làm văn Dạy
từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm phải gắn làm giàu những biểu tượng
tư duy bằng con đường quan sát trực tiếp và thông qua những mẫu lời nói, hộithoại
d) Nguyên tắc cụ thế: HS tiểu học còn nhận thức theo kiểu “trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn nên giai đoạn đầukhi giới thiệu về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng âm cần phải tác động bằngkích thích vật thật và bằng lời Mặt khác các em cần được nghe, thấy, phát âm vàviết từ mới để các em nói thành tiếng hoặc nói thầm đều do chúng quan sát được
e) Nguyên tắc tính đến đặc điểm của từ trong hệ thống ngôn ngữ
Nghĩa là khi dạy từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng âm cần đượctrình bày như là việc thiết lập quan hệ giữa từ và yếu tố hiện thực, quan hệ giữa từvới một lớp sự vật cùng loại được biểu thị bởi từ Đó là hai mặt hình thức và nộidung của tín hiệu từ, hai mặt này gắn chặt với nhau, tác động lẫn nhau, phải làmcho HS nắm vững hai mặt này và mối tương quan giữa chúng
3.2 Phương pháp dạy học
a) Khái niệm: Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của
thầy và trò trong quá trình dạy học dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của thầy nhằm thựchiện tốt nhiệm vụ dạy học
b) Các phương pháp dạy học cơ bản
- Phương pháp thuyết trình
Trang 9- Phương phỏp đàm thoại
- Phương phỏp trực quan
- Phương phỏp thực hành luyện tập
………
4 Thực trạng của vấn đề cần nghiờn cứu
4.1 Đặc điểm địa phương
Địa phương là một xó xa trung tâm kinh tế và văn hoá nờn HStrường tụi hầu hết là con em cú hoàn cảnh kinh tế gia đỡnh cũn khú khăn, điều kiệnhọc tập của con em cũn thấp, đặc biệt là có nhiều em có bố mẹ làm ăn
xa phải ở với ông bà nên sự quan tõm của phụ huynh cũn hạn chế, phần nàolàm ảnh hưỏng đến kết quả học tập của học sinh
4.2 Đặc điểm của nhà trường
Năm học 2014- 2015 Trường tiểu học - nơi tụi cụng tỏc - cú hơn hai trămhọc sinh Ban giỏm hiệu vững về chuyờn mụn, cú bề dày kinh nghiệm trong giảngdạy và nhiều giỏo viờn là giỏo viờn giỏi có trình độ chuyên môn vữngchắc, đó cú nhiều tiết thao giảng về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa và từ đồng
õm Trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ I
4.3 Đặc điểm của lớp
Năm học 2014 – 2015, tụi được phõn cụng chủ nhiệm lớp 5B là lớp cú trỡnh
độ nhận thức khụng đồng đều Một số phụ huynh thiếu sự quan tõm đến việc họccủa con cỏi, số lượng HS đụng, ý thức học của một số HS cũn chưa tốt Tuy vậytụi vẫn mạnh dạn đăng kớ thi đua :
- Đỏnh giỏ thường xuyờn đối với tất cả cỏc mụn học, hoạt động giỏo dục:Hoàn thành: 29 em = 100% (trong đú: Hoàn thành Tốt 14 em)
- Mức độ hỡnh thành và phỏt triển năng lực: Đạt 29 em = 100%
- Mức độ hỡnh thành và phỏt triển phẩm chất: Đạt 29 em = 100%
- Hoàn thành chương trỡnh Tiểu học 29 em = 100%
Trang 10- Chất lượng vở sạch chữ đẹp: Loai A ; 26 em = 89,6% cũn lại là loại B.
5 Một số giải phỏp cụ thể
5.1 Kết quả điều tra khảo sỏt chất lượng học sinh
Vào đầu năm học 2014 - 2015 ngay từ bài Luyện từ và cõu đầu tiờn tụi đókhảo sỏt chất lượng HS bằng cỏch cho cỏc từ sau: “xanh, xanh biếc, xanh lố, đỏ au,
đỏ bừng, đỏ chạch, đỏ chúi, đỏ chút, đồng (tiền), (cỏnh) đồng, bàn (việc), (cỏi)bàn, (Thố) lưỡi, lưỡi liềm, lưỡi hỏi, lưỡi dao, lưỡi cày, lưỡi lờ, lưỡi gươm”
Yờu cầu HS xỏc định và phõn thành 3 nhúm: Từ đồng nghĩa; từ nhiều nghĩa;
Như vậy nhỡn chung HS nắm bài về từ nhiều nghĩa, từ đồng nghĩa, từ đồng
õm chưa chăc chắn, chưa chớnh xỏc
Và sau khi học xong bài Từ đồng nghĩa, từ nghiều nghĩa,
từ đồng âm tôi đã ra đề khảo sát nh sau:
(1)Tỡm những cõu tục ngữ , thành ngữ, ca dao, cõu thơ, cõu đố cú từ đồng
õm
(2) Đặt cõu với từ ăn: (ăn mang nghĩa gốc) và (ăn mang nghĩa chuyển )
Kết quả cỏc em làm như sau :
Tổng số bài trờn 5 : 18/29 em
Số bài đạt điểm 9, 10 : 5/29 em
Qua một số bài tập làm văn mà HS lớp tụi đó làm do HS khụng hiểu đượcnghĩa của từ và cỏch sử dụng nú nờn khi viết bài văn về “ Tả cõy búng mỏt mà emyờu thớch” Cú em viết: “Lỏ bàng xanh, thõn bàng nõu, quả bàng cũng màuxanh ” Hoặc đối với đề bài tả về đồ chơi mà em thớch nhất cú em đó viết :“ con
Trang 11gấu bông có cặp mắt đen sì mũi nhọn như bóng ” Së dĩ các em dùng từ nhưvậy là do không nắm được từ đồng nghĩa, cơ sở tạo nên từ nhiều nghĩa
5.2 Học hỏi và trao đổi với đồng nghiệp
Khi dạy về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm tôi thường trao đổivới ban giám hiệu, bạn bè đồng nghiệp, để tìm ra cái hay, cái mới trong giảng dạynên đã rút ra được nhiều kinh nghiệm bổ ích cho bản thân
5.3 Hướng dẫn học sinh khi học các khái niệm về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm
5.3.1 Từ đồng nghĩa :
Định nghĩa : *Từ đồng nghĩa là các từ khác nhau về mặt ngữ âm nhưnggiống nhau về mặt ý nghĩa , chúng cùng biểu thị các sắc thái khác nhau của cùngmột khái niệm (Tài liệu của Trường đại họcVinh)
Ví dụ: Cùng nói đến khái niệm ăn có xơi, nhậu nhẹt
*Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau
Ví dụ: siêng năng, chăm chỉ, cần cù,
*Có những từ đồng nghĩa hoàn toàn, có thế thay thế cho nhau trong lời nói
Trang 12Ví dụ : đầu : (1)bộ phận trên hết của người, bộ phận trước hết của người
của vật
(2)trí tuệ thông minh : anh ấy là người có cái đầu.
(3)Vị trí danh dự : anh ấy luôn đứng đầu lớp về mọi mặt.
(4)Vị trí tận cùng của sự vật : Anh ở đầu sông em cuối sông
(Tài liệu của trường đại học Vinh – Chu Thị Thủy An)
Từ nhiều nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Cácnghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau
Ví dụ :
- Đôi mắt của bé mở to (bộ phận quan sát của con người mọc ở trên mặt)
- Quả na mở mắt (quả na bắt đầu chín, có những vết nứt rộng ra giống hình
con mắt) (Sách Tiếng Việt 5 Tập 1)
5.3.3 Từ đồng âm
a) Định nghĩa: *Là những từ giống nhau về ngữ âm nhưng khác nhau về ýnghĩa
Ví dụ : Cổ: bộ phận cơ thể con người và cổ: xưa, lạc hậu
bác: anh, chị của bố mẹ và bác là chưng cất, bác là phủ định, bác là
bố (Bác mẹ em nghèo) (Tài liệu của trường Đại học Vinh – Chu Thị Thủy An)
b) Ngôn ngữ có tính tiết kiệm cã nên tất yếu dẫn đến hiện tượng đồng âm.Tuy nhiên đồng âm trong Tiếng Việt có đặc điểm riêng :
- Thường xẩy ra ở những từ có cấu trúc đơn giản (các từ đơn tiết)
- Các từ đồng âm trong Tiếng Việt chỉ xẩy ra trong ngữ cảnh vì Tiếng Việt làngôn ngữ không biến hình
Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa
Ví dụ : a) Ông ngồi câu cá (Câu là họat động bắt cá, tôm bằng móc sắt nhỏ
(thường có mồi) buộc ở đầu một sợi dây)
Trang 13b) Đoạn văn này có 5 câu (câu là đơn vị của lời nói diễn đạt một ý trọn vẹn,
trên văn bản được mở đầu bằng một chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một dấungắt câu) (Sách Tiếng Việt 5 tập 1)
5.4 Hướng dẫn học sinh phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm
5.4.1 Từ đồng nghĩa
Bản chất của từ đồng nghĩa: Thực tế học sinh thường nhầm lẫn giữa từ đồngnghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm Không nắm được nghĩa của chúng bởi vì địnhnghĩa về từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng âm chưa chính xác dẫn đến sự khókhăn cho HS trong vịêc nhận diện Phân biệt từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từđồng âm chỉ dựa vào định nghĩa là chưa đủ Đứng trước thực tế đó nên tôi đã mởrộng thêm cho HS một số kiến thức sau:
Từ đồng nghĩa : Bản chất của từ đồng nghĩa (tính ở mức độ của từ đồng
nghĩa)
Khả năng họat động tác động đến sự di chuyển của các sự vật có các từ:
ném, lao, phóng, quăng, vứt, xán xô, đẩy liệng, tống đạp, đá, nhấn, dìm, kéo, dật, rút, gieo, rắc, vãi, trút, xoay, quay, gồng,, gánh
Căn cứ vào chiều di chuyển để chia ra các nhóm đồng nghĩa
- Di chuyển ra xa chủ thể: ném, phóng, lao
- Di chuyển gần lại : lôi, kéo, co, giật, rút
- Di chuyển quay xung quanh chủ thể: gánh,xoay, quay
- Di chuyển cùng chủ thể : Gồng, gánh, bưng, đội, cõng
Các từ trong từng nhóm có mức độ đồng nghĩa cao hơn so với các từ trongcác nhóm khác
a) Bản chất của từ đồng nghĩa là những từ đồng nhất với nhau về nghĩanhưng có tính mức độ Tính mức độ này là do các từ ngoài sự đồng nhất thì có sựkhác biệt nhất định về sắc thái nghĩa
Ví dụ : Về trạng thái chấm dứt sự sống: chết, hi sinh, tử, mất
Trang 14Về hiện tượng hấp thụ thức ăn: Tống, hốc, tọng, ăn
Khi phân tích từ đồng nghĩa có hai thao tác, đó là chỉ ra sự giống nhau và khác nhau Nhưng quan trọng là phải chỉ ra được sự khác nhau về sắc thái.
Ví dụ 2: Giữ gìn, bảo vệ có nghĩa chung là giữ nguyên vẹn, trọn vẹn một cái gì đó (Giữ quần áo; bảo vệ quần áo)
Tuy nhiên, hai từ này điểm khác nhau :
+ Bảo vệ phù hợp với đối tượng lớn trừu tượng; Giữ gìn phù hợp với đối tượng nhỏ, quý (Giữ gìn đòan kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, Bảo vệ đất nước )
+Bảo vệ có nét nghĩa ngăn ngừa, phòng chống, ngăn chặn sự tác động của
bên ngoài; giữ gìn có tính chất thụ động giữ cái đã có, không có sắc thái chống lại
thế lực bên ngoài (Bảo vệ luận văn khác Giữ gìn luận văn)
Ví dụ 3 : Không phận, vùng trời có nét nghĩa chung là chỉ biên giới phía trên của một quốc gia (Địch xâm phạm vùng trời Việt Nam; Địch xâm phạm không phận Việt Nam) Sự khác nhau là: Vùng trời có khả năng chỉ một khoảng không cụ thể còn Không phận thì không có khả năng này (Vùng trời quê tôi thật yên là ả )
Ví dụ 4 : Chọn,lựa, tuyển, kén có nghĩa chung là tìm ra cái gì đó cùng loại với nó Khác nhau ở điểm: Chọn thiên về cái tốt, số lượng đối tượng nhiều, từ cái mình có mà ra; lựa thiên về loại bỏ cái xấu, số lượng đối tượng ít, xuất phát từ đối