1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BO HIM VA GIAM DNH HANG HOA XUT NHP

329 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Hiểm Và Giám Định Hàng Hóa Xuất Nhập Khẩu Vận Chuyển Bằng Đường Biển
Tác giả Đỗ Hữu Vinh
Trường học Nhà Xuất Bản Tài Chính
Thể loại sách
Định dạng
Số trang 329
Dung lượng 3,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nhà xuất nhập khẩu, người làm công tác giao nhận sẽ giải quyết vấn đề này ra sao, phải làm gì khi hàng hóa xuất nhập khẩu bị tổn thất Các thủ tục cần thiết phải tiến hành để có thể

Trang 1

ĐỖ HỮU VINH

BẢO HIỂM VÀ GIÁM ĐỊNH HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨUVẬN CHUYỂN BẰNG

ĐƯỜNG BIỂN

NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH

Trang 2

LỜI GIỚI THIỆU Thị trường thế giới ngày nay mờ rộng không ngừng, sự phân công lao động và sự hợp tác quốc tế ngày càng phát triển Do đó yếu tố ngoại thương trở thành một đòi hỏi khách quan, một yếu tố không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất ở tất cả các nước Các tổ chức ngoại thương thế giới thông qua những hiệp định hay hợp đồng mua bán, vận tải, bảo hiểm để thực hiện nhiệm vụ giao thương hàng hóa giữa các nước Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, hàng hóa thường phải trải qua nhiều khâu: từ người sản xuất đến ngưu 1 xuất khẩu, người vận tải, người giao nhận rồi mới đến tay người tiêu thu sản phẩm nên việc tổn thất, mất mát, hư hỏng là điều không thể tránh khỏi Những nhà xuất nhập khẩu, người làm công tác giao nhận sẽ giải quyết vấn đề này ra sao, phải làm gì khi hàng hóa xuất nhập khẩu bị tổn thất Các thủ tục cần thiết phải tiến hành để có thể đòi được người bảo hiểm bồi thường nếu hàng hóa đó được bảo hiểm Biên bản hàng hư hỏng đổ vỡ, thư kháng nghị thật ra chỉ là chứng từ pháp lý ban đầu về tình trạng hư hỏng của hàng hóa V vậy, người nhận hàng bao giờ cũng muốn hàng hóa của mình được xác nhận cụ thể xem bị hư hỏng thế nào, đến mức độ nào và do nguyên nhân nào gây nên

Về phía người vận chuyển cũng vậy, họ muốn có sự xác định cụ thể về hàng hóa bị hư hỏng để yên tâm rằng mình khỏi bị chủ tàu ràng buộc trách nhiệm từ lúc phát hiện hàng hư hỏng Từ đó vấn đề giám định tổn thất hàng hóa cần được xúc tiến nhanh sau khi hàng được xếp dỡ hoặc được nhậplxuất

từ kho bãi, nhà máy; để có được một biên bản giám định hàng hóa tổn thất làm cơ sở cho việc khiếu nại, đòi bồi thường thiệt hại về sau.

Từ những vấn đề nói trên, chúng tôi mới mạnh dạn biên soạn quyển

"BẢO HIỂM VÀ GIÁM ĐỊNH HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN dựa theo tài liệu nổi tiếng của hãng Lloyd (Anh quốc) nhằm mục đích cung cấp cho sinh viên chuyên ngành kinh tế, cán

bộ làm công tác xuất nhập khẩu, cán bộ hải quan, hãng tàu và độc giả quan tâm đến lĩnh vực này có một tài liệu để học tập và tham khảo bổ ích Hy vọng sách sẽ đem đến nhiều điều bổ ích và thú vị cho bạn đọc Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý từ phía bạn đọc để lần tái bản sau sách sẽ được hoàn chỉnh hơn.

TÁC GIẢ

Trang 3

Phần I

LỊCH SỬ BẢO HIỂM

Trang 4

Chương 1 NGUỒN GỐC BẢO HIỂM

1 GIỞI THIỆU KHÁT QUÁT

Vào cuối thế kỷ15 khi châu Âu thực hiện những cuộc viễn chinh tới

châu Á và châu Mỹ, tạo ra cái gọi là “cuộc cách mạng thương mại” (xảy ra

trước cuộc cách mạng công nghiệp nổi tiếng), ý tưởng quỹ chung và rủi ro đã đồng loạt xuất hiện Ví dụ một đội tàu nhỏ có thể đi từ châu Âu tới Indonexia, trao đổi hàng hóa tại đó và trở về với nhiều hàng hóa, tuy nhiên ở đây tiềm tàng nhiều rủi ro: Một số tàu không hoàn thành toàn bộ chuyến đi

về Một số tàu có thể bị chìm do bão tố, cạn kiệt nguồn cung cấp (hoặc đội thủy thủ chết vì bệnh tật), lạc đường, bị chìm do quá tải, hoặc bị mọt ăn thủng Những người tham gia đầu tư vào những chuyện như kể trên cám nhận thấy cần thiết phải cùng nhau chia sẻ rủi ro tránh tình trạng một số nhà đầu tư mất trắng toàn bộ chuyến hàng do một hiện tượng khá phổ biến: tàu bị mất tích Người ta đã tìm ra hai cách nhằm giải quyết nhu cầu này

Cách thứ nhất là tạo lập một chuyến hàng dưới hình thức cổ phần, một nhóm nhà đầu tư cùng đầu tư vào một nhóm thuyền chở hàng chung cùng chia sẻ rủi ro tổn thất và phân chia lợi nhuận thu được sau chuyến buôn Cách thứ hai là bảo hiểm, một hệ thống theo đó chủ tàu hay chủ hàng (có thể là một cá nhân hay một công ty) trả một số tiền mặt cho người khác nếu họ thỏa thuận sẽ bồi thường khi con tàu đã nêu trên không hoàn thành một chuyến đi

cụ thể nào đó Theo cách thức này, thay thế việc phát triển cạnh tranh, cổ phần, bảo hiểm tiền mặt và cam kết sẽ bồi thường cho chủ tàu trong trường hợp tàu mất tích Những công ty bảo hiểm nảy đã tạo lập một quỹ chung dùng để thanh toán cho người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất Vào thời kỳ đầu, người nhận bảo hiểm phải bán một số tài sản (hoặc rút tiền từ tài khoản ngân hàng) để thanh toán bồi thường cho người được bảo hiểm khi tổn thất xảy ra Nguyên tắc này vẫn đang được áp dụng tại Lloyd s ở Luân đôn nộp hiện nay hình thức cam kết thanh toán bồi thường vẫn lả cơ sở của hợp đồng Các cá nhân có tên tại Lloyd s cam kết bồi thường bằng tiền của chính mình khi những rủi ro họ nhận bảo hiểm xảy ra Thuật ngữ "khai thác bảo hiểm" mang nghĩa chính xác của từ: Người ta soạn ra một văn bản giấy tờ nêu rủi ro (điều được bảo hiểm, hoàn cảnh thời gian bảo hiểm) và người nhận bảo hiểm (hoặc đại diện của mình) ghi ở dưới những thông số, rủi ro mà anh ta nhận

Một số nhả kinh doanh bảo hiểm nhanh chóng nhận ra rằng nhiều

thành viên cộng đồng không muốn một mình bảo hiểm những rủi ro lớn như vậy theo như kiểu khai thác bảo hiểm của Lloyd s V vậy ở một hoàn cảnh khác khái niệm cổ phần đã trở nên sống động hơn Người ta kêu gọi mọi người mua cổ phần của các công ty bảo hiểm Công ty bảo hiểm được thuê chuyên gia để khai thác bảo hiểm và bồi thường cho người được bảo hiểm bằng tiền trích từ quỹ chung đã được đầu tư Quỹ này xây dựng trên cơ sở tiền

Trang 5

công ty thu được sau k/11 bán cổ phần cho cổ đông cộng thu nhập nhờ đầu tư tiền quỹ và phí đóng bảo hiểm Chỉ cần khai thác viên chuyên nghiệp tính toán tất trong việc nên chấp nhận rủi ro nào và phải bảo hiểm là bao nhiêu thì quỹ này sẽ luôn có khả năng bồi thường tổn thất và trả lãi cổ phần để cho các

cổ đông hải lòng với việc đầu tư của họ

Vào những ngày đầu, lĩnh vực đầu tiên của công ty bảo hiểm là bảo hiểm hỏa hoạn Tại những thành thị đông đúc của thế kỷ 17, hầu hết nhà cửa đều dựng bằng gỗ, người ta dùng lứa để sưởi, đun nấu và dùng nến để chiếu sáng vì vậy rủi ro nhả bắt lửa rất cao Ở xã hội lâng xóm trước khi thành thị hóa khi một ngôi nhà bị cháy, hàng xóm sẽ giúp xây dựng lại Nguyên tắc trợ giúp tương hỗ trực tiếp được áp dụng Ngược lại ở thành phố, hàng xóm của gia đình có nhà bị cháy đểu có những nghề nghiệp chuyên môn riêng (Ví dụ: thợ dệt, thợ chữa giầy thư ký hoặc buôn cá), họ không có khả năng chuyên môn cúng như thời gian để giúp hàng xóm xây lại ngôi nhà sau khi bị cháy Thay thế vào đó họ đóng phí bảo hiểm cho một công ty bảo hiểm để nhận được hai cam kết:

- Cung cấp dịch vụ hỏa hoạn (như dập lửa ngăn lan sang nhà khác và hạn chế đến mức thấp nhất mức độ vụ cháy)

Bồi thường bằng tiền mặt cho người được bảo hiểm để thuê mướn những thợ chuyên môn cần thiết (thợ xây, thợ ngói, thợ mộc v.v) sửa chữa lại hư hỏng (hoặc xây lại trong trường hợp nghiêm trọng)

Điều khoản bồi thường đã được sửldụng vài lần và sẽ được giải thích rõ hơn ở phần sau Trong bảo hiểm phi nhân thọ nó có nghĩa bảo đảm cho người được bảo hiểm có tình hình tài chính giống như khi rủi ro được bảo hiểm không xảy ra Mục đích của nó là khôi phục lại (càng sát càng tốt) vị trí giống như khi rủi ro bảo hiểm chưa xảy ra Ngoài thanh toán bằng tiền mặt, công ty bảo hiểm còn có khả năng lựa chọn khác, điều này sẽ được đề cập đến ở chương sau Cùng với bảo hiểm hỏa hoạn, các quỹ bảo hiểm nhân thọ ra đời Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không phái là hợp đồng bồi thường Mục đích của nó là cung cấp một khoản tiền cụ thể khi xảy ra những trường hợp nêu tại hợp đồng bảo hiểm Không ai biết được tuổi thọ của con người Ai cũng sẽ chết nhưng rõ ràng là người ta không thể chắc chắn được tuổi thọ của một ai đó là bao nhiêu Chỉ một phần trong số nhân loại qua đời mỗi năm, số này bao gồm mọi lứa tuổi từ một ngày tuổi đến 110 tuổi (mặc dù tuổi thọ trung bình là dưới 80 tuổi) Các nguyên tắc tính toán để thành lập quỹ bảo hiểm nhân thọ chung sẽ được đề cập chi tiết ở chương sau Tuy nhiên ở đây

ta cũng cần phải chú ý một điểm là: vào giữa thế kỷ 18, người ta đã thiết lập các công ty, tổ chức tương hỗ đế thực hiện bảo hiểm nhân thọ cho công chúng

Trang 6

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không phải luôn dựa trên nguyên tắc bồi thường, bởi vì xét về khía cạnh vật chất cuộc sống con người là vô giá và rô ràng là không một tổ chức nào có thể cung cấp một giá trị tương đương với việc mất đi một sinh mạng Vì lý do này, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ dựa trên một số tiền cụ thể Một người sau khi được bảo hiểm nhân thọ (hoặc một người có những mối liên quan đến quyền lợi như vợ chồng: xem chi tiết ở chương sau) phải thanh toán một phần thu nhập của mình cho công ty bảo hiểm để sau này họ sẽ nhận được thêm một khoản tiền đã được xác định khi người được bảo hiểm qua đời hoặc khi hợp đồng bảo hiểm hết hạn sau một số năm đã định (người được báo hiểm vẫn còn sống) Bảo hiểm nhân thọ là một cách thức tiết kiệm có lợi cho người được bảo hiểm, người thân hoặc các tổ chức kinh doanh của họ

Từ những loại bảo hiểm ban đầu như: hàng hải, hỏa hoạn và nhân thọ,

đã phát triển hàng loạt những loại bảo hiểm khác, hầu hết trong số chúng được đề cập đến trong sách này Chương 2 miêu tả khái quát những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm với tư cách là một hoạt động kinh tế độc nhất Phần còn lại của chương chủ yếu bàn vế vai trò rộng lớn và chức năng của bảo hiểm trong nền kinh tế thị trường

Bốn khái niệm thề hiện vai trò gia bảo hiểm trong nền kinh tế thị trường

là giá trị, bảo vệ, rủi ro và dịch vụ, sau đây sẽ được xem xét theo trật tự tầm quan trọng tăng dần, đầu tiên là dịch vụ

2 BẢO HIỂM, MỘT NGÀNH DỊCH VỤ

Nói một cách đơn giản nhất, người nhận bảo hiểm không bán một sản phẩm hữu hình như xà phòng, bánh ngô mà theo thuật tin thương mại quốc tế sản phẩm của họ là một hoạt động vô hình Người sở hữu hợp động đứng tên bảo hiểm được cấp một văn kiện, hợp đồng bảo hiểm làm bằng chứng xác thực đã có một hợp đồng hiện hữu giữa hai bên: công ty bảo hiểm và người được bảo hiểm Cam kết trong hợp đồng là cam kết thanh toán bằng tiền (hoặc hàng hóa đối với một số trường hợp) với giá trị tương đương với tổn thất (trong bảo hiểm phi nhân thọ) hoặc một số tiền cụ thể nào đó (trong bảo hiểm nhân thọ)

Người ta không có một phần đặc biệt nào trong quỹ dự trữ hoặc tài sản của công ty bảo hiểm được loại trừ ra để thực hiện trách nhiệm bảo hiểm khi rủi ro báo hiểm ghi lại hợp đồng xảy ra Thực tế lả mục đích của quỹ chung dùng để bồi thường khi rủi ro được bảo hiểm xảy ra Tuy nhiên điều này lại mang ý nghĩa: mỗi cá nhân đứng tên bảo hiểm cần phải tin tưởng rằng công

ty bảo hiểm có khả năng và luôn sẵn sàng thực hiện các cam kết theo hợp đồng khi rủi ro bảo hiểm xảy ra Một số người định nghĩa "dịch vui là một sản phẩm vô hình, tuy nhiên rất nhiều chính phủ đã gộp cả kinh doanh khách

Trang 7

sạn, nhà hàng vào những hoạt động dịch vụ khi chuẩn bị hoặc lập thống kê kinh tế

Chắc chắn việc sứ dụng một phòng ngủ hoặc một bữa ăn đều là thể hiện tính vật chất Yếu tố "dịch vụ gắn liền với một thực tế là khi khách hàng sứ dụng diện tích, bàn ghế, bát địa, dao keo và khăn bàn của nhà hàng trong bữa

ăn, đây là một sự đầu tư hữu hình lớn chỉ để đơn thuần phục vụ cho khách hàng trong khi họ thưởng thức sản phẩm hữu hình như thức ăn đồ uống Chính vì vậy hoạt động khách sạn vả nhả hàng đều được coi là dịch vụ Du lịch bằng máy bay, tàu biển hoặc tàu hỏa cũng là một loại dịch vụ", tuy nhiên đôi khi người ta tách chúng ra thành a vận chuyển" Việc tư vấn của luật sư, được bác sĩ chữa bệnh hay trả phí giáo dục cho trường đại học đều được gọi

là dịch vụ" ít nhất đã có một công ty chuyên sản xuất vả bảo dưỡng thang máy tự tuyên bố mình là hãng cung cấp "dịch vụ HỌ lập luận rằng sản phẩm hữu hình vả dịch vụ bảo dưỡng chỉ lả phần phụ trợ cho hoạt động chính của

họ là cung cấp một dịch vụ "vô hình" vận chuyển thẳng đứng cho mọi người Một số nhà kinh tế kề cả những người chuyên viết về bảo hiểm đã trở nên tìm giận khi xuất hiện một khái niệm rất mơ hồ "nền kinh tế dịch vùi trong đó hầu hết các hoạt động; là "dịch vui chứ không phải là "sản phẩm" Khi kiểm tra lại, hóa ra đây chỉ là vấn đề về định nghĩa, nó không có ảnh hường nhiều đối với các hoạt động đã được coi là dịch vụ hoặc bất cứ cái gì khác

Cam kết bảo hiểm:

Dẫu sao, khái niệm dịch vụ cũng mang ý nghĩa cơ bản đối với bảo

hiểm Công ty bảo hiểm bán cam kết cho người được bảo hiểm Hợp đồng

chỉ bắt đầu có hiệu lực vào một thời điểm trong tương lai Vào thời điểm khi công ty bảo hiểm phải thanh toán bồi thường cho người được bảo hiểm, rất

có thể người được bảo hiểm đang ở trong trạng thái sốc hoặc đau khổ vệ tinh thần do rủi ro xảy ra (như sự cố mất trộm, tai nạn, bão hoặc thiên tai) Đối với hợp đồng nhân thọ, khi người được bảo hiểm qua đời, người thân của họ quá đau buồn đến nỗi chưa sẵn sàng nhận thanh toán theo hợp đồng bảo hiểm Mặt khác, nếu công ty bảo hiểm nghi ngờ một cách có lý do tính chân thật của khiếu nại và trì hoãn thanh toán để điều tra, lúc đó có thể người được bảo hiểm sẽ rất tức giận (có thể do lòng chân thật bị tổn thất hoặc do sợ bị phát hiện là đã giả mạo hoặc phóng đại khiếu nại) Ơ cả hai trường hợp trên, khi nảy sinh khiếu nại theo hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm sẽ không giữ được trạng thái tinh thần như bình thường Ở bất cứ giai đoạn nào khi chưa khiếu nại người được bảo hiểm sẽ được bảo vệ, đây có lẽ chính là mục đích mua bảo hiểm của anh ta Công việc của công ty bảo hiểm là thuyết phục những khách hàng có triển vọng rằng họ nên mua bảo hiểm và sau khi thanh toán phí bảo hiểm, chưa thực hiện khiếu nại, coi như họ đã tham gia vào một vụ làm ăn khá cũng như thuyết phục họ rằng họ sẽ nhận ngay đủ dịch vụ khi xảy ra khiếu nại Đây là một điểm quan trọng của dịch vụ trong kinh doanh bảo hiểm Ở mọi giai đoạn khi thực hiện hợp đồng cũng như

Trang 8

trong suốt thời hạn hợp đồng, khách hàng có thể yên tâm rằng mình rất đặc

biệt, đã mua đúng bảo hiểm, loại xứng đáng với đống tiền bỏ ra, cơ chế hành chính của công ty bảo hiểm rất tiết kiệm nhưng hữu hiệu và quyền lợi của khách hàng luôn được coi trọng Một số cây bút hiện đại sử dụng thuật ngữ

"nghệ thuật" để mở rộng điểm này Công ty bảo hiểm, với tư cách là người cong cấp sản phẩm vô hình cần phải bảo đảm dịch vụ tới tay khách hàng của

họ phải dễ tiếp thu Cách tất nhất để thực hiện điều trên là phải thấm nhuần cho mọi nhân viên ở mọi quá trình rằng họ đang thực hiện một nghệ thuật chăm sóc khách hàng "Khách hàng không phải lúc nào đang đúng nhưng khách hàng luôn được đặt ở hàng đầu Đây chính lả cơ sở nghệ thuật dịch vụ khách hàng hiện đại (chương tiếp thị sản phẩm bảo hiểm sẽ xem xét kỹ hơn vấn đề này) Khái niệm quan trọng thứ hai được xem xét ở đây là: Rủi ro

3 Rủi ro

Đối với hầu hết mọi người, rủi ro ám chỉ một số hình thức không chắc chắn về hậu quả của một tình huống nhất định, tạm bỏ qua ý nghĩa của từ không chắc chắn chúng ta thường hiểu rõ mình định nói gì khi đưa ra thuật ngữ "rủi ro" trong câu chuyện Một sự kiện có thể lấy ra, nếu nó xảy ra, hậu quả có thể không có lợi cho chúng ta, hoặc không phải hậu quả mà chúng ta

dự định từ rủi ro không những ám chỉ mối ngờ vực với tương lai mà còn ám chỉ cả một thực tế là: hậu quả có thể khiến cho chúng ta lâm vào hoàn cảnh khó khăn hơn so với hiện tại

a) Định nghĩa

Một số cây bút đặc biệt ở Hoa Kỳ cho ra đời một số định nghĩa về rủi ro

vả thường kèm theo những bài luận dài lê thê để chứng minh cho từng quan điểm Sau đây là một số định nghĩa được tuyển lựa: - Rủi ro là khả năng của một sự cố không may

- Rủi ro là sự kết hợp các hiểm họa

- Rủi ro là sự không thể đoán trước một khuynh hướng dẫn đến kết quả thực khác xa với kết quả dự đoán

- Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất

- Rủi ro lả khả năng tổn thất

Khi nghiên cứu dường như ta thấy được mối liên hệ giữa chúng

Thứ nhất, có một ý tưởng chính là sự không chắc chắn mà chúng ta coi

là mối ngờ vực đối với tương lai

Trang 9

Thứ hai, ở đây cũng ám chỉ những mức độ rủi ro khác nhau Việc sử dụng những từ như khả năng và không thể đoán trước dường như muốn thể hiện một số mức độ khả biến do có mối ngờ vực nói trên

Thứ ba, ở đây có ý tưởng về hậu quả tạo ra do một hoặc nhiều nguyên nhân Điều này dường như có quan hệ chặt chẽ với một định nghĩa đã sử dụng trước đó sự không chắc chắn đối với hậu quả trong một tình huống cụ thề

b) Mức độ rủi ro

Nếu như ta cho rằng khả năng mọi rủi ro xảy ra là như nhau thì đây là một điều không hợp lý Ý nghĩa của khái niệm một điều gì đó có nguy cơ gặp rủi ro là gì? Làm thế nào để đánh giá những mức độ rủi ro khác nhau này? Giả sử có một ngôi nhà bên bờ một con sông, dòng sông này nổi tiếng hay tràn bờ, ta có thể sử dụng từ "nguy hiểmn để miêu tả tình huống trên Hậu quá trong tương lai hoàn toàn không chắc chắn được bởi vì không ai có thể khẳng định liệu dòng sông có tràn bờ và gay thiệt hại cho ngôi nhà hay

không Việc dòng sông nổi tiếng hay tràn bờ làm gia tăng thiệt hại xảy ra

Trong thực tế ta có thể tuyên bố là tần số thiệt hại sẽ là cao

Để rõ hơn ta hãy hình đung có một ngôi nhà thứ hai nằm trên đồi thoải cách xa bờ sông hơn so với ngôi nhà Ngồi nhà này được coi là ít nguy hiểm hơn Khả năng dòng sông tràn bờ vẫn giữ nguyên trong khi khả năng thiệt hại gây ra cho ngôi nhà thấp hơn rất nhiều

Tuy nhiên, đánh giá của chúng ta sẽ thay đổi nếu xem xét giá trị gặp rủi

ro Giả sử ngôi nhà đầu tiên trên bờ sông là nhà nghỉ ít sử dụng và đang trong điều kiện tồi tân trị giá tối đa là 5000 bảng Trái lại ngôi nhà thứ 2 là ngôi nhà lộng lẫy trị giá ít nhất là 200.000 bảng

Cụ thể chúng ta sẽ muốn sửa đổi quan điểm liên quan tới ngôi nhà nào gặp rủi ro cao hơn của mình dựa trên mức độ tổn thất

c) Tần số lặp lại và mức độ nghiêm trọng

Khi nghiên cứu mức độ rủi ro, ta cần chú ý tới hai khái niệm: tần số lặp lại và mức độ nghiêm trọng Kết hợp hai khái niệm ta thấy có hai mối hên hệ nổi bật Mối liên hệ thứ 1 là một số tình huống rủi ro khác nhau trong đó tần số cao và mức độ nghiêm trọng thấp Ở hình 1 1 ta vẽ đồ thị sau:

Trang 10

Trục tung do tần số sự việc xảy ra, trục hoành độ mức độ nghiêm trọng

và chi phí sự cố nếu xảy ra trong thực tế

Rất nhiều tình huống rủi ro giống với hình đồ thị trên Lấy ví dụ, bảo

hiểm hỏa hoạn CÓ rất nhiều vụ cháy nhỏ nhưng tương đối ít vụ chảy lớn

Nói cách khác, rất nhiễu vụ cháy gây hư hại cho bếp nhưng ít vụ thiêu trụi hoàn toàn ngôi nhà Người ta có thể sẵn sàng bảo hiểm cho các tổn thất xảy

ra thường xuyên với mức độ nghiêm trọng vừa phải, tuy nhiên họ sẽ rất do dự khi bảo hiểm cho những sự việc ít xảy ra song chi phí rất cao

Hình thái liên hệ giữa tấn số và mức độ nghiêm trọng không chỉ giới hạn ở hư hại do hỏa hoạn hoặc tổn thất thiệt hại tài sản Những vụ thiệt hại công nghiệp cũng theo một mẫu hoàn toàn tương tự Hình 1.2 thể hiện biểu

đồ nổi tiếng, tam giác Heinrich

Theo tam giác Heinrich trên, cứ một vụ thiệt hại lớn trong khi làm việc thì có 30 vụ thiệt hại nhỏ và 300 vụ không gây thiệt hại Tam giác trên là kết quả sau khi nghiên cứu vài nghìn vụ và nghiên cứu ra những kết quả tương

tự Theo mô hình trên có rất ít sự cố nghiêm trọng vả rất nhiều sự cố nha Mối liên hệ thứ hai giữa tần số và mức độ nghiêm trọng được biểu hiện trong

Trang 11

trường hợp có tần số thấp, mức độ nghiêm trọng cao theo như minh họa ở hình 1.3

Tổng số các vụ không cao bằng hình 1.1, song khi những vụ xảy ra, chi phí sẽ rất lớn Tai nạn máy bay, tàu thủy là những ví dụ điển hình Tổn thất mỗi khi xảy ra đều thực sự nghiêm trọng

Sau khi nghiên cứu khái niệm không nhất định cũng như thực tế là có những mức độ rủi ro khác nhau Tiếp theo ta sẽ xem xét yếu tố cấu thành rủi

ro cuối cùng: nguyên nhân tổn thất

d) Hiểm họa rủi ro

Ta thường dùng từ rủi ro để ám chỉ cả biến cố gây tổn thất và nhân tố ảnh hường hậu quả tổn thất Khi cần nhắc nguyên nhân ta cần chắc chắn rằng, có tối thiểu hai khía cạnh Nếu như quay lại ví dụ về hai ngôi nhà nằm trên bờ sông cũng như rủi ro lụt lội của chúng, ta sẽ thấy rõ điều nảy Điều đề cập ở đây không phải là rủi ro lụt lội mà là rủi ro thiệt hại do lụt lội Lụt lội là nguyên nhân gây tổn thất và thực tế ngôi nhà nằm ngay sát bờ sông ảnh hưởng đến hậu quả

Lụt lội là hiểm họa, trạng thái gần của ngôi nhà với bờ sông là rủi ro Hiểm họa là nguyên nhân chính gây tổn thất Thông thường, hiểm họa nằm ngoài tầm kiểm soát của những người hữu quan Như vậy ta có thể khẳng định bão, hỏa hoạn, trộm cắp, tai nạn xe cơ giới, và nổ đều là hiểm họa Những nhân tố ảnh hường đến hậu quả được coi là rủi ro Bản thân rủi

ro không phải là nguyên nhân tổn thất song chúng có thể gia tăng, giảm bót ảnh hướng khi hiểm: họa xảy ra

e) Rủi ro tinh thần và vật chất

Trang 12

Xem xét rủi ro là một điều rất quan trọng đối với một công ty bảo hiểm khi quyết định nhận bảo hiểm một số rủi ro và tính phí bảo hiểm

Rủi ro có thể là rủi ro tinh thần hoặc rủi ro vật chất Rủi ro vật chất có liên quan tới các đặc trưng vật chất của rủi ro như bản chất của công việc xây dựng một tòa nhà, bảo vệ an ninh một cửa hàng, một nhà máy, trạng thái

gần của nhà với bờ sông trong trường hợp lụt lội Rủi ro tinh thần liên quan

tới một số khía cạnh mang tính con người có thể ảnh hường đến hậu quả, thông thường đó là thái độ của người được bảo hiểm

f) Phân loại rủi ro

Tiếp theo ta sẽ xem xét các phân loại rủi ro Công việc này hoàn toàn không giống việc đi sâu phân tích ý tưởng thực tế của những rủi ro, theo lối xem xét toàn bộ khái niệm rủi ro và thành lập những rủi ro giống nhau Chúng ta sẽ xem xét 3 trong số rất nhiều những phân loại có thể sử dụng g) Rủi ro tài chính

Như ta đã nói đã khẳng định rủi ro ám chỉ một tình huống có yếu tố không chắc chắn đối với hậu quả Rủi ro tài chính là loại rủi ro mà ta có thể định mức hậu quả bằng tiền cũng như định giá trị của hậu quả Thuật ngữ rủi

ro tài chính trong ngữ cảnh này không liên quan tới tính chất của rủi ro mà liên quan tới hậu quả của nó

Ta có thể dễ dàng thấy rõ điều này khi xem xét trường hợp thiệt hại vật chất gay ra cho tài sản, trộm cắp tài sản, mất lợi nhuận kinh doanh sau một vụ cháy Người ta cũng có thể tính được thiệt hại về tài chính khi xảy ra thiệt hại đối với con người Công việc tính toán sẽ do tên án thực hiện hoặc qua thương lượng giữa luật sư và công ty bảo hiểm Trong cả 2 trường hợp trên, hậu quả của rủi ro có thể đó bằng phương tiện tài chính

Có một số tình huốngl khác không thể áp dụng tiêu định mức này

Ví dụ như chọn một chiếc xe mới, chọn môn ăn từ thực đơn nhà hàng

Tất cả các tình huống trên đều được lem là tình huống nguy hiểm không phải do hậu quả của chúng sẽ gây tôn thất tài chính mà bởi vì chúng không phải là cái mà người ta mong đợi Chúng ta thậm chí có thể khẳng định rằng những quyết định quan trọng mang tính chất xã hội trong cuộc sống chính là những rủi ro phi tài chính: chọn nghề, chọn bạn đời, cớ con Ở đây có thể có hoặc không cớ dấu hiệu tài chính song điều chủ yếu ở đây là hậu quả không

đó bằng phương tiện tài chính mà tính được bằng các tiêu chuẩn mang tính con người

Trang 13

Trong lĩnh vực kinh doanh ta chủ yếu quan tâm tới rủi ro mà hậu quả của

nó tính được bằng phương tiện tài chính

h) Rủi ro đầu cơ và nó ro thuần túy

Phân loại rủi ro thứ 2 cũng liên quan tới hậu quả Ở đây có sự phân biệt giữa những tình huống trong đó chỉ có một khả năng duy nhất là những tổn thất và tình huống có khả năng kiếm lời

Rủi ro thuần túy sẽ dẫn đến tổn thất hoặc tất hơn là hòa vốn Hậu quả một

là không có lợi cho chúng ta hoặc giữ ta ở nguyên vị trí như trước khi sự cố xảy ra Rủi ro tai nạn xe cơ giới, cháy nhà máy, trộm hàng hóa trong kho hoặc tổn thương trong khi làm việc đều là rủi ro thuần túy Bất chấp có xảy ra tại nạn, hỏa hoạn, trộm cắp, tổn thất hay không xảy ra nếu như biến cố chưa xảy ra thì tình hình vẫn như cũ, không ai thèm được lời gì

Thay thế vào đó rủi ro đầu cơ trong đó có cơ hội kiếm lời Đầu tư tiền vào

cổ phiếu chẳng hạn Đầu tư có thể gây lỗ hoặc hòa vốn song động cơ là kiếm lời

Trong lĩnh vực kinh doanh, có cả rủi ro thuần túy và đầu cơ Đơn cử ví dụ một nhà sản xuất thực phẩm có một nhà máy lớn với dây chuyền sản xuất và máy móc chuyên dụng sán xuất nhiều loại thực phẩm phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu Ta sẽ nghiên cứu một số rủi ro có thể xảy ra với người chủ nhà máy này trong khuôn khổ hai tiêu đế rủi ro đầu cơ và thuần túy

- Có một loạt thiệt hại vật chất xảy ra cho nhà máy, máy móc và hàng hóa Nguyên nhân có thể do hỏa hoạn, bão, nổ, do cố ý hoặc các hiểm họa khác

Anh ta cũng có thể gặp rủi ro trộm cắp bao gồm trộm cắp thành phẩm, nguyên liệu, thậm chí máy móc trong nhà máy Không cần phải làm việc lâu năm trong ngành bảo hiểm, ta cũng có thể nhận thấy rằng tính linh hoạt của các hành vi phạm tội có chủ mưu không hề có giới hạn

- Trách nhiệm cũng là mối đe dọa lớn, có thể chủ nhà máy phải chịu trách nhiệm đối với tổn thương hoặc hư hại tài sản của người làm thuê trong khi làm việc hoặc khách viếng thăm

Với tư cách là người sản xuất thực phẩm, anh ta cũng sẽ phải chịu trách nhiệm nếu người tiêu dùng bị tổn thương hay ngộ độc do sản phẩm của anh

ta gây ra

Trang 14

Nếu nhà máy bị hư hại do hỏa hoạn, chắc chắn kinh doanh sẽ bị gián đoạn và hậu quả sẽ gây giám lợi nhuận Lý do nhấn mạnh sự khác nhau giữa rủi ro thuần túy và đầu cơ là nhằm nêu bật một thực tê rủi ro thuần túy thông thường có thể được bảo hiểm, còn rủi ro đầu cơ thì không được bảo hiểm

Ta có thể tuyên bố: thông thường không ai muốn bảo hiểm các loại rủi

ro trong đó hậu quả có thể lả một món lời CÓ thể dễ dàng nhặn thấy lý do tại sao như vậy Người ta sẽ tự nguyện muốn mua bảo hiểm cho rủi ro đầu cơ với hy vọng sẽ kiếm được lời Động lực thúc nay họ cố gắng đạt được số lời trên sẽ là rất nhỏ nếu như họ biết được rằng: công ty bảo hiểm sẽ thanh toán bất kể họ có cố gắng hay không

Về phương tiện rủi ro ta có thể nói nguy cơ rủi ro tinh thần là rất cao

Tuy nhiên ta cũng cần chắc chắn rằng có thể bảo hiểm những hậu quả rủi ro thuần túy trong rủi ro đầu cơ và ngày càng có nhiều nhu cầu được bảo hiểm rủi ro đầu cơ Điều này có nghĩa rủi ro tổn thất sẽ không được bảo hiểm nếu đấu tư tiền vào một công ty Công ty có thể làm ăn có lãi hoặc không Tuy nhiên ta có thể bảo hiểm tài sản hữu hình của công ty chống lại rủi ro hỏa hoạn, trộm c4p v.v

i) Rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt

Phân loại cuối cùng có tiên quan tới cả hai vấn đề: nguyên nhân và hậu quả của rủi ro Rủi ro cơ bản là loại rủi ro nảy sinh do những

nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát của một hoặc thậm chí một nhóm cá nhân Ngoài ra rất nhiều người sẽ cảm nhận được hậu quả của loại rủi ro Phân loại này bao gồm động đất, lụt lội, núi lửa và các "thiên tai" khác Tuy nhiên, nếu ta giới hạn rủi ro cơ bản trong khuôn khổ hiểm họa tự nhiên thì sẽ không chính xác Sự thay đổi xã hội, can thiệp chính trị hoặc chiến tranh đều được coi lả những rủi ro cơ bản

Tương phản với loại hình thái rủi ro khách quan về nguồn gốc có hậu quả lan rộng, ta có rủi ro riêng biệt trút ro riêng biệt mang tính cá nhân nhiều hơn cả về mặt nguyên nhân lẫn hậu quả, bao gồm rất nhiều loại nít ro đã đề cập như: hỏa hoạn, trộm cắp, tổn thất liên quan tới công việc và tai nạn xe cơ giới

Nhìn chung, rủi ro riêng biệt có thể bảo hiểm được trong khi rủi ro cơ bản thì không bảo hiểm được Phỏng đoán ở đây quả là một điều rất khó do thị trường bảo hiểm có khuynh hướng thay đổi thường xuyên Ta có thể nói rằng rủi ro cơ bản rất khó kiểm soát, lan rộng cho nên mọi người đều cảm thấy rằng rủi ro này nên thuộc trách nhiệm của toàn xã hội Nhân tố địa lý thông thường cũng quan trọng, đặc biệt là đối với rủi ro "tự nhiên" như lụt lội

Trang 15

và động đất Ở nhiều vùng trên thế giới, các công ty bảo hiểm coi những rủi

ro này là loại rủi ro cơ bản và vì thế không được bảo hiểm

j) Chuyển giao rủi ro

Chức năng chính của bảo hiểm là hoạt động giống như một cơ chế chuyển giao rủi ro Nếu nghiên cứu 2 ví dụ: cá nhân người mua bảo hiểm và thương mại sẽ minh chứng câu nói trên

Ví dụ 1:

Chẳng hạn có một chủ xe, xe của anh ta trị giá 12,000 đô la, có thể đây

là một sự đầu tư lớn nhất từ trước đến nay của anh ta Anh ta đã đầu tư một

số lượng tiễn đáng kể từ tiền tiết kiệm của mình để mua xe kể cả những người lạc quan nhất cũng nhận ra được rằng trong tình huống như vậy số đầu

tư trên cô thể gặp rủi ro Chiếc xe có thể bị ăn cắp, bị hư hại do tại nạn hoặc hỏa hoạn Tai nạn có thể gầy tổn thương nghiêm trọng cho hành khách và những người khác, chủ xe sẽ giải quyết rủi ro tiềm tàng này cũng như hậu quả tài chính của chúng bằng cách nào? Anh ta không biết chắc liệu rủi ro có xảy ra hay không và nếu như chúng xảy ra, hậu quả sẽ là bao nhiêu? CÓ thể cho tới tận cuối năm sẽ không có sự cố nào song cũng có thể ngay ngày mai

xe của anh ta bị hư hại hoàn toà ni Bảo hiểm không thể ngăn ngừa rủi ro xảy

ra nhưng có thể cung cấp một số hình thái bảo đảm về tài chính Bằng cách đóng phí bảo hiểm, chủ xe có thể chuyển giao hậu quả tài chính của rủi ro sang công ty bảo hiểm

Ví dụ 2:

Ngành công nghiệp vẫn giữ nguyên vị trí của mình Giám đốc điều hành của công ty hiểu rằng hãng này có thể sẽ gặp một số rủi ro Tuy nhiên anh ta không dám chắc liệu chúnglcó xảy ra hay không và nếu xảy ra chi phí sẽ lả bao nhiêu? Anh ta sẽ điều hành kinh doanh như thế nào? Nếu tổn thất xảy ra, anh ta sẽ phải bù lại khoản chi phí này bằng cách tăng giá sàn phẩm hoặc

dịch vụ của mình Chi phí này sẽ là bao nhiêu? Anh ta không thể biết được

liệu cớ xảy ra tổn thất hay không cũng như chi phí tổn thất lả bao nhiêu Trong Câu huống này bảo hiểm sẽ thực hiện được chức năng của mình: chức năng cơ chế chuyển giao rủi ro

Giám đốc điều hành có thể đổi cái không chắc chắn lấy cái chắc chắn Đổi cho việc phải chịu một tổn thất nhất định đó là phí bảo hiểm, anh ta sẽ tránh được cái không chắc chắn về một tổn thất lớn hơn có tiềm năng xảy ra Rủi ro không thay đổi nhưng hậu quả tài chính sẽ rất lớn và có thể ánh hưởng đến ngân sách của công ty Một loạt lợi ích đều bắt nguồn từ chức năng chuyển giao rủi ro này sau đây sẽ đề cập chi tiết hơn

Trang 16

4 BẢO VỆ

Khái niệm quan trọng thứ 3 xem xét trong chương này là báo vệ

Hầu hết mọi điểm đã được làm sáng tỏ khi ta nghiên cứu khái niệm rủi

ro Do chuyển giao rủi ro không thể ngăn ngừa thương tổn hoặc ốm đau xảy

ra nên không ai có thể bảo vệ có người khác khỏi những rủi ro trong cuộc sống Nói tóm lại người ta có thể bảo vệ tài sản cho một người hoặc một đoàn thể Đối với mọi người, kinh cổ trong sách kinh của giáo phái tin lành muốn

ám chỉ những người bị ray rứt "trong trí óc giữa con người hay tài sản" Người ta có thể giảm bớt căng thẳng, ốm đau về mặt thể chất và tinh thần nếu như có kiến thức và cơ hội để thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng kể

cả như vậy nhiễm trùng và hủy hoại cơ thể vẫn có thể xảy ra Doanh nghiệp hay cá nhân cô thể mua bảo hiểm để bảo vệ tài sản của họ (thu nhập, giá trị tiền vốn của tài sản của họ) chống lại hành động của con người (trộm cắp hoặc cố ý gây thiệt hại), tai nạn (hỏa hoạn, ánh hường do xe chạy qua), chống lại rủi ro do bão tố, lụt lội ốm đau, hoặc do không thể tiếp tục làm việc Theo cách thức này, tài sản sẽ được bảo vệ cho dù cơ thể hay trí óc con người bị thiệt hại

Như chúng ta đã thấy, rủi ro chủ yếu liên quan tới công việc đánh giá

những sự cố có thể nảy sinh cũng như khả năng chúng xảy ra Việc đánh giá rủi ro được áp dụng với nhiễu khía cạnh cá nhân như trí óc, cơ thể và tài sản của một người, hoặc tài sản của một công ty (hoặc các tổ chức tập thể khác) Người ta có thể bảo hiểm rất nhiều rủi ro trong một hợp đồng bảo hiểm "trọn gói" (sẽ xi ất hiện trong chương sau) tuy nhiên xét cho cùng mọi rủi ro đều có liên quan tới những sự cố gây thiệt hại vế trí óc, cơ thể và tài sản Bảo hiểm bảo vệ tài sản, vật chất bằng cách cưng cấp những nguồn lực cho chủ sở hữu

để thay thê thiệt hại đã xảy ra để hồi phục sức khỏe ban đầu hoặc để an ủi những người đã bị tàn phế Bằng việc cung cấp một nguồn thu nhập cho người đến tuổi về hưu, chế độ hưu trí đã tạo ra một hình thái bảo vệ, điều này

"cùng với những đặc trưng khác" đã chứng minh được chế độ hưu trí cá nhân

vả các chương trình hưu bổng cũng là những sản phẩm bảo hiểm

Vì vậy khái niệm bảo vệ là cung cấp tiền (hoặc bồi thường tương đương ở một số trường hợp ví dụ như quyền của hãng hàng không được thay thế một máy bay mất tích bằng một chiếc khác cùng nhãn hiệu), để khôi phục tài sản cho người được bảo hiểm như trước khi rủi ro xảy ra Ở đây ta nêu rõ

ý nghĩa chính xác của tài sản: tài sản là toàn bộ quyền sở hữu của người chủ Đất đai, nhà cửa, đồ đạc, tài khoản ngân hàng, quần áo, cổ phần chứng khoản công nghiệp, vật phẩm đông lạnh, bản quyền, xe cơ giới, bằng sáng chế vả hàng nghìn vật phẩm khác đều tạo thành tài sản của một người hay công ty Thông thường, nhưng giá trị quyền sở hữu có thể thu được từ các tài sản trên thường được bảo hiểm Chủ sở hữu có thể mua bảo hiểm cho giá trị tài sản đối với mọi rủi ro riêng biệt có thể xảy ra đối với từng phần của tài sản

Trang 17

Chi phí bảo hiểm ở đây là phí bảo hiểm đã đóng

5 GIÁ TRỊ

Khái niệm thứ 4 và ở nhiều phương diện, cũng là khái niệm quan trọng,

cơ bản nhất trong bảo hiểm là một khái niệm ít được những người viết về bảo hiểm chú ý nhất, đó là giá trị

Trong những nền kinh tế bình thường, người ta cho rằng giá trị được đó bằng "giá trị trao đổi" của vật, tóm lại đó là giá bán trên thị trường Đứng trên phương diện bảo hiểm, khái niệm này hoàn toàn không thỏa đáng

a) Giá trị tạm thời

Đa số của cải của mọi quốc gia kể cả vật được bảo hiểm bảo vệ không được đưa ra thị trường trong mỗi năm Mặt khác kể từ năm 1932 giá cả đồ vật trên thị trường đều tăng ở mỗi quốc gia hầu như hàng năm Nguyên tắc cơ bản để thỏa mãn khiếu nại báo hiểm là bồi thường, định nghĩa như sau: là một khoản bồi thường chính xác tổn thất về tài sản của người chủ sở hữu (kể

cả những phần liên quan, tình trạng thể chất, tinh thần hoặc sự thịnh vượng của chủ sở hữu), khi có sự cố làm nảy sinh rủi ro đã được bảo hiểm Hầu hết công việc giải quyết khiếu nại được thực hiện dưới hình thức thanh toán tiền

để chủ sở hữu có thể ra thị trường sửa chữa hoặc thay thế trên thị trường nhằm khôi phục vị trí vật chất ban đầu cho anh ta Làm cách nào để xác định

số tiền bồi thường này Nếu đối tượng được bảo hiểm bị tổn thất, người ta có thể bán nó để lấy giá trị còn lại với giá thấp hơn so với giá trị ban đầu hàng nguyên dạng Nếu chủ sở hữu đã sở hữu vật phẩm trong những năm có lạm phát cao, giá thực tế của hàng cứu được trên thị trường tại thời điểm bán có thể cao hơn giá trị hàng mua ban đầu Giá vật thay thế chắc chắn cao hơn giá mua hàng trước kia cũng như giá tạm thời của hàng cứu được CÓ những trường hợp ngoại lệ đối với nguyên tắc chung về sự gia tăng giá cả, đặc biệt

là trong những lĩnh vực công nghệ cao với giá hiện tại có thể khá hơn nhiều

so với giá năm trước Khi thực hiện bồi thường, người nhận bảo hiểm sẽ tính theo giá tạm thời

Điều này có ý nghĩa là phí bảo hiểm cần được điều chỉnh mỗi khi tái tục bảo hiểm (dựa trên cơ sở hàng năm) để bảo đảm rằng quỹ chung (xây dựng dựa trên phí bảo hiểm thu được của các khách hàng được bảo hiểm) đủ khả năng đáp ứng toàn bộ khiếu nại chình đáng ước tính nảy sinh trong suốt thời gian hợp đồng, cũng như thanh toán mọi chi phí quản lý và cổ tức của của tổ chức bảo hiểm

b) Hình thức thay thế thanh toán tiền mặt

Một điều trở nên ngày càng cần thiết đó là công ty bảo hiểm nên thay thế việc bồi thường bằng hiện vật bị mất hay hư hại bằng việc bối thường cho người được bảo hiểm một khoản tiền mặt Một chiếc xe mới rõ ràng là "đắt

Trang 18

hơn" chiếc xe đã sử dụng được 2 năm Tuy nhiên, đối với một số người nhận bảo hiểm thường xuyên thay thế đền bù vài trăm thầm chí vài nghìn xe mỗi năm thì hẳn sẽ là một sự thiếu thông minh nếu bồi thường cho người được bảo hiểm theo giá bán lẻ chiếc xe thay thế Đại lý xe có thể kiếm lời bằng cách bán xe cũ Công ty bảo hiểm có thể mua xe với giá thấp hơn giá bán lẻ nếu như anh ta mua số lượng xe lớn mỗi năm Khuynh hường này ngược với khuynh hướng trước kia khi các giữa thường thông đồng với các chủ xe đòi công ty bảo hiểm trả giá sửa chữa xe cao nhất thổn phận của công ty bảo hiểm đối với người được bảo hiểm là giá cho phí báo hiểm càng thấp càng tốt

Để làm được điều này, công ty bảo đảm không thanh toán vào mức giá trị tổn thất thực tế cho người.được bảo hiểm

Nếu công ty bảo hiểm muốn mua xe, nhà, máy móc và các vật phẩm cũ với những điều khoản đặc biệt để thanh toán bồi thường cho người được bảo đám ở mức đỡ tốn chi phí nhất cho quỹ chung, thì rõ ràng kiểu đánh giá này không hề được miêu tá trong các sách kinh tế

Trong tương lai, khi cần giải quyết khiếu nại, đa số giá trị được bảo hiểm sẽ được đánh giá theo phương pháp này Vì vậy _cần nêu rõ cơ sở đánh giá nói trên trong các hợp đồng bảo hiểm và phí báo hiểm Sẽ có ngày càng nhiều người mua bảo hiểm công nhận cơ sở đánh giá này và họ sẽ quyết định phần tài sản nào cần mua bảo hiểm, và phần tài sản nào tự bảo hiểm

c) Giá thị trường

Giá cả thị trường của hầu hết các vật đều do các cơ chế phức tạp định

ra Một khi đã định ra giá bán một hiện vật, các chủ sở hữu của vật cùng chủng loại (như nhà ở cùng phố, xây theo cùng một tiêu chuẩn) thường cho rằng vật tương tự trong số tài sản của họ có giá trị tương đương Ngân hàng thường cho chủ sở hữu tài sản vay tiền, dựa trên cơ sở rằng giá trị của tài sản này cũng tương tự với giá của một ngôi nhà (hoặc bức tranh hay đồ cổ v.v ) tương tự được bán trên thị trường Ngân hàng thường yêu cầu người vay tiền phải bảo hiểm tài sản để nếu tổn thất, chủ sở hữu có thể khiếu nại đòi bồi thường bảo hiểm để có tiền thanh toán tiền vay cho ngân hàng

Nếu sau khi đã định giả trị tài sản thế chấp, giá cả giảm (ví dụ như của Anh quốc giảm vào 1990-/993), rất có thể giá trị tài sản thế chấp sẽ thấp hơn

so với số tiễn chủ sở hữu đã vay

Thậm chí có thể xảy ra trường hợp giá như giảm xuống thấp đốn nỗi chi phí sửa chữa ngôi nhà sau một vụ hỏa hoạn nghiêm trọng còn lớn hơn cả giá thị trường hiện thời của ngôi nhà Trong trường hợp đó nhiệm vụ của công ty bảo hiểm phải bồi thường cho người được bảo hiểm một ngôi nhà tương tự như nhà đã bị hư hại Một số công ty bảo hiểm Anh đã quyết định chỉ bảo hiểm giá trị tiền vay gắn liền với tài sản chứ không đảm đương nghĩa

vụ bồi thường giá trị tài sản khi xảy ra rủi ro Hệ thống bảo hiểm tiền vay là

Trang 19

loại bảo hiểm rủi ro tài chính dành cho người vay chứ không phải là bảo hiểm tài sản Lạm phát giá nhà quay vòng 60 năm (xảy ra năm 1989) là một cú đánh mạnh giáng vào các công ty bảo hiểm, gây thiệt hại cho họ hàng ngàn triệu bảng do phải bồi thường tổn thất của người cho vay có thế chấp Trường hợp đặc biệt này (cùng thời điểm khi giá đất bị lạm phát ở Nhật Bản xuất

hiện trong bảng cân đối tài sản của các công ty bảo hiểm) nhắc nhở các

công ty bảo hiểm rằng chức năng của họ khác xa so với chức năng của các ngân hàng

Rất nhiều hãng bảo hiểm lớn của Anh vẫn thực hiện dịch vụ bảo hiểm tiền vay, nhưng với các điều khoản chặt chẽ hơn

Như chúng ta đã thấy, công ty bảo hiểm cam kết bồi thường tài sản cho chủ sở hữu nếu rủi ro được bảo hiểm nảy sinh đối với bất cứ quyền sở hữu nào của người được bảo hiểm (kể cả Của trạng thể chất hay tinh thần, sự thịnh vượng của chu sở hữu, hoặc con cháu của anh ta đã được gộp trong hợp đồng bảo hiểm) Nếu công ty bảo hiểm quyết định bảo hiểm rủi ro chính cho ngân hàng (đó là người vay không trả nợ) thì công ty bảo hiểm đã chấp nhận giá trị bồi thường Các nguyên tắc bảo hiểm có thể áp dụng một cách hợp lý đối với bất cứ tình huống ngẫu nhiên nào Không trả nợ tài chính thường là một hành động khá phổ biến trong quyết định của con người Loại bảo hiểm đặc biệt về rủi ro tu chính phải phân biệt rõ (bằng những thuật ngữ được pháp luật công nhân) giữa tình huống ngẫu nhiên và lỗi cố ý đỗi cố ý là rủi ro thuần túy trong kinh doanh ngân hàng và vì vậy không được bảo hiểm)

Nợ ngân hàng được coi là khoản tiền đáo hạn thanh toán vào những ngày cụ thể Thông thường tiền được coi là thước đo giá trị và ở mỗi quốc gia luật sẽ quy định cụ thể hình thức tiền nào sẽ được sứ dụng làm tiền hợp pháp

để trả nợ Giá thị trường (có nghĩa là giá cả) được coi là sự cấu thành rất nhiều đơn vị tiền hợp pháp của quốc gia nơi thực hiện thương vụ (hoặc của một số loại tiền tệ quốc tế sẽ được mọi tòa án luật pháp công nhận và mỗi bên tham gia hợp đồng có thể thu lại những khoản bồi hoàn chính đáng từ những tòa án nói trên)

Việc công bố giá trị tiền tệ của bất cứ vật nào đôi khi cũng thay đổi Cùng với thời gian giá cả các loại hàng hóa khác nhau thay đổi theo các mức độ khác nhau, theo các hướng khác nhau Glá sữa tươi giảm xuống con

số không trong vòng khoảng 24 tiếng đồng hồ Glá của một chiếc đồng hồ cổ tăng ở mức độ khác nhau qua các thập kỷ và có thể giảm sút vào những lúc suy thoái

Công ty bảo hiểm cần được tự do xác định giá trị bồi thường rủi ro được bảo hiểm công ty bảo hiểm phải xlác định giá trị của tổn thất thực dựa theo các thị trường và tình hình kinh tế khi xảy ra rủi ro Nhiệm vụ của công

Trang 20

ty bảo hiểm đã được công nhận (ví dụ như: có quyến thực hiện bồi thường tùy theo việc đánh giá tết nhất của mình)

Do giá cả các vật được bảo hiểm và của các vật giống như trong hợp đồng bảo hiểm (ở các khía cạnh quan trọng) có thể tăng hoặc giảm vì vậy công ty bảo hiểm cần được quyền đánh giá

6 KẾT LUẬN

Khi thực hiện đánh giá, người nhận bảo hiểm cần áp dụng lòng tin tuyệt đối Khái niệm này sẽ được phát triển trong chương tới Bằng việc thanh toán đúng bồi thường cho người khiếu nại, không hơn không kém, công ty bảo hiểm đã hạn chế tối đa chi phí kinh doanh cho mình cũng như thực hiện được khả năng giữ phí bảo hiểm ở mức thấp nhất Trong một giai đoạn nhất định

khi mọi người được bảo hiểm đều phải đóng phí báo hiểm thì- chỉ một phần

trong số họ khiếu nại, vì vậy nếu số người tham gia báo hiểm lớn thì phí bảo hiểm sẽ thấp Đây là cách xem xét đơn giản về nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm Mọi khách hàng đều muốn phí bảo hiểm thấp và mức bồi thường cao Bồi thường chính xác sẽ là tất nhất cho các khiếu nại có giá trị

Trang 21

Chương 2 CÁC NGUYÊN TẮC CHÍNH

1 GIỞI THIỆU

Chức năng chính của mọi tổ chức kinh tế là đáp ứng các mục tiêu do chủ của tổ chức đó đề ra Trong ngành chế tạo, thông thường những người đứng đầu tổ chức lả một số lớn các cổ đông, và mục tiêu thường là thu nhập bằng tiền từ đầu tư Điều này cũng đúng đối với nhiều tổ chức bảo hiểm Có một số hình thức tổ chức bảo hiểm khác không phải chịu trách nhiệm trước

cổ đông, nhưng vẫn có các mục tiêu phải đáp ứng Ngoài đề cập chức năng của các tổ chức riêng biệt, chương này tập trung vào tổ chức bảo hiểm: Vai trò của bảo hiểm là gì? Chức năng của nó?

Sự tồn tại của một thị trường bảo hiểm mạnh là yếu tố cấu thành cơ bán của bất cứ nền kinh tế thành công nào Ta có thể thấy rõ bằng chứng xác thực điều trên ở rất nhiều vùng trên thế giới Việc người ta ít đề cập về bảo hiểm

so với các tổ chức tài chính khác (như ngân hàng) không có nghĩa là bảo hiểm thiếu quan trọng Rất nhiều tác giả viết về lịch sử kinh tế và lịch sử bảo hiểm nhận xét về mối liên hệ giữa một thị trường bảo hiểm lành mạnh và một nền công nghiệp phát triển Mềm và Commak, hai tác giả Mỹ viết về bảo hiểm đã nhận xét trong cuốn sách "Các nguyên tắc bảo hiểm" của họ như sau: việc Anh quốc nổi lên là một cường quốc thương mại và đống thời tồn tại loại hình bảo hiếm hỏa hoạn phát triển trong cùng một thời kỳ không phải là

sự trùng khớp ngẫu nhiên Những lợi ích mà hai tác giả trên nhắc tới cũng như nhận xét của các tác giả khác đế cập đến hiện nay vẫn được chấp nhận Chúng ta sẽ xem xét một số những lợi ích đó trong nhượng này Trình tự đề cập không biểu hiện bất cứ một ý nghĩa đặc biệt nào

2 LỢI ÍCH BẢO HIỂM

Cần nhận biết rằng bảo hiểm tồn tại là để đáp ứng những hậu quả tài chính của một số rủi ro nhất định, tạo ra một cảm giác yên tâm Điều này rất quan trọng đối với các cá nhân khi họ bảo hiểm xe, nhà cửa và tài sản của mình, tuy nhiên nó cũng có tầm quan trọng sống còn trong hoạt động công nghiệp và thương mại

Tại sao người ta lại bỏ tiền vào đầu cơ kinh doanh khi có quá nhiều rủi

ro có thể dẫn tới thua lỗ? Tuy nhiên nếu mọi người không đấu tư vào kinh doanh, thì việc làm sẽ ít hơn, ít hàng hóa hơn, nhu cầu nhập khẩu gia tăng, của cải giảm sút Mua bảo hiểm cho phép chủ doanh nghiệp ít nhất cũng là chuyển giao một số rủi ro trong kinh doanh sang công ty bảo hiểm theo phương thức chúng ta đã miêu tả

Bảo hiểm cũng có vai trò giống như một động lực thúc đẩy hoạt động của các ngành kinh doanh đang tồn tại thông qua việc cung cấp vốn đầu từ

cho sản xuất của ngành kinh doanh từ các quỹ mà đáng nhẽ ra phải giữ làm

Trang 22

dự trữ phòng những tổn thất trong tương lai Các hãng vừa và lớn chắc chắn

có thể lập dự trữ phòng các trường hợp khẩn cấp như hỏa hoạn, trộm cắp, thương tổn nghiêm trọng Tuy nhiên số tiền này có thể tăng lên một cách nhanh chóng vì vậy lãi suất công ty thu được sẽ thấp hơn nhiều so với lãi suất thông thường

Ngoài ra còn có một thực tế là tiền đó sẽ không thể đem dầu tư vào hoạt động của hãng đó Nhờ tác dụng của quỹ chung, các loại hoạt động tính doanh khác nhau đều có thể mua bảo hiểm với phí bảo hiểm thấp hơn so với quỹ công ty tự thành lập kể cả khi công ty lập quỹ ngay từ đầu Người ta có thể coi phí bảo hiểm là một loại "tổn thất" nhất định đối với hoạt động kinh doanh nhưng lúc này hãng có thể tự do tiếp tục tính doanh, và đầu tư vào những với nhận biết rằng mình đã bảo hiểm một số rủi ro Với cảm giác yên tăm hãng có thể phát triển hoạt động kinh doanh của mình

Bảo hiểm chủ yếu liên quan tối hậu quả tổn thất vế tài chính của tổn

thất, tuy nhiên công bằng mà nói các công ty bảo hiểm quan tâm rất nhiều tới kiểm soát tổn thất Cũng có thể lập luận là các công ty bảo hiểm không thực

sự quan tầm tới kiểm soát toàn bộ tổn thất bới vì hành động này chắc chắn chấm dứt kinh doanh của họ Đây là một quan điểm khá thiển cận Các công

ty bảo hiểm thực sự rất quan tâm đến việc giảm bớt tần số và mức độ nghiêm trọng của tổn thất tới, không chỉ là tăng lợi nhuận của mình mà còn góp phần làm giảm bớt lãng phí kinh tế sau mỗi một tổn thất Chúng ta đã nghiên cứu

chi phí rủi ro ở chương I và có thể nôi rằng các công ty bảo hiểm đã đóng

một vai trò lớn trong kiểm soát tốn thất trong vòng nhiều năm qua

Một số công ty bảo hiểm có số lượng tiền lớn và có thể tùy ý sử dụng Điều này xuất phát từ thực tế lả cô một khoảng cách thời gian giữa thời điểm nhận phí bảo hiểm và thời điểm thanh toán khiếu nại

Phí bảo hiểm có thể thanh toán vào tháng 1 song có thể cho tới tận tháng 12 mới có khiếu nại nếu tổn thất xảy ra, công ty bảo hiểm có thể đầu tư

số tiền này Trong thực tế, công ty bảo hiểm nhận nhiều phí bảo hiểm tích tụ

từ nhiều người đóng bảo hiểm trong một thời gian dài

Lợi nhuận phụ thuộc vào cách thức sứ dụng tiền, các công ty bảo hiểm tham gia đầu tư vào nhiều loại hình khác nhau Bằng cách dàn trải nhiều hoạt động đầu tư, ngành bảo hiểm giúp đỡ các chính phủ quốc tế và quốc gia bằng cách cho vay Ngành bảo hiểm cũng giúp ngành công nghiệp và thương mại dưới dạng các khoản vay khác nhau hoặc mua cổ phiếu trên thị trường tự do Các công ty báo hiểm trở thành một phần của tổ chức đầu tư, các tổ chức khác là các ngân hàng và các quỹ họ trí Ngành bảo hiểm còn đầu tư cả vào tài sản, đôi khi ta thấy các biển lớn treo bên ngoài những tòa nhà mới xây để

dự án do một công ty bảo hiểm lớn nào đó tài trợ

Trang 23

Cũng cần thiết lưu ý rằng hàng ngàn người và tổ chức khác nhau đã đóng phí bảo hiểm để tích lũy nên số tiền này, ở một chừng mực nào đó, sự tồn tại của một thị trường bảo hiềm thực sự đã tạo ra một hình thức tiết kiệm bắt buộc Một người tự bảo hiểm nhà có thể không đủ tiền để mua cổ phiếu, mua tài sản hoặc cho vay Nhưng khi cộng phí bảo hiểm từ người đó với phí bảo hiếm từ vài ngàn người khác, ta đã có một số lượng tiền rất khá dùng cho đầu tư

3 RỦI RO CÓ THỂ ĐƯỢC BẢO HIỂM

Có một số hạn chế trong cơ chế chuyển giao rủi ro Ví dụ; sẽ là thiếu thông minh nếu cho phép một người thu lợi từ chính hành động phạm tội của

họ Trường hợp nảy xảy ra khi ai đó được phép mua bảo hiểm cho ngôi nhà hàng xóm của anh ta, sau đó đất trụi để nhận tiền bồi thường Thậm chí kể cả khi không có ý định phạm tội, thì dường như cũng sẽ là một điều không hợp

lý nếu người nào đó thu lợi từ vụ cháy nhà hàng xóm mà họ chẳng có liên quan về tài chính nào cả

Vì vậy ta cần có một số khái niệm chung về những gì có thê hoặc không thể bảo hiếm Ta sẽ thực hiện miếu này bằng cách nghiên cứu đặc tính

và bản chất của rủi ro có thể được bảo hiểm Một điểm quan trọng cần lưu ý

Ở đây là: Ta không thể hoặc thiếu thông minh nếu cố gắng phỏng đoán cho thật đầy đủ các loại rủi ro có thể được bảo hiểm

Thế giới kinh doanh không phải là một môi trường tính NÓ thay đổi để thích nghĩ với những tình huống thực tế Những cái ngày hôm nay không

được bảo hiếm, rất có thể sẽ được bảo hiểm trong tương lai

Có một ví dụ dường như vượt ra ngoài nguyên tắc này, nhưng vẫn được bảo hiểm đó là rủi ro tứ tuất Mọi người đều biết là có thể mua bảo hiểm nhân thọ cho dù chết có lẽ là một trong ít những cái chắc chắn nhất Tuy nhiên, thời điểm chết là ngẫu nhiên và bảo hiểm nhân thọ chủ yếu liên quan tới điều này

Trang 24

b) Định mức tài chính

Điều cất yếu của bảo hiểm là phái hoạt động giống như một cơ cấu chuyển giao rủi ro và bồi thường tài chỉnh ehd tổn thất Bảo hiểm không ngăn ngừa được rủi ro nhưng nó cố gắng bảo vệ về mặt tài chính chống lại hậu quả Nếu trường hợp hảo hiểm xảy ra, rủi ro được bảo hiểm chắc chắn sẽ gây

ra tổn thất có thể đó được dưới phương diện tài chính

Ta có thể dễ dàng nhận thấy điều này trong trường hợp tổn thất và thiệt hại về tài sản Giá trị tiền tệ của tài sản bị tổn thất được xác định và bồi thường theo các điều khoản hợp đồng của bảo hiểm Chỉ sau khi sự cố đã xảy

ra, ta không thể biết chính xác giá trị của tổn thất Mọi thiệt hại vật chất hoặc mất cắp đối với tài sản cũng thuộc loại này

c) Rủi ro đồng nhất

Nếu có đủ một số lượng các rủi ro xuất phát từ những nguyên nhân tương tự nhau, công ty bảo hiểm có thề dự đoán được mức độ tổn thất Nếu không có nhiều rủi ro đồng nhất, tương tự, thì nhiệm vụ nảy sẽ trở nên khó khăn hơn và khi đó công việc tính toán phí bảo hiểm sẽ thiên về phỏng đoán

có cơ sở hơn là tính toán bằng phương pháp toán học Trong những trường hợp này, công ty bảo hiểm có thể đưa ra hoặc không thể đưa ra phí bảo hiểm chính xác nhưng chắc chắn là họ sẽ tự bảo vệ cho chính mình bằng cách đưa

ra một mức phí bảo hiểm trong đó tính cả tới những trường hợp xấu nhất Khi không có nhiều rủi ro đồng nhất muốn được bảo hiểm, thì cạnh tranh sẽ trở nên kém quan trọng hơn

Trong khi một trong các đặc tính của rủi ro được bảo hiểm là cần có nhiều rủi ro đồng nhất, ta có thể trích dẫn ra đây những ví dụ trái ngược lại nhưng vẫn được bảo hiểm Đôi khi ta thấy có tin những rủi ro bất thường được bảo hiểm Đôi chân của siêu sao điện ảnh, những ngón tay của nghệ sĩ dương cầm là nội dung chính của các tin như vậy

Có thể ở một khía cạnh nào đó có thể chúng đáng được đăng song thực

tế mà nói chúng không mang lại gì nhiều bổ ích cho chúng ta Một ví dụ minh họa mang tính thực tế thời sự hơn về số ít loại rủi ro đồng nhất này là

vệ tinh vũ trụ Ngày cảng có nhiều vệ tinh vũ trụ phóng lên mỗi năm, nhưng dẫu sao chúng vẫn rất chưa đủ về số lượng và thời gian để các công ty bảo hiểm có thể lập cơ sở thống kê cho trường hợp này

Như chúng ta đã biết người được bảo hiểm phải có mối liên quan tải chính với tổn thất và tổn thất phải ngẫu nhiên Điều trên đã loại bỏ khả năng bảo hiểm tài sản của người khác, nhằm cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ hợp đồng bảo hiểm Tuy nhiên, vấn còn có những rủi ro mà chúng

ta sẽ đấu cho rằng chúng không nên được bảo hiểm

d) Hợp đồng bảo hiểm công cộng

Trang 25

Một nguyên tắc chung trong luật quy định là hợp đồng không được trái

ngược với những gì được xã hội công nhận cũng như các đạo lý

Hợp đồng giết người và các hợp đồng cố ý gây thiệt hại hoặc ăn trộm tài sản người khác là hoàn toàn không thể chấp nhận Nguyên tắc trên cũng

áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm Sẽ không có ai chấp nhận bảo hiểm rủi

ro khi vụ phạm tội đố bể Ví dụ, xã hội sẽ không chấp nhận ý tưởng rằng bọn trộm cắp có thể thực hiện được một hợp đồng thanh toán cho chứng khoản dự định kiếm được sau vụ trộm trong trường hợp chúng bị công an bắt và vì vậy không thực hiện được âm mưu CÓ thể có người cho rằng điều này là hơi cường điệu thế song rủi ro chịu phạt thì sao? Một người có thể bị bắt gia do chạy xe quá tốc độ hoặc tồi tệ hơn bị buộc tội lái xe nguy hiểm hay say rượu Rủi ro ở đây có thể là bị phạt nặng Dĩ nhiên người này có liên quan tài chính với t6n thất và tổn thất hoàn toàn ngẫu nhiên đối với anh ta Tuy nhiên, xã hội sẽ không chấp nhận để một ai đó tránh được hình phạt bằng cách đơn giản là mua bảo hiểm Trước kia có một thời, đã có một công ty của Anh thực hiện hợp đồng bảo hiểm cho lái xe khi bị buộc tội lái xe khi say rượu hoặc bí thu bằng lái Tuy nhiên người ta đã rút bỏ loại hợp đồng đó vì các lý do nêu trên

Bảo hiểm là một ngành dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng và những nhu cầu này thay đổi thường xuyên Dịch vụ chính của nó là thực hiện một cơ chế chuyển giao rủi ro tuy nhiên bản chất rủi ro thay đổi thường xuyên cùng với thời gian Các sản phẩm mới, quy trình mới và các hệ thống công nghiệp đều tạo ra các dạng rủi ro mới, người tiêu dùng vẫn cần được bảo vệ

4 PHÂN LOẠI DỰA TRÊN CƠ CẤU Sở HỮU

Hợp đồng bảo hiểm được xây dựng giữa người được bảo hiểm (một cá nhân, một doanh nghiệp tư nhân, một doanh nghiệp nhà nước hoặc một cơ quan chính phủ) và công ty bảo hiểm Trong rất nhiều trường hợp, bên trung gian (môi giới, tư vấn hay đại lý) thường đại diện người được bảo hiểm để thương thuyết với công ty bảo hiểm

Các loại tổ chức hoạt động trong ngành bảo hiểm với tư cách là các

công ty bảo hiểm và trung gian bảo hiểm được phân loại như sau; Doanh nghiệp cá thể (thuộc sở hữu một cá nhân)

* Ví dụ bao gồm:

Cửa hàng nhỏ

Hãng môi giới bảo hiểm nhỏ

Một số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cá nhân, sửa ống nước, làm đầu

Trang 26

Công ty (thuộc sở hữu một số cá nhám)

* Ví dụ bao gồm :

- Nhiều hãng luật và kế toán

Một số hãng môi giới cổ phiếu và hãng môi giới bảo hiểm

Công ty hữu hạn (thuộc sở hữu của các cổ đông)

Tổ chức tương hỗ (thuộc sở hữu của thành viên)

là khi chủ sở hữu có thể quyết định mọi việc thì sẽ không cần có cơ cấu hành chính cồng kềnh vốn dĩ là nét đặc trưng của các tổ chức lớn

Chủ sở hữu không những được hưởng mọi lợi nhuận mà còn phải chịu

cả tốn thất Khi tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ, chủ nợ có quyền chiếm dụng tài sản các nhân của chủ sở hữu Chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm vô hạn Một nhược điểm của doanh nghiệp cá thể là khả năng nâng vốn rất hạn chế, trong thực tế chỉ ở mức tài sản cá nhân của chủ sở hữu cộng với tiền anh ta vay được Do chủ sở hữu là người quản lý duy nhất, nên anh ta phải thực hiện mọi lĩnh vực quản lý cho dù có giỏi hay không Ví dụ một số nhà quản lý giỏi về tài chính song lại kém về mua hàng Trong các tổ chức lớn, các nhà quản lý giỏi về tài chính song lại kém về mua hàng Trong các tổ chức lớn, các nhà quản lý có thể chuyên về lĩnh vực mạnh của mình tuy nhiên trong một doanh nghiệp chỉ có một người quản lý thì sự chuyên môn hóa như trên không thể thực hiện được

Theo quan điểm của người làm thuê, làm việc cho doanh nghiệp cá thể vừa có thuận lợi vừa có bất lợi Việc ai đó có thích chúng hay không phụ thuộc chủ yếu vào những gì họ mong đợi từ công việc

Trong công ty cá thể, mối quan hệ với chủ sở hưu mang tính cá nhân hơn so với ở tổ chức lớn và không có hệt thống hành chính cồng kềnh

Trang 27

Mặt khác doanh nghiệp cá thể thông thường chỉ có thể mang lại những triển vọng nghề nghiệp rất hạn chế

b) Công ty hợp doanh

Khi một doanh nghiệp cá thể phát triển mạnh, tới một thời điểm nào đó chủ sở hữu không thể cung cấp số vốn cần thiết, cũng như đảm đương mọi nghiệp vụ quản lý Trong trường hợp như vậy hình thành công ty hợp doanh

là bước tiến hợp lý Trong công ty hợp doanh mỗi thành viên đóng góp một

số vốn nhất định, và có một số ảnh hưởng đối với hoạt động kinh doanh Các thành viên có thể chuyên về các lĩnh vực quản lý khác nhau theo mong muốn Các thành viên cùng chia lợi nhuận và tổn thất Công ty hợp doanh phổ biến trong số các hãng luật và kế toán, hãng môi giới bảo hiểm, môi giới cổ phiếu

và tương tự

c) Công ty trách nhiệm hữu hạn

Các công ty lớn thông thường lắng vốn từ số đông những người muốn

tham gia vào quản lý hãng Mọi người có thể đầu tư vào các công ty loại này bằng cách mua cổ phần và cổ đông là các chủ sở hữu của công ty HỌ tuyển lựa ban giám đốc với nhiệm vụ điều hành công ty có thể bị phá sản và cổ phần bị mất giá trị, tuy nhiên đây là tổn thất lớn nhất cổ đông có thể phải chịu HỌ chịu trách nhiệm hữu hạn" Hầu hết các công ty lớn thuộc khu vực kinh tế tư nhân của Anh đều là công ty trách nhiệm hữu hạn, trong bảo hiểm nhân thọ các công ty tương hỗ cũng giống như vậy

d) Tổ chức tương hỗ kể cả hội tập thể

Một số tổ chức từ hộp tác xã nhỏ đến các hãng bảo hiểm nhân thọ lớn đều là tổ chức tương hỗ Khái niệm cơ bản về tổ chức tương hỗ là: Người sử dụng dịch vụ của tổ chức là các thành viên và chủ sở hữu Ví dụ, công ty nhân thọ tương hỗ do những người tham gia bảo hiểm là chủ sở hữu Các thành viên tuyển lựa ban giám đốc để điều hành tổ chức

Không phải lúc nào dựa vào tên công ty ta cũng có thể nói được đó là công ty tư nhân hay tương hỗ Một số công ty ban đầu được thành lập như các tổ chức tương hỗ ngày nay đã đăng ký là công ty tư nhân mặc dù họ vẫn giữ lại từ tương hỗ" trong tên của công ty Những công ty khác đã đãng ký không có từ "tương hỗ" trong tên (của mình song trong thực tế lại do những người tham gia bảo hiểm là chủ sớ hữu

Thành viên và người tham gia bảo hiểm của công ty tương hỗ đôi khi cũng thu nhập lợi ích đáng kể nhờ phí bảo hiểm thấp hơn hoặc thưởng cao hơn Các công ty tư nhân lớn có thể thành công khi cạnh tranh về phí bảo hiểm và quyền lợi bảo hiểm với các tổ chức tương hỗ nhưng vẫn được lãi cổ tức cho các cò đông Khối lượng kinh doanh lớn do một số nhóm cá nhân thực hiện tạo điều kiện tiết kiệm chi phí hành chính ở mỗi hợp đồng bảo

Trang 28

hiểm Thu nhập đầu tư gia tăng từ nguồn dự phòng cũng cho phép các công

ty này chia sẻ một phần lãi cho người tham gia bảo hiểm

e) Công ty sở hữu nhà nước

Một doanh nghiệp thuộc sở hữu của chính phủ (địa phương hoặc quốc gia) Trong trường hợp này, thông thường chính phủ sẽ chỉ định giám đốc điều hành doanh nghiệp theo các tiêu chuẩn quy định tronbớ luật cho phép hoạt động kinh doanh

đ) Công ty bảo hiểm trực thuộc

Bảo hiểm trực thuộc lả phương thức thực hiện chuyển giao rủi ro đang ngày càng phổ biến hơn giữa các công ty công nghiệp quốc tế hoặc quốc gia lớn trong những năm gần đây Công ty mẹ thành ]ập một công ty con để tiến hành bảo hiểm một số nhất định các rủi ro có thể được báo hiểm và đôi khi cả các rủi ro không được bảo hiểm Trong thực tế, động cơ khích lệ các công ty công nghiệp lớn thành lập công ty trực thuộc là: nói chung thị trường báo hiểm không sẵn sàng bảo hiểm những rủi ro đặc biệt hoặc bảo hiểm toàn bộ (ví dụ như bảo hiểm bảo hành sản phẩm)

Các động cơ khuyến khích chính gồm:

- Phát huy lợi ích kỹ thuật một cách tối đa, kiểm soát rủi ro của nhóm bằng cách thanh toán phí bảo hiểm dựa trên lãnh nghiệm

Tránh các chi phí hành chính của hãng bảo hiểm trực tiếp

- Thực hiện mức phí hảo hiểm chung thấp hơn bằng cách mua tái bảo hiểm với tư cách một công ty bảo hiểm, vì vậy chi phí sẽ thấp hơn so với công ty báo hiểm thông thường hoặc trực tiếp, thiết lập công ty bảo hiểm trực thuộc tại nơi có chế độ thuế tai đãi

Mọi công ty bảo hiểm trực tiếp Sải giữ lại một phần trong số nhiều rủi

ro và chuyển tái hoặc bảo hiểm lại phần vượt quá khả năng tài chính của họ

Vì thuộc thị trường thương mại trực tiếp, nên hãng bảo hiểm cũng phải chịu các chi phí khảo sát và môi giới Chi phí thực tái bảo hiểm thường thấp hơn nhiều so với chi phí của hoạt động bảo hiểm trực tiếp Vì vậy công ty bảo hiểm trực thuộc có thể tiếp cận thị trường tái bảo hiểm và chi phí thấp hơn và với phần rủi ro đã giữ lại công ty bảo hiểm trực thuộc vẫn duy trì được các ưu thế cho nhóm tự bảo hiểm cho tự bảo hiểm đối với số lượng rủi ro ban đầu Phí bảo hiểm thanh toán cho công ty bảo hiểm trực thuộc thông thường cho phép tránh được thuế đối với doanh nghiệp mặc dù ở Mỹ các nhà chức trách

về thuế không cho phép thực hiện những loại phí bảo hiểm như vậy nếu như công ty bảo hiểm không nhận bảo hiểm những rủi ro từ bên ngoài công ty

mẹ Điều này đã dẫn tới khái niệm quỹ chung dùng để trao đổi kinh doanh giữa các công ty bảo hiểm trực thuộc

Trang 29

g) Hội bồi thường tương hỗ

Hội bồi thường tương hỗ khác với công ty tương hỗ ở chỗ công ty tương hỗ chấp nhận kinh doanh với thành viên của một ngành nghề cụ thể nào đó Trong nhiều năm qua rất nhiều hội đã buộc phải chấp nhận kinh doanh với thành viên của cộng đồng nhằm gia tăng ổn định về tài chính và chia sẻ rủi ro và đã bị cải tổ thành công ty cá thể hoặc tương hỗ

Những hội bồi thường tương hỗ thực sự đã phát triển lên từ các hội

thương mại, là quỹ chung do thành viên của một ngành cụ thể nào đó đóng góp và cũng là nơi tiếp nhận khiếu nại của các thành viên Lý do các hội như trẽn được thành lập là thành viên của một ngành nghề cụ thể cảm thấy chi phí bảo hiểm thương mại quá cao so với từng khiếu nại cụ thể và thị trường thương mại không đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm Ví dụ những ngành đã từng có hội bồi thường tương hỗ là: dược sĩ, nông dân, người sản xuất nội thất và chủ tàu Đôi khi có một vài hội trong cùng một ngành, mỗi hội đảm đương ở một địa phương Ví dụ nông dân trong một huyện hoặc một phấn của huyện

Đóng góp cho quỹ dựa trên trọng tài hoặc giá trị, vào năm làm ăn thất bại người ta kêu gọi các thành viên đóng góp thêm để giữ cho quỹ tồn tại Lĩnh vực phát triển nhất của các hội này là hiệp hội bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu trong thị trường hàng hải

5 TỰ BẢO HIỂM

Giống như một biện pháp thay thế việc phải mua bảo hiểm trên thị trường hoặc do thị trường thương mại áp dụng mức miễn thường khiếu nại, một số tổ chức công cộng và những công ty công nghiệp lớn lập một quỹ riêng để đáp ứng những tổn thất có thể được bảo hiểm Tổ chức nảy tự đảm đương rủi ro, trên thị trường không có giao dịch mua và bán, tuy nhiên sự thu xếp như vậy nói chung có ảnh hưởng toàn diện đối với các quỹ trên thị trường cũng như đối với mức phí bảo hiểm trong trường hợp tổ chức tự đảm đương một mức độ đầu tiên (gọi là "vượt mức bồi thường" hoặc "miễn trừ",

từ miễn trừ được sử dụng nếu mức giữ lại lớn)

Lý do các tổ chức quyết định tự bảo hiểm bởi vì thứ nhất họ cảm thấy

đủ mạnh về mặt tài chính để đảm đương tổn thất và thứ hai do chuyển sang quỹ, chi phí se thấp hơn so với chi phí thương mại nhờ tiết kiệm được chi phí hành chính và lợi nhuận của hãng bảo hiểm

Ở đây có sự phân biệt rõ giữa tự bảo hiểm và không bảo hiểm Đối với trường hợp không bảo hiểm cho dù tổ chức có nhận ra liệu có rủi ro hay không, họ vẫn không thực hiện một hành động nào để tự bảo vệ mình khỏi tổn thất có thể xảy ra CÓ thể ở các công ty lớn (ví dụ: cơ quan thẩm quyền toàn quốc gia hay địa phương) nhiều tốn thất được gộp vào chi phí hoạt động chung

Trang 30

a) Ưu điểm của tự bảo hiểm

Ưu điểm của chương trình tự bảo hiểm được tóm tắt như sau: Phí bảo hiểm sẽ thấp đi do không phải chi cho hoa hồng môi giới, chi phí hành chính

và biên lợi nhuận của hãng bảo hiểm

Người được bảo hiểm thu được lãi suất đầu tư từ quỹ bảo hiểm, và sử dụng để tăng quỹ hay giảm đóng góp phí bảo hiểm

- Phí bảo hiểm của người được báo hiểm sẽ không tăng nhờ kinh nghiệm và khiếu nại phản hồi của các hãng khác

- Ở đây có khuyến khích trực tiếp nhằm giảm bớt và kiểm soát rủi ro tổn thất

- Do quyết định tự bắc hiểm thường chỉ hạn chế trong các hãng lớn, do vậy hơn là các hãng này đã có những nhân viên giỏi chuyên môn bảo hiểm để quản lý vốn

b) Nhược điểm của tự bảo hiểm

Hạn chế của tự bảo hiểm bao gồm:

- Thảm họa cho dù ít khả nâng đi thế nào đi chăng nữa vẫn có khả năng xảy ra, khi đó sẽ xóa đi toàn bộ quỹ và có thể buộc tổ chức phải phá sản Mặc dù tổ chức này có thể thanh toán được bất cứ tổn thất riêng rẽ nào tuy nhiên ảnh hưởng toàn bộ của một số rủi ro trong năm có thể bằng ảnh hường của cả một thảm họa đặc biệt trong những năm đấu sau khi thành lập quy

- Chỉ có thể đầu tư vốn vào dạng đầu tư ngắn hạn, dễ rút, hậu quả là sẽ mang lại ít lợi nhuận hơn so với dạng đàn rộng đầu tư mà một công ty bảo hiểm có thể thực hiện

- Có thể cần phải thuê thêm nhân viên bảo hiểm với chi phí gia tăng

- Không được các công ty bảo hiểm cố vấn nghiệp vụ về ngăn chặn rủi

ro Kinh nghiệm của giám định viên của công ty bảo hiểm liên quan tới các hãng và ngành nghề kinh doanh khác nhau rất lớn, và có lợi cho người được bảo hiểm

- Cơ sở thống kê khiếu nại của tổ chức rất hạn chế, tuy vậy người ta vẫn dựa vào đó để dự đoán chi phí khiếu nại trong tương lai

- Cơ đông và các ban bệ có thể phàn nàn về việc dành một số ]ớn để đào tạo quỹ cũng như lãi cổ tức giảm trong năm và thu nhập đầu tư của quỹ thấp so với thu nhập có thể đạt được nếu đầu tư số vốn trên vào Linh vực sản xuất

Trang 31

Cùng với những áp lực tài chính, đôi khi cũng có những lý do cần vay tiền của quỹ như vậy tính bảo đảm của quỹ bị xóa bỏ

Các nhà quản lý quỹ cũng có thể bị gây áp lực buộc phải thanh toán tổn thất nằm ngoài phạm vi được bảo hiểm, kéo theo quỹ bị giảm sút, và làm cho công việc phân tích trở nên khó khăn hơn

Một trong những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm là phân tán rủi ro đã

Ví dụ 1:

Mary thuê một hộ ở tòa nhà thuộc sở hữu của Longest Cô ta mua một

số thảm, rèm và đồ đạc chủ yếu bằng thẻ tín dụng CÔ ta muốn bảo hiểm tài sản mới của mình khỏi những hư hại do hỏa hoạn, trộm cắp, rò rỉ nước, hoặc các rủi ro khác theo như quảng cáo của công ty bảo hiềm Công ty trách nhiệm hữu hạn The New Insurance chào bảo hiểm tải sản trong nhà của Mary với giá 125 bảng mỗi năm

Quá trình thực hiện là: Mary đã cung cấp cho The New Insurance PLC các chi tiết liên quan đến rủi ro được bảo hiểm (đây là cách sứ đụng thứ hai của từ rủi ro) The New Insuranee PLC đáp lại bằng việc đưa ra một khoản phí bảo hiểm là 125 bảng Mary đồng ý thanh toán khoản phí nói trên, và từ

đó The New Insurance PLC phải tự xem xét về rủi ro (cách sứ dụng khác của

từ "rủi ro" ám chỉ họ đã ký hợp đồng với Mary và sẽ phải đáp ứng mọi rủi ro xảy ra từ lúc đó trở đi) Trong một số trường hợp công ty bảo hiểm cho phép đại lý của mình nhận trách nhiệm kể cả khi thủ tục chưa hoàn tất

Ví dụ 2

Một vài ngày sau khi John cưới có một người môi giới bảo hiềm đến gặp anh ta Người này nói rằng: bây giờ John đã là người có vợ và phải đảm đương nhiều trách nhiệm Người này cũng khuyên John mua bảo hiểm nhân thọ của chính mình vì lợi ích của vợ John trả lời là khi họ có nhà, có văn tự thế chấp và có con, anh ta sẽ xem xét việc này Người môi giới giải thích là hiện giờ tình trạng của John là phù hợp, anh ta nên mua bảo hiểm trước khi

có điều gì đô xảy ra làm thay đổi cuộc sống hạnh phúc của họ

Trang 32

John đồng ý và cung cấp các chi tiết cần thiết, và theo đó được hãng bảo hiểm gửi báo giả bảo hiếm nhân thọ John thanh toán khoản phí bảo hiểm đầu tiên và kể từ đầy hiện hữu một hợp đồng mang tính pháp lý

a) Các yếu tố cơ bản của hợp đồng

Ta có thể phát hiện sự khác nhau rất nhỏ trong hai ví dụ trên tuy nhiên

kết quá cuối cùng đều giống nhau Một hợp đồng hợp pháp đã hiện hữu

Vậy các yếu tố của một hợp đồng hợp pháp là gì? Trong hầu hết các hệ thống pháp luật, các yếu tố trên gồm:

Mời chào? Cần thực hiện mời chào chắc chắn tới một cá nhân cụ thể

nào đó hoặc tới mọi người nói chung Trên đây ta đã đưa hai ví dụ về mời chào cá nhân Mời chào mọi người nói chung có thể là treo giải thường cho ai

tìm được con chó bị lạc

Chấp nhận: Phải giống các điều khoản trong phần mời chào, Ví dụ 3 Mời chào A Bạn có thể nhận được 20 bảng bồi thường cho cái bàn

hỏng này

Mặc cả B Nếu anh sửa nó, tôi sẽ trả anh 20 Pounđ

Mặc cả A Thôi tôi giảm giá cái bàn hỏng đó xuống 15 Pound ~

Mặc cả B Được nhưng anh phải chuyển cái bàn hỏng này Chấp nhận A Tôi đồng ý

* Ta cô thể nhận ra rằng trong mỗi trường hợp, mời chào đều được sửa đổi Ngoại trừ "đồng ý" bất cứ từ nào khác đều giới thiệu những thuật ngữ mới vì vậy đều không phải là một sự chấp nhận

- Xem xét: Là thanh toán hoặc đồng ý thanh toán hàng hóa hay dịch vụ

một bên khác chuẩn bị cưng cấp Trong bảo hiểm, đó là phí bảo hiểm

Các nguyên tắc hợp đồng nói trên cộng một số các nguyên tắc nhất định khác nêu dưới đây cũng được áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm

7 QUYỀN LỢI BẢO HIỂM

Đây là quyền bá9 hiểm hợp pháp, có nghĩa là người mua bảo hiểm có một số liên hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận

Mối liên hệ đầu tiên được pháp luật công nhận là: chủ sở hữu Nếu ta

có một ngôi nhà, một xe ôm hay đồng hồ, ta sẽ có quyền lợi bảo hiểm đối với chúng bởi vì nếu chúng bị hư hại (hay mất) ta sẽ phải chịu mức độ thiệt hại

đó Tương tự như vậy, ta có quyền lợi bảo hiểm đối với đồ vật ta mượn bởi vì nếu chúng bị mất h9ặc bị hư hại ta sẽ phải thực thay thế Ví dụ như mô, bút viết, máy cắt cỏ Nếu ta cho ai mượn số đồ vật đó đối với bảo hiểm, chúng

Trang 33

vẫn là của ta vì vậy cả hai bên đều có quyền lợi bảo hiểm trong trường hợp này

8 SỰ TIN TƯỞNG TUYỆT ĐỐI

Tất cả công việc kinh doanh cần thực hiện bằng tín nhiệm Trong thực

tế, có nghĩa là không nên có gian lận hay mưu toan gian lận

Điều này không có nghĩa rằng người bán có bổn phận phải chỉ ra các thiếu sót trong hàng hóa mình bán (mặc dù ở Anh người bán bắt buộc phải bán hàng có "phẩm chất thương mại") Tuy nhiên khi thực hiện kê khai hoặc trả lời câu hỏi, người bán hàng bắt buộc phái trung thực

Giao dịch bảo hiểm khác.xa quy luật chung bởi vì chỉ có một người biết mọi yếu tố có liên quan tới "vật" được bảo hiểm ĐÓ là người đề nghị bảo hiểm, anh ta có trách nhiệm phải khai báo mọi yếu tố trên

Trang 34

Vì vậy nguyên tắc áp dụng trong bảo hiểm ở đây là "tin tưởng tuyệt đối , thậm chí phải khai báo cả những thiếu sót

a) Yếu tố thực tiễn

Những thông tin công ty bảo hiểm cần thu nhận được gọi lả yếu tố thực tiễn Dưới đây là một số yếu tố thực tiễn

Ví dụ 5

Đối với báo hiểm nhà:

Tuổi thọ, xây bằng gạch hay bằng gỗ, mái lá hay mái rạ Đối với bảo hiểm người:

Tuổi thọ, tiền sử ốm đau, hồ sơ sức khỏe của những người trong gia đình

Đối với xe ôm:

Tuổi thọ, xe, tuổi lái xe, tiền sứ tai nạn, án

Đối với máy ảnh:

Tuổi thọ, máy ảnh, giá trị, các khiếu nại trước đây, chỗ để sứ dụng cho kinh doanh

Chúng ta có thể coi yếu tố thực tiễn là bất kỳ thực tế nào ảnh hưởng đến quyết định bảo hiểm rủi ro hay không hoặc bảo hiểm theo điều kiện mào của cán bộ khai thác bảo hiểm

Thông thường công ty bảo hiểm sẽ hỏi người yêu cầu bảo hiểm liệu có thông tin nào mà hãng bảo hiểm chưa yêu cầu Đây là phần rất khó trong luật

và còn được cả hai tổ chức người tiêu dùng cũng như EC, quan tâm đến Điểm cần nói ở đây là nếu người yêu cầu bảo hiểm không khai báo yếu tố thực tiễn, công ty bảo hiểm có thể từ chối bồi thường khiếu nại

Ví dụ 6 1

Gorđon mua một ngôi nhà cũ làm nơi chứa hàng Người chủ trước của ngôi nhà đã nói cho anh ta biết về rủi ro lụt lội đôi khi xảy ra do Ở đây có địa thế thấp và dòng sông gần đó hay tràn bờ Khi yêu cầu bảo hiểm thiệt hại do hỏa hoạn, lụt và trộm cắp Gordon đã không khai báo những thực tế trên Hai tuần sau khi sở hữu ngôi nhà, và sau một cơn bão lớn, nước từ con sông bị lụt đã tràn vào ngôi nhà và làm hư hại hàng hóa

Trong trường hợp này Gordon đã không khai báo mọi thông tin liên quan anh ta đã biết vì vậy bị buộc lỗi không khai báo yếu tố thực tiễn và không được bảo hiềm theo hợp đồng

Trang 35

Ví dụ 7

Terry là thợ điện, chân phải của anh ta bị tật Anh ta sở hữu và lái một chiếc xe tải thùng đã được sửa đồi đôi chút để phù hợp với anh ta Anh ta làm việc cho một hãng phim Công việc là đi đây đi đó để nối dây hệ thống chiếu sáng

anh ta xin bảo hiểm tai nạn cá nhân, coi mình như một thợ điện, và đã trả lời không trung thực các câu hỏi có liên quan tới khuyết tật của mình Trong lúc đang lái xe bỗng nhiên anh ta ngủ gật trên vô lăng trong giây lát và đâm phải cột đèn bởi vì anh ta không thề phanh được

Trong trường hợp này, theo công ty bảo hiểm có hiện tượng không khai báo yếu tố thực tiễn quan trọng Thứ nhất, Terry chắc đã không trả lời câu hỏi liên quan tới khuyết tật của mình một cách chính xác

Thứ hai, đáng nhẽ ra Terry phải giải thích chính xác hơn nữa công việc của mình bởi vì rủi ro trong công việc của anh ta cao hơn nhiều so với công việc của một thợ điện bình thường

b) Bổn phận khai báo

Một Vấn đề người yêu cầu bảo hiểm sẽ gặp phải đó là khi bổn phận khai báo yếu tố thực tiễn bắt đầu tồn tại Đối với bảo hiểm phi nhân thọ, bổn phận này tồn tại trong sau thời gian hợp đồng có hiệu lực (Một điểm khi ta có thể tuyên bố đã có một hợp đồng hiện hữu giữa người được bảo hiểm và công

ty bảo hiểm Khi tái tục hợp đồng, người được bảo hiểm cũng phải khai báo những thay đổi mới nảy sinh

Tuy nhiên, bảo hiểm nhân thọ lại không giống như vậy bởi vì hợpđồng nhân thọ là một hợp đồng dài hạn trong đó người khai thác bảo hiểm bị trói buộc bởi những tình huống đã có khi ký kết hợp đồng

9 KHÁI NIỆM BỒI THƯỜNG

Mục tiêu của bảo hiểm là khôi phục vị trí tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm ngay sau khi tổn thất xảy ra Đó gọi là bồi thường CÓ nhiều trường hợp hãng bảo hiểm không khôi phục được hoàn toàn vị trí tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm mà chỉ cố gắng được gần như thế

a)

Jean đang nấu ăn trong bếp thì chuông cửa reo ĐÓ là một người bán hàng, cô ta nói chuyện một lúc Khi quay trở lại thì bếp đã đầy khói CÔ ta đánh rơi găng tay nấu bếp vào bếp ga Kết quả là lửa đã lan sang rèm tuy nhiên may mắn thay Jean đã dập được bằng một chiếc khăn ướt

Trang 36

Jean đã khiếu nại theo hợp đồng bảo hiểm và nhận được mẫu khiếu nại Mẫu này đưa ra một số câu hỏi và Jean đã trả lời một cách trung thực Mục đích của mẫu khiếu nại là giúp người khiếu nại ước lượng tương đối "giá trị" hiện tại của vật bị hư hại Đi sâu vào ví dụ ta thấy: chắc chắn

chúng ta sẽ đồng ý rằng "giá trị" chiếc thảm sứ dụng được 1 năm và bị hư

hại sẽ cao hơn giá trị của chiếc thảm sử đụng được 9 năm Bởi vì đối với chiếc thảm thứ~2 hao mòn sẽ nhiều hơn Tuy nhiên ta cần nhớ rằng ngày nay ở hầu hết các hợp đồng bảo hiểm nhà và đồ đạc nếu số tiến bảo hiểm được tính toán dựa trên cơ sở "như mới" thì khiếu nại cũng sẽ được giải quyết y như vậy, có nghĩa là không khấu trừ hao mòn trước đây Đây là sự phát triển nguyên tắc bồi thường, do số tiền được bảo hiểm cần được tính dựa trên cơ sở thay thế cách thu xếp trên là công bằng nhất

Xem xét trường hợp hàng hóa của thương gia, cơ sở bồi thường sẽ là giá trên hóa đơn Thanh toán nhiều hơn sẽ có nghĩa là người được bảo hiểm

sẽ kiếm được lợi nhuận mà đây lại không phải ]à mục tiêu của bảo hiểm hỏa hoạn Nếu hàng hóa còn chịu ảnh hưởng của những thay đổi về mối thì cơ

sở bồi thường chính xác rất có thể còn thấp hơn nhiều so với số đã thanh toán

Trang 38

một thợ ảnh lưu trữ phim của các bức hình anh ta đã chụp trong vòng 2 năm trở lại để nếu ai đặt hàng, anh ta có thể đáp ứng được Sau khi xảy ra vụ cháy hủy hoại hàng hóa, anh ta khiếu nại đòi bồi thường cả phim

Công ty bảo hiểm không thể bồi thường nhiều cho các cuộn phim này bởi vì giá trị vật chất của chúng rất nhỏ Chúng chỉ là những mẩu phim dùng rồi không thể thay thế trong bất cứ tình huống nào Nếu trước đó người thợ ảnh giải thích cho hãng bảo hiểm tác dụng thực của cuộn phim đối với anh

ta cũng như thu nhập tử những cuộn phim này thì công ty bảo hiểm sẽ thực hiện một loại bảo hiểm đặc biệt theo hợp đồng gián đoạn kinh doanh sẽ được xem xét chi tiết ở phần sau

Trong thực tế, khi giải quyết hàng hóa bị hư hại, khó có thể tính toán tổn thất trên cơ sở khoa học, các công ty bảo hiểm sẽ cố gắng thanh toán bồi thường một khoản phù hợp cho thiệt hại

Mục tiêu của bảo hiểm trách nhiệm là bồi thường cho người được bảo hiểm, khi người này gặp phải trách nhiệm pháp lý phải thanh toán bồi thường cho người khác Đối với bảo hiểm trách nhiệm của người chủ, người khiếu nại sẽ là người làm thuê và đối với bảo hiểm trách nhiệm công cộng hay trách nhiệm sản phẩm, người khiếu nại thông thường là thành viên cộng đồng CƠ sở bồi thường sẽ là bồi thường theo quyết định của tòa án (hoặc theo thỏa thuận) cộng với án phí liên quan

c) Định nghĩa bồi thường

Có một từ điển đã định nghĩa từ "bồi thường" là sự báo vệ hoặc bảo đảm đối với thiệt hại hoặc mất mát phát sinh từ trách nhiệm pháp lý Ý tường bảo đảm và bảo vệ rất phù hợp với những gì ta đã biết về sự phát triển của bảo hiểm cũng như đem lại những gợi ý lớn vế ngữ nghĩa của từ bồi thường Ta có thể coi nó như là một cơ cấu mà công ty bảo hiểm sử dụng để thực hiện bồi thường tài chính với mục tiêu khôi phục vị trí tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm sau khi tổn thất xảy ra

Vì vậy ta có thể kết luận: vì mục tiêu hợp đồng bảo hiểm, bồi thường

có thể được coi là bồi thường tài chính một cách chính xác, đủ để khôi phục

vị trí tài chính ban đầu của người được bảo hiểm

Từ đây có mối liên hệ giữa bồi thường và quyền lợi bảo hiếm Liên hệ này chính là quyền lợi của người được bảo hiểm đối với những tình huống được- bảo hiểm Khi có khiếu nại số tiền thanh toán cho người được bảo hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi Ở phần sau ta sẽ gặp nhiều

trường hợp trong đó người được bảo hiểm chỉ được nhận số giá trị ít hơn

giá trị quyền lợi của họ

Trang 39

Cùng với quyền lợi bảo hiểm, nguyên tắc bồi thường thường dựa nhiều vào đánh giá tài chính, và như chúng ta đã biết khi xem xét giá trị cuộc sống hoặc bồi thường thương tật, ta không thể đưa ra số tiền chính xác

i) Hợp đồng hưởng lợi

Khi giải quyết tai nạn, ốm đau cá nhân hoặc bảo hiểm nhân thọ, việc

áp dụng khái niệm bồi thường trở nên khó khăn hơn nhiều Giá từ một cái tay hoặc chân phải sẽ là bao nhiều? Giá từ cuộc sống là bao nhiêu?

Hãng bảo hiểm vẫn chấp nhận bảo hiểm trên cuộc sống hoặc trên các tai nạn mang tính chất số mệnh với giới hạn bảo hiểm không hạn chế (mà tùy thuộc vào điều kiện y tế) Giới hạn thực sự là khả năng trả phí bảo hiểm theo số tiền yêu cầu bảo hiểm trên cuộc sống hoặc trên chân hoặc tay Nếu bạn định giá cuộc sống của bạn là "l triệu bảng" thì trừ phi bạn là ngôi sao nhạc góp, bạn mới có khả năng trả phí bảo hiểm Công ty bảo hiểm thường

ấn định giới hạn trên một số tiền phải trả theo tuần khi xảy ra tai nạn hoặc

ốm đau Công ty bảo hiểm không thể bán một hợp đồng bảo hiểm với giá báu hiểm trả -1000 bảng/ tuần" nếu thu nhập theo tuần của người yêu cầu báo hiểm chỉ là "100 bảng/tuần" Vì sao bạn nghĩ rằng phải như vậy?

Câu trả lời không phải là bán thân vết thương liệt là người bị thương

Có động cơ để khám phá nhanh và tình trạng im giả trở nên dễ bị phát hiện Trong thực tế học thuyết bồi thường khôi p F~ dụng trong bảo hiểm nhân thọ là loại hợp đồng "hưởng lợi"

ii) Bồi thường chiếu cố

Đôi khi, để gây lòng tin, công ty bảo hiểm vẫn thanh toán bồi thường

kể cả trong trường hợp nếu xét kỹ ra không thuộc trách nhiệm của họ Loại

thanh toán này được gọi là bồi thường chiếu cố

Trường hợp phổ biến nhất là trường hợp khi là làm cháy áo trong hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn Đúng ra mà nói, ở đây không hề có lứa và vì vậy

khiếu nại sẽ không hợp lệ Tuy nhiên trong các trường hợp như vậy hãng

bảo hiểm vần chiếu cố bồi thường giống như một nghĩa cứ tốt trong quan hệ với cộng đồng mặc dù ở nhiều quốc gia kiểu thanh toán như vậy rất ít khi được áp dụng

d) Thực hiện bồi thường

Khi khiếu nại xảy ra, ở một chừng mực nào đó người được bảo hiểm

sẽ phải chịu những cơn sốc Thông qua chuyên viên phụ trách khiếu nại, hãng bảo hiểm sẽ cố gắng đơn giản hóa quá trình xét bồi thường trong

Trang 40

chừng mực có thể Mặc dù có một số vụ bồi thường giải quyết sai đã gây chú ý của đại chúng Nhưng đa số khiếu nại được giải quyết theo cách làm hài lòng cả 2 bên rất ít vụ gây tranh chấp thực sự Khi biết chắc có thiệt hại

do hỏa hoạn hoặc bão, giám định viên tổn thất sẽ hoạt động với từ cách người trung gian Giám định viên tổn thất sẽ cung cấp cho chủ sở hữu tài sản những giúp đỡ cần thiết để hạn chế tổn thất và đẩy nhanh quá trình tim nguyên nhân

Khi nảy sinh khiếu nại hợp lệ, tối thiểu có 4 phương pháp công ty bảo hiểm có thể áp dụng để bồi thường Theo nội dung hợp đồng, công ty bảo hiểm thường có quyền chọn lựa bất cứ phương pháp nào Hãng bảo hiểm phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể và thường phải thỏa mãn yêu cầu bồi thường theo cách thức yêu cầu Tuy nhiên, công ty bảo hiểm sẽ không muốn đáp ứng yêu cầu trong tình huống có thể gây gia tăng chi phí cho họ

i) Thanh toán bằng tiền

Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng thanh toán tiền Ở hầu hết các trường hợp, khiếu nại sẽ được giải quyết bằng cách cắt séc cho người được bảo hiểm với số lượng thanh toán theo hợp đồng Trong phần bảo hiểm trách nhiệm, thanh toán bằng tiền (thường là bằng sẹo luôn được áp dụng trong hầu hết các trường hợp, tiền thường được thanh toán trực tiếp cho bên thứ 3 Cách thức trên tránh được tình trạng công ty bảo hiểm thanh toán cho người được bảo hiểm, vả người được bảo hiểm lại phải thanh toán số tiền trên cho bên thứ 3, và cũng tránh hiện tượng người được bảo hiểm muốn giữ lại số tiền bồi thường của bên thứ ba

ii) Sứa chữa

Công ty bảo hiểm cần khai thác triệt để phương thức bồi thường bằng sứa chữa Bảo hiểm Ô tô có lẽ là ví dụ tốt nhất, trong trường hợj này các xưởng sửa chữa xe được giao nhiệm vụ sửa chữa xe bị hư hại

Một khả năng nữa là công ty bảo hiểm sở hữu hoặc quản lý ẫuulll sửa chữa xe của chính mình

iii) Thay thế

Nói chung, thay thế không phái là phương pháp bồi thường được các hãng bảo hiểm ưa thích Ví dụ phổ biến nhất là áp dụng thay thi trong bảo hiểm kính Hãng bảo hiểm thường được giảm giá do khố lượng công việc rất lớn Vì vậy, hãng bảo hiểm thường thu xếp cho cá hãng kính đã có quan

hệ làm ăn lâu dải thay thế, để có thể tiết kiện nhiều cho bản thân họ

Ngày đăng: 23/12/2021, 10:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái liên hệ giữa tấn số và mức độ nghiêm trọng không chỉ giới  hạn ở hư hại do hỏa hoạn hoặc tổn thất thiệt hại tài sản - BO HIM VA GIAM DNH HANG HOA XUT NHP
Hình th ái liên hệ giữa tấn số và mức độ nghiêm trọng không chỉ giới hạn ở hư hại do hỏa hoạn hoặc tổn thất thiệt hại tài sản (Trang 10)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w