Các nhóm chủ đề chính trong cáccông trình nghiên cứu về phụ nữ của Viện 20 năm qua có thể được tóm lượcdưới đây: Phụ nữ với vấn đề lao động, việc làm, thu nhập Các nghiên cứu về chủ đề
Trang 1Nghiên cứu Gia đình và Giới
Ra 2 tháng một kỳ
Quyển 17 Số 3 Năm 2007
Tổng biên tập: Trần Thị Vân Anh
Tòa soạn: 6 Đinh Công Tráng, Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại: (84-4) 933 1743; 933 1745 - Fax: (84-4) 933 2890 Email: giadinhvagioi@vnn.vn; khoahocphunu@hn.vnn.vn
Trang 2is a bimonthly print edition, published by
Institute for Family and Gender Studies
Vol 17 No.3 2007
Editor-in-chief: Tran Thi Van Anh
Editorial Bureau: 6 Dinh Cong Trang, Hanoi, Vietnam Tel: (84-4) 933 1743; 933 1745 - Fax: (84-4) 933 2890 Email: giadinhvagioi@vnn.vn; khoahocphunu@hn.vnn.vn
Trang 3Thành tựu nghiên cứu của Viện Gia đình và Giới
và một số vấn đề cần quan tâm
Nguyễn Hữu Minh*
Viện Gia đình và Giới
I Một số thành tựu nghiên cứu của Viện Gia đình và Giới
Tháng 3 năm 2007, Viện Gia đình và Giới thuộc Viện Khoa học xã hộiViệt Nam tròn 20 tuổi Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, Viện đã
có những đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu về gia đình và giới
Có thể nêu lên một số thành tựu chính trong các lĩnh vực nghiên cứu chủyếu như sau
1 Nghiên cứu về Phụ nữ
Nghiên cứu về phụ nữ là sự khởi đầu cho những hoạt động nghiên cứu ởViện Gia đình và Giới từ khi thành lập Các nhóm chủ đề chính trong cáccông trình nghiên cứu về phụ nữ của Viện 20 năm qua có thể được tóm lượcdưới đây:
Phụ nữ với vấn đề lao động, việc làm, thu nhập
Các nghiên cứu về chủ đề này đã đi sâu phân tích việc phân bổ, đào tạo,
và sử dụng lao động nữ ở các địa bàn khác nhau; gắn với vấn đề tạo việclàm, tăng thu nhập và giảm nghèo cho phụ nữ Hàng loạt công trình nghiên
Nghiên cứuGia đình và Giới
Số 3 - 2007
* Tác giả xin chân thành cám ơn các cán bộ của Viện Gia đình và Giới, đặc biệt
là Trần Thị Vân Anh, Đỗ Thị Bình, Ngô Thị Tuấn Dung, Lê Ngọc Văn, Lê Ngọc Lân, Nguyễn Thanh Tâm, Đặng Bích Thủy, Lữ Tuyết Mai đã đóng góp
ý kiến cho bài viết Những đánh giá nêu ở trong bài được dựa vào hệ thống các
đề tài nghiên cứu mà Viện Gia đình và Giới đã hoàn thành, vì lý do khuôn khổ tạp chí chúng tôi không nêu chi tiết.
Trang 4cứu về vấn đề này đã thu được kết quả tốt và các khuyến nghị đối với việchoạch định chính sách bước đầu đã được xã hội đánh giá cao
Phụ nữ và phát triển kinh tế nông thôn
Từ cuối những năm 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi các địaphương thực hiện việc giao đất cho các hộ gia đình, thì vấn đề phát triểnkinh tế hộ và vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn,cùng với phát triển ngành nghề phi nông nghiệp được cán bộ của Viện đặcbiệt quan tâm Các đề tài thực hiện trong thời kỳ này đã chỉ ra vai trò quantrọng của người phụ nữ đối với phát triển kinh tế nông thôn cũng như kinh
tế hộ gia đình
Phụ nữ với vấn đề dân số và sức khỏe
Những công trình nghiên cứu về dân số và sức khỏe được triển khai trướchết trong phạm vi các chương trình về dân số, kế hoạch hóa gia đình Cácvấn đề như nhận thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe sinh sản củanữ thanh niên, phụ nữ dân tộc, phụ nữ nghèo, người nhập cư, đã được đềcập trong nhiều bài viết có chất lượng cao Các kết quả nghiên cứu của Viện
về chủ đề này đã góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏesinh sản cho phụ nữ nói chung và phụ nữ ở khu vực miền núi, dân tộc nóiriêng, phục vụ chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Phụ nữ với giáo dục, văn hóa và các vấn đề xã hội
Nghiên cứu của Viện đã tập trung xem xét tác động của chính sách giáodục, của giáo dục pháp luật trong gia đình đối với gia đình và người phụ nữ;
đồng thời phản ánh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật cho phụ nữ, vềnội dung và phương pháp giáo dục gia đình Kết quả nghiên cứu cho thấy
tỷ lệ lao động nữ không có kỹ năng, tỉ lệ được đào tạo và tự đào tạo luônthấp hơn nam giới, trong khi đó nhiều phụ nữ không có cơ hội học thêm dovướng bận công việc gia đình và chăm sóc con cái Những trở ngại đối vớiphụ nữ trong việc tiếp cận các cơ hội đào tạo đã và đang hạn chế việc sửdụng hiệu quả nguồn nhân lực của các ngành, đặc biệt là ngành nôngnghiệp, nơi tập trung đông lao động nữ Một số nghiên cứu về đời sống vănhóa ở nông thôn cho thấy mức độ tiếp cận và thụ hưởng các lợi ích tinh thầncủa phụ nữ còn hạn chế trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế - xã hội ởmột số vùng miền trong cả nước
Về chủ đề mại dâm, buôn bán phụ nữ, Viện đã có một số công trìnhnghiên cứu và đề xuất một số giải pháp đối với những vấn đề này Cácnghiên cứu đã chỉ ra thực trạng mại dâm dưới các hình thức, phân tích bảnchất và lịch sử của hoạt động mại dâm; các tác động đối với phụ nữ và namgiới, đối với gia đình và xã hội
Trang 5Những vấn đề lý luận, phương pháp luận
Viện đã quan tâm đến vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứuphụ nữ ngay từ đầu những năm 90 thế kỷ trước, trước hết bằng việc dịch cáctài liệu cẩm nang về phương pháp nghiên cứu phụ nữ và giới Từ năm 2000trở lại đây, Viện đã đẩy mạnh hơn các nội dung lý luận trong nghiên cứuphụ nữ Một số chủ đề chính đã thực hiện là: Lịch sử lý thuyết nữ quyền và
lý thuyết giới; Một số quan điểm của lý thuyết nữ quyền trong nghiên cứugia đình Việc tăng cường nghiên cứu lý luận đã có tác động tích cực trongviệc đào tạo cán bộ của Viện và nâng cao năng lực nghiên cứu đối với độingũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy về phụ nữ nói chung
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về phụ nữ trong chặng đường 20năm hoạt động của Viện rất phong phú về chủ đề và khá toàn diện về cácnhóm đối tượng Các nghiên cứu thường được xuất phát từ nhu cầu thực tếcủa phát triển xã hội, đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của mỗi thời kỳ phát triển.Qua đó, sự trưởng thành của một cơ quan nghiên cứu đầu tiên về phụ nữcũng được khẳng định và phát triển cùng với thời gian.Với đội ngũ cán bộchưa nhiều nhưng các đề tài nghiên cứu của Viện khá lớn về số lượng vàngày càng có chiều sâu Các nghiên cứu đã bước đầu kết hợp nhuần nhuyễngiữa lý thuyết và thực tiễn, dùng thực tiễn để kiểm nghiệm lý thuyết, đồngthời cũng từ thực tiễn để khái quát hóa thành lý luận
2 Nghiên cứu về gia đình
Viện Gia đình và Giới là một trong các cơ quan có nhiều công trìnhnghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực gia đình Các công trình nghiên cứu đãcung cấp một bức tranh khá tổng quát về các vấn đề quan trọng nhất của gia
đình Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới như: Lý luận và phương pháp nghiêncứu gia đình; Biến đổi cơ cấu, chức năng gia đình Việt Nam từ truyền thống
đến hiện đại; Phân công lao động theo giới trong gia đình; Kinh tế hộ gia
đình; Phúc lợi gia đình; Chính sách xã hội đối với gia đình; Hôn nhân, xung
đột gia đình và ly hôn,v.v… Dưới đây là một số vấn đề cụ thể:
Một số công trình đã bước đầu tập hợp và giới thiệu các lý thuyết xã hộihọc và lý thuyết nữ quyền trong nghiên cứu gia đình Mặc dù chưa có điềukiện tập trung thời gian và công sức cho những công trình chuyên sâu về lýluận và phương pháp nghiên cứu gia đình, nhưng các nghiên cứu của Viện
đã kết hợp vận dụng chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùngcác lý thuyết chuyên biệt về nghiên cứu gia đình trên thế giới vào nghiêncứu gia đình Việt Nam, từ đó phát hiện những đặc trưng riêng của gia đìnhViệt Nam
Các kết quả nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ những đặc điểm của gia
Nguyễn Hữu Minh 5
Trang 6đình Việt Nam truyền thống và quá trình chuyển đổi từ truyền thống đếnhiện đại Chẳng hạn, có thể nhận thấy gia đình Việt Nam truyền thống tuycùng chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo như gia đình Trung Quốc vàcác nước Đông á khác, nhưng các mối quan hệ trong gia đình Việt Nam cóphần cởi mở và dân chủ hơn do đặc điểm văn hóa riêng của Việt Nam Và
đó là cơ sở để gia đình Việt Nam xây dựng mối quan hệ bình đẳng trongnhững điều kiện xã hội mới
Kết quả các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, công nghiệp hoá, hiện đại hoá,hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đơn giản là sự tăng trưởng kinh tế, sựthay đổi công nghệ mà nó còn là một sự thách thức đối với gia đình ViệtNam về kinh tế, xã hội, văn hoá, đạo đức, lối sống, tình cảm và tâm lý Trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá, ở Việt Nam đã xuất hiện một xuhướng rất đáng lo ngại, đó là sự giảm sút những giá trị đạo đức truyền thốngcủa gia đình Việt Nam, cũng như sự giảm sút trách nhiệm của gia đình trongviệc thực hiện các chức năng xã hội Các nghiên cứu đã cho thấy sự gia tăngcủa ly hôn và xung đột vợ chồng; hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồngnước ngoài vì mục đích kinh tế; hiện tượng những người già bị con cháu bỏrơi hoặc bị đối xử tàn tệ,v.v…
Phân tích sự tác động của công nghiệp hóa và toàn cầu hóa cũng nhưnhững yếu tố khác đối với cấu trúc và chức năng của gia đình cho thấynhững áp lực của công việc, cạnh tranh toàn cầu có nguy cơ làm cạn kiệtthời gian các thành viên giành cho việc chăm sóc gia đình và tạo ra sự bấtbình đẳng mới trong gia đình Trong điều kiện toàn cầu hóa, khi phụ nữ
được giải phóng khỏi vai trò người nội trợ trong gia đình thì khoảng trống
về chăm sóc gia đình trở thành vấn đề không chỉ riêng của gia đình mà làcủa chung toàn xã hội
Đặc điểm, hiện trạng phân công lao động theo giới và bình đẳng giớitrong gia đình là một vấn đề được Viện hết sức quan tâm Các kết quảnghiên cứu cho thấy mô hình truyền thống về phân công lao động theo giớitrong gia đình mà phụ nữ là người đảm nhận chính các công việc tái sảnxuất như công việc nội trợ, cơm nước, chăm sóc con, chăm sóc người giàngười ốm, vẫn còn được duy trì khá đậm nét ở nhiều vùng nông thôn, miềnnúi, nhưng đã có nhiều thay đổi ở khu vực đô thị, khu công nghiệp, nhữngnơi người phụ nữ cũng tham gia sản xuất và hoạt động xã hội như nam giới
Sự thay đổi này đã mở đường cho sự xuất hiện mô hình gia đình Việt Nammới - gia đình bình đẳng
Nghiên cứu hôn nhân được Viện tập trung vào các chủ đề như: Sự lựachọn hôn nhân; Xu hướng biến đổi tuổi kết hôn; Nhận thức, dư luận và việcthực hành nghi thức lễ cưới của các tầng lớp nhân dân; Đặc điểm hôn nhân
Trang 7ở các dân tộc ít người; Các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến sựbền vững của gia đình và các hậu quả của ly hôn Kết quả nghiên cứu đã
được sử dụng trong việc chuẩn bị cho các chính sách về vấn đề gia đình nhưviệc xây dựng nghi thức lễ cưới trong thời kỳ Đổi mới, việc bổ sung cụ thểcác chế tài, điều khoản trong Luật Hôn nhân và Gia đình và các bộ luật cóliên quan nhằm giảm bớt hậu quả tiêu cực của ly hôn
Vấn đề bạo lực gia đình cũng được các cán bộ trong Viện quan tâmnghiên cứu ngay từ đầu những năm 90 thế kỷ XX, khi chủ đề này còn mới
mẻ ở Việt Nam Các nghiên cứu đã góp phần nhận dạng về các loại hành vibạo lực gia đình đang diễn ra ở nước ta hiện nay; phân tích các yếu tố tác
động, nguyên nhân sâu xa của vấn đề cũng như tác động của các giải phápcan thiệp đối với vấn đề bạo lực gia đình Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằngbạo lực gia đình đang tồn tại khá nghiêm trọng trong xã hội Việt Nam hiệnnay và gốc rễ của những hành vi bạo lực đó là sự bất bình đẳng giới, là thái
độ coi phụ nữ lệ thuộc vào đàn ông Những nghiên cứu này đã góp phần giúpcác cơ quan liên quan xây dựng dự luật Phòng chống bạo lực gia đình Các nghiên cứu cũng đã có những phân tích sâu sắc làm nổi bật vai tròcủa nhà nước trong việc chủ động tạo ra cũng như điều chỉnh sự biến đổigia đình theo ý chí chủ quan của mình Nhà nước có vai trò quan trọng trongviệc gạt bỏ, hạn chế các tác động tiêu cực đến biến đổi gia đình
Nhìn chung, những nghiên cứu về gia đình của Viện đã góp phần pháthiện và lý giải những vấn đề mới xuất hiện của gia đình, chỉ ra những đặc
điểm và xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới.Các kết quả đó là cơ sở để đưa ra những luận cứ khoa học cho việc xây dựngchính sách xã hội nhằm phát huy vai trò to lớn của gia đình trong việc bảo
đảm hạnh phúc và phát triển cho các thành viên gia đình cũng như sự ổn
định và phát triển xã hội
3 Nghiên cứu về bình đẳng giới
Phân tích những vấn đề lý luận, phương pháp luận nghiên cứu vấn đềgiới, khảo sát về thực trạng bất bình đẳng nam nữ, vận dụng và lồng ghépquan điểm tiếp cận giới trong nghiên cứu, giảng dạy, đánh giá hoặc tư vấnchính sách, chương trình, dự án phát triển ở Việt Nam, luôn là mối quantâm khoa học thường xuyên và là điểm mạnh của Viện Gia đình và Giớitrong những năm qua
Từ nghiên cứu phụ nữ nâng lên, mở rộng thành nghiên cứu về giới là mộtbước phát triển mới, kịp thời và đúng đắn của Viện Bắt đầu từ năm1990,thông qua việc tăng cường các hoạt động hợp tác nghiên cứu, tổ chức hộithảo chuyên đề, tham gia đào tạo trong và ngoài nước, việc xuất bản ấn
Nguyễn Hữu Minh 7
Trang 8phẩm dịch thuật nghiên cứu vấn đề giới (gồm khái niệm, thuật ngữ, phươngpháp, quan điểm tiếp cận, khung phân tích thực trạng, xác định chủ đề ưutiên,…) được Viện quan tâm giới thiệu và phổ cập hơn
Kết quả nghiên cứu, phân tích và giới thiệu về chủ đề giới có qui mô, nộidung và phạm vi khác nhau, được phản ánh đa dạng trong các ấn phẩm,công trình khoa học của tập thể Viện và các cá nhân là cán bộ Viện Gia đình
và Giới Có thể nêu lên một số chủ đề chính như sau:
ã Những vấn đề lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu về giới cũngnhư kinh nghiệm giải quyết bất bình đẳng giới ở các nước trên thế giới
ã Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực thi bình đẳng giới trong thời kỳViệt Nam chuyển đổi và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hộitrong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
ã Thực trạng, vai trò và sự tham gia của nữ và nam nông dân và các yếu
tố ảnh hưởng trong phát triển kinh tế hộ gia đình
ã Những vấn đề giới trong hệ thống đào tạo - dạy nghề, các yếu tố ảnhhưởng và những biện pháp nhằm cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới
ã Những vấn đề về giới và việc làm trong thị tr ường lao động, đặc biệt ởkhu vực kinh tế ngoài quốc doanh và phi chính thức, trong giai đoạn ViệtNam chuyển đổi và tăng cường hội nhập quốc tế
Kết quả nghiên cứu của các đề tài đã có đóng góp quan trọng vào việcnâng cao trình độ lý luận và phân tích thực tiễn của cán bộ Viện Gia đình
và Giới nói riêng và những người quan tâm, nghiên cứu về vấn đề giới ởnước ta
Về lý luận, các nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử, khái niệm, quan điểm
tiếp cận lý thuyết, phương pháp và các công cụ, chỉ báo, phục vụ cho việcphân tích giới, đánh giá khoảng cách, thực trạng bình đẳng giới, đã gópphần cung cấp tri thức, định hướng cho việc nâng cao nhận thức về vấn đềgiới trong bối cảnh thực tiễn Việt Nam Hiện nay, tiếp cận theo quan điểmgiới được vận dụng rộng rãi trong các chủ đề nghiên cứu khác nhau củaViện như hôn nhân và gia đình (biến đổi vai trò, chức năng, phân công lao
động, bạo lực gia đình), các chủ đề về phụ nữ (vai trò, vị trí và sự tham giatheo lĩnh vực hoạt động hoặc theo ngành/nghề, v.v ) hoặc các vấn đề xãhội bức xúc khác
Về thực tiễn, các kỹ năng nghiên cứu và phân tích giới đã được cán bộ
của Viện vận dụng trong các nghiên cứu cụ thể Chủ đề nghiên cứu khá đadạng, bám sát và phản ánh các nhu cầu và thực tiễn phát triển, chẳng hạnnhư lý giải thực trạng và các yếu tố tác động đến việc duy trì sự bất bình
đẳng nam, nữ và khoảng cách chênh lệch giới giữa các nhóm xã hội, các khu
Trang 9vực, đặc biệt ở các nhóm xã hội yếu thế, khu vực nông thôn, nhóm dân tộc
ít người,v.v Các nghiên cứu cũng đã cung cấp dữ liệu thực tiễn phong phú,
đề xuất các giải pháp, khuyến nghị các chính sách nhằm góp phần cải thiệnquan hệ giới và tăng cường năng lực vị thế phụ nữ trong giai đoạn Việt Namchuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập
Đặc biệt, những nghiên cứu định hướng hành động và ứng dụng gắn vớiviệc tiếp cận giới và hòa nhập giới trong kế họach phát triển đang được thựchiện Trong một số chương trình, dự án phát triển, quan điểm tiếp cận giới
được lồng ghép và áp dụng theo quy trình: Từ xác định vấn đề, nhu cầu, đếnlập kế hoạch, triển khai, theo dõi và đánh giá tác động ảnh hưởng giới và xãhội nói chung đối với các nhóm đối tượng
Về đào tạo , các kinh nghiệm, kỹ năng phân tích, lập kế hoạch giới được
cán bộ của Viện bước đầu đúc kết, vận dụng để xây dựng một số tài liệu về
lý luận, phương pháp, kỹ năng phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy vềgiới (ví dụ: Giới và xoá đói giảm nghèo, giới và lao động - việc làm, tập huấnnâng cao nhận thức giới và kỹ năng lồng ghép giới,…) cho sinh viên vànhững người quan tâm ở các cấp hoặc lĩnh vực khác nhau
Tóm lại, Viện Gia đình và Giới đã nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm, trithức và bước đầu hệ thống hóa các quan điểm khoa học về giới, chọn lựa vàvận dụng phương pháp phù hợp, nhằm phân tích và luận giải thực trạng bấtbình đẳng giới, đề xuất biện pháp, khuyến nghị chính sách cải thiện tìnhhình, tăng cường lồng ghép giới, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu thực tiễn vàlợi ích chiến lược giới, trong bối cảnh Việt Nam tăng cường hội nhập và pháttriển Các kết quả nghiên cứu và giảng dạy về giới của Viện đã bước đầu
đáp ứng nhu cầu đối với các nhóm xã hội liên quan, cả ở trong và ngoàinước
4 Nghiên cứu về trẻ em
Năm 2006 Viện Gia đình và Giới mới có phòng nghiên cứu chuyên vềvấn đề trẻ em, tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến trẻ em đã được Viện quantâm nghiên cứu từ nhiều năm trước đây Thời gian đầu, những vấn đề về trẻ
em được lồng ghép vào các nghiên cứu về gia đình, tập trung phân tích vaitrò của gia đình trong quá trình xã hội hóa đối với trẻ em Những năm gần
đây, cùng với việc phát triển hợp tác nghiên cứu với các cơ quan khác về lĩnhvực này, các nghiên cứu về trẻ em của Viện được mở rộng hơn Viện đã bắt
đầu hình thành các nghiên cứu chuyên sâu về một số vấn đề bức xúc đang
đặt ra đối với trẻ em trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế và hội nhập quốc tế
đang diễn ra ngày càng mạnh hơn ở Việt Nam Những mảng chủ đề chính
về nghiên cứu trẻ em mà Viện đã tiến hành trong thời gian qua là: Vai trò
Nguyễn Hữu Minh 9
Trang 10của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em; Cácvấn đề về giáo dục đối với trẻ em; Lao động trẻ em trong bối cảnh chuyển
đổi kinh tế; Bạo lực đối với trẻ em; Sức khỏe sinh sản vị thành niên; Tệ nạnxã hội và vấn đề HIV/AIDS đối với trẻ em
Các nghiên cứu của Viện đã nêu lên những mối quan hệ của sự biến đổikinh tế - xã hội, văn hóa của Việt Nam với những vấn đề về trẻ em đang
được xã hội quan tâm Cụ thể là:
ã Tác động của nền kinh tế thị trường đến quá trình xã hội hóa trẻ emtrong bối cảnh biến đổi xã hội của Việt Nam những năm qua, đặc biệt là việcsuy giảm chức năng giáo dục và kiểm soát của gia đình đối với trẻ em
ã Chỉ ra sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
đối với trẻ em (giáo dục và chăm sóc sức khỏe); vấn đề trẻ em lao động sớm
và hậu quả của nó đối với trẻ em; lao động trẻ em di cư
ã Tác động của quá trình chuyển đổi kinh tế đến vấn đề giáo dục trẻ emnhư sự biến đổi về đầu tư đối với việc học tập của trẻ em trong các gia đình;những nguyên nhân tạo nên sự khác biệt về tiếp cận cơ hội học tập giữa cácnhóm trẻ em thuộc các nhóm mức sống, địa bàn cư trú,v.v
ã Một số vấn đề xã hội bức xúc đối với trẻ em như tệ nạn nghiện hút,nguy cơ mắc các bệnh lây lan qua đường tình dục, HIV/AIDS trong nhómthanh thiếu niên, trẻ em bị bạo lực, bị lạm dụng tình dục,v.v
Những kết quả nghiên cứu nêu trên đã góp phần làm rõ những cơ hội vàthách thức đối với sự phát triển của trẻ em Việt Nam về các mặt tinh thần
và thể chất, từ đó cung cấp một số cơ sở lý luận và thực tiễn giúp các nhàhoạch định chính sách tham khảo trong quá trình xây dựng chính sách liênquan đến việc giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em
5 Những đề tài phục vụ trực tiếp việc hoạch định chính sách của nhà nước
Ngoài những khuyến nghị rút ra từ các nghiên cứu cụ thể phục vụ chohoạt động xây dựng chính sách của Đảng và Nhà nước, trong 20 năm qua,Viện đã có một số nghiên cứu chuyên sâu phục vụ việc xây dựng chính sách.Dưới đây chỉ xin nêu ví dụ hai nghiên cứu chính
1) Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và hoàn thiện chính sách xã hội
đối với gia đình và phụ nữ Đây là đề tài thuộc chương trình cấp nhà nước
giai đoạn 1992-1995 (mã số KX 04-08) Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một
số vấn đề bức xúc đặt ra đối với người phụ nữ và gia đình Việt Nam nhữngnăm 90 của thế kỷ XX về các mặt khác nhau
Cụ thể, về việc làm và thu nhập, nghiên cứu chỉ ra tình trạng thời gian
Trang 11làm việc kéo dài cũng như tình trạng việc làm không đầy đủ của phụ nữnông thôn, hoặc tình trạng thất nghiệp, việc làm có thu nhập thấp của phụnữ ở khu vực đô thị; Sự phân hoá về thu nhập giữa các nhóm phụ nữ (nhóm
có nghề nghiệp ổn định, buôn bán, dịch vụ so với nhóm nông nghiệp, nhómphụ nữ gia đình đơn thân,…) và thu nhập của phụ nữ thường thấp hơn namgiới Thực trạng này có thể dẫn đến các xu hướng như sự “bần cùng hoá”một bộ phận lao động nông nghiệp; xu hướng di dân ra thành thị; lao độngnữ bị chuyển khỏi khu vực nhà nước tăng lên
Vấn đề phát triển năng lực của phụ nữ được đề cập ở hai khía cạnh sức
khỏe và học vấn, tay nghề Sự không đảm bảo về điều kiện sống và môitrường làm việc dẫn đến tình trạng dưới 30% phụ nữ đạt tiêu chuẩn sức khỏeloại I Học vấn và tay nghề của phụ nữ nói chung là thấp hơn nam giới và ít
được cải thiện
Phân tích về địa vị, vai trò của phụ nữ trong gia đình và đời sống tinh
thần của người phụ nữ cho thấy tình trạng “nữ hoá” trong công việc gia đình
đậm nét và ít có sự thay đổi Bất bình đẳng trong kiểm soát nguồn lực và raquyết định trong gia đình vẫn tồn tại Hạn chế về đời sống văn hoá tinh thầncủa người phụ nữ là do họ thiếu thời gian, không có điều kiện nâng cao nănglực cá nhân và thu nhập của họ
Đề tài cũng có những đóng góp nhất định trong phân tích các chính sáchxã hội đối với phụ nữ và gia đình và tác động của chính sách chung đếnngười phụ nữ ở những giai đoạn lịch sử khác nhau Đề tài khẳng định rằng,chính sách đối với phụ nữ phải kết hợp được hai tiêu chí cơ bản là chính trị
và kinh tế - xã hội Nội dung của chính sách xã hội đối với phụ nữ phải đạt
được các mục tiêu như: Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia lao động sảnxuất; Phụ nữ cũng như nam giới phải được thụ hưởng công bằng các kết quảcủa tăng trưởng kinh tế; Tạo điều kiện cho phụ nữ nâng cao năng lực; Mởrộng cơ hội và khả năng lựa chọn của phụ nữ trên các lĩnh vực, tăng cườngcông tác tham gia quản lý, lãnh đạo của phụ nữ
2) Điều tra cơ bản thực trạng bình đẳng giới và tác động của chính sách đối với phụ nữ và nam giới nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam (2004-2006) Đây là cuộc điều tra cơ bản, liên
ngành đầu tiên có quy mô quốc gia, nhằm mục đích xây dựng hệ thống cơ
sở dữ liệu, thông tin nền tảng, phác hoạ bức tranh thực trạng quan hệ bình
đẳng nam nữ, các yếu tố tác động và ảnh hư ởng đến khoảng cách giới tronggiai đoạn chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, cung cấp các luận cứ khoa họcphục vụ cho công tác xây dựng pháp luật bình đẳng giới và đề xuất cáckhuyến nghị điều chỉnh chính sách, góp phần tăng cường sự tiến bộ của phụnữ và mục tiêu bình đẳng giới trong giai đoạn Việt Nam hội nhập WTO
Nguyễn Hữu Minh 1 1
Trang 12Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam giới có việc làm và thu nhập ổn
định cao hơn nữ giới và họ thường tập trung đông hơn ở các lĩnh vực phinông nghiệp Lao động nữ thường tập trung đông hơn ở lĩnh vực nôngnghiệp, mức độ chuyển đổi nghề nghiệp của họ trong những năm qua cònthấp, họ ít được đào tạo chính quy hơn lao động nam Mâu thuẫn ở đây lànữ giới thường phải chăm sóc gia đình và con nhỏ nhiều hơn nam giới, trongkhi họ tham gia vào hoạt động lao động sản xuất và hoạt động xã hội ngàycàng tăng Chính điều này đang gây trở ngại cho việc sử dụng có hiệu quảnguồn nhân lực phụ nữ
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các khuôn mẫu giới truyền thống vẫn
đang có vị trí quan trọng chỉ đạo quan niệm cũng như hành vi của ngườidân, cả nam giới và phụ nữ, cả nhóm lớn tuổi và nhóm trẻ tuổi Trong khitác động của các yếu tố chính sách, cụ thể là thông qua các kênh truyềnthông đại chúng và công tác giáo dục, tuyên truyền còn chưa đủ mạnh đểthay đổi các quan niệm này Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, phụ nữ là ngườichủ yếu làm nhiệm vụ nuôi dạy con nên có vai trò quan trọng trong việc làmthay đổi khuôn mẫu phân công lao động theo giới từ khi con còn nhỏ Hơnthế nữa, quan niệm của phụ nữ chính là một trong những trở ngại thay đổikhuôn mẫu phân công lao động theo giới, vì họ thường đòi hỏi giới mìnhkhắt khe hơn đàn ông Chính vì vậy, khắc phục trở lực này là một trongnhững biện pháp quan trọng nâng cao bình đẳng giới
Từ thực trạng trên, nghiên cứu đã chỉ ra các cơ sở khoa học để xây dựngchính sách nâng cao bình đẳng giới trên các lĩnh vực khác nhau như vấn đềlao động việc làm; đào tạo và nâng cao kỹ năng cho người lao động, nhất làlao động nữ; chăm sóc sức khỏe toàn diện cho phụ nữ, đặc biệt trong thời
kỳ sinh sản và cần có những giải pháp truyền thông để thay đổi nhận thức
về giới và bình đẳng giới phù hợp với các đối tượng khác nhau
Mặc dù các nghiên cứu phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng chính sáchcủa Viện còn chưa nhiều, nhưng những kết quả bước đầu đã có đóng gópnhất định trong việc xây dựng các chính sách nâng cao vị thế phụ nữ, thựchiện bình đẳng giới, củng cố sự bền vững của gia đình và phát huy vai tròcủa gia đình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đặc biệt, một
số kết quả nghiên cứu của Dự án điều tra cơ bản về thực trạng bình đẳng giới
đã được báo cáo trực tiếp với Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa cùng các
đồng chí lãnh đạo ở Trung ương và các địa phương, cung cấp những dữ liệuthực tế cho các nhà hoạch định chính sách và xây dựng Luật Bình đẳng giới.Nét nổi bật và xuyên suốt trong các nghiên cứu của Viện là tính chất liênngành Các cán bộ của Viện được đào tạo từ những chuyên ngành khác nhau
đã cùng các nhà khoa học ở các chuyên ngành khác hợp tác nghiên cứu
Trang 13những vấn đề bức xúc của phụ nữ, gia đình, trẻ em và bình đẳng giới Cáchtiếp cận liên ngành cho phép phân tích toàn diện những vấn đề đã đặt ra vàcung cấp những luận cứ kinh tế - xã hội xác đáng, phục vụ việc hoạch địnhchính sách của các cơ quan Đảng và Nhà nước.
II Một số vấn đề đặt ra và định hướng nghiên cứu
Nghiên cứu phụ nữ, gia đình, giới và trẻ em từ cách tiếp cận liên ngànhcòn rất mới mẻ ở Việt Nam Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng còn nhiềuviệc mà cán bộ Viện Gia đình và Giới còn chưa làm được và cần đẩy mạnhtrong thời gian tới đây Có thể nêu lên một số điểm chính đáng quan tâm là:
ã Các công trình nghiên cứu của Viện trong nhiều năm còn nặng về thựctiễn Những nghiên cứu cơ bản, mang tính chất nền tảng như cơ sở lý luận
và phương pháp luận, xây dựng và biên soạn các sách công cụ, sách tra cứunhư cẩm nang, từ điển chuyên ngành,v.v còn rất ít và chưa hệ thống Việc
hệ thống hóa, so sánh và khái quát, tổng kết thực tiễn hoặc phân tích chuyênsâu cũng chưa được đầu tư đúng mức Về phương pháp luận nghiên cứu cònnặng về phân tích, chưa quan tâm nhiều đến phần tổng hợp Vì vậy, việckhái quát từ kết quả nghiên cứu để nâng lên tầm lý luận còn hạn chế Điềunày không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng các công trình mà còn ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu kế cận
ã Việc đi sâu vào lý thuyết giới, lý thuyết nữ quyền còn chậm Trongnhiều năm, các công trình nghiên cứu của Viện chưa quan tâm đúng mức
đến việc xác định những đặc thù khi vận dụng lý thuyết nữ quyền, lý thuyếtgiới ở Việt Nam so với các nước trên thế giới
ã Các nghiên cứu trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học cho xây dựng chínhsách còn ít, đặc biệt là các nghiên cứu đánh giá chính sách Một số nghiêncứu tuy có tác dụng đóng góp gián tiếp đối với các cơ quan hoạch định chínhsách, xây dựng văn bản luật, nhưng mẫu nghiên cứu chưa đủ khái quátchung cho cả nước, nên hiệu quả đề xuất các căn cứ khoa học đối với cáclĩnh vực liên quan còn chưa cao
ã Một số lĩnh vực nghiên cứu còn chưa được quan tâm đúng mức, chẳnghạn như Phụ nữ với vấn đề văn hóa; Nghiên cứu nam giới và nam tính; Thựchiện quyền trẻ em trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, v.v
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giao lưu văn hoá quốc tế và toàncầu hoá về kinh tế chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sốngcủa phụ nữ, trẻ em và các gia đình Việt Nam Sự phát triển của xã hội ViệtNam trong thời gian tới đang đặt ra những yêu cầu mới đối với nghiên cứuphụ nữ, trẻ em, gia đình và bình đẳng giới nhằm đáp ứng kịp thời những
Nguyễn Hữu Minh 1 3
Trang 14chuyển biến đáng kể về kinh tế - xã hội Trong thời gian tới, Viện Gia đình
và Giới sẽ quan tâm hơn nữa đối với những nghiên cứu lý luận và phươngpháp luận về nghiên cứu phụ nữ, gia đình, trẻ em và bình đẳng giới, tìm ranhững nét đặc thù của Việt Nam khi vận dụng các lý thuyết nước ngoài,
đồng thời căn cứ vào thực tiễn để tổng kết lý luận, bổ sung lý luận Một số
định hướng nghiên cứu của Viện trong thời gian tới bao gồm:
Về lĩnh vực nghiên cứu phụ nữ, phân tích sâu hơn về các vấn đề như:
Việc làm, thu nhập và cơ hội đào tạo của phụ nữ các ngành nghề, lĩnh vựckhác nhau của nền kinh tế; Những điều kiện cần thiết để nâng cao vai tròcủa phụ nữ trong tham chính; Phụ nữ và vấn đề kết hôn với người nướcngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; Một số vấn
đề tệ nạn xã hội như mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em; Hội nhập kinh tế,toàn cầu hóa và vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội
Để phát huy vai trò to lớn của gia đình Việt Nam, các nghiên cứu về gia
đình của Viện sẽ tập trung hơn nữa vào hai nội dung lớn có liên quan mật
thiết với nhau: Một là nghiên cứu quá trình biến đổi của gia đình Việt Nam
từ truyền thống đến hiện đại Hai là nghiên cứu tác động của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế đến các giá trị, chuẩn mựccủa gia đình Việt Nam Một số câu hỏi sẽ được tập trung lý giải, chẳng hạn,gia đình Việt Nam sẽ biến đổi ra sao và có vai trò, vị trí như thế nào trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước? Đâu là những yếu tố hợp
lý của thiết chế gia đình truyền thống cần phải kế thừa và đâu là những yếu
tố tích cực của xã hội hiện đại cần phải tiếp thu trong sự phát triển gia đình.Một số xu hướng mới như sự gia tăng của gia đình hạt nhân, sự xuất hiệnnhiều gia đình chỉ có bố hay mẹ đơn thân nuôi con, v.v sẽ diễn ra như thếnào, những yếu tố nào tác động đến nó và những xu hướng này để lại hệ lụygì đối với sự phát triển gia đình? Làm thế nào để bảo đảm cho gia đình ViệtNam vẫn ổn định và bền vững trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá
và là nhân tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển của xã hội? Cần có những nghiêncứu sâu hơn ảnh hưởng ngược lại của các thay đổi trong thiết chế gia đình
đối với sự phát triển xã hội để thấy rõ hơn mối quan hệ giữa công nghiệphóa và toàn cầu hóa với sự biến đổi thiết chế gia đình
Viện sẽ kết hợp chặt chẽ hơn công tác nghiên cứu lý luận cơ bản và
nghiên cứu thực tiễn về chủ đề giới Thực hiện phân tích giới như nguyên
tắc xuyên suốt, theo cách tiếp cận liên ngành; tiến hành tổng kết lý luận vàthực tiễn trên những vấn đề cơ bản về giới một cách định kỳ, qua đó gópphần thực hiện việc lồng ghép giới vào các kế hoạch phát triển, để đảm bảophát triển kinh tế - xã hội nhanh, công bằng và bền vững; nâng cao năng lựcnghiên cứu và phân tích, cập nhật thông tin, nhằm góp phần đáp ứng kịp thời
Trang 15Nguyễn Hữu Minh 1 5
và đầy đủ hơn các nhu cầu và mục tiêu phát triển của Việt Nam về nâng cao
vị thế phụ nữ và bình đẳng giới trong giai đoạn hội nhập Những vấn đề vềphương pháp luận phân tích bình đẳng giới cũng sẽ được Viện quan tâmhơn Các nghiên cứu sẽ cố gắng vận dụng các phương pháp phân tích hiện
đại để xác định thực chất bất bình đẳng giới, trên cơ sở đó đề xuất nhữngkhuyến nghị về chính sách hiệu quả hơn Chẳng hạn, cho đến nay mô hìnhphân công lao động trong gia đình với người vợ là người làm chính côngviệc nhà đã được khẳng định qua các cuộc nghiên cứu Tuy nhiên, lô gíchxã hội ẩn sau sự phân công đó dường như chưa được các nhà nghiên cứu vềgiới quan tâm Phần lớn các nghiên cứu chưa có những phân tích chi tiết vềviệc trong thời gian người vợ làm việc nhà thì người chồng làm việc gì và
lý do vì sao có sự phân công như vậy, liệu những người vợ người chồng cócảm thấy hài lòng với sự phân công đó không?
Đối với lĩnh vực nghiên cứu trẻ em, Viện sẽ tập trung hơn đến các
nghiên cứu lý luận và một số chủ đề bức xúc đang đặt ra đối với trẻ emnhưng chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng Chẳng hạn, cầnthiết phải có một khuôn khổ lý luận cơ bản về việc thực hiện quyền trẻ emtrên cơ sở những điều kiện đặc thù của Việt Nam Cụ thể là: Mối quan hệgiữa quyền trẻ em và cơ sở kinh tế - xã hội thực hiện quyền đó; giữa quyềncủa trẻ em và trách nhiệm pháp lý của người lớn; giữa quyền và bổn phậncủa trẻ em; giữa tập quán xã hội và hệ thống pháp luật trong việc thực hiệnquyền trẻ em; vai trò của gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội dân sự
đối với việc thực hiện quyền trẻ em, Ngoài ra còn một số vấn đề thực tiễnbức xúc khác như phúc lợi xã hội đối với trẻ em; những vấn đề liên quan
đến lạm dụng hoặc xâm hại tình dục trẻ em,v.v cũng cần được quan tâmnghiên cứu
Việc phân tích đánh giá các chính sách bao gồm nội dung, quá trình
xây dựng và quyết định, cơ chế tổ chức thực hiện, kể cả phân bổ ngân sách,v.v có liên quan trực tiếp đến phụ nữ, gia đình, bình đẳng giới và trẻ em sẽ
được Viện quan tâm hơn, và coi đây là trọng tâm nghiên cứu trong thời giantới Một số vấn đề đặt ra như: Các chính sách có thành tựu ra sao? Việc thihành các chính sách gặp những trở ngại gì và các bài học kinh nghiệm trongviệc giải quyết các trở ngại đó? Trên cơ sở đó sẽ cung cấp những luận cứvững chắc cho việc bổ sung và hoàn thiện các chính sách đối với gia đình,bình đẳng giới, phụ nữ và trẻ em
Trên đây là những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn nóng bỏng đặt ratrong thời kỳ công nghiệp hoá và toàn cầu hoá mà Viện Gia đình và Giới sẽ
đi sâu hơn nữa trong những năm trước mắt.n
Trang 16Phụ nữ Việt Nam và việc tham gia chính trị
Tóm tắt: Bình đẳng giới là cam kết chính trị của nhiều quốc gia
và là một trong những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Việt Nam là một quốc gia có nhiều chính sách về bình đẳng giới và đạt
được những thành tựu đáng kể, trong đó bao gồm cả lĩnh vực tham gia chính trị Dựa vào nguồn tài liệu sẵn có và số liệu của Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TW của Ban bí thư TW
Đảng; số liệu từ Văn phòng Quốc hội, Ban Tổ chức Chính phủ, bài viết đã phân tích một số vấn đề về phụ nữ tham gia chính trị trên hai khía cạnh pháp lý và thực tiễn trong giai đoạn thực hiện chính sách đổi mới ở Việt Nam.
Từ khoá: Phụ nữ; Phụ nữ và chính trị;
Vương Thị Hanh
Trung tâm Hỗ trợ giáo dục và Nâng cao năng lực cho Phụ nữ (CEPEW)
1 Chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới đã được thể hiệnrất rõ trong hàng loạt các văn bản pháp luật Trước hết thể hiện trong Hiếnpháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ năm 1946 và được khẳng
định trong Điều 63, Hiếp pháp sửa đổi, bổ sung năm 1992: “Công dân nam
nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội”.
Tiếp theo đó là hàng loạt các văn bản pháp luật khác như: Nghị quyết04/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng
về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới đã
nêu rõ “Mục tiêu giải phóng phụ nữ hiện nay là thiết thực cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của chị em, nâng cao vị trí xã hội của phụ nữ, thực
Số 3 - 2007
Trang 17Vương Thị Hanh 1 7
hiện tốt nam nữ bình đẳng ” Chỉ thị số 37–CT/TW ngày 16/5/1994 của
Ban bí thư Trung ương Đảng về “Công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”
đã nhấn mạnh: “ Việc nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý Nhà nước,
quản lý kinh tế – xã hội là yêu cầu quan trọng để thực hiện bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa
vị của phụ nữ”.
Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đến năm 2010
đã đề ra mục tiêu tổng quát đó là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất
và tinh thần của phụ nữ Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội”.
Điều đáng lưu ý, việc Chính phủ còn ban hành các Nghị định29/1998/NĐ-CP kèm theo bản quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã ngày11/5/1998 và Nghị định 79/2003/NĐ-CP kèm theo quy chế mới về thực hiệndân chủ ở cấp xã ngày 7/7/2003 đã mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, pháthuy quyền làm chủ của cả nam giới và phụ nữ tham gia vào đời sống chínhtrị của cộng đồng Thực hành dân chủ là yếu tố quan trọng để phụ nữ và namgiới tham gia vào đời sống chính trị của cộng đồng và quốc gia
Gần đây nhất, ngày 29/10/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Bình đẳnggiới, khẳng định quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy bình
đẳng giới với những quy định về bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đờisống gia đình và xã hội Các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệmcủa cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới.Vấn đề bình đẳng giới trong chính trị được nêu rõ tại Điều 11 của Luật Bình
đẳng giới, quy định nam, nữ bình đẳng: 1) trong tham gia quản lý Nhà nước,tham gia hoạt động xã hội; 2) trong tham gia xây dựng hương ước, quy ướccủa cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; 3) trong việc
tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhândân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo của tổchức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội - nghềnghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp; 4) bình đẳng về tiêuchuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản
lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức
Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký Công ước quốc tế về “Xoá bỏ mọi hìnhthức phân biệt đối xử đối với Phụ nữ” (CEDAW) ngày 29/7/1980 và Hội
đồng Nhà nước (nay là Quốc hội) đã phê chuẩn ngày 17/2/1982 Liên quan
đến quyền bình đẳng của phụ nữ tham gia chính trị thể hiện ở Điều 7 củaCEDAW Việt Nam cũng đã rất tích cực thực hiện Cương lĩnh hành động
Trang 18Bắc Kinh về bình đẳng, phát triển và hoà bình (1995) và Mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ Với những phân tích ở trên cho thấy phụ nữ Việt Nam có điềukiện hỗ trợ về mặt pháp lý trong việc tham gia chính trị.
2 Một số nét về tình hình phụ nữ tham gia chính trị ở Việt Nam
Tham gia chính trị không có nghĩa là lãnh đạo, nắm giữ quyền lực màtham gia vào công việc xã hội và cộng đồng với nghĩa rộng như tham giavào quá trình xây dựng, thực hiện, giám sát thực hiện luật pháp, chính sáchcủa Nhà nước và xây dựng cộng đồng, cũng như tham gia bầu cử, ứng cử
và đề cử vào các cơ quan dân cử, vào các tổ chức chính trị - xã hội Thamgia chính trị ở mức độ cao là giữ một vị trí lãnh đạo trong cơ quan Đảng,cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý Nhà nước, trong các tổ chức chính trị
- xã hội
Phụ nữ tham gia vào công việc chung của cộng đồng và quốc gia
ýthức chính trị của người dân nói chung và của phụ nữ nói riêng đượcnâng cao thông qua việc tuyên truyền luật pháp và việc thực hiện quy chếdân chủ cơ sở Tuy nhiên, sự tham gia của phụ nữ trong những sinh hoạtchính trị còn hạn chế Nhiều phụ nữ, đặc biệt phụ nữ nông thôn chưa mạnhdạn trao đổi, tham gia ý kiến vào những công việc chung của cộng đồng, trừnhững việc liên quan trực tiếp đến cuộc sống của gia đình và bản thân.Nhiều chị em kể cả ở thành thị và nông thôn ít quan tâm đến việc tham giaxây dựng và tìm hiểu luật pháp, chính sách Vẫn còn những chị em chưa ýthức được quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong việc bầu cử, ứng cử
và đề cử vào các cơ quan dân cử Trong các cuộc bầu cử có hiện tượng chỉ
có một người đại diện cho gia đình và chủ yếu là nam giới đi bầu cử thaycho các cử tri khác là thành viên của gia đình
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân: Một là, các cấp chính quyền chưaquan tâm đầy đủ đến việc phổ biến, tuyên truyền luật pháp, chính sách chongười dân, cũng như chưa có những biện pháp tích cực tạo điều kiện chongười dân tham gia bàn bạc dân chủ, đóng góp ý kiến vào quá trình xâydựng luật pháp, chính sách của Nhà nước và công việc của cộng đồng.Hai là, phụ nữ là người gặp nhiều khó khăn, cản trở trong việc tham giacông việc cộng đồng và xã hội Họ thường bị cuốn hút phần lớn thời gianvào việc lao động tạo thu nhập và công việc gia đình, do vậy không có điềukiện để quan tâm đến việc chung của xã hội Thêm nữa, không ít phụ nữ vẫnquan niệm việc xã hội là việc của nam giới, nên phụ nữ thường mang tưtưởng an phận, tự ti
Trang 19Vương Thị Hanh 1 9
Sự tham gia lãnh đạo và ra quyết định của phụ nữ
Những thành tựu đạt được về kinh tế - xã hội trong hơn 20 năm đổi mới
và việc thực hiện chính sách bình đẳng giới của Đảng và Nhà nước đã tạocơ hội và điều kiện để phụ nữ tham gia nhiều hơn vào các vị trí lãnh đạo và
ra quyết định Cho đến nay, phụ nữ đã có đại diện ở vị trí lãnh đạo trongnhiều ngành, nhiều cấp Đội ngũ cán bộ nữ đã trưởng thành mọi mặt, gópphần nhất định trong công tác lãnh đạo, quản lý đất nước
Tuy nhiên, sự tham gia của phụ nữ trong lãnh đạo và ra quyết định còn
ở mức khiêm tốn Đội ngũ cán bộ nữ phát triển chậm, thiếu vững chắc Sốliệu cho thấy tỉ lệ phụ nữ trong cấp ủy đảng còn thấp, chưa đạt chỉ tiêu đưa
ra là 15%, trừ cấp cơ sở Tỷ lệ phụ nữ trong Ban chấp hành Trung ương dưới10% và giảm dần trong những năm gần đây Phụ nữ trong Ban chấp hànhTỉnh ủy qua 4 khoá gần đây chỉ tăng 2% Tỷ lệ phụ nữ trong Ban chấp hànhcác quận/huyện và xã/phường qua 3 khoá tăng từ 4-5% nhưng có xu hướngcàng ở cấp cao thì phụ nữ tham gia cấp ủy đảng càng thấp Tỉ lệ phụ nữ giữ
vị trí Bí thư Đảng ủy các cấp địa phương dưới 5% và ủy viên thường vụdưới 7% (Bảng 1)
Phụ nữ tham gia Quốc hội
Số liệu từ Biểu đồ 1 cho thấy, tỉ lệ đại biểu nữ Quốc hội tăng nhanh trong
4 khoá gần đây (9,5%) Trong đó tỷ lệ phụ nữ là Chủ nhiệm ủy ban Quốchội đạt 25% và ủy viên thường vụ đạt 22,2%
Phụ nữ trong Hội đồng nhân dân các cấp
Xem xét tỉ lệ phụ nữ trong Hội đồng nhân dân ở cả ba cấp tỉnh,quận/huyện và cấp xã/phường, cho thấy phụ nữ là đại biểu Hội đồng nhândân tỉnh năm 1989-1994 chỉ có 12,2% đến khoá 1994-1999 đã tăng lên20,4%; 22,3% khoá 1999-2004 và khoá 2004-2009 là 23,8% Nếu so sánh
Bảng 1 Tỷ lệ phụ nữ trong các cấp Đảng ủy (%)
Trang 20với 4 khoá gần đây tỉ lệ đại biểu nữ tăng 11% ở cấp tỉnh và huyện, trên 6%
ở cấp xã/phường (Bảng 2) Tuy nhiên tỉ lệ phụ nữ giữ vị trí chủ chốt, chủ tịchHội đồng nhân dân các cấp chỉ dưới 4%
Số liệu từ Bảng 3 cho thấy, tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan quản lý Nhà nướccác cấp thấp dưới 13% Đội ngũ cán bộ nữ phát triển chậm, thiếu vững chắc.Phụ nữ giữ vị trí chủ chốt trong các cấp chính quyền không đáng kể, trêndưới 5%
Đánh giá chung
Phân tích số liệu và thông tin từ những nghiên cứu và khảo sát về côngtác cán bộ nữ trong những năm gần đây của một số cơ quan Nhà nước, HộiLiên hiệp Phụ nữ và tổ chức phi chính phủ cho thấy tỷ lệ phụ nữ tham gialãnh đạo và ra quyết định trong các ngành, các cấp còn thấp so với sự tănglên về số lượng và chất lượng của lực lượng lao động nữ (chiếm 48% tổng
số lao động cả nước) Cụ thể tỷ lệ này chỉ đạt dưới 25% trong cơ quan dân
cử ở địa phương (trừ Quốc hội 27,3%), dưới 15% trong các cấp ủy đảng vàcơ quan quản lý nhà nước các cấp
Biểu đồ 1 Tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội
từ khoá VIII đến khoá XI (%)
Nguồn: Số liệu của Văn phòng Quốc hội 2000, 2004
Bảng 2 Tỷ lệ phụ nữ là đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (%)
Nguồn: Ban Tổ chức Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) 1997, 2001
Văn phòng Quốc hội, 2005.
Trang 21Vương Thị Hanh 2 1
Sự tham gia lãnh đạo và ra quyết định của phụ nữ không đồng đều trongcác lĩnh vực, thường chỉ tập trung ở lĩnh vực xã hội Hầu hết phụ nữ trongthường vụ Đảng ủy các cấp đều phụ trách công tác dân vận hoặc kiểm tra
Sự tham gia của phụ nữ trong cơ quan dân cử các cấp còn mang tính hìnhthức, tiếng nói của phụ nữ trong tham gia xây dựng chính sách còn hạn chế
Có những phụ nữ được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theocơ cấu thành phần mà không được đào tạo bồi dưỡng, còn thiếu năng lực và
kỹ năng hoạt động, do vậy không đại diện được tiếng nói cử tri trong việcxây dựng luật pháp, chính sách cũng như tham gia quyết định những chủtrương biện pháp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và của
địa phương Những đại biểu nữ này thường tự ti, thiếu mạnh dạn phát biểutrong cuộc họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân, kể cả trong tiếp xúc cử tri.Phụ nữ ít có thực quyền trong bộ máy lãnh đạo và quyền lực Quyềnlực chính trị thường tập trung vào nam giới Trong bộ máy lãnh đạo đảng,chính quyền và trong cơ quan dân cử đa số phụ nữ chỉ ở vị trí lãnh đạo cấpphó, là cấp giúp việc cho thủ trưởng Tỷ lệ phụ nữ giữ vị trí quyết định caonhất trong hệ thống Đảng, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấpchỉ dưới 5%
Bảng 3 Tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan quản lý Nhà nước (%)
Nguồn: Ban Tổ chức Trung ương Đảng, 2004.
Trang 223 Những yếu tố ảnh hưởng
Yếu tố tích cực
Môi trường chính trị thuận lợi Là một trong những yếu tố tích cực thúc
đẩy thực hiện bình đẳng giới nói chung và sự tham gia chính trị của phụ nữtrong phạm vi quốc tế và quốc gia Việc thực hiện bình đẳng giới là xu thếtoàn cầu Công ước quốc tế về quyền phụ nữ (CEDAW) đã trở thành nguyêntắc hành động của 185 quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.Việt Nam có nhiều chính sách tiến bộ thúc đẩy bình đẳng giới như đãtrình bày ở phần trên bao gồm: Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chiến lượcquốc gia và kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của Phụ nữ; Luật Bình đẳnggiới và vấn đề bình đẳng giới cũng được đề cập trong các văn bản pháp luậtkhác như: Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, LuậtGiáo dục, Luật Hình sự,
Việt Nam có một bộ máy hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ với cáchoạt động tích cực, tham mưu cho Đảng và Nhà nước những chính sách bình
đẳng giới và bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ Đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ ViệtNam với hệ thống Hội các cấp; ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữViệt Nam với hệ thống hoạt động trong các bộ ngành và các cấp địa phương
Nhận thức của xã hội về bình đẳng giới được nâng lên cũng là một yếu
tố quan trọng Xã hội và cộng đồng ngày càng nhận thức đúng hơn về bình
đẳng giới và vai trò của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội Hoạt độngxã hội của phụ nữ được sự ủng hộ, hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng Bản thânphụ nữ cũng nhận thức rõ hơn về vai trò, vị trí của mình trong gia đình vàngoài xã hội Nhiều chị em đã khẳng định được vị trí của mình, vượt mọikhó khăn, nỗ lực phấn đấu phát huy tài năng, trí tuệ đóng góp vào sự pháttriển của đất nước
Môi trường kinh tế - xã hội được cải thiện có tác động tích cực đến sự tham gia chính trị của phụ nữ Sự tham gia chính trị của phụ nữ không thể
tách rời những yếu tố kinh tế - xã hội; Những chính sách đẩy mạnh phát triểnkinh tế - xã hội, chiến lược toàn diện về xoá đói, giảm nghèo, những chươngtrình mục tiêu của Quốc gia về việc làm, về chăm sóc sức khoẻ, về giáo dục
và phòng chống tệ nạn xã hội, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinhthần cho người dân và là một yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho phụ nữtham gia công tác xã hội
Những yếu tố tiêu cực
Định kiến giới là một cản trở lớn trong thực hiện bình đẳng giới nói
chung và bình đẳng trong tham gia chính trị của phụ nữ nói riêng Định kiếngiới đã tồn tại trong xã hội hàng nghìn năm và tư tưởng Khổng giáo về địa
Trang 23Vương Thị Hanh 2 3
vị thấp kém của phụ nữ kéo dài tới hàng thế kỷ, đã ăn sâu trong nếp nghĩ vàtâm thức của mọi người trong xã hội và cộng đồng Phụ nữ thường bị đánhgiá thấp về năng lực, về tính quyết đoán, và do vậy thường bị gạt ra khỏi vịtrí lãnh đạo
Gánh nặng gia đình Mặc dù đến nay đã có nhiều tiến bộ trong việc chia
sẻ công việc nhà giữa các thành viên trong gia đình, song trong xã hội vẫncòn tồn tại một quan niệm phổ biến coi việc nhà là trách nhiệm của phụ nữ
Điều đó ảnh hưởng đến cơ hội, điều kiện để phụ nữ nâng cao năng lực, trình
độ, giao tiếp và tham gia công việc xã hội Điều này dẫn đến tính an phậncủa phụ nữ Trong không ít gia đình, đặc biệt ở nông thôn, do điều kiện kinh
tế còn eo hẹp, vì vậy những điều lo toan trước mắt của phụ nữ là chăm locho cuộc sống gia đình và vì thế nhiều chị em ít để tâm đến việc tham giacác hoạt động chung và tham gia lãnh đạo ra quyết định
Thiếu những chính sách hỗ trợ của Nhà nước Ngoài việc đảm bảo đời
sống kinh tế, thời gian, sức khoẻ, sự hiểu biết là điều kiện cần thiết để phụnữ có thể tham gia hoạt động xã hội Song Nhà nước, cụ thể là các cấp chínhquyền thiếu những chính sách hỗ trợ đặc biệt về chăm sóc y tế, chăm sóc trẻnhỏ (nhà trẻ, mẫu giáo), chính sách đào tạo bồi dưỡng và mở rộng dịch vụ
hỗ trợ gia đình, để phụ nữ có điều kiện tham gia công tác xã hội nhiều hơn
Thiếu quyết tâm và cam kết trách nhiệm của thủ trưởng các cấp, các ngành Lãnh đạo các ngành, các cấp thiếu sự chỉ đạo sát sao việc xây dựng
và thực hiện quy hoạch cán bộ nữ như tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, sửdụng đề bạt phụ nữ, chưa mạnh dạn sử dụng, đề bạt cán bộ trẻ
Thiếu quan tâm trong việc thực hiện biện pháp đặc biệt về chỉ tiêu phụnữ tham gia lãnh đạo, ra quyết định, dẫn đến các chỉ tiêu đưa ra không đạthoặc thực hiện chỉ tiêu theo cơ cấu hình thức mà không quan tâm đến chấtlượng cán bộ Thiếu kiểm tra, đôn đốc và định kỳ đánh giá việc thực hiệnchính sách cán bộ nữ, thiếu biện pháp thưởng, phạt cần thiết đối với các
đơn vị, ban ngành trong việc xây dựng và thực hiện chính sách cán bộ nữ
Vai trò tư vấn, giám sát chính sách của Hội Liên hiệp Phụ nữ và ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ còn hạn chế, còn thiếu chiến lược và kế
hoạch cụ thể trong tham mưu xây dựng quy hoạch cán bộ nữ Thiếu chủ
động trong việc giám sát kịp thời và có hiệu quả chính sách cán bộ nữ, đặcbiệt trong các kỳ đại hội, các khoá bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân;chưa liên kết, thu hút được các tổ chức xã hội khác trong các hoạt động thúc
đẩy bình đẳng giới trong chính trị Thiếu biện pháp tích cực trong xây dựngmạng lưới phụ nữ trong chính trị nhằm ảnh hưởng đến chính sách giới nóichung và chính sách cán bộ nữ nói riêng
Trang 24Một số kiến nghị
Cần xây dựng quan điểm đúng trong công tác cán bộ nữ Cán bộ nữ làmột bộ phận tất yếu trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Sựtham gia lãnh đạo của phụ nữ là cần thiết để: Thực hiện quyền bình đẳngcủa phụ nữ trong tham gia quyền lực; Phát huy tài năng, trí tuệ của phụ nữtrong công tác lãnh đạo, quản lý đất nước; Góp phần xây dựng và thực hiệnchính sách, luật pháp đáp ứng lợi ích giới; Sự tham gia chính trị của phụ nữkhông chỉ vì quyền lợi phụ nữ mà còn vì mục tiêu phát triển của quốc gia.Xây dựng đội ngũ cán bộ nữ tăng về số lượng, mạnh về chất lượng và
đồng bộ trong các ngành và lĩnh vực Cần có những biện pháp hỗ trợ đặcbiệt và biện pháp đặc biệt tạm thời trên cơ sở thừa nhận rằng phụ nữ cónhững bất lợi hơn nam giới trong tham gia công tác xã hội, để đảm bảo phụnữ được bình đẳng thực sự trong tham gia vào bộ máy quyền lực.n
Tài liệu tham khảo
Báo cáo 10 năm thực hiện Cương lĩnh hành động Bắc Kinh của Hội Liên hiệp Phụ
Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện Công ước của Liên hiệp quốc
về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với Phụ nữ (CEDAW) 2004.
Ban Tổ chức Trung ương Đảng 2004 Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chỉ thị 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng về công tác cán
bộ nữ trong tình hình mới.
Mạng giới và phát triển cộng đồng (GENCOMNET) 2006 Báo cáo về phụ nữ trong Hội đồng nhân dân
Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu á (ADB), Bộ Phát triển quốc
tế Anh (DFID), Cơ quan Phát triển quốc tế Canada (CIDA) 2006 Đánh giá tình hình giới ở Việt Nam.
Nghị quyết 04/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng về đổi mới và tăng cường vận động phụ nữ trong tình hình mới.
Số liệu của Văn phòng Quốc hội năm 2000, 2004, 2005.
Số liệu của Ban tổ chức Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) năm 1997, 2001.
Trung tâm hỗ trợ giáo dục và nâng cao năng lực cho phụ nữ (CEPEW) 2005 Báo cáo khảo sát về phụ nữ trong Hội đồng nhân dân.
Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ 2005 Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam tới năm 2010
Trang 25Cán bộ nữ và công tác
Tóm tắt: Đảm bảo và phát huy vai trò của phụ nữ (PN) trong
việc tham gia quản lý nói chung và quản lý nhà trường đại học (QLNTĐH) nói riêng là đường lối, chính sách mà Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục đào tạo đã cam kết Đặc biệt trong bối cảnh đổi mới NTĐH và đáp ứng các thách thức ngày càng tăng của quá trình phát triển đất nước, thì việc phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ nữ trong tham gia quản lý, lãnh đạo là rất cần thiết Dựa vào nguồn dữ liệu được tiến hành đối với 3 nhóm
đối tượng là Ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ (VSTBPN), nữ cán bộ quản lý (CBQL) và giảng viên (GV) thuộc một số trường đại học thuộc các khối kỹ thuật-công nghệ, kinh tế-luật, sư phạm, văn hoá, Y, khoa học cơ bản - đa ngành ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, bài viết đã tập trung xem xét tình hình thực hiện chính sách tăng cường tham gia của đội ngũ cán bộ nữ vào hoạt động QLNTĐH; Các đặc điểm về số lượng, chất lượng, vị thế và ảnh hưởng của đội ngũ nữ cán bộ quản lý cũng như các yếu tố tác
động từ cơ chế chính sách, từ cá nhân cán bộ nữ và các định kiến giới đối phụ nữ Trên cơ sở đó góp phần vào việc nhận diện rõ hơn tình hình tham gia lãnh đạo quản lý của nữ cán bộ NTĐH ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Phụ nữ quản lý/lãnh đạo; Phụ nữ ngành giáo dục
Nghiên cứuGia đình và Giới
Số 3 - 2007
Trang 26quản lý và mức độ cam kết của lãnh đạo; kết quả đạt được, những tồn tại vàhạn chế trong triển khai; khó khăn thuận lợi của CBQL nữ; và các giải phápnhằm tăng cường hơn nữa vai trò đội ngũ cán bộ nữ trong tham giaQLNTĐH
Đối tượng nữ CBQL được khảo sát gồm 90 người với các vị trí quản lý
từ cấp bộ môn đến cấp trường, trong đó có 24% ở độ tuổi từ 36-45; 70% từ46-55 tuổi; và 5% trên độ tuổi 55 Trình độ cử nhân chiếm 14%; thạc sĩ là31% và tiến sĩ là 49%; thâm niên quản lý dưới 5 năm là 29%; từ 6-10 năm
là 40%; từ 11-15 năm là 12%; và trên 16 năm là 9% Nội dung phiếu hỏichủ yếu tìm hiểu về nhận thức của nữ CBQL về sự cần thiết có sự tham giaquản lý của PN; động cơ của nữ CBQL đối với việc tham gia quản lý; cáckhó khăn và thuận lợi của cán bộ nữ trong tham gia quản lý; vai trò và vị thếcủa cán bộ nữ trong tham gia QL và các giải pháp tăng cường vai trò cán bộnữ trong tham gia QLNTĐH
Đối tượng khảo sát là giáo viên (GV) gồm 233 người (trong đó 46% lànam và 54% là nữ; trình độ cử nhân là 22%; thạc sĩ là 45% và tiến sĩ là 28%;
Độ tuổi dưới 35 chiếm 30%; từ 36-45 tuổi chiếm 28%; từ 46-55 tuổi là 31%;
và trên 55 tuổi là 8%) Nội dung tìm hiểu bao gồm nhận thức của giáo viên
về sự cần thiết tham gia của PN vào quản lý; thái độ của họ đối với CBQLnữ; đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu và hiệu quả công tác của CBQL nữ;các giải pháp tăng cường vai trò cán bộ nữ trong tham gia quản lý Số phiếucòn lại đối tượng của Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ
Phỏng vấn sâu được tiến hành với hai nhóm đối tượng Nhóm nữ CBQLgồm 9 người, tham gia Ban giám hiệu, Chủ nhiệm khoa, và Phụ trách bộmôn Nội dung phỏng vấn nhằm tìm hiểu những khó khăn thách thức màCBQL nữ gặp phải trong tham gia quản lý; cách thức họ cân bằng tráchnhiệm với gia đình và với công việc; và những giải pháp giúp họ tham giaquản lý hiệu quả Nhóm đại diện Ban VSTBPN gồm 7 người thuộc batrường gồm Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Cao đẳng Sư phạmMẫu giáo Trung ương 3, và Trường cán bộ quản lý Giáo dục thành phố HồChí Minh nhằm tìm hiểu khó khăn, thuận lợi, cũng như những giải pháp đểBan VSTBPN hoạt động hiệu quả hơn Nghiên cứu điển hình được tiếnhành với ba nữ CBQL nhằm tìm hiểu những tâm sự, trải nghiệm và cách thức
mà họ khắc phục những khó khăn trong quá trình tham gia quản lý
2 Kết quả nghiên cứu
Thực hiện chính sách tăng cường sự tham gia của đội ngũ cán bộ nữ vào hoạt động QLNTĐH
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tăng cường tham gia của đội ngũ cán
bộ nữ vào hoạt động quản lý NTĐH đã đạt những kết quả đáng kể Đó là
Trang 272 7
nhận thức tích cực về sự cần thiết của cơ hội bình đẳng trong công tác quản
lý Số liệu cho thấy có tới 90% nữ CBQL và 88% GV nhận thức rằng namgiới và PN cần có cơ hội bình đẳng trong việc được đề bạt vào các vị trí quản
lý trong NTĐH
Có tới 82% nữ CBQL và 54% GV khẳng định rằng PN thực sự đủ nănglực phẩm chất quản lý Đây được coi là lý do quan trọng nhất Lý do quantrọng thứ hai là cần có sự bình đẳng đối với PN trong mọi mặt, kể cả tronglĩnh vực tham gia quản lý với tỷ lệ ý kiến đồng ý là 40% đối với CBQL và49% GV
Các cơ hội bình đẳng đối với cán bộ nữ còn được thể hiện trên các mặtnhư cơ hội về đào tạo bồi dưỡng, được đề bạt vào các vị trí quản lý và cơhội đảm nhận các công việc trọng trách Cụ thể về cơ hội đào tạo bồi dưỡng,
có tới 81% nữ CBQL và 78% GV được khảo sát cho rằng nữ được bình đẳngvới nam đồng nghiệp Về cơ hội được đề bạt vào các vị trí quản lý, có 78%nữ CBQL và 50% GV cho biết PN có ít cơ hội hơn nam đồng nghiệp Có56% nữ CBQL và 43% GV cho rằng cán bộ nữ ít cơ hội đảm nhận các côngviệc trọng trách hơn nam giới
Các kết quả phân tích cho thấy, mặc dù việc triển khai các chủ trương
và biện pháp đã góp phần mở ra nhiều cơ hội cho cán bộ nữ, song mức độbình đẳng lại không như nhau trong việc tham gia vào các hoạt động khácnhau Cụ thể, cơ hội tham gia quản lý của cán bộ nữ không được bình đẳngnhư với nam đồng nghiệp, thậm chí khi đã tham gia quản lý rồi thì cơ hội
đảm nhận các trọng trách đối với họ cũng ít hơn Họ có thể được khuyếnkhích, được đào tạo-bồi dưỡng nâng cao trình độ nhưng khi đã đạt trình
độ cần thiết thì có cơ hội được đề bạt vào vị trí quản lý hay không? và khi
đã làm quản lý thì liệu có cơ may được đảm nhận các trọng trách không,
điều này chưa hẳn đã được bình đẳng với nam đồng nghiệp Theo số liệu
về khảo sát đào tạo và tài chính (2003: 48) trong khu vực đại học, tỷ lệ nữnhân viên là 54,9%, nữ GV chiếm 40,1% và nữ CBQL chiếm 21,9% trongtổng số CBQL Tỷ lệ này chưa tương xứng với tiềm năng đội ngũ cán bộnữ, bởi đây là lực lượng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, chiếnlược phát triển và nâng cao hiệu quả phát triển giáo dục Tuy nhiên sốlượng nữ tham gia quản lý nhà trường còn rất khiêm tốn, đặc biệt là khốitrung học phổ thông, đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp (ĐặngHuỳnh Mai, 2004:19, 20)
Đặc điểm của đội ngũ nữ cán bộ quản lý
Hiệu quả tham gia của đội ngũ nữ CBQL phụ thuộc nhiều vào số lượng
và chất lượng của đội ngũ nữ cán bộ Điều này được hiểu theo nghĩa vị thế
Trần Thị Bạch Mai
Trang 28tham gia, ảnh hưởng hay tác động trong quá trình ra quyết định, cũng nhưchất lượng của bản thân cán bộ nữ về trình độ, tuổi tác và cơ cấu tham gia.
Số lượng tham gia quản lý
Kết quả cho thấy tỷ lệ nữ CBQL chiếm 21,7% tổng số CBQL trong Bangiám hiệu, Chủ nhiệm khoa Phân tích số liệu này theo khối trường, có thểthấy tỷ lệ nữ CBQL tất cả các khối trường đều thấp tuyệt đối so với nam, kểcả các khối được coi truyền thống đối với nữ Khoảng cách giới về số lượngtham gia quản lý giữa các khối trường là khác nhau: Tỷ lệ nữ tham gia quản
lý thấp nhất ở khối kỹ thuật-công nghệ (7,6%), tiếp đó là khối ngư (9,4%), khối sư phạm (11%), khối y dược, thể dục-thể thao (18%), khốivăn hoá nghệ thuật (20%), và cao nhất ở khối kinh tế-luật (22%) Trong số
nông-lâm-53 trường đại học công lập, có 10 trường không có nữ cán bộ tham gia Bangiám hiệu và Chủ nhiệm khoa, mặc dù tỷ lệ nữ cán bộ ở các trường này đềuchiếm 30% trở lên
Tỷ lệ nữ tham gia quản lý không chỉ thấp so với nam, mà còn thấp so với
tỷ lệ nữ cán bộ trong NTĐH Mặc dù tỷ lệ nữ cán bộ trong khối sư phạm,nông-lâm-ngư là khá cao, chiếm 45,9% và 44% tổng số cán bộ, song tỷ lệnữ quản lý chỉ chiếm 11% và 9,4% tương ứng trong tổng số CBQL trong Bangiám hiệu, Chủ nhiệm khoa Khoảng cách này rõ ràng sẽ ảnh hưởng đếntiếng nói của PN trong quá trình ra quyết định
Tuy nhiên, số lượng hay tỷ lệ tham gia mới chỉ là một mặt của vấn đề.Một mặt khác quan trọng hơn là tham gia với tư cách gì, tham gia ở vị trí nào
và với vị thế ra sao? Nói cách khác thì đó là chất lượng của sự tham gia Cóhay không khoảng cách giới trong chất lượng tham gia quản lý?
Chất lượng tham gia quản lý
Chất lượng tham gia QL thể hiện sự khác biệt về vị thế và ảnh hưởng củanam và nữ trong quá trình ra quyết định Chất lượng tham gia của nữ CBQLphụ thuộc vào một số yếu tố như năng lực, phẩm chất, động cơ, tuổi tác và
vị thế, cơ hội để họ có thể thể hiện được năng lực và phẩm chất của mìnhvới tư cách người CBQL, LĐ
Về phân bố vị trí tham gia quản lý Số liệu khảo sát 14 trường đại học
thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy cán bộ nữ chủ yếu tham gia ở cấpthấp, ít ở vị trí ra quyết định cuối cùng Họ thường được phân công vào các
vị trí đoàn thể, phục vụ - những gì được coi là “hợp với nữ tính”, song lại ítquan trọng và ít có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định ởtất cả các cấpquản lý, tỷ lệ nữ tham gia quản lý đều thấp hơn rất nhiều so với nam Trong
số CBQL nữ tham gia quản lý chuyên môn, phần nhiều tập trung ở cấp bộmôn, một số ít ở cấp khoa, ở cấp trường cũng có tuy không đáng kể Cànglên cao, tỷ lệ nữ CBQL càng thấp
Trang 292 9
Tỷ lệ nữ CBQL cấp ra quyết định - cấp trưởng thấp hơn nhiều so với tỷ
lệ ở cấp phó Nữ hiệu trưởng, trưởng khoa, trưởng bộ môn chiếm tỷ lệ 7%,15% và 28% so với cấp phó tương ứng là 10%, 30% và 37% Tỷ lệ nữ quản
lý chuyên môn (23%) thấp hơn khá nhiều so với số tham gia quản lý về côngtác đoàn thể xã hội (33%)
Về trình độ Đại đa số nữ quản lý có trình độ sau đại học, trừ 19% nữ quản
lý cấp bộ môn và 4% cấp khoa có trình độ cử nhân Số nữ quản lý trình độtiến sĩ đối với cấp khoa và bộ môn đều có tỷ lệ là 39% - thấp hơn đáng kể sovới tỷ lệ tương ứng ở nam là 64% và 48% Như vậy, dù đại đa số nữ CBQL
đều có trình độ thạc sĩ trở lên, song tỷ lệ nữ có trình độ tiến sĩ tham gia quản
lý ở cấp khoa và bộ môn vẫn thấp hơn đáng kể so với nam đồng nghiệp
Về độ tuổi Độ tuổi trung bình đội ngũ quản lý nữ khá cao Cụ thể ở cấp
bộ môn là 45 tuổi Đại đa số nữ tham gia quản lý ở độ tuổi ngoài 40, phầnlớn tập trung ở độ tuổi 41-50 (58%) Tỷ lệ tham gia quản lý ở độ tuổi 31-40rất thấp, chỉ chiếm 16%, dưới 30 là rất hãn hữu Rõ ràng ở đây đặt ra vấn đề
về việc qui hoạch và tạo nguồn đội ngũ cán bộ nữ So sánh nam và nữ quản
lý có thể thấy cùng một độ tuổi nhưng nam giới có vẻ tiến nhanh lên các vịtrí quản lý cao hơn so với nữ đồng nghiệp ở độ tuổi 41-50, nữ quản lý chủyếu tập trung ở cấp bộ môn và cấp khoa, thì nam giới độ tuổi này khôngnhững tham gia với tỷ lệ cao hơn nhiều ở cùng cấp quản lý mà có một tỷ lệ
đáng kể đã tham gia ở cấp trường
Vị thế và ảnh hưởng của nữ CBQL trong quá trình ra quyết định Kết quả
cho thấy có tới 45% số nữ CBQL cho rằng họ có vị thế thực sự quan trọng
Có 59% nữ quản lý cho rằng tiếng nói của họ ảnh hưởng nhất định đến việc
ra quyết định, 39% cho rằng ý kiến của họ được cân nhắc, số cho rằng họ
có tiếng nói hay có ảnh hưởng thực sự trong quá trình ra quyết định chỉchiếm 24%
Theo kết quả khảo sát, nguyên nhân hạn chế vị thế và ảnh hưởng của nữCBQL là do số lượng nữ tham gia quản lý còn quá ít (70% ý kiến) vì vậytiếng nói của họ chưa đủ mạnh để có thể có ảnh hưởng thực sự đến việc raquyết định Về vị trí trong cơ cấu lãnh đạo, có 50% ý kiến cho rằng do nữquản lý chủ yếu ở vị trí cấp phó - cấp giúp việc cho cấp trưởng, cho nên vaitrò ra quyết định hạn chế 49% ý kiến cho rằng nữ chủ yếu tham gia ở chức
vụ thấp, quản lý đoàn thể hoặc ở đơn vị phục vụ mà ít có mặt trong hội đồngquan trọng, do vậy mà nữ quản lý dù là có tiếng nói nhưng lại ít có ảnhhưởng Nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế này chủ yếu do số lượng nữ thamgia quản lý còn ít nên chưa tạo được tiếng nói có ảnh hưởng
Tóm lại, đã có một số tiến bộ đáng kể trong vấn đề tăng cường sự thamgia của đội ngũ cán bộ nữ vào quản lý NTĐH Đó là nhận thức tích cực về
Trần Thị Bạch Mai
Trang 30sự cần thiết có sự tham gia của đội ngũ cán bộ nữ vào quản lý Nhận thứcnày thể hiện ở chỗ cho rằng đội ngũ cán bộ nữ có đủ năng lực và phẩm chất
để đảm đương các vị trí quản lý, cũng như sự cần thiết phải đảm bảo bình
đẳng về mọi mặt với PN, kể cả trong tham gia quản lý trong môi trườngNTĐH Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều cơ hội cho đội ngũ cán bộ nữ thamgia vào các mặt hoạt động của NTĐH, trong đó đáng kể nhất là cơ hội được
đào tạo-bồi dưỡng Tuy nhiên kết quả khảo sát cũng cho thấy rằng các cơhội khác như được đề bạt vào các vị trí quản lý và được phân công đảm nhậncác vị trí quan trọng đối với cán bộ nữ vẫn còn hạn chế nhiều hơn so với nam
đồng nghiệp Cuối cùng là sự hình thành đội ngũ CBQL nữ từ cấp bộ môn
đến cấp trường, nhưng đội ngũ này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện
áp dụng vào thực tiễn Hơn nữa, chưa có các điều khoản chế tài cụ thể dovậy việc thực hiện có phần hạn chế Kết quả khảo sát cho thấy các trường
đều đề ra chủ trương tăng cường cán bộ nữ tham gia quản lý Có 85% ý kiếncho biết chủ trương này có trong kế hoạch của công đoàn; 69% cho là cómột phần trong kế hoạch của nhà trường và 60% ý kiến cho biết có trong kếhoạch của Ban VSTBPN Nhận định về tính hiệu quả của các chủ trương nàycho thấy ý kiến cho rằng các chủ trương chủ yếu mang tính “phong trào”.Thiếu nhạy cảm giới trong một số tiêu chí và chuẩn mực đề bạt Đây là
ý kiến của 33% GV và 38% nữ QL Trên thực tế việc qui hoạch đội ngũ nữCBQL cũng gặp khó khăn ở nhiều trường, bởi theo các tiêu chuẩn chunghiện nay thì PN khi đạt tiêu chuẩn chuyên môn thì quá tuổi, ngược lại khi
đủ yêu cầu về tuổi thì thiếu tiêu chuẩn chuyên môn
Thiếu cam kết của một bộ phận lãnh đạo, cán bộ chủ chốt Có 15% ýkiến cho rằng lãnh đạo nhà trường có cam kết về công tác nữ, 31% cho rằnglãnh đạo có chủ động đề xuất biện pháp tăng cường nguồn cán bộ nữ Đồngthời cũng có 15% ý kiến cho rằng lãnh đạo nhà trường ít quan tâm, 15% ýkiến khác cho rằng lãnh đạo coi đó không phải là việc của chính quyền 85%
ý kiến cho rằng lãnh đạo nhà trường coi đây là chủ trương cần thực hiện.Ngoài các lý do như lãnh đạo bận nhiều công việc quan trọng và cấp bách,thiếu thời gian và nguồn lực, thì định kiến giới của một bộ phận lãnh đạo
được xem là một trong những lý do quan trọng Trên thực tế, hiện nay một
Trang 313 1
số trường mới chỉ tổ chức quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước vềtăng cường công tác nữ Điều này có tác động nhất định đến việc địnhhướng, song để xoá bỏ định kiến giới, tạo sự cam kết với việc biến các chủtrương trên thành hiện thực, thì như vậy vẫn là chưa đủ
Thiếu sự phối hợp đồng bộ các biện pháp Có 92% ý kiến cho rằng biệnpháp chủ yếu vẫn là khuyến khích đào tạo - bồi dưỡng nâng cao trình độ và46% ý kiến cho rằng có tạo điều kiện làm việc – song điều đó không đồngnghĩa với tăng cường tham gia vào quản lý Tuyên dương khen thưởng làbiện pháp “bù đắp” thường được thực hiện (46% ý kiến), song nó chưa đápứng được nhu cầu chiến lược là cải thiện vị trí cán bộ nữ trong tham gia quản
lý Có 23% ý kiến cho rằng việc triển khai thực sự để tăng tỷ lệ nữ quản lýcòn hạn chế
Vai trò của Ban VSTBPN còn mờ nhạt Cụ thể về cơ cấu Ban này baogồm một số thành viên, song đều là kiêm nhiệm Vì vậy thời gian và sức lực
đầu tư cho việc nghiên cứu, thảo luận và tư vấn cho lãnh đạo nhà trường racác quyết định về qui hoạch, phát triển đội ngũ CBQL nữ còn rất hạn chế.Mỗi năm Ban VSTBPN của trường họp khoảng 2,5 lần và vấn đề tăng cườngCBQL nữ chưa phải là chủ đề thường xuyên được thảo luận Kết quả chothấy có 8% số ý kiến cho là vấn đề này không bao giờ thảo luận, 46% số ýkiến cho là thỉnh thoảng được thảo luận trong các cuộc họp đó Là một bộphận được thành lập với chức năng tham mưu tư vấn cho lãnh đạo, BanVSTBPN chỉ có thể hoạt động hiệu quả một khi chức năng, quyền hạn,nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức cũng như cơ chế phối hợp với các bộ phận khác
được quy định rõ ràng Kết quả khảo sát cho thấy có 54% số ý kiến cho rằngchức năng, nhiệm vụ và phương hướng hoạt động Ban VSTBPN chưa rõràng, nhiều khi còn chồng chéo với công tác nữ công, công đoàn hay củaPhòng tổ chức cán bộ Có 69% ý kiến cho rằng Ban VSTBPN còn thiếu cácnguồn lực cần thiết đảm bảo hoạt động như nhân viên chuyên trách, cơ chế
và phương thức hoạt động; 38% ý kiến cho là thiếu kinh phí; 46% ý kiếncho rằng hoạt động của BVSTBPN còn mang tính hình thức Ngoài ra, việctăng cường nữ CBQL là một vấn đề mang tính khoa học thực sự, chứ khôngchỉ mang tính phong trào Để có thể đưa ra những ý kiến tư vấn xác đáng
về việc tăng cường đội ngũ CBQL nữ, không những cần kỹ năng phân tíchtình hình, đề ra giải pháp mà còn cần kiến thức về giới, kỹ năng lồng ghépgiới Kết quả cũng cho thấy có tới 46% ý kiến cho biết thành viên Ban VST-BPN còn thiếu kỹ năng về vấn đề này
Tóm lại trong 10 năm qua, nhờ những chính sách và biện pháp nhất định,các trường đại học đã đạt một số kết quả trong việc tăng cường đội ngũCBQL nữ Tuy nhiên, các biện pháp trong vấn đề này còn thiếu đồng bộ,chắp vá Một trong các nguyên nhân là do một bộ phận lãnh đạo vẫn chưa
Trần Thị Bạch Mai
Trang 32nhận thức được đầy đủ tiềm năng và sự cần thiết của việc tăng cường CBQLnữ, vẫn coi đó như một chủ trương từ trên xuống cần thực hiện thay vì gắncông việc đó với mục tiêu và kế hoạch phát triển chiến lược của NTĐH.Ngoài lý do hạn chế về nhận thức, và thiếu sự cam kết của một bộ phận lãnh
đạo hoặc thiếu sự mềm dẻo trong một số chính sách đối với cán bộ nữ, thiếu
bộ phận chủ thể chuyên trách, là những nguyên nhân chính hạn chế việctriển khai các chủ trươ ng chính sách Nhà nước và ngành đề ra Ngoài ranhững thiếu sót trong việc đánh giá giám sát như đề ra sự giám sát songkhông nêu cụ thể quy trình giám sát cần thực hiện thế nào, trên cơ sở nào vàcác kết luận hay khuyến nghị sẽ được dùng vào việc gì Chính vì vậy côngtác này còn nặng về tính hình thức và đối phó
Các yếu tố từ cá nhân cán bộ nữ
Phẩm chất, năng lực của nữ CBQL được đánh giá khá khả quan NữCBQL được coi không thua kém nam trong xử lý công việc và mạnh hơnnam trong nắm bắt nhu cầu của nhân viên, song kém nam CBQL về khảnăng đương đầu với thách thức, rủi ro
Về động cơ, thái độ Kết quả cho thấy có 86% nữ CBQL cho rằng họ làmquản lý là do sự phân công tổ chức; số ý kiến cho là do bản thân có năng lựcchỉ chiếm có một nửa tỷ lệ trên (43%); 26% muốn thể hiện khả năng làmviệc trên cương vị quản lý Một tỷ lệ không đáng kể (13%) cho rằng độngcơ làm quản lý của họ là muốn vượt lên phía trước; và 14% muốn gánh váctrách nhiệm ngày càng tăng Có 15% cho rằng quản lý là công việc thú vịvới nhiều thách thức Động cơ mong muốn tham gia quản lý từ phía nữ cóthể nói là chưa rõ nét Khi đã ở cương vị quản lý thì động cơ của họ cũngkhông tăng lên: chỉ có 5% nữ quản lý khẳng định có ý định tiến lên vị trícao hơn Ngược lại 16% khẳng định họ “nhất định sẽ không”, và 34% chorằng “có lẽ là không” phấn đấu đảm nhận vị trí quản lý cao hơn Số ý kiếnkhông có ý định phấn đấu lên vị trí cao hơn chiếm 50%, số ý kiến còn phânvân chiếm 26% Nguyên nhân quan trọng nhất, theo 73% nữ CBQL và 59%
GV là do PN ít có tham vọng làm quản lý
Yếu tố gia đình
Có 45% số CBQL nữ được khảo sát cho rằng họ từng phải từ chối cơ hộithăng tiến Họ đã phải cân nhắc, đấu tranh tư tưởng xem liệu có nên thamgia quản lý hay không Có 43% cho rằng sự nghiệp đã khiến họ phải thoảhiệp, thậm chí từ bỏ một số mục tiêu khác trong cuộc sống Một trong cácvấn đề nữ quản lý gặp phải là gánh nặng của vai trò kép Muốn khắc phụcmâu thuẫn, hoàn thành trọn vẹn cả việc gia đình và sự nghiệp, nữ CBQL phảigắng sức làm việc gấp hai ba lần để vừa không thua kém nam đồng nghiệp,trong khi vẫn phải hoàn thành tốt việc gia đình (36% ý kiến nữ CBQL).Trung bình nữ CBQL phải dành 9,2 giờ ở cơ quan, 4,5 giờ để làm công việc
Trang 333 3
nhà áp lực lớn nhất với họ là sức ép về thời gian (54% ý kiến), và do mâuthuẫn giữa vai trò và trách nhiệm phải cân bằng giữa gia đình và công việc(55% ý kiến)
áp lực từ cuộc sống gia đình có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến sựphấn đấu của cán bộ nữ trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đời, cũngnhư trong sự tiến triển sự nghiệp của cán bộ nữ (Biểu đồ 1) áp lực lớn nhấttập trung vào giai đoạn 25-35 tuổi, bởi đây là thời điểm mở đầu sự nghiệp,
đòi hỏi họ cần có sức bật mạnh mẽ trong chuyên môn và tham gia các hoạt
động khác của nhà trường Tuy nhiên khác với nam giới, sau khi kết hôn,ngay ở giai đoạn này nhiều nữ cán bộ đã đứng trước khó khăn trong việc cânbằng giữa gia đình và công việc Song kể cả với những ai tâm huyết với sựnghiệp, thì mốc xuất phát có thể đã bị chậm hơn so với nam giới một nhịp,chưa kể do nhiều lý do khác nhau như bất đồng ý kiến trong gia đình, điềukiện sức khoẻ, kinh tế, khiến con đường phấn đấu của nhiều PN bị gián
đoạn áp lực này chỉ giảm đi phần nào trong giai đoạn 35-45 tuổi, khi cuộcsống gia đình đi vào ổn định và khi đó PN mới có cơ hội hơn để phát huy
sự tham gia của mình Song tiêu chí đề bạt và quy định về tuổi hưu còn thiếumềm dẻo, không tính đến khó khăn PN gặp phải, dẫn đến hạn chế về độngcơ và cơ hội tham gia quản lý của PN
Qua các phân tích trên có thể đi đến kết luận rằng cản trở chính đối vớicán bộ nữ trong tham gia quản lý không phải do vấn đề năng lực Nữ CBQL
được đánh giá và tự đánh giá là có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết đề cóthể đảm đương các vị trí quản lý
Động cơ tham gia quản lý là một vấn đề đối với cán bộ nữ Do ảnh hưởngcủa các quan niệm truyền thống về vai trò giới tính, do thực tế là gánh nặngcủa trách nhiệm chăm sóc gia đình vẫn chủ yếu nằm trên vai PN, cho nênnhiều cán bộ nữ vẫn chưa hào hứng với công tác quản lý Cán bộ nữ thườngkhông đặt sự nghiệp là mối quan tâm số một nếu phải hy sinh mối quan tâm
và trách nhiệm khác Những lý do này vừa thực tế đối với cán bộ nữ, lại vừa
Trần Thị Bạch Mai
Biểu đồ 1 Mức độ áp lực cuộc sống gia đình đối với nữ CBQL theo nhóm tuổi (%)
Trang 34là cách mà họ bị nhìn nhận để cho rằng phụ nữ bị coi là không phù hợp vớicông tác quản lý Vấn đề đặt ra ở đây là tìm các phương thức khuyến khích,tạo động cơ của PN, giúp họ tự tin hơn và có nhận thức đúng đắn hơn về vaitrò của mình trong tham gia quản lý, về những lợi thế về phong cách quản
lý mà PN có thể đem lại Điều này cũng cho thấy cản trở lớn nhất cũngchính là từ phía bản thân PN là yếu tố liên quan đến gia đình, trong đó làcản trở về tâm lý khiến PN phải đấu tranh, lựa chọn giữa sự nghiệp với gia
đình và các mục đích khác trong cuộc sống; là những áp lực thực tế trongviệc cân bằng công việc và gia đình Các chính sách nếu như không tính đếncác khó khăn trong việc cân bằng vai trò kép của PN, cũng như không bámsát với các điều kiện đặc thù của họ trong từng thời kỳ, vô hình chung sẽ hạnchế cơ hội cũng như động cơ phấn đấu của họ trong tham gia quản lý
Định kiến giới đối với cán bộ nữ tham gia quản lý
Đánh giá chưa đúng mức các khó khăn của nữ cán bộ do coi trách nhiệmgia đình là việc do mỗi cá nhân sắp xếp Do vai trò của người PN với gia
đình được coi là tự nhiên, là thiên chức, nên sức lực, thời gian dành cho gia
đình cùng với những khó khăn của họ thường không được xã hội đánh giá
đúng và thừa nhận Vai trò quản lý “được coi” thuộc nam giới, nam giới mới
đủ năng lực quản lý PN dù tham gia quản lý cũng không thể đóng vai tròquyết định, bởi họ được coi “chưa phù hợp” Yếu tố này ảnh hưởng đến sự
tự tin, động cơ phấn đấu của cán bộ nữ Định kiến giới còn thể hiện trongquan niệm về vị trí phù hợp với nữ CBQL (Biểu đồ 2) 47% ý kiến được hỏicho rằng PN chỉ có thể phát huy tốt nhất ở vị trí quản lý trong các tổ chứcnhư Đảng, công đoàn; 46% cho rằng ở phù hợp ở bộ phận phục vụ, phòngban chức năng như thư viện, hành chính Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với33% ý kiến cho rằng PN có thể phát huy ở cương vị quản lý chuyên môn
Về cấp bậc quản lý, tỷ lệ cho rằng PN có thể phát huy tốt ở vị trí cấp trưởng
là cấp ra quyết định chỉ chiếm 11%, có tới 33% cho là phù hợp với cương
vị cấp phó Tươ ng tự, chỉ có 13% ý kiến cho rằng PN có thể phát huy tốt ởcấp trường (trong Ban giám hiệu); tỷ lệ ở cấp khoa là 23%; và ở cấp bộ môn
Biểu đồ 2 ý kiến GV về vị trí được cho là phát huy tốt nhất của nữ CBQL (%)
Trang 35là người năng lực và quyết đoán; 39% nữ CBQL cảm thấy khó khăn vìkhông biết làm quản lý nữ thì phải thế nào
Kết quả cũng cho thấy thái độ phân biệt đối xử được biểu hiện dưới nhiềuhình thức, rõ nhất là có tới 45% ý kiến cho rằng nữ được tham gia quản lýnhưng chủ yếu ở vị trí phó; 39% ý kiến của nữ CBQL cho rằng họ bị nhìnnhận, đánh giá khắt khe hơn so với nam đồng nghiệp bởi họ bị để ý và bị
đánh giá qua phong cách ăn mặc, lời nói; 26% số ý kiến cho rằng có thái độ
đánh giá thiếu công bằng về những nỗ lực và kết quả mà nữ CBQL đạt được,cũng như thái độ khắt khe hơn khi nữ CBQL có phong cách hay hành vicứng nhắc, chỉ huy mệnh lệnh - những điều mà đối với nam quản lý có thể
dễ được bỏ qua hơn
Có 36% số nữ CBQL cho rằng họ cảm nhận được thái độ của cấp dướikhông thích làm việc dưới quyền của lãnh đạo nữ; 19% cho rằng nhân viên
có thái độ “khẩu phục nhưng tâm không phục” mặc dù nữ quản lý có đủnăng lực phẩm chất quản lý Thêm nữa, nữ cán bộ quản lý còn gặp khó khăntrong tiếp cận và mở rộng mạng lưới quan hệ hỗ trợ: 35% ý kiến nữ quản lýcho rằng họ cảm thấy thiếu mạng lưới đồng nghiệp để chia sẻ khó khăn, họchỏi kinh nghiệm; 31% ý kiến cho rằng đặc thù của PN là ít điều kiện tiếpcận về mạng lưới quan hệ phi chính thức, cũng như về các thông tin về cơhội quan trọng và ‘đường đi nước bước’ cần thiết của sự đề bạt
Những phân tích trên đây phần nào cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến
sự tham gia của đội ngũ cán bộ nữ vào hoạt động quản lý NTĐH không chỉliên quan đến bản thân người PN mà còn liên quan đến chính sách, cơ chếquản lý và định kiến giới Kết quả nghiên cứu trên đây sẽ là cơ sở thực tiễn
để góp phần đề xuất các giải pháp tăng cường sự tham gia của đội ngũ cán
bộ nữ vào hoạt động quản lý NTĐH.n
Tài liệu tham khảo
Bộ Giáo dục và Đào tạo 2003 Báo cáo tham luận Hội nghị tổng kết Chỉ thị CT/TƯ, 14/10/2003.
37-Dự án Giáo dục đại học Kết quả khảo sát đào tạo và tài chính các trường đại học
Trang 36Đời sống và sức khỏe sinh sản
c ư dân vạn đò
Tóm tắt: Bài viết dựa trên những kết quả nghiên cứu có sự
tham gia của người dân tại 6 xã thuộc hai huyện Vân Đồn (Quảng Ninh) và Phú Vang (Thừa Thiên - Huế), là địa bàn triển
khai dự án “Nâng cao hiểu biết về cư dân vạn đò và những dịch
vụ cơ bản cho cư dân vạn đò” Đây là dự án đầu tiên ở Việt Nam
giành được giải thưởng của Ngân hàng Thế giới trong cuộc thi
toàn cầu với chủ đề “Những ý tưởng mới trong phát triển chống
đói nghèo” do Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi
trường trong Phát triển (CGFED) thực hiện năm 2002 - 2003 Bài viết phân tích tình trạng sức khỏe sinh sản đáng lo ngại của nhóm cư dân đặc thù này Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế về chất lượng nhân lực y tế cũng như cơ sở vật chất và phương tiện khám chữa bệnh của các cơ sở y tế và đề xuất phải có những thay đổi không chỉ trên phương diện vật chất mà cả về mặt nhận thức Những giải pháp đưa ra là nhằm mục đích đưa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản đến với nhóm dân cư vạn đò một cách hiệu quả hơn.
Từ khóa: Sức khỏe sinh sản; Chăm sóc sức khỏe; Dịch vụ y tế;
Cư dân vạn đò
Hoàng Bá Thịnh
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
1 Phương pháp và địa bàn nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Tại mỗi huyện, có 3 xã được chọn để khảo sát, đó là các xã đảo: ThắngLợi, Ngọc Vừng và Quan Lạn (huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) - các xãthuộc cộng đồng ven biển; các xã đầm phá: Phú Xuân, Phú An và thị trấnThuận An (huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên- Huế) - các xã thuộc cộng
Số 3 - 2007
Trang 37Hoàng Bá Thịnh 3 7
đồng thuộc đầm phá Tam Giang
Tại các điểm nghiên cứu, đã có 442 lượt người với những khác biệt vềlứa tuổi , nhóm xã hội, nghề nghiệp, mức sống và giới tính tham gia vào
15 cuộc thảo luận nhóm và 214 phỏng vấn bán cấu trúc của nghiên cứu này.
Địa bàn nghiên cứu
Có đôi nét khác biệt giữa hai cộng đồng vạn đò sinh sống trên đầm pháTam Giang (huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế) thuộc miền Trung vàsinh sống trên vùng biển (huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh) thuộc miền Bắc
Về phạm vi đánh bắt cá, nếu như cư dân vạn đò thuộc các xã ở Phú Vangchỉ giới hạn không gian đánh bắt trong khu vực đầm phá mà không ra biểnthì cư dân vạn đò ở các xã đảo Vân Đồn lại có phạm vi hoạt động rộng hơn,tuỳ theo khả năng kinh tế của các hộ vạn đò có phương tiện đánh bắt mà có
thể đánh bắt ở ngoài khơi (xa bờ), lộng (tầm vừa) hoặc đánh bắt ở ven bờ.
Phương tiện tàu thuyền giữa hai huyện cũng có sự khác biệt, ở các xã đảomột số hộ ngư dân có tàu to với công suất máy lớn, có thể ra khơi đánh bắtdài ngày, một số hộ có tàu nhỏ hơn đánh bắt ở tầm vừa và một số đánh bắtven bờ Các xã ven đầm phá Tam Giang của huyện Phú Vang chủ yếu đánhbắt trong phạm vi của đầm phá, ít có tàu thuyền ra khơi
Đặc điểm dân số của cả 6 xã nghiên cứu là có số dân không lớn Có sựkhác biệt về mật độ cư dân giữa hai vùng: các xã đảo thì đất rộng người thưacòn các xã vùng đồng bằng thì người đông đất chật Mức tăng dân số tựnhiên của các xã được khảo sát trung bình 1,6%-1,7% (riêng xã Ngọc Vừng
tỷ lệ đó là 2,6%), không cao hơn nhiều lắm nếu so với mức tăng dân số củacác tỉnh miền Bắc, tuy nhiên hiện tượng kết hôn và sinh con sớm thườngthấy ở các xã, và với nhóm tuổi trung niên thì số cặp vợ chồng sinh từ 6-8hoặc 10 con là phổ biến, có trường hợp sinh đến 17 con như một cặp vợchồng ở xã Phú An Số phụ nữ trong độ tuổi 15- 49 ở các xã thường chiếmkhoảng 25-28% dân số, trong số này 60-65% đã có gia đình Tuổi kết hôntrung bình của nam nữ thanh niên, theo đánh giá của cán bộ xã, là độ tuổixấp xỉ 20, tuy vẫn còn một vài trường hợp kết hôn sớm trước tuổi 18 (nữ)
và 20 (nam) theo Luật Hôn nhân và Gia đình
Thu nhập bình quân đầu người của các xã đảo - theo số liệu của lãnh đạocác xã - từ 80.000 đến 120.000đ/người/tháng, số hộ nghèo của các xã đảokhoảng 20-25%, con số này ở Phú Xuân và Phú An chừng 25-30%, còn ởthị trấn Thuận An con số đó chỉ chừng 5% Có sự khác biệt về thu nhập giữangười dân làm nông nghiệp và làm ngư nghiệp Theo đánh giá ở xã PhúXuân thì thu nhập của gia đình ở đất liền là 350kg thóc/người/năm và củagia đình vạn đò với 250 kg thóc/người/năm, mức chênh lệch khoảng 30-35% Đánh giá của nhóm nghiên cứu cũng cho thấy nhìn chung cư dân vạn
Trang 38đò có mức sống thấp hơn cư dân của toàn xã
Về hoạt động mua bán trao đổi và dịch vụ đời sống, điểm chung dễ thấy
là xã nào cũng có những quầy/cửa hàng dịch vụ đời sống, dịch vụ sản xuấtvới quy mô và số lượng khác nhau Qua khảo sát, chưa thấy nghề phụ ảnhhưởng nhiều đến đời sống của cộng đồng, có thể vì ở các xã được khảo sátcác loại hình nghề phụ không nhiều và chưa phát triển mạnh, tuy nhiên, dễnhận thấy hộ gia đình nào có nghề phụ hay dịch vụ thì mức sống, cơ sở vậtchất khá hơn các gia đình khác
2 Mô hình bệnh tật và chăm sóc sức khoẻ
Mô hình bệnh tật
Qua thảo luận nhóm và phỏng vấn cá nhân, mô hình bệnh tật của cư dânvạn đò các xã đảo theo mùa được xác định như sau:
- Xuân: viêm phế quản, viêm phổi trẻ em
- Hè: cảm cúm, đau mắt đỏ, tiêu chảy
- Thu, Đông: viêm phế quản, viêm phổi
Về sức khoẻ sinh sản: Nhận xét về tình trạng sức khoẻ và nguyên nhân
bệnh tật của phụ nữ xã Quan Lạn, chị Chủ tịch Hội phụ nữ xã cho biết:
“ở đây phụ nữ mắc bệnh phụ khoa nhiều, có tới 60% số chị em bị mắc
phụ khoa, do môi trường lao động, chị em đào sãi sùng từ sáng đến tối nên việc vệ sinh cá nhân trong một ngày bị hạn chế Chị em mắc bệnh suy nhược cơ thể cũng nhiều, như đau đầu bởi chị em đi bắt sãi sùng dưới trời nắng trên 30 độ, nắng rát cả người Các chị đi làm đa số là họ nuôi cả chồng, phải đến 60% phụ nữ ở xã là trụ cột trong gia đình Còn chồng chủ yếu ở nhà chăn nuôi, đi kiếm con ốc, con hà So với chồng thì người phụ nữ vất vả hơn nhiều”
Dường như phụ nữ ở đâu, làm nghề gì cũng gánh chịu những vất vả, lotoan hơn chồng con của họ Cũng như phụ nữ ở các xã thuộc huyện Vân Đồn,phụ nữ các xã ở huyện Phú Vang đảm nhận nhiều công việc liên quan đếnsản xuất và công việc gia đình, người phụ nữ có con nhỏ thì lại càng vất vả
Do lao động vất vả, vệ sinh không đảm bảo nên phụ nữ vạn đò thườngmắc bệnh viêm nhiễm Trưởng trạm y tế xã Thắng Lợi nhận xét về bệnh của
phụ nữ như sau: “Bệnh phụ khoa là phổ biến, nhất là các bệnh nấm, viêm
cổ tử cung Tôi biết các bệnh này thông qua hoạt động khám phụ khoa định
kỳ, hoặc là phụ nữ tự phát hiện rồi đến trạm Khoảng 70% phụ nữ ở đây mắc bệnh phụ khoa, trong đó phụ nữ vạn đò có tỷ lệ cao hơn do vệ sinh của
họ kém hơn Hàng mấy ngày mà họ chỉ có một chum nước con con” (Nam
giới, 47 tuổi, y sĩ) Nước sạch cho sinh hoạt hàng ngày là một vấn đề nangiải, người dân vạn đò thường phải mua nước chứa trong những chiếc can
Trang 39Hoàng Bá Thịnh 3 9
nhựa để ở mui thuyền (như ở Phú Vang) hoặc đựng nước trong chum, thùngphuy (như ở Vân Đồn), với giá mua nước từ 1000đ - 2000đ/20lít nước.Trong khi đó, mức độ quan tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho phụ nữvạn đò khác nhau theo địa bàn Như ở thị trấn Thuận An, theo số liệu thống
kê của Trạm y tế, năm 2001 số phụ nữ khám thai từ 3 lần trở lên đạt tỷ lệ
mang thai và sinh nở “Không bao giờ đi khám thai, khi mang thai không
kiêng, vẫn ăn uống, vẫn đi làm bình thường Sinh con ở trên đò, nhờ bà mụ trong làng Đa số nhờ bà mụ đỡ, mất 60.000đ, hoàn toàn tin tưởng ở bà mụ”
(Nữ giới, 43 tuổi, 5 con) Thảo luận nhóm phụ nữ ở vạn đò Lê Bình về sứckhoẻ trẻ em và sức khoẻ phụ nữ, cũng cho thấy việc sinh đẻ trên đò và nhờ
bà mụ đỡ là hiện tượng phổ biến
Do đặc điểm của phương thức đánh bắt, thường phải ngâm mình trongnước (mà môi trường nước ở đầm phá bị ô nhiễm nặng) cho nên phụ nữ vạn
đò rất ít dùng biện pháp đặt vòng tránh thai “chỉ khoảng 20% đặt vòng thôi”
và “thường xuyên ngâm mình dưới nước nên dễ bị viêm nhiễm nếu đặt
vòng” Chính vì ít sử dụng biện pháp tránh thai, nên phụ nữ vạn đò thường
đẻ dày và đẻ nhiều Lý do của việc sinh nhiều con còn do quan niệm về giá
trị đứa con trai “ở đây người ta thích con trai hơn, còn con gái họ bảo là vịt
giời bay đi, vì theo đuổi sinh con trai mà có nhà sinh được 7 đến 8 đứa con gái” (Nữ giới, 40 tuổi, 4 con) Liên quan đến sức khoẻ sinh sản của phụ nữ
vạn đò còn do sự hạn chế về nhận thức của người phụ nữ: “Em cưới năm 22
tuổi, sinh con lần đầu khi em 23 tuổi, em nạo hút 3 đến 4 lần và sảy thai cũng vài lần, chưa bao giờ thai bị chết lưu Do nạo hút thai nhiều nên bác
sĩ bảo là hại người nên em đã đi triệt sản Trước khi triệt sản thì em không
sử dụng biện pháp tránh thai nào, còn đặt vòng thì kéo lưới nặng quá (?) nên em không đặt Em không biết bệnh phụ khoa là bệnh gì, khi có thai em không bao giờ đi khám, khi chửa thì cũng không biết là chửa, khi to rồi thì mới đi nạo thai.” (Nữ giới, 40 tuổi, 4 con).
Cần nhận thấy đặc điểm giới trong đội ngũ cán bộ y tế cũng là một trởngại cho việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ vạn đò Theo nhận xét
của trưởng trạm y tế xã Thắng Lợi: “Nhiều người đến trạm xá nhưng không
biết nói, hoặc ngượng không nói với y sỹ là nam giới Mình đỡ đẻ cho họ, sau này họ gặp lại mình toàn cúi mặt xuống vì xấu hổ” (Nam giới, y sĩ).
Trang 40Thảo luận nhóm phụ nữ cho thấy “nhiều khi những vấn đề tế nhị của phụ nữ
không dám nói ra vì xấu hổ, nếu có nữ y sỹ thì dễ dàng hơn”.
Mô hình chăm sóc sức khoẻ của người dân
Qua nghiên cứu, có thể nhận thấy có 3 mô hình/loại hình chăm sóc sứckhoẻ tại cư dân vạn đò:
Thứ nhất, dịch vụ y tế tại cộng đồng(thôn/xã): loại hình dịch vụ này chủ
yếu do đội ngũ cán bộ y tế xã, cán bộ y tế thôn đảm nhận Nhưng chỉ đápứng cho những bệnh nhẹ, phổ biến như: cảm cúm, đau đầu, đau mắt,
Thứ hai, dịch vụ y tế ngoài cộng đồng: trung tâm y tế, bệnh viện huyện,
tỉnh đối với trường hợp bệnh nặng hơn
Thứ ba, chữa theo kinh nghiệm: với những trường hợp không có tiền đến
trung tâm y tế hoặc do nhận thức, do điều kiện đi biển nên một số bà con tựchữa theo kinh nghiệm bằng việc sử dụng lá cây, hải sản , theo các bài thuốc
dân gian “lá ổi sắc nấu đặc chống bệnh đi ngoài; lá ngãi thì chữa đau đầu,
dã và đắp lên khớp đầu; dấp cá thì dùng hạ sốt, giã ra và cho nước sôi lọc hạ lấy nước uống cho hạ sốt” (Nữ, cán bộ dân số).
Ba mô hình khám chữa bệnh trên đây cho ta thấy sự đa dạng trong loạihình chăm sóc sức khoẻ của cư dân vạn đò, đồng thời cũng chỉ ra hạn chế
về năng lực của hệ thống y tế cấp xã, những khó khăn về chi phí cho sứckhoẻ và mức độ ảnh hưởng của chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian đốivới hành vi chăm sóc sức khoẻ của cư dân vạn đò
3 Hệ thống y tế và việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của người dân vạn đò
Hệ thống y tế và hoạt động y tế
Cũng tương tự như ở nhiều vùng nông thôn trong cả nước, hệ thống y tếtại tuyến xã thuộc hai huyện Vân Đồn và Phú Vang bao gồm: trạm y tế xã,nhân viên y tế thôn và y tế tư nhân Trong đó y tế trạm là đơn vị có vai tròchính trong việc quản lý và chăm sóc sức khoẻ cho người dân trong xã, nhânviên y tế thôn hỗ trợ cho y tế xã trong việc tuyên truyền, chăm sóc sức khoẻban đầu và sơ cứu, còn y tế tư nhân là một hình thức dịch vụ chăm sóc sứckhoẻ đang phát triển tương đối mạnh ở một số xã
Hoạt động của Trạm Y tế Cả 6 xã được khảo sát đều có Trạm y tế (mà
người dân quen gọi là trạm xá) được đặt ở trung tâm của xã Các trạm xá
đều có đủ các phòng chức năng cần thiết như: phòng sản, phòng lưu nội trú,phòng khám, phòng tiêm Theo quy định của Bộ Y tế, trạm xá xã thực hiệnviệc khám thai và tiêm phòng uốn ván, đỡ đẻ, khám phụ khoa, là nơi tư vấn
và cung cấp phương tiện tránh thai (bao cao su, thuốc viên tránh thai, ) cho