Bên cạnh những rào cản thương mại, có rất nhiều nguyên nhân đưa đến tổn thất cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, trong đó nổi bật là rủi ro tỷ giá hối đoái.. Với mong muốn đi s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
- -
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2011”
TÊN CÔNG TRÌNH:
MÔ HÌNH PROBIT TRONG ĐÁNH GIÁ QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT
NHẬP KHẨU VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
Trang 2[2]
TÓM TẮT
Ngày 1/1/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế Giới(WTO) Điều này đã mở ra một cánh cửa cho nước ta bước vào con đường hội nhập quốc tế, thị trường giao dịch hàng hóa và đầu tư quốc tế sẽ trở nên thuận lợi hơn Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo ra những thách thức khá lớn cho Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu Chúng ta không thể không kể đến những hậu quả mà cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây đã để lại, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại thương Bên cạnh những rào cản thương mại, có rất nhiều nguyên nhân đưa đến tổn thất cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, trong đó nổi bật
là rủi ro tỷ giá hối đoái Rủi ro tỷ giá biến động khá lớn trong những năm gần đây luôn
là nỗi lo chung của các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ ở Việt Nam Mặc khác, các doanh nghiệp này còn gặp khá nhiều vướng mắc trong việc tiếp cận với cách thức quản trị rủi ro một cách hữu hiệu như ở các nền kinh tế phát triển
Với mong muốn đi sâu vào nghiên cứu tác động của biến động tỷ giá cũng thực trạng quản trị rủi ro của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu này Bên cạnh đó, chúng tôi còn hi vọng tìm ra những nhân tố đặc trưng của doanh nghiệp trong việc sử dụng công cụ phái sinh nhằm quản trị rủi ro tỷ giá của doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
1 Vấn đề tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
2 Phân tích tác động của biến động tỷ giá hối đoái đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam thông qua mô hình hồi quy đánh giá tác động của lãi/ lỗ từ chênh lệch tỷ giá hối đoái đến tổng thu nhập của doanh nghiệp
Trang 3[3]
3 Tìm hiểu thực trạng quản trị rủi ro tỷ giá từ góc độ của chính phủ, ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam
4 Sử dụng mô hình Probit của các nhà khoa học Đan Mạch để đánh giá những nhân
tố tác động đến quyết định sử dụng công cụ phái sinh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam
Thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau: tạp chí, diễn đàn kinh tế, tài liệu nghiên cứu
và khảo sát các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên sàn chứng khoán Việt Nam Sau đó,
so sánh, phân tích để nghiên cứu về thực trạng quản trị rủi ro tỷ giá của các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam
Sử dụng mô hình hồi quy OLS và mô hình probit của Đan Mạch trong đánh giá thực tiễn
ở Việt Nam, từ đó xem xét tính độ nhạy cảm của tỷ giá đối với hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam cũng như tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng
công cụ phái sinh ở các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam
CHƯƠNG 1 : QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ TẠI CÁC DOANH
NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG MÔ HÌNH HỒI QUY NHỊ PHÂN TRONG PHÂN TÍCH ĐẶC
ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP GIẢI THÍCH CHO QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG CÔNG
CỤ PHÁI SINH CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC ĐAN MẠCH VÀO VIỆT NAM
Thông qua mô hình đánh giá tác động chênh lệch tỷ giá hối đoái lên tổng doanh thu của các doanh nghiệp cổ phần xuất nhập khẩu chúng tôi nhận thấy rằng nhìn chung các doanh
Trang 4[4]
nghiệp xuất nhập khẩu trong mẫu được hưởng lợi từ chênh lệch tỷ giá Hầu hết các doanh nghiệp trong mẫu phân tích là các doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản là một ngành có thế được coi là được hưởng lợi từ việc VND mất giá so với USD, đây cũng là điều mà chính phủ mong muốn đạt được là khuyến khích xuất khẩu khi liên tục giảm giá VND trong thời gian qua Bên cạnh đó, là các doanh nghiệp xuất khẩu nguyên liệu là gỗ và chế biến thực phẩm cũng là những doanh nghiệp có hoạt động chủ yếu là xuất khẩu Chính điều này đã khiến cho tác động của lãi từ chênh lệch tỷ giá đến doanh thu lớn hơn so với lỗ từ chênh lệch tỷ giá Tuy vậy vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp cần phải giảm chi phí tài chính này xuống đến mức thấp nhất nhằm tối đa hóa doanh thu, lợi nhuận từ đó đi đến tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Các đặc điểm của doanh nghiệp như tuổi đời, số lượng ngoại tệ mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh, % quỹ đầu tư phát triển, thậm chí cả tổng tài sản, lợi nhuận ròng trên tổng tài sản, vốn cổ phần/ tổng tài sản cũng không ảnh hưởng đến quyết định sử dụng công cụ phái sinh của các doanh nghiệp trong mẫu phân tích của chúng tôi như đối với trong bài nghiên cứu của các nhà khoa học Đan Mạch Điều này cho thấy rằng việc
sử dụng công cụ phái sinh ở các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu này hoặc là ngẫu nhiên hoặc là phụ thuộc vào các biến mà trong phần phân tích trên chúng tôi không đề cập đến như tổng giá trị xuất nhập khẩu, …
Từ những kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi hi vọng đề tài của chúng tôi có thể mở ra những hướng nghiên cứu mới về đề tài quản trị rủi ro tỷ giá, trong đó có thể khắc phục được hạn chế trong số liệu của bài nghiên cứu của chúng tôi mà cụ thể là về tổng giá trị xuất nhập khẩu và có thể đưa ra một số biến khác nhằm giải thích cho việc sử dụng công cụ phái sinh của các doanh nghiệp xuất nhập ở Việt Nam
Trang 5[5]
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED
1 QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM: 7
1.1 Vấn đề tỷ giá hối đoái ở Việt Nam 7
1.2 Phân tích tác động của rủi ro tỷ giá hối đoái đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam 10
1.2.1 Nguồn gốc của rủi ro tỷ giá của các doanh nghiệp XNK Việt Nam: 10
1.2.2 Tác động của biến động tỷ giá đến các doanh nghiệp XNK Việt Nam 11
1.2.3 Đo lường tác động của chênh lệch tỷ giá hối đoái lên doanh thu của các doanh nghiệp XNK Việt Nam giai đoạn 2007 – 2010 15
1.2.4 Kết luận mô hình: 22
2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ Ở CÁC DOANH NGHIỆP XNK VIỆT NAM 23
2.1 Đặc điểm quản trị rủi ro tỷ giá của các doanh nghiệp Việt Nam: 23
2.1.1 Đối với ngân hàng nhà nước: 24
2.1.2 Đối với ngân hàng thương mại : 28
2.1.3 Đối với doanh nghiệp XNK: 30
2.1.3.1 Về chủ quan: 32
2.1.3.2 Về khách quan: 34
2.2 Kết quả khảo sát về tình hình quản trị rủi ro tỷ giá của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 2007 – 2010 35
3 ÁP DỤNG MÔ HÌNH HỒI QUY NHỊ PHÂN PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CỦA DOANH NGHIỆP GIẢI THÍCH CHO QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁI SINH CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC ĐAN MẠCH VÀO VIỆT NAM 40
Trang 6[6]
3.1 Giới thiệu mô hình: 40
3.2 Ứng dụng mô hình vào trường hợp Việt Nam: 46
KẾT LUẬN 49
PHỤ LỤC 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 7[7]
1 QUẢN TRỊ RỦI RO TỶ GIÁ Ở VIỆT NAM:
1.1 Vấn đề tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
Sau hơn 11 năm đàm phán vào ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức kinh tế thế giới WTO Từ đây kinh tế Việt Nam lật sang một trang mới với bao vận hội và thách thức Là một yếu tố vô cùng quan trọng của nền kinh
tế - tỷ giá hối đoái đã, đang và sẽ mãi là vấn đề lớn thu hút mối quan tâm của chính phủ
và các thành phần kinh tế đặc biệt là trong tình hình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới như hiện nay Đúng như lời của tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa – Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia đã nhận định : “ Rủi ro tài chính vĩ mô lớn nhất là tỷ giá”
Bắt đầu vào những năm 1989, nhà nước ta đã có những chủ trương và giải pháp đổi mới trong quan hệ đối ngoại và chính sách tỷ giá đã từng bước xóa bỏ cơ chế độc quyền thương mại với nước ngoài Số lượng các công ty được trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên, cùng với việc mở rộng ngoại thương chế độ tỷ giá cũng có những thay đổi căn bản, chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới bản thân cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái đã được nhanh chóng thay đổi phù hợp với bối cảnh kinh tế Từ một
cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao cấp, xa rời với thị trường ; tỷ giá hối đoái
đã được điều chỉnh theo các quan hệ và điều kiện của các quy luật kinh tế thị trường Cơ chế một tỷ giá linh hoạt, có sự điều tiết của nhà nước đã phát huy được vai trò vừa là một phạm trù kinh tế vận động theo quy luật cung cầu và nền kinh tế vừa là một công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của nhà nước
Ngày 24/2/1999, Thống đốc ngân hàng nhà nước đã có quyết định số
64/1999/QĐ/NHNN và quyết định số 65/1999/QQĐ/NHNN ban hành cơ chế điều
hành tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, với nguyên tắc cơ bản là tỷ giá được xác định theo cung cầu thị trường, có sự điều tiết của nhà nước Trong đó TGBQLNH của ngày hôm trước được áp dụng để các ngân hàng thương mại làm cơ sở xác định tỷ giá giao dịch trong ngày hôm sau Ngân hàng nhà nước quy định biên độ giao dịch cho phép trong từng thời kỳ Ngân hàng nhà nước trực tiếp can thiệp lên TTNTLNH để tác động lên TGBQLNH hàng ngày
Trang 8[8]
Nhằm thực hiện những cam kết khi gia nhập WTO và để phù hợp với tình hình kinh tế của đất nước vào ngày 4/1/2006 Pháp lệnh ngoại hối đã được công bố và chính thức
được thi hành vào ngày 1/6/2006 Theo điều 30 của Pháp lệnh ngoại hối mới thì Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam có quyền xác định cơ chế tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam phù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô trong từng tình hình cụ thể Kể từ đây, Ngân hàng nhà nước ( NHNN) đã có những cơ chế quản lý hết sức linh hoạt nhằm đảm bảo mục tiêu kinh tế của đất nước và đặc biệt giúp Việt Nam vượt qua cơn khủng hoảng kinh
tế tài chính toàn cầu vừa qua
Bảng số liệu sau điểm lại một số lần điều chỉnh tỷ giá USD/VND của NHNN trong những năm gần đây:
Bảng 1.1
Ngày thông báo Tỷgiá
USD/VND Biên độ Ghi chú
11/02/2011 20639 +-1% Giảm giá đồng tiền & giảm
biên độ 18/08/2010 18932 +-3% Giảm giá đồng tiền
11/2/2010 18544 +-3% Giảm giá đồng tiền
25/11/2009 17961 +-3% Giảm biên độ
24/03/2009 16980 +-5% Nới rộng biên độ
06/11/2008 16511 +-3% Nới rộng biên độ
27/06/2008 16516 +-2% Giảm giá đồng tiền & nới
rộng biên động 11/06/2008 16461 +-1% Giảm giá đồng tiền
Trang 9[9]
10/3/2008 16025 +-1% Nới rộng biên độ
24/12/2007 16113 +-0,75% Nới rộng biên độ
02/01/2007 16101 +-0,5% Nới rộng biên độ
01/07/2002 +-0,25% Nới rộng biên độ
1.2 Phân tích tác động của rủi ro tỷ giá hối đoái đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam
1.2.1 Nguồn gốc của rủi ro tỷ giá của các doanh nghiệp XNK Việt Nam:
Theo định nghĩa truyền thống, rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai Mọi hoạt động mà dòng tiền thu vào phát sinh bằng một loại đồng tiền trong khi dòng tiền chi ra lại phát sinh bằng một loại đồng tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá Về cơ bản rủi ro tỷ giá phát sinh trong 3 hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư ( thường gặp trong các công ty
đa quốc gia), hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng Trong phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi chú trọng đến rủi ro hoạt động xuất nhập khẩu và rủi ro tín dụng của các doanh nghiệp xuất nhập Việt Nam
Với đặc điểm của nền kinh tế nhỏ, đang phát triển hầu hết các doanh nghiệp ở Việt Nam
là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm khoảng 96% số cơ sở sản xuất kinh doanh (theo Cục phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ- Bộ Kế hoạch & Đầu tư) trong đó không thể không kể đến doanh nghiệp xuất nhập khẩu Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là các doanh nghiệp có hoạt động chính là xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ giữa các nước khác nhau Họ là đối tượng hàng đầu phải gánh chịu rủi ro do biến động tỷ giá gây nên Điều này tương đối khác biệt so với các quốc gia khác trên thế giới khi họ chú trọng đến rủi ro tỷ giá đầu tư ở các công ty đa quốc gia
Rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 10[10]
Có thể nói rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu là loại rủi ro tỷ giá thường xuyên gặp phải và đáng lo ngại nhất đối với các công ty có hoạt động xuất nhập khẩu mạnh Sự thay đổi tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ làm thay đổi giá trị kỳ vọng của các khoản thu hoặc chi ngoại tệ trong tương lai khiến cho hiệu qua hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng nặng nề Rủi ro tỷ giá có thể gặp trong các hợp đồng xuất khẩu và các hợp đồng nhập khẩu khi mà tỷ giá được xác định trong hợp đồng của hàng hóa và dịch vụ tại một thời điểm trong quá khứ lại thay đổi vào thời điểm thanh toán
Rủi ro tỷ giá tín dụng
Đứng trên góc độ doanh nghiệp, việc vay vốn bằng ngoại tệ cũng bị ảnh hưởng bởi rủi
ro tỷ giá Tương tự như rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu, rủi ro tỷ giá tín dụng gặp phải khi doanh nghiệp vay với tỷ giá thấp, nhưng đến kỳ thanh toán phải trả nợ với tỷ giá cao, điều này có nghĩa doanh nghiệp phải dùng nhiều VND hơn để trả cho số USD
đã vay
Rủi ro tỷ giá khác
Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam không đơn thuần phải đối phó với những rủi ro trên Thị trường ngoại hối Việt Nam còn phải đối phó với tình trạng khan hiếm ngoại tệ, tình trạng hai giá mà hiếm nơi nào trên thế giới gặp phải Trong suốt một thời gian dài cung cầu ngoại tệ mà đặc biệt là USD trở thành một vấn đề nan giải của tất cả các bên liên quan: NHNN, NHTM và các doanh nghiệp Mặc dù NHNN đã nhiều lần điều chỉnh tỷ giá cũng như biên độ, bơm USD vào thị trường song tình trạng khan hiếm USD vẫn diễn ra và trở thành mối lo âu của hầu hết tất cả doanh nghiệp xuất nhập khẩu Do chênh lệch lãi suất USD và VND nên khi có cơ hội vay USD từ ngân hàng, các doanh nghiệp đã vay và bán lại với tỷ giá cao hơn trên thị trường tự do tạo nên nguồn cung ảo, đến khi tình hình USD căng thẳng các doanh nghiệp có số lượng ngoại
tệ lớn lại găm giữ để dành cho những giao dịch của mình trong tương lai, điều này khiến cho nguồn cung USD bị giới hạn Trong khi cầu về USD lại rất lớn vì hầu hết các giao dịch hiện nay đều cần USD, ngay cả khi giao dịch với các khu vực khác như Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ,…Các doanh nghiệp không mua được USD từ ngân hàng đã phải ra
Trang 11[11]
thị trường tự do mua với mức giá cao hơn từ 1000 đồng có khi lên đến 2000 đồng để chi trả cho những giao dịch đến kì phải trả Không những vậy doanh nghiệp còn phải chịu một rủi ro kép Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu buộc phải vay tiền đồng ở các NHTM
để ra thị trường tự do mua USD, sau đó để USD này được hợp thức hóa, doanh nghiệp lại bán lại cho NHTM với tỷ giá niêm yết Chính vì vậy mà doanh nghiệp khó khăn lại chồng chất khó khăn
1.2.2 Tác động của biến động tỷ giá đến các doanh nghiệp XNK Việt Nam
Tác động đến năng lức cạnh tranh của doanh nghiệp
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp tập trung ở khả năng quyết định giá cả của doanh nghiệp so với đối thủ trên thị trường Hoạt động trong điều kiện có rủi ro tỷ giá tác động khiến doanh nghiệp luôn phải đối phó với tổn thất ngoại hối, bằng cách nâng giá bán để trang trải tổn thất nếu xảy ra Điều này làm cho giá cả của doanh nghiệp trở nên kém hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giảm sút Nhìn chung, rủi ro tỷ giá phát sinh trong hoạt động của doanh nghiệp có thể gây ra ba loại tổn thất ngoại hối : (1) Tổn thất giao dịch, (2) tổn thất kinh tế, (3) tổn thất chuyển đổi kế toán
Tổn thất giao dịch: Tổn thất giao dịch phát sinh khi có các khoản phải thu hoặc phải trả
bằng ngoại tệ Tổn thất các khoản phải thu ngoại tệ là tổn thất phát sinh khi giá trị qui ra nội tệ thu về sụt giảm do ngoại tệ xuống giá so với nội tệ Tổn thất các khoản phải trả ngoại tệ là tổn thất phát sinh khi giá trị qui ra nội tệ chi ra tăng lên do ngoại tệ lên giá so với nội tệ
Tổn thất kinh tế: là tổn thất phát sinh do sự thay đổi của tỷ giá làm ảnh hưởng đến dòng
tiền qui ra nội tệ hoặc ngoại tệ của doanh nghiệp Tổn thất kinh tế xảy ra tương tự như tổn thất giao dịch, chỉ khác biệt ở chỗ nó là những khoản tổn thất không xuất phát từ các khoản phải thu hoặc phải trả có hợp đồng rõ ràng mà từ dòng tiền hoạt động của doanh nghiệp Chẳng hạn, sự lên giá của nội tệ làm sụt giảm doanh thu xuất khẩu của doanh nghiệp, do hàng xuất khẩu bây giờ trở nên đắt đỏ hơn đối với người tiêu dùng nước
ngoài Tổn thất kinh tế có thể xác định theo công thức sau: ΔV = CF
t ΔS
t, trong đó: