1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TẬP bài GIẢNG đường lối cách mạng của đảng cộng sản việt nam

61 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
Tác giả Th.S Nguyễn Mậu Minh
Trường học Đại Học Duy Tân
Chuyên ngành Lý Luận Chính Trị
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2019
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 649 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới (33)
  • 2. Hệ thống dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản (1954 -1975) (39)
  • 3. Kết quả và nguyên nhân (37)

Nội dung

Cơ chế quản lý kinh tế thời kỳ trước đổi mới

a) Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp

Trước đổi mới, cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta là cơ chế kế hoạch hoá tập trung với những đặc điểm chủ yếu là:

Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu thông qua các mệnh lệnh hành chính, dựa vào hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết được áp đặt từ cấp trên xuống cấp dưới.

Các cơ quan hành chính thường can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng lại không chịu trách nhiệm về mặt vật chất và pháp lý đối với các quyết định mà họ đưa ra.

Thứ ba, quan hệ hàng hoá - tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện vật là chủ yếu

Bộ máy quản lý hiện nay đang trở nên cồng kềnh với nhiều cấp trung gian, dẫn đến sự kém năng động và tạo ra đội ngũ quản lý thiếu năng lực Điều này không chỉ gây ra phong cách làm việc cửa quyền, quan liêu mà còn khiến họ nhận được quyền lợi cao hơn so với người lao động.

Bao cấp qua giá là hình thức mà Nhà nước xác định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư và hàng hóa thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế trên thị trường Hệ quả là hạch toán kinh tế trở thành một hình thức mà không phản ánh đúng giá trị thực của các tài sản này.

Nhà nước áp dụng chế độ tem phiếu để phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức Tuy nhiên, chế độ này với mức giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường đã làm cho tiền lương trở thành lương hiện vật, từ đó làm giảm động lực làm việc của người lao động và vi phạm nguyên tắc phân phối theo lao động.

Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách hiện nay thiếu cơ chế ràng buộc trách nhiệm vật chất, dẫn đến gánh nặng cho ngân sách và hiệu quả sử dụng vốn kém Tình trạng này tạo ra cơ chế "xin - cho" trong quản lý Do đó, cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế để nâng cao hiệu quả và trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn vốn ngân sách.

Dưới áp lực của tình thế khách quan, nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế

- xã hội, chúng ta đã có những bước cải tiến nền kinh tế theo hướng thị trường, tuy nhiên còn chưa toàn diện, chưa triệt để Đó là:

- Khoán sản phẩm trong nông nghiệp theo Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban

Bí thư Trung ương khoá IV;

- Bù giá vào lương ở Long An; Nghị quyết Trung ương 8 khoá V (năm

Thực hiện Nghị định số 25-CP và Nghị định số 26-CP của Chính phủ đã tạo ra cơ sở thực tiễn cho Đảng quyết định thay đổi cơ bản cơ chế quản lý kinh tế Đại hội VI đã nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế để đáp ứng yêu cầu phát triển.

Việc cải cách cơ cấu kinh tế cần gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, vì cơ chế quản lý tập trung quan liêu và bao cấp đã không còn tạo động lực phát triển, làm yếu đi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Điều này đã hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, giảm năng suất và chất lượng hiệu quả, đồng thời gây ra rối loạn trong phân phối lưu thông và nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội Do đó, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trở thành nhu cầu cấp thiết và khẩn trương.

Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường trong thời kỳ đổi mới, từ Đại hội VI đến Đại hội VIII, khẳng định rằng kinh tế thị trường không chỉ thuộc về chủ nghĩa tư bản mà còn là thành tựu phát triển chung của nhân loại.

- Thị trường có từ khi xuất hiện trao đổi hàng hóa.

- Trao đổi hàng hóa có từ cuối xã hội Chiếm hữu nô lệ, đầu XHPK.

- Sản xuất và trao đổi hàng hóa là tiền đề quan trọng cho sự ra đời của kinh tế thị trường, phát triển lên đỉnh cao trong XHTB.

Kinh tế thị trường phát triển từ nền tảng kinh tế hàng hóa giản đơn, giữ nguyên bản chất nhưng có trình độ phát triển cao hơn.

Hai là, kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

- Kinh tế thị trường chỉ đối lập với kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc chứ không đối lập với các chế độ xã hội.

- Kinh tế thị trường còn tồn tại lâu dài trong CNXH Thể hiện ở vấn đề phân công lao động xã hội và nhiều hình thức sở hữu.

Xây dựng và phát triển kinh tế thị trường không đồng nghĩa với việc phát triển chủ nghĩa tư bản, trong khi đó, việc xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng không dẫn đến việc phủ định kinh tế thị trường.

Sử dụng kinh tế thị trường là cần thiết để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong mọi xã hội, khi thị trường được xem là công cụ chính để phân bổ nguồn lực kinh tế, nó sẽ thể hiện những đặc điểm quan trọng sau đây.

- Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, lỗ, lãi tự chịu.

- Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo.

Nền kinh tế hiện nay có tính chất mở và hoạt động dựa trên các quy luật cơ bản của kinh tế thị trường, bao gồm quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh.

- Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.

Kinh tế thị trường đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội, với những đặc điểm nổi bật Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường nhấn mạnh sự cần thiết phải phát huy các yếu tố của thị trường nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.

- Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) xác định:

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong giai đoạn chuyển tiếp lên chủ nghĩa xã hội Mô hình này kết hợp giữa các nguyên tắc của kinh tế thị trường với các giá trị xã hội, nhằm đảm bảo phát triển bền vững và công bằng xã hội.

Kết quả và nguyên nhân

Tư tưởng và đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được thể chế hóa dần dần thành các quy định pháp luật, cơ chế và chính sách cụ thể.

Trong 30 năm đổi mới, Quốc hội đã ba lần sửa đổi và ban hành Hiến pháp, cùng với việc sửa đổi và ban hành hơn 150 bộ luật và luật Ngoài ra, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành hơn 70 pháp lệnh, tạo nền tảng pháp lý cho sự chuyển đổi và hoạt động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các hình thức sở hữu và thành phần kinh tế đã phát triển đa dạng, dần dần tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước.

Các yếu tố thị trường và các loại thị trường đang hình thành và phát triển đã tạo ra sự liên thông và gắn kết giữa thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường quốc tế.

Hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, tuân theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn của thị trường toàn cầu Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện thị trường theo quy định của WTO và tham gia hiệu quả vào các liên kết kinh tế khu vực và quốc tế Đặc biệt, việc xây dựng các mối quan hệ đối tác chiến lược trong lĩnh vực kinh tế đang được chú trọng.

Đảng đã ban hành và lãnh đạo thực hiện nhiều nghị quyết về kinh tế, kịp thời điều chỉnh các chủ trương phù hợp với tình hình mới Việc đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh đã được chú trọng Sự quản lý và điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường ngày càng sát thực và hiệu quả hơn.

Sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ, với việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế ngày càng được chú trọng.

+ Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tích cực.

+ Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, khắc phục được khủng hoảng kinh tế - xã hội.

+ Tạo ra những tiền đề cần thiết đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.

Kinh tế hiện nay chủ yếu phát triển theo chiều rộng và đang chuyển dần sang phát triển chiều sâu nhằm hướng tới sự bền vững Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh vẫn chưa được tôn trọng đầy đủ, và môi trường kinh doanh chưa đảm bảo sự cạnh tranh công bằng và lành mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.

+ Trong 10 năm gần đây (2006-2016), nền kinh tế nước ta đứng trước nhiều khó khăn, thách thức

Bộ máy nhà nước vẫn chưa được đổi mới một cách kịp thời, dẫn đến tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình ở mức thấp Hệ thống chưa thiết lập được cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước dựa trên kết quả đầu ra.

Sự tham gia giám sát của các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, và nhân dân trong nền kinh tế cũng như hoạt động quản lý nhà nước hiện còn hạn chế và không đồng bộ Nguyên nhân của tình trạng này cần được xem xét để cải thiện hiệu quả giám sát và quản lý.

Những thành tựu đạt được xuất phát từ nhận thức đúng đắn của Đảng về sự cần thiết phải phát triển kinh tế thị trường, dẫn đến quyết định chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Những hạn chế yếu kém của nền kinh tế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan:

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đang được hình thành trong bối cảnh chuyển đổi thể chế kinh tế với nhiều thách thức, bao gồm xuất phát điểm thấp và khó khăn kinh tế Bên cạnh đó, sự biến động của kinh tế thế giới, cùng với khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu, đã ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của đất nước.

Đảng nhận thức rằng việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn gặp nhiều hạn chế, đặc biệt trong lý luận về sở hữu và thành phần kinh tế Mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, cũng như vai trò của các loại hình kinh tế như kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn chưa được làm rõ Hơn nữa, quá trình thể chế hóa và cụ thể hóa các đường lối, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra chậm và thiếu tính đồng bộ.

CHƯƠNG VI ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

I ĐƯỜNG LỐI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI (1945-1985)

1 Hệ thống chính trị dân chủ nhân dân (Giai đoạn 1945-1954)

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu sự hình thành một hệ thống chính trị cách mạng tại Việt Nam với những đặc trưng nổi bật.

- Nhiệm vụ của hệ thống chính trị này là “Đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược” với khẩu hiệu “Dân tộc trên hết Tổ quốc trên hết”.

Dựa trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân tộc rộng rãi, chúng ta không phân biệt giống nòi, giai cấp hay tôn giáo, đồng thời đảm bảo các quyền tự do dân chủ Chúng ta không chủ trương đấu tranh giai cấp và luôn đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu.

Ngày đăng: 22/12/2021, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w