Ứng dụng CNTT được thể hiện cụ thể: và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thi
Trang 1Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC B¸CH KHOA Hµ NéI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan r ằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng và bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2012
Người viết cam đoan
Đỗ Thị Vân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phương pháp lý luận giảng dạy, chuyên sâu Sư phạm kĩ thuật điện với đề tài: “Nghiên cứu bài giảng điện tử cho môn học PLC S7-300 ứng dụng
mô phỏng bằng WINCC và PLCSIM”
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo và đặc biệt
là thầy cô giáo trong khoa, những người đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình h ọc tập và nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu và các thầy cô giáo trong Khoa Điện – Điện tử trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh đã cung cấp những số liệu cần thiết giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu đề tài trên
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS.Phạm Văn Bình, người đã định hướng, chỉ bảo và dìu dắt tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các tập thể, cá nhân, bạn bè và người thân
đã chỉ bảo, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2012
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Vân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ 5
1.1 Tổng quan 5
1.1.1 Vai trò của công nghệ thông tin (CNTT) đối với giáo dục 5
1.1.2 Ứng dụng CNTT trong giáo dục 6
1.2 Công nghệ dạy học hiện đại 7
1.2.1 Công nghệ 7
1.2.2 Công nghệ dạy học 8
1.2.3 Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại 9
1.2.4 Các thành phần của công nghệ dạy học hiện đại 10
1.2.5 Tác dụng của công nghệ dạy học 11
1.2.6 Những điểm cần lưu ý về công nghệ dạy học hiện đại 13
1.2.7 Bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại 13
1.3 Bài giảng điện tử 17
1.3.1 Khái niệm 17
1.3.2 Cấu trúc cơ bản của BGĐT 18
1.3.3 Các yêu cầu khi thiết kế BGĐT 19
1.3.4 Các yêu cầu khi sử dụng BGĐT 20
1.3.5 Đặc điểm của bài giảng điện tử 20
1.4 Phương tiện dạy học và vai trò của phương tiện dạy học 22
1.4.1 Phương tiện 22
1.4.2 Đa phương tiện (Multimedia) 22
Trang 51.4.3 Phương tiện dạy học 23
1.4.4 Vai trò của phương tiện dạy học 24
1.4.5 Một số nguyên tắc sư phạm trong việc tạo và sử dụng PTDH 26
1.4.6 Khả năng dạy học bằng máy tính điện tử 29
1.5 Đặc điểm tâm lý của học sinh, sinh viên 35
1.5.1 Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của SV 36
1.5.2 Sự phát triển động cơ học tập của SV 36
1.5.3 Đời sống xúc cảm, tình cảm của SV 38
1.5.4 Đặc điểm về tự đánh giá, tự ý thức, tự giáo dục ở SV 38
1.5.5 Những nhược điểm của sinh viên 40
Chương 2 - NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHẦN MỀM ĐỂ XÂY DỰNG BGĐT MODUL PLC S7-300 CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT BẮC NINH 41
2.1 Tổng quan về PLC S7 - 300 41
2.1.1 Giới thiệu về PLC 41
2.1.2 Những ưu điểm khi sử dụng hệ thống điều khiển với PLC 42
2.1.3 Các ứng dụng của PLC trong sản xuất và trong dân dụng 42
2.1.4 Các module của PLC S7 – 300 43
2.1.5 Giới thiệu các ngôn ngữ lập trình của PLC S7 – 300 46
2.2 Phần mềm mô phỏng WinCC 48
2.2.1 Giới thiệu chung về WinCC 48
2.2.2 Đặc điểm của phần mềm WinCC 49
2.2.3 Ưu điểm của version WINCC 51
2.2.4 Các loại project trong WinCC 51
2.3 Phần mềm mô phỏng S7 – PLC SIM 54
2.4 Phân tích chương trình và nội dung modul PLC nâng cao 54
2.4.1 Vị trí của modul 54
2.4.2 Mục tiêu chung của modul 54
2.4.3 Chương trình môn học 54
Trang 62.4.4 Đặc điểm nội dung modul 55
2.5 Lựa chọn chương trình công cụ để xây dựng bài giảng điện tử module PLC 56
2.5.1 Ms- Powerpoint 56
2.5.2 Microsoft Frontpage 59
2.6 Điều kiện để sử dụng hiệu quả bài giảng điện tử Modull PLC nâng cao tại Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh 61
2.6.1 Yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị 61
2.6.2 Yêu cầu đối với giáo viên 61
Chương 3 - THIẾT KẾ MINH HỌA BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔ ĐUN PLCNÂNG CAO CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KINH TẾ - KỸ THUẬT BẮC NINH 62
3.1 Các bước thiết kế xây dựng bài giảng điện tử trên Microsoft FrontPage 62
3.1.1 Xác định mục tiêu của bài học 62
3.1.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản và trọng tâm 62
3.1.3 Xác định cấu trúc của bản thiết kế BGĐT 63
3.1.4 Tạo Web Site cho bài và các trang Web cho các mục trong bài 63
3.1.5 Các lệnh hỗ trợ trong quá trình thiết kế BGĐT 64
3.1.6 Thiết kế hoạt động dạy học 65
3.1.7 Liên kết giữa Web Site với các trang Web và các trang Web của bản thiết kế BGĐT với các file khác 66
3.1.8 Hoàn thiện và kiểm tra việc thiết kế bài giảng 66
3.2 Xây dựng bài giảng điện tử cho bài điều khiển đèn giao thông 67
3.2.1 Thiết kế trang chính 67
3.2.2 Thiết kế các trang của bài 68
3.2.3 Thiết kế và chạy phần mềm PLC S7-300 72
3.2.4 Mô phỏng trên S7- PLC SIM 78
3.2.5 Mô phỏng trên WINCC 79
3.3 Thực nghiệm sư phạm 91
Trang 73.3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 91
3.3.2 Đối tượng thực nghiệm 91
3.3.3 Nội dung thực nghiệm 91
3.3.4 Phương pháp và quy trình thực nghiệm 91
3.3.5 Kết quả thực nghiệm 92
3.3.6 Ý kiến đánh giá của giáo viên và học sinh tham gia thực nghiệm 93
3.3.7 Đánh giá chung 94
3.4 Những khó khăn thuận lợi trong việc xây dựng bài giảng, thử nghiệm, ứng dụng bài giảng và phương hướng tiếp theo của bản thân 95
3.4.1 Những khó khăn 95
3.4.2 Những thuận lợi 95
3.4.3 Phương hướng tiếp theo của bản thân 96
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 97
1 Kết luận 97
2 Một số kiến nghị 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Bản chất của công nghệ dạy học
Hình 1.2 Các thành phần của công nghệ dạy học
Hình 1.3 Cấu trúc bài giảng điện tử
Hình 1.4 Vị trí của phương tiện dạy học trong dạy học kĩ thuật Hình 2.1 Cấu trúc bên trong của một PLC
Hình 2.2 Cấu trúc bên trong của một PLC
Hình 2.3 Cổng giao tiếp của các PLC
Hình 2.10 Ngôn ngữ lập trình High GRAPH
Hình 2.11 Sơ đồ kết nối PLC với WinCC
Hình 2.12 Tạo Single-user
Hình 2.13 Tạo Multi-user
Hình 2.14 Tạo Client
Hình 2.15 Giao diện của phần mềm Ms- Powerpoint
Hình 2.16 Giao diện của phần mềm Microsoft Frontpage
Hình 3.1 Các bước thiết kế bài giảng điện tử
Hình 3.2 Giao diện trang chính
Hình 3.3 Giao diện xuất hiện các tiêu đề bài 3
Hình 3.4 Giao diện nội dung mục tiêu
Hình 3.6 Giao diện mục 1.2 Lệnh OR
Trang 10Hình 3.7 Giao diện mục 1.3 Lệnh Set(S)và Reset(R)
Hình 3.8 Giao diện mục 1.4 Lệnh TIMER
Hình 3.9 Giao diện mục 2.1 Nội dung bài tập
Hình 3.10 Giao diện mục 2.2 Phân tích yêu cầu công nghệ
Hình 3.11 Cửa sổ khai báo một Project mới
Hình 3.12 Cửa sổ chọn modul cho PLC
Hình 3.13 Giao diện của SIMATIC Manager sau khai báo Project
Hình 3.14 Giao diện phần mềm soạn thảo trong khối OB1
Hình 3.15 Bảng symbol đặt tên cho các biến
Hình 3.16 Chương trình điều khiển đèn giao thông sử dụng ngôn ngữ LAD Hình 3.17 Giao diện SIMATIC Manager mở PLCSIM và kích hoạt download Hình 3.18 Cửa sổ LAD/STL/FBD kích hoạt Monitor
Hình 3.19 Giao diện phần mềm mô phỏng S7- PLC SIM
Hình 3.20 Giao diện chạy phần mềm PLC S7-300
Hình 3.21 Giao diện phần mềm WinCC Explorer
Hình 3.22 Giao diện cửa sổ tạo một Project mới
Hình 3.23 Giao diện cửa sổ chọn mạng kết nối với WINCC
Hình 3.24 Cửa sổ chọn tên cho Driver Conection
Hình 3.25 Giao diện tạo tag W-START
Hình 3.26 Giao diện WinCC Explorer sau khi tạo các tag ngoại
Hình 3.27 Giao diện WinCC Explorer để tạo một ảnh mới
Hình 3.28 Giao diện WinCC Explorer sau khi tạo ảnh mới
Hình 3.29 Cửa sổ Graphic Designer
Hình 3.30 Cửa sổ Graphic Designer, thiết kế góc đường thứ nhất
Hình 3.31 Cửa sổ Graphic Designer sau khi đổi mầu cho góc đường thứ nhất Hình 3.32 Cửa sổ Graphic Designer thiết kế cho 4 góc đường
Hình 3.33 Cửa sổ Graphic Designer thiết kế hệ thống điều khiển giao thông Hình 3.34 Cửa sổ chọn thuộc tính cho nút nhấn START
Trang 11Hình 3.35 Hộp thoại Assigning Parameters chọn tag
Hình 3.36 Hộp thoại Assigning Parameters chọn giá trị 1 cho nút START Hình 3.37 Cửa sổ chọn thuộc tính cho tag Xanh1
Hình 3.38 Giao diện mô phỏng trên WinCC khi chưa nhấn nút START Hình 3.39 Giao diện mô phỏng trên WinCC khi nhấn nút START
Hình 3.40 Giao diện mô phỏng trên WinCC sau nhấn START 20s
Hình 3.41 Giao diện mô phỏng trên WinCC khi đèn xanh 2 sáng
Hình 3.42 Giao diện mô phỏng trên WinCC khi đèn vàng 2 sáng
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực là : Có trình độ văn hóa, có vốn hiểu biết về khoa học kỹ thuật, có tay nghề và đặc biệt là nguồn nhân lực có tay nghề cao
Tự động hóa đã đi sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống và phục vụ cho an ninh quốc phòng, y tế, giáo dục,… Có lẽ việc phát triển tự động hóa là yêu cầu không thể bàn cãi hiện nay, nhưng trên bước đường thực hiện mục tiêu này, theo các chuyên gia trong ngành, nỗi lo lớn nhất hiện nay là nguồn nhân lực vừa thiếu lại vừa yếu Đây là vấn đề đang đặt ra với ngành dạy nghề
Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã rất quan tâm đến lĩnh vực đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực Trong đổi mới phương pháp dạy học kỹ thuật (PPDHKT) theo hướng hiện đại hóa, việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, môi trường dạy học đa phương tiện vào quá trình dạy học
kỹ thuật là yêu cầu bắt buộc Với PPDHKT theo hướng mới này, sinh viên (SV) sẽ đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy học, SV phải phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo
Môn học PLC (Programmable Logic Control) là một trong những môn học bắt buộc trong ngành điện tự động hóa Đây là môn học sử dụng sản phẩm công nghiệp để điều khiển các máy móc thiết bị và dây chuyền sản xuất trong công nghiệp Do đó để đào tạo được nguồn nhân lực cao đòi hỏi các cơ sở dạy nghề phải
có trang thiết bị dạy học trực quan khá đa dạng và cần cập nhật thường xuyên, các trang thiết bị máy móc hiện đại Nhưng hầu hết các cơ sở dạy nghề chưa đáp ứng được điều này, làm cho người học khó khăn hơn trong quá trình lĩnh hội kiến thức
và quá trình thực tập tay nghề
Do đó để bài giảng trực quan, sinh động khi giảng dạy môn PLC nói chung
và PLC S7 – 300 nói riêng, giúp SV tiếp cận gần với thực tế và khắc phục phần nào
Trang 13đã lựa chọn đề tài : ‘‘ Nghiên cứu bài giảng điện tử cho môn học PLC S7 – 300 ứng dụng mô phỏng bằng WinCC và PLCSIM’’
Nghiên cứu bài giảng điện tử (BGĐT) cho môn học PLC S7 – 300 : là nghiên cứu bài giảng điện tử và nội dung môn học PLC S7 – 300 Trên cơ sở đó xây dựng bài giảng điện tử cho môn học
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cách thức xây dựng và sử dụng BGĐT trong đào tạo nghề , trên cơ sở phần mềm PLC S7 – 300, mô phỏng bằng WinCC và PLCSIM Trên cơ
sở đó tiến hành xây dựng một số BGĐT cho môn học PLC
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn PLC S7 – 300 tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế -
Kỹ thuật Bắc Ninh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, nội dung khoa học của môn học
- Xây dựng BGĐT cho môn học PLC S7 – 300
- Phần mềm thiết kế BGĐT
- Phần mềm PLC S7 – 300
- Phần mềm mô phỏng S7-PLCSIM
- Phần mềm mô phỏng WinCC
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau :
- Nghiên cứu cơ sở lý luận dạy học , PPDHKT, phương tiện dạy học (PTDH)
- Tìm hiểu lý thuyết xây dựng và sử dụng BGĐT
- Phân tích nội dung, phương pháp dạy học môn PLC S7 – 300
- Nghiên cứu phần mềm PLC S7 – 300, phần mềm mô phỏng WinCC và S7- PLCSIM
Trang 14- Xây dựng BGĐT cho môn học PLC S7 – 300
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng BGĐT cho môn học PLC S7 – 300 theo hướng dạy học hiện đại và có mô phỏng bằng WinCC và PLCSIM đáp ứng được những yêu cầu về sư phạm thì sẽ hỗ trợ tốt việc dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn PLC S7 – 300
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu lý thuyết về xây dựng bài giảng điện tử, phần mềm mô phỏng PLCSIM và WINCC Từ đó ứng dụng thiết kế bài giảng điện tử minh họa một số bài tập môn học PLC nâng cao trong chương trình khung hệ cao đẳng nghề
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá và hệ thống hoá các phương pháp giảng
dạy môn học PLC S7 – 300 ở trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.1 Phương pháp điều tra
Điều tra nhận thức và thực trạng thực hiện giảng dạy môn PLC ở trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn giảng viên và sinh viên về thực trạng thực hiện dạy và học môn PLC ở trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
7.2.3 Phương pháp quan sát
Dự giờ, quan sát, tìm hiểu hoạt động dạy và học của giảng viên, sinh viên
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến của một số chuyên gia, các giảng viên có kinh nghiệm để đưa ra các kết luận trong việc đánh giá thực trạng và đề xuất
Trang 157.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp này được sử dụng với mục đích chủ yếu là đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thi của các phương pháp giảng dạy đã đề xuất
7.2.6 Thực nghiệm sư phạm:
Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các phương pháp giảng dạy đã
đề xuất thông qua xin ý kiến đánh giá của giảng viên và sinh viên của trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được thể hiện trong ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng bài giảng điện tử Chương II: Nghiên cứu ứng dụng phần mềm để xây dựng BGĐT modul PLC chuyên ngành điện công nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
Chương III: Thiết kế minh họa BGĐT modul PLC nâng cao chuyên ngành điện công nghiệp tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh
Trang 16Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
1.1 Tổng quan
1.1.1 Vai trò của công nghệ thông tin (CNTT) đối với giáo dục
CNTT – đặc biệt là Internet, bắt đầu được sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm 1995
và sau đó bắt đầu được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới Ngày nay thật khó có thể hình dung được thế giới của chúng ta sẽ như thế nào nếu như không có các ứng dụng CNTT
Đối với ngành giáo dục cũng không phải ngoại lệ CNTT, cụ thể là Internet, được tạo ra đầu tiên nhằm mục đích quân sự và công nghiệp, sau đó được ứng dụng vào giáo dục Trong hệ thống giáo dục phương Tây, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác Sự ra đời của Internet với các kết nối băng tần rộng tới tất cả các trường học, áp dụng kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực
Cùng với sự bùng nổ của CNTT và truyền thông, hình thức đào tạo từ xa đã
và đang là một loại hình cần được nhân rộng nhằm tạo cơ hội cho người học có thể
tự học, nghiên cứu và trau rồi kiến thức Ngày nay SV có thể tự luyện thi đại học, tự học thêm kiến thức tại nhà thông qua máy tính và các phần mềm hỗ trợ cùng các trang web dành cho học tập Đối với giáo viên ngoài tìm kiếm thông tin trên mạng cung cấp có thể giao bài tập cho SV qua mạng,
Đối với Việt Nam, có thể nhiều người chưa quen thuộc với khái niệm này, song ngày nay, hình thức này đã trở thành một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống giáo dục nhiều nước trên thế giới Việt Nam cũng đặt mục tiêu này vào “ Chiến lược phát triển giáo dục”
Như vậy việc xây dựng các bài giảng theo công nghệ mô phỏng trên cơ sở ứng dụng CNTT và các phương tiện hiện đại khác vào dạy học nhằm rút ngắn thời
Trang 17gian đào tạo, nâng cao chất lượng dạy học, thay đổi hình thức dạy học, đa dạng hóa hình thức dạy học, tạo điều kiện cho nhiều đối tượng có thể tham gia học tập, hình thành xã hội hóa học tập
1.1.2 Ứng dụng CNTT trong giáo dục
Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58- CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục giai đoạn 2001-2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ- TTg
Ứng dụng CNTT được thể hiện cụ thể:
và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục Phát huy tính tích tực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng internet của người học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý mang lại Khuyến khích GV, giảng viên soạn bài trình chiếu, BGĐT và giáo án trên máy tính Khuyến khích GV, giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy qua website của các cơ sở GD và ĐT và qua diễn đàn giáo dục trên website của bộ
Ứng dụng CNTT trong điều hành quản lý giáo dục: Điều tra, khảo sát hiện trạng, xác định nhu cầu và nhiệm vụ về CNTT trong các cơ quan quản lý giáo dục
và cơ sở giáo dục trên toàn quốc, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch ứng dụng CNTT dài hạn của ngành Ứng dụng CNTT để triển khai thực hiện cải cách hành chính, thực hiện việc chuyển phát công văn, tài liệu qua mạng Tin học hóa công tác quản
lý ở các cấp quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục Xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục và thống kê giáo dục thông qua việc tích hợp cơ sở dữ liệu từ các
cơ sở giáo dục đến các cấp quản lý giáo dục Các cơ sở giáo dục và đào tạo nghiên cứu khai thác và sử dụng kết quả phân tích dữ liệu thi tốt nghiệp trung học phổ
Trang 18thông và thi tuyển sinh đại học, cao đẳng do Bộ GD và ĐT cung cấp hằng năm trong công tác quản lý giáo dục của địa phương, đánh giá công tác của từng hội đồng coi thi, chấm thi
Để ứng dụng hiệu quả CNTT trong giáo dục thì đòi hỏi đầu tiên là phải nâng cao trình độ tin học cho GV và các cán bộ quản lý giáo dục cơ sở vật chất về CNTT
& TT phải được trang bị đầy đủ
Tiếp tục triển khai giảng dạy môn tin học trong nhà trường theo chương trình
đã ban hành Tổ chức xây dựng chương trình học tin học ứng dụng theo các mô-đun kiến thức để có thể áp dụng cho nhiều cấp học một cách mềm dẻo, thiết thực, cập nhật nội dung công nghệ mới Tích cực khai thác và đưa phần mềm vào chương trình giảng dạy CNTT ở các cấp học Tăng cường sử dụng trực tiếp chương trình đào tạo và tài liệu bằng tiếng Anh trong giảng dạy các môn CNTT
Đối với môn học PLC S7- 300 là môn học thuộc khối kiến thức nâng cao trong hệ thống kiến thức của ngành điện công nghiệp đối với hệ cao đẳng nghề Việc ứng dụng CNTT nhằm xây dựng BGĐT cho Modul còn gặp nhiều khó khăn
Do đó tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu BGĐT cho môn học PLC S7- 300 ứng dụng mô phỏng bằng WinCC và PLCSIM tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Ninh ”
1.2 Công nghệ dạy học hiện đại
1.2.1 Công nghệ
Hiện nay đang tồn tại những quan điểm khác nhau về công nghệ Song chưa sách nào đưa ra một định nghĩa chuẩn xác về công nghệ Nhìn chung có thể hiểu công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Như vậy công nghệ là việc phát triển và ứng dụng các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp
đỡ giải quyết những vấn đề của con người Với tư cách là hoạt động giúp đỡ con người trong lao động sản xuất, và kỹ nghệ Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu chuẩn Việc tiêu chuẩn hoá như vậy là đặc thù chủ yếu của công nghệ
Trang 19Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thường được đặc trưng bởi các phát minh
và cải tiến sử dụng các nguyên lý và quy trình đã được khoa học phát hiện ra gần đây nhất Tuy nhiên, thậm chí cả phát minh cổ nhất như bánh xe cũng là một minh họa cho công nghệ
Theo Atlas – công nghệ, công nghệ là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, các
bí quyết, phương tiện kỹ thuật, và phương pháp được dùng để chuyển hoá các nguồn lực sử dụng trong sản xuất hoặc dịch vụ công nghiệp dịch vụ quản lý [1.tr67]
Trong phạm vi luận văn này, công nghệ được hiểu hệ thống những phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm lợi dụng quy luật khách quan (khoa học) để tác động vào một đối tượng nào đó, đạt một thành quả xác định cho con người [2.tr1]
1.2.2 Công nghệ dạy học
Theo nghĩa hẹp, công nghệ dạy học là quá trình sử dụng các phương tiện kỹ thuật và các phương tiện hỗ trợ vào việc dạy học nhằm nâng cao chất lượng học tập của sinh viên
Theo nghĩa rộng, công nghệ dạy học là một hệ thống những phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào người học hình thành một nhân cách xác định [3.tr4]
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy rõ dạy học được xem là một công nghệ, trước hết là vì bản chất của nó tương ứng với nội hàm của khái niệm công nghệ, không phải vì hiện tượng những quy trình công nghệ hay những ứng dụng CNTT hoặc phương tiện kỹ thuật khác trong dạy học
Như vậy, công nghệ dạy học như một quá trình khoa học trong đó nguồn nhân lực và vật lực được sử dụng để xem như quá trình công nghệ đặc biệt, một quá trình sản xuất những sản phẩm cao cấp, tinh vi nhất (là con người) Nét độc đáo của quá trình này là ở chỗ sinh viên không còn là đối tượng thụ động của quá trình tác động của giáo viên mà học vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình dạy học [5.tr16]
Trang 20Ngày nay quá trình dạy học không chỉn được hiểu là một quá trình công nghệ mà nó còn phát triển lên một tầm cao mới, đó là công nghệ dạy học hiện đại Công nghệ dạy học hiện đại được hiểu là công nghệ dạy học với phương tiện, phương pháp và kỹ năng trong thời đại ngày nay – thời đại công nghệ thông tin và truyền thông Một cách vắn tắt, công nghệ dạy học hiện đại là công nghệ dạy học bằng máy tính [3.tr12]
1.2.3 Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại
* Bản chất
Bản chất của công nghệ dạy học hiện đại [5.tr17] có thể được mô tả là sự kết hợp thành tựu của nhiều ngành khoa học công nghệ khác nhau trong việc tổ chức quá trình dạy học bao gồm: đầu ra, đầu vào, điều kiện phương tiện, nội dung đào tạo, phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá nhằm đạt được mục đích đào tạo với chi phí tối ưu
Đầu ra (mục tiêu) Đầu vào (học sinh)
Điều kiện phương tiện dạy học Nội dung đào tạo
Hệ thống phương pháp Tiêu chuẩn đánh giá
Đạt mục đích đào tạo với chi phí tối ưu
Hình 1.1: Bản chất của công nghệ dạy học
Trang 21- Tính hiện đại: Thường xuyên áp dụng cập nhật vào thực tiễn dạy học những đổi mới về giáo dục một cách có căn cứ khoa học
- Tối ưu hoá: Chi phí ít nhất về thời gian và sức lực
- Tính tích hợp: Sử dụng thành tựu của nhiều khoa học vào việc đào tạo
- Tính lặp lại kết quả: Cùng một quá trình đào tạo phải đạt được những kết quả mong muốn gần giống nhau (Trình độ sinh viên ra trường phải đạt được một ngưỡng nào đó gần như nhau )
- Tính phương tiện: Sử dụng phương tiện truyền thông và đồ dùng dạy học
- Tính khách quan: Có các tiêu chí đánh giá kết quả học tập rõ ràng, khách quan, kịp thời về định lượng và cả định tính
- Hệ thống hoá: Chương trình hoá hoạt động từ lúc thăm dò nhu cầu xã hội, tuyển sinh, học tập đều được tiến hành theo những quy trình
1.2.4 Các thành phần của công nghệ dạy học hiện đại
Công nghệ dạy học bao gồm 4 thành phần cơ bản: thiết bị, con người, thông tin, quản lý: [5.tr19]
Hình 1.2: Các thành phần của công nghệ dạy học
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa thiết bị: bao gồm các phương tiện vật chất như thiết bị trường học, đồ dùng dạy học, xưởng trường Đó là phần vật chất, phần cứng của công nghệ dạy học, giúp tăng cường lực hoạt động giáo dục
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa con người: bao gồm năng lực công nghệ dạy học của thầy giáo và sinh viên Cụ thể là các kinh nghiệm, kiến thức,
Trang 22kỹ năng, kỹ xảo, sáng tạo, khả năng lãnh đạo, Phần này phụ thuộc vào trình độ học vấn, vốn kinh nghiệm nghề nghiệp và lòng say mê với nghề
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa thông tin: bao gồm tri thức giáo khoa đã được thể thức hoá thành tri thức tiền dạy học nghĩa là được sắp xếp theo một quy trình có thể diễn tả các lý thuyết, toát lên phương pháp nhận Thông tin giúp cho con người rút ngắn thời gian tiếp nhận, xử lý và tái tạo hiệu quả Thông tin phải luôn được bổ sung và cập nhật trong quá trình nhận thức
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa tổ chức: Bao gồm các hoạt động thể chế, quyền hạn và mối liên hệ trong quá trình điều khiển Chức năng của tổ chức
là phối hợp tốt ba khâu ở trên của công nghệ dạy học
1.2.5 Tác dụng của công nghệ dạy học
- Về công nghệ dạy và học nói chung: Tác dụng của các giác quan trong việc tiếp nhận và lưu trữ tri thức Công nghệ nói chung là một hợp phần của môi trường, người dạy, người học có tác dụng hỗ trợ các tương tác trong quá trình dạy và học Công nghệ giúp tối đa hoá thời gian mà việc học tập thật sự diễn ra, tối thiểu hoá các lao động cấp thấp, tạo thuận lợi cho các mối quan hệ tương tác Để hiểu rõ hơn vai trò của công nghệ và PTDH, sau đây xin dẫn vài số liệu thống kê nêu tác dụng của các loại giác quan trong quá trình thu nhận và lưu giữ tri thức Tỷ lệ trung bình
về vai trò của các giác quan trong quá trình thu nhận và lưu giữ tri thức Tỷ lệ trung bình về vai trò của các giác quan trong việc thu nhận tri thức như sau:
Trang 23Tỷ lệ tri thức còn lưu lại trong trí nhớ sau khi thu nhận bằng từng giác quan, bằng sự kết hợp các giác quan hoặc qua việc tự trình bày hoặc qua việc thao tác thực hiện như sau:
- Đối với công nghệ mới, vấn đề sử dụng chúng vào quá trình dạy và học lại
có tầm quan trọng lớn hơn Trước việc khối lượng thông tin tăng nhanh theo hàm
mũ, nhờ những công nghệ mới đó mới có thể nhanh chóng chọn nhập và xử lý thông tin để biến thành tri thức Ngoài ra, cần qua công nghệ mới làm cho thế hệ trẻ nhanh chóng hình thành phong cách văn hoá mới
* Ưu điểm:
- Nâng cao năng suất và hiệu quả của dạy học Với sự hỗ trợ của máy tính giúp giảm thiểu được thời gian ghi chép mà thay vào đó là trao đổi thảo luận các vấn đề liên quan đến bài dạy, thêm vào đó khi sử sụng máy tính bài giảng sẽ trở nên sinh động hơn nhờ có các hình ảnh, các biểu đồ, các đoạn phim, các thí nghiệm có thể tương tác được,
- Cho phép cá thể hoá giáo dục: người học có thể học mọi lúc mọi nơi, mỗi người có thể học theo kế hoạch học tập của riêng mình
Trang 24- Tăng cường bình đẳng trong giáo dục: bình đẳng trong quan hệ thầy trò Giảm thiểu tình trạng thầy giảng bài ở trên, học trò ở dưới cắm cúi ghi chép mà chưa hiểu hết nội dung mình ghi Người học đóng vai trò trung tâm, chủ thể của quá trình dạy học, giáo viên đóng vai trò định hướng, giúp người học đi đúng quỹ đạo
- Góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn cơ sở khoa học của dạy học, tạo cho nó những nền tảng khoa học vững chắc
* Nhược điểm
- Phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất và con người
- Chỉ áp dụng cho một số môn học cụ thể
1.2.6 Những điểm cần lưu ý về công nghệ dạy học hiện đại
Một công nghệ ( phương tiện, phương pháp, kỹ năng ) dạy học chỉ có tác dụng tốt khi được sử dụng theo quan điểm công nghệ và quan điểm hệ thống: [3]
* Theo quan điểm công nghệ
- Phải có phương tiện ( Máy tính, máy chiếu, ) thích hợp và điều kiện vận hành tương ứng
- Người dạy có tay nghề ( Kiến thức, phương pháp và kỹ năng về tin học cũng như chuyên môn, ) đủ để làm chủ quá trình dạy học như ứng tác linh hoạt khi phát hiện thiếu hoặc thừa thời gian dạy học so với kế hoạch đã định
- Người học phải có học liệu thích hợp và biết ứng xử ngang tầm với những thuận lợi do công nghệ hiện đại mang lại
* Theo quan điểm hệ thống
Công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống con trong hệ thống công nghệ dạy học nói chung, vì thế phải được sử dụng trong mối tương quan với công nghệ dạy học truyền thống, theo phương châm đúng lúc, đúng chỗ và đúng độ ( trình độ,
mức độ ), đảm bảo cho quá trình dạy học không chỉ khả thi mà còn hiệu quả
1.2.7 Bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại
Theo truyền thống giáo viên thường soạn bài ( Chuẩn bị giáo án) như sau: [3]
* Phần chữ
Trang 25Giáo viên sáng tác một phần dựa vào học vấn và kinh nghiệm dạy học của mình, phần còn lại thường được biên soạn theo tài liệu tham khảo như sách, báo, bài giảng ( thông thường chiếm tỷ lệ khá lớn) với phương tiện thông dụng là giấy, bút, một số giáo viên có dùng phương tiện sao chụp,
* Phần hình:
Giáo viên sáng tác một phần theo khả năng của mình, phần còn lại được biên soạn theo tài liệu tham khảo ( thông thường chiếm tỷ lệ khá lớn) với phương tiện thông dụng như giấy, bút, một số giáo viên dùng thiết bị scan, in, sao, chụp, các phương tiện nghe nhìn như tranh treo, phim, băng hình, không phải là thành phần trực tiếp của bài soạn, thường được phối hợp trên lớp
Một bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại ( công nghệ dạy học bằng máy tính) còn gọi là BGĐT, cần đáp ứng đồng thời hai yêu cầu cơ bản sau:
- Là một bài giảng giáp mặt đạt chuẩn mực sư phạm
- Là một bài giảng từ xa qua mạng (LAN, WAN, ) người học có thể tái hiện đầy đủ những gì giáo viên cung cấp
Chuẩn mực sư phạm được hiểu là những tiêu chí, yêu cầu cơ bản, đảm bảo cho quá trình dạy học và quá trình này thực hiện hai hoạt động tương tác: dạy của thầy và học của trò khả thi (dạy được và học được) và hiệu quả (dạy tốt và học tốt)
Khi soạn bài giảng trên máy tính để dạy học giáp mặt hoặc từ xa qua mạng, bài soạn của giáo viên phải phải ở dạng sẵn sàng cho việc trình chiếu trên lớp và tải lên mạng, vì thế mỗi giáo viên phải làm được những việc sau:
* Phần hình tĩnh:
Giáo viên tùy khả năng có thể sáng tác một phần bằng công cụ Drawing trong Ms Office, Paint trong Windows hoặc các phần mềm đồ họa khác như Ms visio, Mathcad, Multisim, SolidWorks,… lưu dưới dạng ảnh thích hợp cho web như gif hoặc jpeg Phần còn lại được biên soạn theo tài liệu tham khảo:
- Nếu tài liệu tham khảo là các ấn phẩm: sử dụng máy quét ảnh
- Nếu tài liệu tham khảo là CDROM, copy vào PC nếu có thể, nếu không thì chụp bằng các phần mềm như Snaglt,…(thực hành PTN CNDH)
Trang 26* Phần hình động:
Giáo viên tùy khả năng có thể sáng tác một phần bằng các phần mềm hoạt hình sẵn có trong PC như PowerPoint, hoặc cài đặt thêm như Mathcad, Flash, SolidWorks,…Các file hoạt hình có thể chuyển thành file gif, avi, hoặc mpg bằng các phần mềm GIF MovieGear, MPEG Encoder,… (thực hành PTNCNDH) Phần còn lại biên soạn theo tài liệu tham khảo
- Nếu tài liệu tham khảo là CDROM: copy vào PC nếu được hỗ trợ, nếu không thì cho chạy và chớp thành phim AVI bằng các phần mềm như Snaglt, HyperSnagDX, ScreenCam,… sau đó tách phim thành chuỗi frames bằng phần mềm thích hợp, để biên soạn lại hình ảnh và văn bản theo ý muốn (thực hành PTNCNDH)
- Nếu tài liệu tham khảo là băng hình,… thì cần cài đặt bản mạch chuyển đổi tương
tự - số như VideoMagic chẳng hạn và các phần mềm tương ứng
1.2.8 Một số xu thế của dạy học hiện đại
* Xu thế tổng quát của dạy học hiện đại
Các quá trình hiện đại hoá và tiêu chuẩn hoá sẽ là xu thế tổng quát trong dạy học hiện đại, kể cả chính quy và không chính quy trong vài ba thập kỷ tới Nội dung của hiện đại hoá và tiêu chuẩn hoá chắc chắn được định hướng vào các mục tiêu nhân văn, dân chủ và phát triển bền vững Không chỉ có vấn đề tăng cường các yếu
tố khoa học – công nghệ trong việc khai thác sử dụng các nguồn lực giáo dục, trong việc quản lý, điều hành hay đánh giá dạy học, trong phát triển chương trình và phương pháp, trong công nghệ dạy học mà điều cốt lõi nhất chính là sự phát triển của người học nói riêng và của con người nói chung
Học tập thường xuyên và học tập suốt đời là xu thế chung của dạy học hiện đại Những xu thế triển vọng nhất trong dạy học và giáo dục không thể không chịu những ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển nhu cầu của con người, trước hết là nhu cầu gắn liền với học vấn, tri thức, tay nghề, sự thành đạt về mặt xã hội, hạnh phúc
cá nhân trong cuộc sống cộng đồng đa dạng
Trang 27Trong điều kiện xã hội học tập và nền kinh tế tri thức ngày càng mở rộng, nhu cầu học vấn được nâng lên rõ ràng, đa dạng hơn, và đặc biệt có tính chất chọn lọc hơn Người ta không chỉ đơn giản là cần học, muốn học, thấy bức bách rằng phải học, mà quan trọng hơn rằng phải học như thế nào, học chính xác cái gì, học vào những lúc nào và học đến mức độ nào thì đủ đển hiểu biết, để làm việc, để chung sống và để làm người
Học thường xuyên và học suốt đời là xu thế chung trong nhu cầu học tập của con người, đồng thời cũng là đòi hỏi khách quan của thời đại đối với dạy học trong những thập niên tới Chương trình và học chế nhà trường ngày càng đáp ứng cao hơn nhu cầu học thường xuyên, học suốt đời
* Một số xu thế của dạy học hiện đại
Chương trình dạy học hiện đại không chỉ còn cứng nhắc như hiện nay mà nó
có những phần cơ bản, cốt lõi và chuẩn mực bắt buộc (phần cứng) đòi hỏi 100% sinh viên phải nắm vững và phần tự chọn, linh hoạt (phần mềm) thích ứng với từng trình độ người học, tạo điều kiện, cơ hội giúp người học tiếp thu dễ dàng Phần tự chọn này có thể chia nhiều mức khác nhau, cũng sẽ tương ứng mức yêu cầu lượng sinh viên nắm được vấn đề khác nhau, có thể 80%, 60%, hoặc thậm chí là 20% Với phần kiến thức này, giáo viên chỉ cần giảng sơ qua, đưa ra câu hỏi gợi mở để sinh viên động não suy nghĩ, từ đó đúc rút được kiến thức cho mình
Phát triển chương trình và PPDH được cấu trúc đa dạng hơn, phong phú hơn,
mở rộng các lĩnh vực học tập (học theo bài, theo modul, theo chủ đề, theo dự án, ) đáp ứng nhu cầu học tập của mỗi cá nhân là cần gì học nấy, phải chuyên sâu về vấn
đề đang nghiên cứu, chứ không phải dàn trải, cái gì cũng học, cái gì cũng biết một ít nhưng không biết sâu
Phát triển các phương tiện công nghệ cao trong truyền thông, giao tiếp, giáo dục, sinh hoạt và môi trường thông tin toàn cầu hoá tạo điều kiện đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu học tập của con người Học tập từ xa sẽ là xu thế mạnh mẽ trong dạy học Cần phải phát triển các chương trình học tự chọn, chuyển sang đào tạo, dạy học theo tín chỉ học phần, theo modul,
Trang 28Những phương pháp dạy học triển vọng nhất chính là những phương pháp dựa vào người học, đó chính là PPDH lấy người học làm trung tâm
Xu hướng tăng cường sự tương tác, hợp tác và cạnh tranh, tham gia và chia
sẻ trong các quan hệ giữa người học và người dạy, giữa người học với nhau, giữa cá nhân và nhóm, giữa nhóm với tập thể lớp
Tăng cường sử dụng CNTT, điện tử, kỹ thuật số, trong thiết kế và tổ chức quá trình dạy học là xu thế mạnh mẽ trong hiện đại hoá và tiêu chuẩn hoá phần lớn tài liệu học tập và giảng dạy được thiết kế và tổ chức bằng cả hai dạng văn bản in truyền thống (giáo khoa, giáo trình, ) và văn bản điện tử (BGĐT, sách điện tử, ) Chúng được sử dụng song song, bổ xung cho nhau để tăng cường hiệu quả và chất lượng thông tin, đa dạng hoá các hình thức học tập, phù hợp với chế độ học tập của
cá nhân và học độc lập
Toàn cầu hoá kinh tế dẫn tới hội nhập, do đó dẫn tới xu thế quốc tế hoá văn bằng chứng chỉ, kỹ thuật thiết kế và cấu trúc chương trình dạy học, công nghệ đo lường và đánh giá dạy học, đòi hỏi quốc tế hoá trong lĩnh vực chuẩn học vấn, chuẩn
kỹ năng của nhiều lĩnh vực học tập
1.3 Bài giảng điện tử
1.3.1 Khái niệm
Trong những năm gần đây, máy vi tính được sử dụng rộng rãi trong nhà trường với tư cách là PTDH với nhiều loại phần mềm được thiết kế dưới các quan điểm khác nhau Hình thức sử dụng máy vi tính vào dạy học rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, BGĐT là một hình thức sử dụng phổ biến hiện nay BGĐT có thể được viết dưới bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào tuỳ theo trình độ CNTT của người soạn, có thể sử dụng phầm mềm trình diễn sẵn như Frontpage, PowerPoint Trong
đó thiết kế BGĐT trên MicrosoftPowerPoint là đơn giản nhất
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Công Triêm – Giám đốc TTNCGD & BDGV, ĐSVP Huế : BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra
Trang 29Theo cách hiểu này, BGĐT là một hình thức tổ chức dạy học Trong khi đó, hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học có thời gian và địa điểm nhất định, với các phương pháp, PTDH cụ thể nhằm giải quyết các nhiệm vụ dạy học Đặc biệt trong dạy nghề, không đơn thuần chỉ là bài giảng lý thuyết mà là bài giảng tích hợp Do vậy BGĐT không thể hiểu là một hình thức tổ chức dạy học
Theo tôi BGĐT là một chương trình có ứng dụng CNTT, hỗ trợ cho hoạt động dạy và học Sự hỗ trợ này tạo điều kiện để giáo viên có thể tổ chức và điều khiển tốt hoạt động nhận thức của sinh viên, để sinh viên phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo
1.3.2 Cấu trúc cơ bản của BGĐT
Khi thiết kế BGĐT có thể thự hiện theo cấu trúc cơ bản sau :
Trong BGĐT nên phân thành nhiều mục nhỏ khác nhau Trong mục, có thể tách thành các mục nhỏ như vậy sẽ đem lại nhiều thuận lợi:
- Thuận lợi cho giáo viên trong quá trình giảng dạy, chỉ ra mối liên hệ giữa các phần kiến thức với nhau (bài học có mấy phần, mỗi phần có mấy ý, nội dung cụ thể từng ý nhỏ, mối liên hệ giữa các ý đó) và thuận lợi hơn trong việc hệ thống hoá kiến thức cho sinh viên
Trang 30- Thuận lợi cho sinh viên: sinh viên sẽ dễ dàng tiếp thu kiến thức
1.3.3 Các yêu cầu khi thiết kế BGĐT
Để BGĐT đảm bảo mục tiêu đề ra và đáp ứng yêu cầu dạy học thì khi soạn bài, giáo viên phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:
- Nội dung: chỉ đưa ra những nội dung kiến thức trọng tâm của bài Các kến thức liên quan giáo viên có thể cung cấp cho sinh viên bằng tài liệu phát tay hoặc cung cấp cho sinh viên giáo trình để họ nghiên cứu trước Điều này xẽ giúp cho sinh viên học được những ý chính, phát huy tính tự học và biết khai triển nội dung theo ý chính
- Cấu trúc: Đảm bảo tính logic Nội dung bài phải được chia nhỏ giúp sinh viên dế lĩnh hội và nôi dung trước phải làm tiền đề cho nội dung sau Phải tạo được
sự liên kết giữa các phần nội dung, điều này giúp sinh viên tổng kết bài và khi cần giải thích lại cho sinh viêm dễ dàng và không mất thời gian
- Phương pháp dạy học: BGĐT phải khải khai thác triệt để các PPDH đa dạng và nhiều chiều,đặc biệt tính tích cực của sinh viên
- Tính sư phạm: Hình ảnh, cỡ chữ, phông nền, … không tương thích, thậm chí trong một slide có quá nhiều chữ làm cho sinh viên chỉ chú tâm đọc chữ mà không nghe giáo viên nói gì Hoặc khi có giáo án trình chiếu thì chỉ sử dụng một cách giảng là thuyết trình bảng chiếu mà không áp dụng nhiều phương pháp khác làm cho kết quả dạy học không cao
Tôi xin đưa ra một số việc cơ bản sau nhằm nâng cao hiệu quả dạy học thông qua giáo án điện tử như sau: Không đưa toàn bộ nội dung cần trình bày lên phông chiếu, không tạo hiệu ứng loè loẹt, nhấp nháy liên tục làm cho người học mỏi mắt và khó chịu và phải xác định rằng xây dựng giáo án điện tử để giáo viên dạy học chứ không phải để cho sinh viên đọc giáo án khi trình chiếu còn giáo viên chỉ là kỹ thuật viên bấm máy
- Công nghệ: Kết hợp được các phần mềm mô phỏng để giúp sinh viên dễ hiểu các nội dung mang tính chất trừu tượng Đặc biệt phải khai thác được “kênh hình”, và khi khai thác được vấn đề này thì BGĐT mới có hiệu quả
Trang 311.3.4 Các yêu cầu khi sử dụng BGĐT
Khi sử dụng BGĐT, GV cần lưu ý một số yêu cầu sau:
- Kết hợp các PPDH, PTDH để phát huy tối đa tính tích cực, tính sáng tạo của người học
- Việc trình chiếu phải kết hợp với tự nghiên cứu có hướng dẫn, thảo luận nhóm GV phải thực sự đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo trong quá trình dạy học nhằm giúp SV tìm tòi tri thức, hình thànhn cho họ kỹ năng tự học, tự nghiên cứu Giảm thời gian truyền đạt tri thức lý thuyết, tăng thời gian thực hành luyện tập
- Phải đảm bảo phù hợp giữa lời giảng, sự trình diễn của GV và sự theo dõi của SV BGĐT không phải là đoạn phim chỉ trình chiếu một chiều mà trong quá trình giảng dạy giáo viên vẫn sử dụng các phương pháp giảng dạy đặt vấn đề, SV thảo luận, SV trả lời, phương pháp mô phỏng, làm nhóm, Sau khi giải quyết vấn
đề (một kiến thức hay một kỹ năng nào đó), thay vì phải ghi lên bảng thì GV cho hiện kiến thức cần ghi ra, để một khoảng thời gian cho SV ghi bài
- Màn hình của BGĐT phải chia thành 4 phần : Phần trên cùng chứa tiêu đề của bài giảng xuất hiện từ đầu đến cuối giờ học Phần bên trái là các đề mục của bài giảng Phần bên phải chiếm phần lớn diện tích của màn hình, là nơi lần lượt xuất hiện nội dung bài giảng theo đúng kịch bản của quá trình dạy học Phần dưới cùng là nơi để viết giải thích các cụm từ chuyên dụng hoặc thông tin chi tiết hơn, chú thích cho một vấn đề nào đó Như vậy, với cách thiết kế trên thì BGĐT đóng vai trò chủ đạo, vừa là bảng ghi bài vừa là nơi trình chiếu các ví dụ mô phỏng trong bài học
1.3.5 Đặc điểm của bài giảng điện tử
Trang 32nghe, nói, đọc viết mà còn quan sát và cảm nhận được các sự kiện, hiện tượng
- Các tiết học có sử dụng BGĐT trở lên hấp dẫn, lôi cuốn, sinh động hơn
SV hứng thú, tích cực hơn trong giờ học
- Sử dụng BGĐT, GV có thể tiết kiệm thời gian lên lớp, thay vì trước đây
GV phải mất nhiều thời gian viết bảng hay mất thời gian để treo tranh, ảnh hay các thao tác hoạt động thí nghiệm, … thì nay chỉ bằng một cái lick chuột, bài giảng đã hiện ra và SV có thể theo dõi bài giảng bằng những hình ảnh sống động và những đoạn phim minh họa ngắn gọn, xúc tích SV có nhiều thời gian hơn để thảo luận về những vấn đề liên quan đến bài học
- BGĐT có thể lưu lại cho việc chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật hoá kiến thức ở bất kì đoạn nào, mục nào một cách dễ dàng
* Hạn chế
- Khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là cơ sở vật chất, trang thiết bị nghe nhìn, PTDH Hiện nay, nhiều trường không đủ phòng học cho SV và do đó không có phòng dành cho multimedia thì việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy nhiều khi chỉ mang tính hình thức
- Để việc thiết kế và giảng dạy BGĐT có hiệu quả, đòi hỏi GV phải có kiến thức sâu về tin học, ứng dụng tốt các phần mềm công cụ Điều này là quá mới mẻ đối với đại đa số các GV hiện nay
- Hơn nữa, để soạn một BGĐT thì giáo viên phải vất vả gấp nhiều lần so với cách soạn bài truyền thống Ngoài kiến thức căn bản về tin học, sử dụng thành thạo các phần mềm, giáo viên cần phải có niềm đam mê thực sự với việc thiết kế vốn đòi hỏi sự sáng tạo, sự nhạy bén, tính thẩm mỹ để tìm nhiều nguồn lư liệu
- Một hạn chế nữa trong việc sử dụng BGĐT là: để BGĐT thật sự có hiệu quả, người giáo viên cần phải đảm bảo sao cho BGĐT đó vừa là một giáo án vừa là một loại hình thiết bị dạy học hiện đại, sao cho BGĐT đó vừa sinh động, vừa hấp dẫn, lôi cuốn nhưng không được lạm dụng CNTT trong quá trình dạy học
Trang 33Vì vậy, vấn đề được đặt ra đối với các chuyên gia, các cấp quản lý giáo dục hiện nay là phải xây dựng được tiêu chí đánh giá một BGĐT như thế nào cho có hiệu quả để đạt được tiết dạy tích cực có ứng dụng CNTT
Nhìn chung, BGĐT không thể thay thay thế việc soạn giáo án truyền thống hay thay thế hẳn thao tác sử dụng phấn trắng, bảng đen, trình bày miệng của GV trong quá trình lên lớp BGĐT được quan niệm như là phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, giúp GV tổ chức các hình thức giảng dạy
1.4 Phương tiện dạy học và vai trò của phương tiện dạy học
1.4.1 Phương tiện
Phương tiện theo tiếng Latinh – ‘medium’ có nghĩa là ở giữa và trung gian liên kết giữa người gửi và người nhận Phương tiện vừa nói lên sự hàm chứa, tính vị trí vừa
có chức năng chuyển giao, liên kết trong quan hệ giữa người gửi và người nhận
Phương tiện là một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu nhằm chuyển giao nôi dung nhất định giữa người gửi và người nhận bằng hệ thống các tín hiệu thông qua các giác quan cảm nhận của con người
1.4.2 Đa phương tiện (Multimedia)
Năm 1994, Charles B Wang, chuyên gia máy tính, xem đa phương tiện là
‘‘một trong những từ gây nhiều bàn cãi’’ Đa phương tiện thực sự là một thuật ngữ cho việc kết hợp các khả năng trong công nghệ Đa phương tiện liên kết với máy tính cá nhân các chức năng kết nối các yếu tố như văn bản, đồ hoạ, âm thanh, hình ảnh tĩnh và động sử dụng trong đào tạo hay thông tin Nói một cách ngắn gọn, theo Robert S Tannenbaum, đó là việc trình bày có tương tác với máy tính bao gồm ít nhất hai trong số các yếu tố : văn bản, âm thanh, hình ảnh đồ hoạ tĩnh, đồ hoạ động
và cả sự chuyển động
Theo Fenrich (1997) : ‘‘Multimedia là sự tích hợp lý thú giữa phần cứng và phần mềm máy tính, cho phép tích hợp các tài nguyên video, audio, hoạt hình đồ hoạ và trắc nghiệm để xây dựng và thực hiện một trình diễn kếtn quả nhờ một máy tính có cấu hình thích hợp’’
Trang 34Theo (Philip,1997) : ‘‘Multimedia đặc trưng bởi sự hiện diện của văn bản hình ảnh, âm thanh, mô phỏng và video được tổ chức chặt chẽ trong một chương trình máy tính.’’
Đa phương tiện được hiểu nôm na là sự tổ hợp của nhiều phương tiện Khi nói đến đa phương tiện, người ta thường nói đến máy tính, đến CNTT Đa phương tiện còn được hiểu là một tổ hợp các công nghệ dựa trên nền tảng máy tính để tạo cho người dùng khả năng truy nhập và thao tác những văn bản, âm thanh và hình ảnh Đa phương tịên trong dạy học là sự kết hợp các đối tượng mang thông tin khác nhau (văn bản, âm thanh, hình ảnh) thành một hệ thống nhất để truyền thông tin giữa thầy và trò [7 trang 25]
Ứng dụng multimedia trong dạy học là yếu tố của quá trình nâng cao chất lượng dạy học Multimedia là sự phối hợp một cách có tính toán những phương tiện truyền thống khác nhau trong dạy học (như âm thanh, đồ hoạ, phim ảnh, video, ) cũng như các phương tiện tương tự nhờ máy tính để thực hiện mục tiêu dạy học
Sự tích hợp của văn bản (Test), hình ảnh (Image), âm thanh (Sound), hình động (animation) và phim (video)…trong phương tiện được sử dụng đã tạo nên tính hiệu quả của multimedia trong dạy học, tạo ra môi trường, phương tiện và điều kiện thuận lợi cho người dạy và người học nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
Ứng dụng Multimedia trong dạy học không phủ nhận hoặc giảm nhẹ vai trò của người dạy mà phải làm tăng hiệu quả vai trò của người dạy trong tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động nhận thức của người học
1.4.3 Phương tiện dạy học
Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học gồm có hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó diễn ra quá trình tái sản xuất những kinh nghiệm xã hội của nhân loại Cũng như bất kỳ một quá trình sản xuất nào, quá trình dạy học cũng phải sử dụng những phương tiện lao động nhất định Phương tiện lao động sư phạm rất đa dạng
Nó bao gồm những phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ Ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu PTDH vật chất với ý nghĩa là công cụ lao động của người dạy và người học và được nói gọn là phương tiện dạy học Song, khi đề cập đén các PTDH với cách sử dụng chúng thì phần nào đã nói đến phương tiện
Trang 35PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học,
là phương tiện nhận thức của người học, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm
vụ dạy học [7 trang 7]
1.4.4 Vai trò của phương tiện dạy học
Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiện nay các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục – đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó phương tiện dạy
và học là một thành tố quan trọng
Vị trí PTDH của phương tiện trong dạy học kỹ thuật : PTDH đóng một vai trò quan trọng trong dạy học, đặc biệt là trong dạy học kỹ thuật Sơ đồ vị trí của PTDH trong dạy học kỹ thuật đã cho ta thấy, dạy học có các yếu tố bên trong là hoạt động thống nhất của mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và các yếu
tố bên ngoài là điều kiện về con người, văn hoá, xã hội Nội dung bài giảng là yếu
tố quyết định cấu trúc của PTDH PPDH và phương tiện có quan hệ chặt chẽ với nhau, phương pháp khác nhau thì phải chọn phương tiện khác nhau Việc sử dụng PTDH hợp lý giúp cho PPDH phát huy hơn nữa hiệu quả của nó
Trang 36- Trong tài liệu nhập môn công nghệ dạy học hiện đại định nghĩa : Quá trình dạy học là một quá trình xã hội Về hình thức, đó là quá trình hoạt động tương tác giữa người dạy (hoạt động dạy) và người học (hoạt động học) Từ định nghĩa quá trình dạy học, chúng ta nhận thấy rằng hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của sinh viên, mà một trong những nhiệm vụ tổ chức điều khiển nhận thức đó của giáo viên là việc tổ chức, điều khiển quá trình tri giác cảm tính những hiện tượng hoặc đối tượng được nghiên cứu của sinh viên Song, những hiện tượng, đối tượng đó không phải bao giờ cũng được hiện ra một cách trực tiếp ở ngay phòng học Trong trường hợp đó PTDH tạo khả năng tái hiện chúng một cách gián tiếp thông qua hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, mô hình Nhờ chúng
mà tạo nên trong ý thức của người sinh viên những hình ảnh trực quan cảm tính của những hiện tượng và sự vật Nhiệm vụ của dạy học là làm sao để từ những hình ảnh trực quan cảm tính dẫn đến sinh viên hiểu bản chất của hiện tượng hoặc sự vật Việc chuyển hoá đó có liên hệ với tư duy trừu tượng, với việc đưa vào và sử dụng những khái niệm trừu tượng Với điều đó, những hình ảnh trực quan đảm bảo mối liên hệ thường xuyên giữa tư duy với hiện tượng hoặc đối tượng nghiên cứu khi cung cấp cho tư duy tài liệu thông tin cần thiết
Đối với giáo viên, PTDH là trợ thủ không thể thay thế được của người giáo viên ở giai đoạn hình thành tư duy trừu tượng cho sinh viên Ở giai đoạn này những hình ảnh trực quan cảm tính bao giờ cũng là thành phần và tiền đề bắt buộc của tư duy Tư duy dù đạt đến mức độ cao như thế nào ít nhiều nó cũng vẫn cần đến trực quan cảm tính, cần đến hình ảnh Ở giai đoạn kết thúc sự nghiên cứu hiện tượng hoặc sự vật cần phải chỉ cho sinh viên sự vận dụng trong thực tiễn của nó Điều đó cũng sẽ khó đạt dược nếu thiếu sử dụng những PTDH Vì vậy, ở cả giai đoạn trực quan cảm tính, giai đoạn tư duy trừu tượng và ở cả giai đoạn giới thiệu cho sinh viên sự vận dụng thực tiễn những hiện tượng hoặc sự vật nghiên cứu cũng cần phải
sử dụng những PTDH Đối với người học, PTDH là công cụ nhờ nó mà họ nhận thức được thế giới xung quanh
Trang 37Những điều trình bày ở trên đã nói lên vai trò và tác dụng của PTDH không chỉ trong hoạt động nhận thức của SV mà cả trong việc thực hiện những chức năng quan trọng đối với hoạt động dạy của người GV, khi làm tăng khả năng của họ như
là nhà giáo dục, như một nguồn thông tin, nhà tổ chức và người kiểm tra, kiểm soát Trong trường hợp tổ chức vận dụng đúng đắn về mặt sư phạm, PTDH đóng vai trò như là nguồn thông tin và giải phóng người GV khỏi nhiều công việc có tính chất thuần tuý kỹ thuật trong tiết học, chẳng hạn như thông báo thông tin, để có nhiều thời gian hơn cho công tác sáng tạo trong hoạt động với SV PTDH tạo khả năng vạch ra một cách sâu sắc hơn, trình bày rõ ràng dể hiểu, đơn giản hơn nội dung tài liệu học tập, tạo điều kiện hình thành cho họ động cơ học tập đúng đắn Như vậy, PTDH là một trong những thành phần của quá trình dạy học Nó có vai trò quyết định hiệu quả của quá trình dạy học Điều quan trọng là phải lựa chọn những phương tiện phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ trong cả quá trình dạy và học
1.4.5 Một số nguyên tắc sư phạm trong việc tạo và sử dụng PTDH
PTDH có ý nghĩa to lớn như trên đã trình bày, song không phải tự thân nó có toàn bộ ý nghĩa đó Nói cách khác là không phải cứ sử dụng PTDH là có tác dụng dạy học – giáo dục mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc người giáo viên sử dụng nó như thế nào, vào cách nghiên cứu, chế biến tài liệu dạy học với việc sử dụng phương tiện đó mà họ sẽ tiến hành
Tiết học với việc sử dụng những phương tiện kỹ thuật dạy học đó là một tiết học mới mà trong đó bắt buộc người giáo viên phải sử dụng PPDH phù hợp với chúng Những PTDH, đặc biệt là những phương tiện kỹ thuật dạy học, làm thay đổi cấu trúc và cả nhịp điệu tiết học và kết quả dẫn tới là làm thay đổi vị trí người giáo viên trong tiết học Đồng thời điều đó đòi hỏi trình độ lành nghề của người GV cao Hiệu quả sử dụng những PTDH càng lớn khi họ có trình độ nghiệp vụ càng cao Để
sử dụng PTDH có hiệu quả, giáo viên phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau :
1.4.5.1 Nguyên tắc an toàn
Các phương tiện kỹ thuật dạy học (PTKTDH) thường được sử dụng với điện
áp cao, cường độ ánh sáng lớn và độ khuyếch đại âm thanh có thể lớn hơn mức cần
Trang 38- Cần chú ý đặc biệt những khu vực có ghi ký hiệu điện cao áp
- Không tự động mở vỏ bảo vệ thiết bị Trong trường hợp cần mở, cần rút phích cắm điện
- Khi không dùng PTKT DH trong thời gian dài cần rút phích cắm ra khỏi ổ điện
An toàn thị giác
- Một số PTDH (như máy chiếu qua đầu, slide ) có cường độ chiếu sáng rất lớn có thể gấp nhiều lần cường độ ánh sáng mà mắt người có thể chịu đựng trong thời gian ngắn Vì vậy, tránh để cho ánh sáng các phương tiện trên chiếu thẳng mắt giáo viên và sinh viên trong khoảng cách gần
- Một số thiết bị như thiết bị chiếu vật thể (sử dụng theo nguyên tắc phản quang) có tấm phủ bảo vệ lọt sáng Khi sử dụng cần sử dụng tấm phủ và tuân thủ qui trình sử dụng
An toàn thính giác
- Một số PTKT DH có thể có hệ thống khuyếch đại ngoài rất lớn, tuỳ theo kích thước của phòng học và vị trí học viên, cần điều chỉnh âm lượng (volume) đủ nghe Cường độ âm thanh vượt quá 55dBA (đối với phòng học, phòng hội họp)
1.4.5.2 Nguyên tắc vừa sức
Nguyên tắc này mang đặc tính tâm lý - sư phạm và nó có liên quan tới cách thức sử dụng PTDH
Sử dụng PTDH đúng lúc, đúng chỗ
- Chỉ sử dụng PTKT DH vào thời điểm thích hợp của tiết học hoặc giờ thực hành
- Cần tuân thủ kế hoạch sử dụng PTKT DH, kế hoạch này cần dành ưu tiên cho những môn, giờ học cần thiết
- Không lạm dụng PTDH
Trang 39- Trước và sau thời điểm sử dụng có thể không nên bật thiết bị hoặc cần tắt thiết bị để tránh gây phân tán cho SV
Sử dụng PTDH phù hợp tâm sinh lý
- Sử dùng các phương tiện phù hợp với độ tuổi, trình độ, khối lượng kiến thức đã có và hứng thú, sở thích của SV
- SV cần được hướng dẫn và thực tập trước cách thức sử dụng PTDH cần thiết
- Các điều kiện về kích thước bảng, bàn ghế, ánh sáng, độ ẩm, an toàn điện trong phòng học có sử dụng PTDH cần tuân thủ các tiêu chuẩn về nhân trắc và đồ dùng, thiết bị dạy học của Việt Nam
1.4.5.3 Nguyên tắc hiệu quả
Hiệu quả sư phạm và hiệu quả kinh tế cần được cân nhắc khi sử dụng PTDH
- Cố gắng sử dụng tối đa khả năng kiểm tra đánh giá của PTDH
Lựa chọn sử dụng phương tiện khi biết rõ việc sử dụng nó có hiệu quả
- Phương tiện kỹ thuật dạy học được lựa chọn phải đảm bảo nâng cao chất lượng của giờ dạy học, hỗ trợ hoạt động của giáo viên và SV
- Cần có kế hoạch sử dụng PTDH Kế hoạch này cần được xây dựng trên nguyên tắc thống nhất giữa nhu cầu hiện tại, dự báo tương lai và khả năng hỗ trợ
Trang 40của cơ sở đào tạo Kế hoạch cần được thể hiện thành văn bản và có sự chấp thuận
và hỗ trợ của lãnh đạo cơ sở đào tạo
Khuyến khích sử dụng tối đa PTDH trong điều kiện cho phép
Công việc lập kế hoạch, tổ chức và triển khai sử dụng PTKT DH trong một
cơ sở đào tạo có thể tham khảo trong Phụ lục 6 và Phụ lục 7 Trong đó bạn có thể tìm hiểu việc xây dựng các bước triển khai cũng như việc khuyến khích giáo viên trong cơ sở sử dụng PTDH; xây dựng tiến trình cho giờ giảng hoặc khoá học; lập dự
trù mua sắm vật liệu
Ngoài ra, còn phải đảm bảo nguyên tắc: đảm bảo tính sẵn sàng của các loại phương tiện, đồng thời giáo viên phải tự sưu tầm, tìm kiếm thêm hoặc khuyến khích người học mang tài liệu đồ dùng học tập đến lớp; nguyên tắc đảm bảo yêu cầu học tập; nguyên tắc nắm vững nội dung học tập
1.4.6 Khả năng dạy học bằng máy tính điện tử
1.4.6.1 Các khả năng cơ bản của MTĐT
Trong CNTT, MTĐT là một bộ phận chính đóng vai trò chủ đạo trong việc giao tiếp và thu nhận thông tin Do vậy, nó đã có ở hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Sở dĩ như vậy vì nó có khả năng ưu việt sau: