Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kì, NĐC tích cực tham gia phong trào kháng chiến và sáng tác thơ văn khích lệ tinh thần chiến đấu của nhân dân. Lúc cả Nam Kì rơi vào tay giặc, ông về sống tại Ba Tri (Bến Tre), nêu cao tinh thần bất khuất trước kẻ thù, giữ trọn lòng trung thành với Tổ quốc, với nhân dân đến lúc mất
Trang 11
TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
I Tác giả:
1 Cuộc đời: Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)
-Quê mẹ ở Gia Định, quê cha ở Huế, sống và sáng tác ở thời kì đau thương mà anh dũng của dân tộc ta vào thế kỉ 19
-Cuộc đời nhiều bất hạnh
+Năm 1843 đỗ tú tài
+Năm 1849: trên đường đi thi, mẹ ốm nặng, bỏ thi, mù mắt, bị bội hôn, về ba Tri bốc thuốc, dạy học
-Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kì, NĐC tích cực tham gia phong trào kháng chiến
và sáng tác thơ văn khích lệ tinh thần chiến đấu của nhân dân Lúc cả Nam Kì rơi vào tay giặc, ông về sống tại Ba Tri (Bến Tre), nêu cao tinh thần bất khuất trước kẻ thù, giữ trọn lòng trung thành với Tổ quốc, với nhân dân đến lúc mất
a Nghị lực sống và cống hiến cho đời:
-NĐC bước vào đời cũng hăm hở như chàng trai LVT buổi lên đường ứng thí:
“Chí lăm bắn nhạn ven mây, Danh tôi đặng rạng tiếng thầy bay xa
Làm trai trong cõi người ta, Trước lo báo hổ sau là hiển vang”
-Bất hạnh ập đến thật khắc nghiệt: 26 tuổi bị mù, công danh không đạt, tình duyên trắc trở, quê hương loạn lạc Tiếp đó là những ngày lao đao chạy giặc, nỗi căm uất trước cảnh giang sơn “bốn chia năm xé”, nỗi đau lòng trước tình cảnh khốn khó, lầm than của nhân dân Nhưng NĐC không gục ngã trước số phận, ông vẫn sống có ích cho đời,
là tấm gương sáng cho đời Ông can đảm ghé vai gánh vác cả ba trọng trách: làm một thầy giáo, một thầy thuốc và một nhà thơ Ở cương vị nào ông cũng làm việc hết mình
và nêu một tấm gương sáng cho đời Là một thầy giáo, danh tiếng cụ Đồ Chiểu vang khắp miền Lục tỉnh Một hình ảnh còn lưu truyền: khi ông mất, cả cánh đồng Ba Tri rợp trắng khăn tang của các thế hệ học trò suốt bốn chục năm trời Là một thầy thuốc, ông không tiếc sức mình cứu nhân độ thế:
“Giúp đời chẳng vụ tiếng danh, Chẳng màng của lợi, chẳng ganh ghé tài”
(Ngư tiều y thuật vấn đáp) -Là một nhà thơ, NĐC để lại cho đời bao trang thơ bất hủ, được lưu truyền khắp chợ
cùng quê như “Truyện LVT”, được xem như chứng tích một thời của dân tộc như
“Chạy giặc”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”
b Lòng yêu nước và tinh thần bất khuất chống ngoại xâm
-Mặc dầu mù lòa, bệnh tật, gia cảnh thanh bạch, khó khăn, ngay từ những ngày đầu đụng độ với giặc ngoại xâm, NĐC đã kiên quyết giữ vững lập trường kháng chiến, tìm đến các căn cứ chống giặc, làm quân sư cho các lãnh tụ nghĩa quân, đồng thời viết văn thơ để khích lệ tinh thần chiến đấu của các nghĩa sĩ Khi cả Nam Kì Lục tỉnh đã
mất vào tay giặc, ông sống ở Ba Tri (Bến Tre), nêu cao khí tiết con người “thua cuộc
rồi lưng vẫn thẳng, đầu vẫn ngẩng cao, ngay kẻ thù cũng phải kính nể” (Trần Văn
Giàu) Ông sống thanh cao, trong sạch giữa tình yêu thương,kính trọng của đồng bào
cho đến hơi thở cuối cùng: “Trọn đời một tấm lòng son” (“Truyện Lục Vân Tiên”)
Trang 22
2.Sự nghiệp: NĐC là một nhà thơ lớn của dân tộc Ông đã để lại nhiều áng văn
chương có giá trị nhằm
-Truyền bá đạo lí làm người như:
+Truyện Lục Vân Tiên
+Dương Từ-Hà Mậu
-Cổ vũ lòng yêu nước, ý chí cứu nước:
+Chạy giặc
+Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc
-Truyện thơ Nôm dài về y học:
+Ngư Tiều y thuật vấn đáp
NĐC đã trau dồi ngòi bút của mình với một “thiên chức” lớn lao là truyền bá đạo làm người chân chính và đấu tranh không mệt mỏi với những gì xấu xa, trái đạo lí, nhân tâm Đó là khát vọng hành đạo cứu đời của người nho sĩ không may bị tật nguyền nhưng lòng vẫn tràn đầy nhiệt huyết Từ tác phẩm đầu tay đến tác phẩm cuối cùng, chưa bao giờ ngòi bút NĐC xa rời thiên chức ấy:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.”
(Trịnh Thu Tiết)
II Tác phẩm “Truyện Lục Vân Tiên”: Viết “Truyện Lục Vân Tiên”, nhà thơ dường
như có ý muốn nêu lên những tấm gương về luân lý, đạo đức kiểu “Nhị thập tứ hiếu” Ông tuyên bố rất rõ mục đích giáo huấn của mình:
“Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”
1 Giá trị nội dung: Truyện được viết ra nhằm mục đích trực tiếp là truyền dạy
đạo lí làm người:
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước lành dè thân sau
Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình
Đạo lí đó có thể thâu tóm ở mấy điểmsau:
-Xem trọng tình nghĩa giữa con người và con người trong xã hội: tình cha con, mẹ con, nghĩa vợ chồng, tình bè bạn, tình yêu thương cưu mang những người gặp cơn hoạn nạn
-Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng cứu khốn phò nguy (VT đánh cướp, Hớn Minh
“bẻ giò” cậu công tử con quan)
-Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc đời (kết thúc truyện có hậu: thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà)
Ở thời đại đó, chế độ phong kiến khủng hoảng nghiêm trọng, kỉ cương trật tự xã hội lỏng lẻo, đạo đức suy vi, một tác phẩm như thế đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, cho nên ngay từ lúc mới ra đời, “Truyện Lục Vân Tiên” đã được nhân dân Nam
Bộ tiếp nhận nồng nhiệt
2 Giá trị nghệ thuật:
-Tác phẩm mang màu sắc địa phương Nam Bộ (ngôn ngữ)
-Kết cấu truyện theo kiểu truyền thống của loại truyện phương Đông, nghĩa là theo
từng chương hồi, xoay quanh diễn biến cuộc đời nhân vật chính:
Chuyện nàng sau hãy còn lâu,
Trang 33
Chuyện chàng xin nối thứ đầu chép ra…
…Đoạn nầy đến thứ Nguyệt Nga…
-Về đặc điểm thể loại:
+“Truyện Lục Vân Tiên” là một truyện thơ Nôm mang tính chất là một truyện để kể
nhiều hơn là để đọc, để xem Vì thế khi đi vào nhân dân, nó dễ dàng biến thành những hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như “kể thơ”, “nói thơ”, “hát” Vân Tiên Mà đã
là truyện kể thì bao giờ cũng chú trọng đến hành động của nhân vật nhiều hơn là miêu
tả nội tâm Do đó, tính cách nhân vật cũng thường bộc lộ qua việc làm, lời nói, cử chỉ của họ Và nhiệt tình ngợi ca hay phê phán của tác giả gửi gắm qua các nhân vật sẽ
góp phần không nhỏ tạo nên sức sống của hình tượng
+ Sử dụng thể thơ lục bát dân tộc nên dễ thuộc, dễ nhớ, dễ lưu truyền
1 Hoàn cảnh ra đời: “Truyện Lục Vân Tiên” ra đời vào khoảng đầu những năm 50
của TK XIX Truyện có sức sống mạnh mẽ và lâu bền trong lòng nhân dân-đặc biệt là nhân dân Nam bộ, được dịch ra tiếng Pháp Là những hình thức sinh hoạt văn hoá rất quen thuộc đối với nhân dân Nam bộ Truyện có 2082 câu, sáng tác theo thể loại thơ lục bát truyền thống Truyện thể hiện rõ lí tưởng đạo đức mà Nguyễn Đình Chiểu muốn gửi gắm qua tác phẩm
2.Tóm tắt
Lục Vân Tiên khôi ngô, tuấn tú, tài kiêm văn võ Chàng từ giã thầy xuống núi đua tài Trên đường về thăm cha mẹ, chàng đánh bọn cướp Phong Lai cứu Kiều Nguyệt Nga Nguyệt Nga tự nguyện gắn bó với chàng và tự vẽ hình Vân Tiên Sau đó Vân Tiên đi thi, kết bạn với Hớn Minh, Tử Trực và được Võ Công hứa gả con gái là
Võ Thể Loan Nhưng sắp vào trường thi, nghe tin mẹ mất, chàng bỏ thi trở về, bị mù,
bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông, được gia đình ngư ông cứu Sau đó bị cha con Võ Công hại bỏ vào hang núi, được du thần, ông Tiều cứu, được Hớn Minh giúp Nghe tin Vân Tiên chết, Nguyệt Nga thề thủ tiết suốt đời Khi bị đi cống giặc Ô Qua, nàng mang hình Lục Vân Tiên tự tử, được phật bà Quan Âm đưa vào nhà họ Bùi Bị Bùi Kiệm ép làm vợ, nàng bỏ trốn vào rừng nương nhờ bà lão dệt vải Vân Tiên được tiên cho thuốc, mắt sáng, đi thi đỗ Trạng Nguyên Đánh tan giặc, chàng tìm được Nguyệt Nga Hai người được sum vầy hạnh phúc
*Có ý kiến cho rằng “Truyện LVT” là một thiên tự truyện
-Điểm giống nhau giữa tác giả Nguyễn Đình Chiểu và Lục Vân Tiên: Cả hai cùng bỏ thi về chịu tang, bị mù mắt, bị bội hôn, sau hôn nhân tốt đẹp
- Điểm khác nhau:
+Vân Tiên sáng mắt, thi đỗ, đánh giặc chiến thắng;
+Còn NĐC thì mãi mãi mù loà
Ý nghĩa của sự khác biệt: đó là ước mơ và khát vọng của tg thể hiện qua nhân vật LVT
Trang 44
LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA
(TRÍCH “TRUYỆN LỤC VÂN TIÊN’’) NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
I MB:
-GT tác giả: NĐC được tôn vinh là nhà thơ hát ca chính nghĩa đời đời Bởi cuộc đời ông gắn bó sâu sắc với nhân dân, sống chan hòa, nhân ái với nhân dân Vì vậy, khi nói
về nhà thơ, giáo sư Trần Văn Giàu đã ca ngợi: “Biết bao văn sĩ, ta chỉ thích trong văn chương, mà chưa được phục họ trong đời sống Còn với thầy NĐC, văn với đời là một, chỉ là một” Ông đã sống một cuộc đời đạo cao đức cả, đầy nghị lực, đầy khí phách,…
Và điều đó đã tạo nên con người và sự nghiệp thơ văn của thi sĩ Thơ văn Nguyễn Đìh Chiểu đề cao mục đích giáo dục, truyền bá đạo lí làm người:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Điều đó được thể hiện rất rõ trong tác phẩm “Truyện Lục Vân Tiên”
-GT về tác phẩm: “Truyện LVT” là tác phẩm tiêu biểu và tâm huyết nhất của ông nhằm truyền bá đạo đức sống thủy chung, nhân nghĩa trong giai đoạn trước khi Pháp xâm lược Việt Nam Đoạn trích “LVT cứu KNN” với vẻ đẹp của hai nhân vật LVT và KNN sẽ giúp ta cảm nhận được vẻ đẹp của đạo lý nhân nghĩa của nhân dân
II TB
1.Khái quát:
-Vị trí: Đoạn trích nằm ở phần đầu của tác phẩm
-Diễn biến sự việc trong đoạn trích nằm trong kiểu kết cấu ước lệ thông thường của các truyện truyền thống: người tốt thường gặp nhiều gian truân, trắc trở, bị hãm hại nhưng cuối cùng bao giờ cũng tai qua nạn khỏi, cái thiện luôn chiến thắng cái ác
2.Phân tích:
1/Lục Vân Tiên:
LĐ a/ Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, vị nghĩa vong thân:
- Ngay trước đoạn trích này là cảnh Vân Tiên thấy nhân dân rất khốn khổ:
“Đều đem nhau chạy vào rừng, lên non”
Chàng bèn hỏi thăm và được biết ở đó bọn cướp Phong Lai hung hãn đang hoành hành Mọi người còn khuyên chàng không nên tự chuốc lấy nguy hiểm nhưng:
“Vân Tiên nổi trận lôi đình
Hỏi thăm: lũ nó còn đình nơi nao?
Tôi xin ra sức anh hào Cứu người cho khỏi lao đao buổi nầy
Dân rằng: lũ nó còn đây, Qua xem tướng bậu thơ ngây đã đành
E khi họa hổ bất thành, Khi không mình lại xô mình xuống hang.”
-Hình ảnh LVT được khắc họa qua một mô típ quen thuộc ở truyện Nôm truyền thống: một chàng trai tài giỏi, cứu một cô gái thoát khỏi tình huống hiểm nghèo, rồi từ
ân nghĩa đến tình yêu…như Thạch Sanh đánh đại bàng cứu công chúa Quỳnh Nga (Truyện Thạch Sanh) Mô típ kết cấu đó thường biểu hiện niềm mong ước của tác giả
và cũng là của nhân dân Trong thời buổi nhiễu nhưỡng hỗn loạn này, người ta trông mong ở những người tài đức dám ra tay cứu nạn giúp đời
Trang 55
-LVT là một nhân vật lí tưởng của tác phẩm (thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của tác giả về con người trong cuộc sống đương thời) Đây là một chàng trai vừa mới rời trường học
bước vào đời (“tuổi vừa hai tám” tức là 16 tuổi), lòng đầy hăm hở muốn lập công danh (“Danh tôi đặng rạng tiếng thầy bay xa”), cũng mong thi thố tài năng cứu người, giúp đời Gặp tình huống “bất bằng” này là thử thách đẩu tiên cũng là một cơ hội hành
động cho chàng
-Hành động dũng cảm đánh cướp cứu người trước hết bộc lộ tính cách anh hùng, tài
năng và tấm lòng vị nghĩa của Vân Tiên Chàng chỉ có một mình, hai tay không trong khi bọn cướp đông người, gươm giáo đầy đủ, thanh thế lẫy lừng:
“Người đều sợ nó có tài khôn đương”
Vậy mà VT vẫn bẻ cây làm gậy xông vào đánh cướp:
“ Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy nhằm đàng xông vô
Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”
Dường như ở con người ấy thấy việc bất bình là không thể chịu được, phải hành động ngay, hành động để cứu dân Và đó cũng là một hành động rất quân tử Chàng cừa đánh vừa gọi tên bọn cướp để thông báo và để cảnh cáo sự lộng hành ngang ngược của bọn chúng
-Tài năng: Hình ảnh VT trong trận đánh được miêu tả thật đẹp:
“ Vân Tiên tả đột hữu xông, Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Đang
Lâu la bốn phía vỡ tan, Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.”
Hình ảnh so sánh kết hợp với cách miêu tả cụ thể tư thế chiến đấu của VT: “tả đột hữu xông” Đó là vẻ đẹp của người dũng tướng cũng theo phong cách văn chương thời xưa nghĩa là so sánh với những hình mẫu lí tưởng như dũng tưởng Triệu Tử Long mà người Việt Nam, đặc biệt là người Nam Bộ - vốn mê truyện Tam quốc- không mấy ai không thán phục! Việc sử dụng điển tích khiến cho câu thơ trở nên hàm súc, phát huy đươc lối nói khoa trương, tôn vinh phẩm chất nhân vật ngang bằng người anh hùng nổi
tiếng thời Tam quốc Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vị
nghĩa vong thân” (vì việc nghĩa quên thân mình), cái tài của bậc anh hùng và sức
mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng những thế lực bạo tàn
LĐ b-Thái độ cư xử với KNN sau khi đánh cướp lại bộc lộ tư cách con người chính
trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài cũng rất từ tâm nhân hậu
+Thấy hai cô gái chưa hết hãi hùng, VT “động lòng”, tìm cách an ủi họ: “Ta đã trừ
dòng lâu la” và ân cần hỏi han Điều này cho thấy chàng rất đàng hoàng, tâm lí, hiểu
được người bị nạn đang hoảng sợ Thì ra chàng luôn cảm thông với nỗi khổ của người khác
+ Luôn cư xử đúng với lễ giáo phong kiến: Khi nghe họ nói muốn lạy tạ ơn, VT vội
gạt đi ngay: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra” Ở đây có phần câu nệ của lễ giáo phong
kiến (Nam nữ thụ thụ bất thân – đàn ông và đàn bà xưa trao cho nhau cái gì không được dùng tay mà trao, ý nói không được gần gũi, đụng chạm vào nhau) nhưng thể hiện rõ tấm lòng, cách nghĩ, lối sống của nhân dân là luôn tôn trọng người khác, sống
vì người khác VT không phải giữ cho mình mà giữ cho KKN
Trang 66
+Nhưng đẹp nhất chính là quan niệm làm việc nghĩa của chàng Khi nghe KNN nói
muốn được lạy tạ ơn, chàng đã gạt ngay đi, từ chối lời về thăm nhà của Nguyệt Nga để cha nàng đền đáp, và ở đoạn sau, từ chối nhận chiếc trâm vàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng họa một bài thơ rồi thanh thản ra đi, không hề vương vấn:
“Vân Tiên nghe nói liền cười:
Làm ơn há dễ trông người trả ơn”
VT đẹp biết bao bởi nụ cười vô tư trong sáng ấy Bởi với VT, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên, con người trọng nghĩa khinh tài ấy không coi đó là công trạng Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán Nhà thơ Xuân Diệu đã bình về nụ cười của VânTiên là: “Cái cười đáng yêu, đáng kính làm sao! Một cái cười của anh hùng quân tử, hai là cái cười của anh con trai, ba là cái cười của quần chúng rộng lượng, đều ở trên môi VT” Không thể phủ nhận với chàng làm việc nghĩa đã trở thành lí tưởng sống, vẻ đẹp của người anh hùng:
“Nhớ câu kiến nghĩa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.”
Lời VT chắc nịch vừa để đối chứng, phê phán những kẻ tầm thường, vừa khẳng định việc mình làm là hiển nhiên, thuộc căn cốt, gốc rễ trong lẽ sống của mình Làm người, hễ thấy việc nghĩa mà không ra tay hành động thì sao gọi là bậc anh hùng được! Quan niệm về “anh hùng” rất rõ rệt trong thơ NĐC, trong suy nghĩ của LVT Quan niệm ấy cũng rất giống với quan niệm của Nguyễn Du trong việc xây dựng tính cách nhân vật người anh hùng Từ Hải (“Truyện Kiều”):
“Anh hùng tiếng đã gọi rằng, Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha”
*Chốt ý: Với những tính cách đó, hình ảnh LVT là một hình ảnh đẹp, hình ảnh lí
tưởng mà NĐC gửi gắm niềm tin và ước vọng của mình giống như Thạch Sanh, nhân vật quen thuộc của truyện Nôm thể hiện niềm mong ước của nhân dân có người tài đức giúp nước giúp đời Xây dựng VT theo mẫu người anh hùng ý tưởng theo quan niệm thẩm mĩ của XHPK cũng gửi gắm khát vọng hướng tới lẽ công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc đời Kết thúc truyện có hậu, ước mơ cái thiện chiến thắng cái ác Điều
ấy đã khiến cho nhân vật sống sâu sắc trong lòng nhân dân Nam bộ cũng như nhân dân
cả nước Ngòi bút khắc họa tính cách nhân vật của NĐC chủ yêu dựa vào việc xây dựng ngôn ngữ nói, hành động, cử chỉ của nhân vật, giản dị, gần gũi và chân thực, có sức thuyết phục cao, được nhân dân yêu thích
2 Kiều Nguyệt Nga:
Với tư cách là người chịu ơn, KNN cũng bộc lộ nhiều nét đẹp tâm hồn Ở đoạn thơ này, hình ảnh KNN chỉ được biểu hiện qua những lời lẽ mà nàng giãi bày với LVT: +Trước hết, đó là lời lẽ của một cô gái khuê các, thùy mị, nết na, có học thức: cách xưng hô “quân tử”, ”tiện thiếp” khiêm nhường, cách nói năng văn vẻ dịu dàng, mực thước (”Làm con đâu dám cãi cha”, “Chút tôi liễu yếu đào thơ – giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần”), cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc chiết, vừa đáp ứng đầy đủ những điều thăm hỏi ân cần của LVT, vừa thể hiện chân thành niềm cảm kích, xúc động của mình:
“Trước xe quân tử tạm ngồi, Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa”
Trang 77
-Một con người đằm thắm, ân tình, cư xử có trước có sau NN là người chịu ơn, lại là một cái ơn trọng, không chỉ là ơn cứu mạng, mà còn cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng (đối với người con gái, điều đó còn quý hơn tính mạng):
“Lâm nguy chẳng gặp giải nguy, Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi”
Nàng rất áy náy, băn khoan tìm cách trả ơn chàng, dù biết rằng có đền đáp đến mấy cũng không đủ:
“Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng người”
Bời thế, cuối cùng nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai khảng khái, hào hiệp đó, và đã dám liều mình để giữ trọn ân tình, thủy chung với chàng
*Chốt ý: Nét đẹp tâm hồn đó đã làm cho hình ảnh KNN chinh phục được tình cảm
yêu mến của nhân dân, những con người bao giờ cũng rất xem trọng ân nghĩa “Ơn ai
một chút chẳng quên”
3 Đánh giá:
1.NT:
+Miêu tả nhân vật chủ yếu thông qua cử chỉ, hành động, ngôn ngữ
+Sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường, mang màu sắc Nam Bộ rõ nét, phù hợp với diễn biến tình tiết truyện
2.Nội dung:
+Đạo lí nhân nghĩa ở hình tượng nhân vật Lục Vân Tiên được thể hiện qua hành động dũng cảm đánh cướp cứu người, tấm lòng chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài,
từ tâm nhân hậu khi cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh lại bọn cướp
-Đạo lí nhân nghĩa còn được thể hiện qua lời nói của cô gái thùy mị, nết na, Kiều Nguyệt Nga một lòng tri ân người đã cứu mình
Ca ngợi phẩm chất cao đẹp của hai nhân vật Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga và khát vọng hành đạo cứu đời của tác giả
III KB:
Đoạn trích bộc lộ khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả thông qua nhân vật LVT - tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài – đúng là một trang nam nhi giàu nghĩa khí, cao thượng, dũng cảm cứu người không mong trả ơn Và một cô gái hiền hậu, nết na,
ân tình, qua ngôn ngữ bình dị gần gũi đời thường đã đi vào lòng nhân dân Nam bộ một cách thật tự nhiên
Trang 88
LỤC VÂN TIÊN GẶP NẠN
(Trích: “Truyện Lục Vân Tiên”) -Nguyễn Đình Chiểu- I.Tìm hiểu chung:
- Giới thiệu: Trong văn chương thời trung đại thường sử dụng bút pháp ước lệ cổ điển đối với nhân vật chính diện Nguyễn Đình Chiểu cũng không ngoại lệ Nhưng ở ông, nhân vật lại có cuộc sống gần giống với người lao động bình thường Đọc “LVT gặp nạn” ta thấy được điều đó qua nhân vật Ngư ông
-Vị trí: như SGK (Nằm ở phần thứ 2 của truyện)
-Kết cấu: đối lập: nhằm thể hiện những bản chất khác nhau của các nhân vật, qua đó thể hiện niềm tin của tác giả vào những điều trong cuộc đời
-Tóm tắt tình huống: LVT sau khi từ giã KNN, trở về thăm cha mẹ rồi lên đường ứng thí Sắp vào trường thi, nghe tin mẹ mất, LVT bỏ thi về chịu tang Dọc đường bị bệnh
mù mắt, Trịnh Hâm hãm hại Hắn lừa tiểu đồng vào rừng trói lại rồi giả bộ đưa Vân Tiên xuống thuyền, hứa sẽ dẫn về quê nhà Đợi đến đêm khuya vắng vẻ, hắn mới thực hiện hành động tội ác của mình
-Bố cục 2 phần:
° 8 câu đầu: Tâm địa và hành động độc ác của Trịnh Hâm
° Phần còn lại: Cái thiện được biểu hiện qua việc làm nhân đức và nhân cách cao cả
của ông Ngư
II Phân tích
1.Tâm địa và hành động độc ác của Trịnh Hâm (trong tám câu đầu):
Mở đầu đoạn trích, NĐC khắc họa chân dung Trịnh Hâm là điển hình của cái xấu, cái ác:
“Đêm khuya lặng lẽ như tờ, Nghinh ngang sao mọc mịt mờ sương bay
Trịnh Hâm khi ấy ra tay, Vân Tiên bị gã xô ngay xuống vời
Trịnh Hâm giả tiếng kêu trời, Cho người thức dậy lấy lời phôi pha.”
Khi Vân Tiên và Tử Trực đến trường thi, gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm, họ kết bạn với nhau và cùng vào một quán rượu xướng họa thơ phú Thấy Vân Tiên tài cao, Trịnh Hâm tỏ thái độ ganh ghét, đố kị:
“Kiệm, Hâm là đứa so đo, Thấy Tiên dường ấy âu lo trong lòng
Khoa này Tiên ắt đầu công
Hâm dầu có đậu cũng không xong rồi.”
Lòng ganh ghét, đố kị đó đã biến hắn trở thành một kẻ độc ác, nhẫn tâm ngay
cả khi VT đã không còn có thể đe dọa đến bước đường công danh của hắn Nói như nhà nghiên cứu Hoài Thanh: “Mối oán thù nhân một câu chuyện gọi bằng văn chương trong tâm địa của một tiểu nhân đã dẫn đến những chuyện không ngờ”
-Tình cảnh của VT lúc này rất bi đát, tiền hết, mắt đã mù, đang bơ vơ nới đất khách quê người thì gặp Trịnh Hâm, tưởng có thể được nhờ cậy, nhất là khi hắn hứa sẽ đưa
về quê nhà Không ngờ Trịnh hâm lại lừa tiểu đồng vào rừng , trói vào gốc cây rồi ra nói với VT là tiểu đồng đã bị cọp vồ VT hoàn toàn bơ vơ Lúc này hắn mới ra tay
Trang 99
a.Tâm địa độc ác: Trịnh Hâm quyết tình hãm hại VT chỉ vì tính đố kị, ganh ghét tài
năng, lo cho con đường tiến thân tương lai của mình Đến lúc này, khi mối lo đó không còn cơ sở nữa (VT đã mù) mà hắn vẫn tìm cách hãm hại, chứng tỏ sự ác độc dường như đã ngấm vào máu thịt hắn, trở thành bản chất của hắn
b.Hành động độc ác, bất nhân, bất nghĩa: độc ác, bất nhân vì hắn đang tâm hãm hại
một con người tội nghiệp và vô phương chống đỡ Bất nghĩa vì VT còn là bạn của hắn, từng “trà rượu” và làm thơ với nhau, lại đã có lời nhờ cậy: “tình trước ngãi sau – Có thương xin khá giúp nhau phen này” và hắn cũng từng hứa hẹn:
“Người lành nỡ bỏ người đau sao đành”
- Hành động có toan tính, âm mưu, kế hoạch sắp đặt khá kĩ lưỡng, chặt chẽ Thời gian
gây tội ác: giữa đêm khuya, khi mọi người đã ngủ yên trên thuyền Không gian: giữa khoảng trời nước mênh mông: mịt mờ sương bay, vời Người bị xô ngã xuống “vời”
(khoảng nước rộng) thì bất ngờ không kịp kêu lên một tiếng Đến lúc biết không ai có thể cứu được LVT, hắn mới giả vờ kêu trời, la lối om sòm lên, rồi “lấy lời phôi pha”
kể lể bịa đặt để che lấp tội ác của mình Kẻ tội phạm, nhờ gian ngoan, xảo quyệt đã phủi sạch tay, không mảy may cắn rứt lương tâm
Lòng ganh ghét, đố kị đã khiến Trịnh Hâm trở thành một kẻ độc ác, nhẫn tâm ngay
cả khi LVT đã mù loà, không có người giúp đỡ bên cạnh, chỉ vì hắn sợ LVT còn sống
đe doạ bước đường công danh của hắn Điều đó chứng tỏ sự ác độc dường như đã ngấm vào máu thịt hắn, trở thành bản chất của hắn Hắn đã phạm tội cố sát Không những thế, hắn còn rất gian ngoa, xảo quyệt Chỉ có tám dòng thơ với cách sắp xếp tình tiết hợp lí, hành động nhanh gọn, lời thơ mộc mạc, giản dị, tác giả đã lột tả bộ mặt Trịnh Hâm - kẻ độc ác, bất nhân, gian ngoa, xảo quyệt
2 Cái thiện được biểu hiện qua việc làm nhân đức và nhân cách cao cả của ông Ngư (trong phần còn lại):
a Hành động cứu VT:
-Khẩn trương tích cực: Cả nhà nhốn nháo, hối hả lo chạy chữa để cứu sống LVT bằng mọi cách:
“Hối con vầy lửa một giờ, Ông hơ bụng dạ, mụ hơ mặt mày”
Câu thơ mộc mạc, không đẽo gọt , trau chuốt, chỉ kể lại sự việc một cách tự nhiên như nó đã xảy ra, nhưng lại gợi tả được mối chân tình của gia đình ông Ngư đối với người bị nạn: cả nhà dường như nhốn nháo, hối hả lo chạy chữa để cứu sống VT bằng mọi cách, dân dã thôi, chẳng thầy thợ thuốc thang gi mà rất mực ân cần, chu đáo: “vầy lửa”, “hơ bụng dạ”, “hơ mặt mày”, nào ông, nào bà, nào con, mỗi người một việc Đó
là một sự đối lập hoàn toàn với những mưu toan thấp hèn nhằm làm hại người của Trịnh Hâm ở trên
Ân cần, chu đáo, tận tình
-Sẵn sàng nuôi nấng đùm bọc:
“Ngư rằng : “Người ở cùng ta, Hôm mai hẩm hút với già cho vui”
Đối lập với tính ích kỉ, nhỏ nhen đến thành độc ác của Trịnh Hâm là tấm lòng bao dung, nhân ái, hào hiệp của ông Ngư Sau khi cứu sống Vân Tiên, biết tình cảnh khốn khổ của chàng, ông Ngư sẵn sàng cưu mang chàng, dù chỉ là chia sẻ một cuộc sống đói nghèo “hẩm hút” tương rau, nhưng chắc chắn sẽ đầm ấm tình người:
“Hôm mai hẩm hút với già cho vui”
Trang 1010
Ông cũng không hề tính toán đến cái ơn cứu mạng mà Vân Tiên chẳng thể báo đáp:
“Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn”
Giống như VT khi cứu KKN:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.”
Những hành động của ông Ngư thể hiện ông là một người có đạo đức đáng quý trọng: hết lòng vì việc thiện, thực hiện nhân nghĩa như một nhu cầu về lẽ sống
b Suy nghĩ về cách sống:
-Sống nhân nghĩa thanh cao:
“Nước trong rửa ruột sạch trơn, Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.”
Ông Ngư là người không một chút bận tâm đến cái vòng danh lợi giữa cuộc đời đầy ô trọc
-Sống tự do ung dung: Cái thiện còn được biểu hiện qua cuộc sống đẹp của ông Ngư Ông dành phần đời của mình để vui với cái nghề chài lưới, tự do giữa thiên nhiên cao rộng, hòa nhập với thiên nhiên, bầu bạn với thiên nhiên, cho nên đối với ông, không gì hơn là:
“Rày doi mai vịnh vui vầy, Ngày kia hứng gió đêm nầy chơi trăng
Một mình thong thả làm ăn, Khỏe quơ chài kéo; mệt quăng câu dầm
Nghêu ngao nay chích mai đầm, Một bầu trời đất vui thầm ai hay
Kinh luân đã sẵn trong tay Thung dung dưới thế vui say trong trời
Thuyền nan một chiếc ở đời, Tắm mưa chải gió trong vời Hàn Giang.”
+Ý tứ phóng khoáng mà sâu xa; lời lẽ thanh thoát, uyển chuyển, ngôn ngữ bình dị, tự nhiên, dân dã; hình ảnh thơ đẹp, gợi cảm, khoáng đạt Một khoảng thiên nhiên cao
rộng, khoáng đạt được mở ra với những doi, vịnh, chích, đầm, bầu trời, đất, gió,
trăng,…Con người hòa nhập trong cái thế giới thiên nhiên ấy, không chút cách biệt: hứng gió, chơi trăng, tắm mưa, chải gió,…và niềm vui cũng dường như đầy ắp cái cõi
thế của con người: vui vầy, thong thả, nghêu ngao, vui thầm, thung dung, vui say,…
Phải nói rằng, thi nhân có những trăn trở, gắn bó với cuộc đời này lắm mới có cái cảm hứng ngợi ca dạt dào những hình ảnh con người có cái “thung dung dưới thế” lại có
cái “vui say trong đời” như ông Ngư, với ông Ngư có cuộc sống thoải mái “Ngày kia
hứng gió đêm nầy chơi trăng” , “Nghêu ngao nay chích mai đầm,”,… và cuối cùng là
một hình ảnh rất đẹp:
“Thuyền nan một chiếc ở đời, Tắm mưa chải gió trong vời Hàn Giang.”
Những hình ảnh được nói lên trong thơ đều nhằm tôn lên vẻ đẹp nhân cách và quan niệm sống của ông Ngư
Lời nói của ông Ngư về cuộc sống của mình cũng chính là những tiếng lòng của Nguyễn Đình Chiểu, những khát vọng về một cuộc sống đẹp, về một lối sống đáng mơ ước đối với con người Cảm xúc chủ quan của nhà thơ làm cho cuộc sống của người dân chài bình thường trên sông nước có vẻ như được thi vị hóa, trở nên thơ mộng hơn, nhưng cốt lõi của nó thì vẫn là chân thực Đây là một cuộc sống trong sạch, ngoài