1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và chứng minh lịch sử triết học phương Tây và lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chú nghĩa duy tâm

16 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 118 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---Lịch sử triết học từ thời cổ đại đến nay là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.. Bước đầu nghiên cứu nội dung Triết học theo chương trình đào tạo sau đại họ

Trang 1

Bài tiểu luận Phân tích và chứng minh lịch sử triết học phương Tây và lịch sử đấu tranh

giữa chủ nghĩa duy vật và chú nghĩa duy tâm.

-Lịch sử triết học từ thời cổ đại đến nay là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Trong suốt chiều dài lịch sử về triết học thì có những lúc chủ nghĩa duy vật thắng thế nhưng có đôi lúc thì chủ nghĩa duy tâm lên ngôi, áp đảo hoàn toàn chủ nghĩa duy vật Bước đầu nghiên cứu nội dung Triết học theo chương trình đào tạo sau đại học, bản thân tôi nhận thức được rằng, chỉ

có thể tìm hiểu chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm một cách đầy đủ khi nghiên cứu chúng trong chính cuộc đấu tranh giữa chúng với nhau trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử triết học Việc nghiên cứu cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong một giai đoạn lịch sử nhất định là một trong những phương pháp tiếp cận để tìm hiểu nội dung và thực chất của chúng trong suốt tiến trình phát triển; đồng thời, đây cũng là cơ sở để nhận thức rõ nguyên lý “đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập” trong lịch sử triết học

Chính vì lẽ đó, trong bài tiểu luận này, tôi xin trình bày nội dung “Phân tích và chứng minh lịch sử triết học phương Tây và lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm”.

Nội dung bài thu hoạch gồm hai phần

Phần thứ nhất:

TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA CHỦ NGHĨA

DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM THỜI CỔ ĐẠI

1/ Triết học Hy Lạp thời cổ đại:

a Điều kiện ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại:

Trang 2

- Điều kiện tự nhiên: Hy Lạp cổ đại là một vùng đất rộng, bao gồm

miền Nam bán đảo Balkan, nhiều đảo trên biển Aegea và cả miền ven biển của bán đảo Tiểu Á Điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi giúp các ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển rất sớm Xã hội Hy Lạp cổ đại tồn tại và phát triển trong 6 thế kỷ (từ thế kỷ VIII đến thế kỷ III TCN), còn từ thế kỷ XV đến thế kỷ IX TCN, chế độ Cộng sản nguyên thủy tan rã và hình thành chế độ chiếm hữu

nô lệ Đây là thời kỳ xảy ra nhiều biến động lớn về kinh tế và thể chế

xã hội, những biến động này được ghi chép lại trong 2 tập thơ Iliad và Odyssey được coi là của Homer

- Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa: Các thành thị của Hy Lạp cổ đại

ra đời và tồn tại với tư cách là những quốc gia độc lập (300 quốc gia) Đến thế kỷ VI – IV TCN xuất hiện 2 trung tâm kinh tế - chính trị điển hình là: thành bang Athens (miền Trung Hy Lạp) và thành bang Sparta (vùng bình nguyên Lakonia) Cuộc chiến tranh giành bá chủ Hy Lạp giữa 2 thành bang này trong nhiều năm làm Hy Lạp suy yếu Tới thế

kỷ II TCN, Hy Lạp bị La Mã chinh phục Thời Hy Lạp cổ đại, toán học, thiên văn học, thủy văn học… bắt đầu phát triển Tri thức triết học và tri thức khoa học hòa trộn vào nhau; các nhà triết học đồng thời

là các nhà toán học, vật lý, thiên văn học… Triết học Hy Lạp ra đời gắn liền với nhu cầu thực tiễn và gắn liền với khoa học, và được gọi là khoa học của mọi khoa học Sự giao lưu giữa Hy Lạp và các nước làm cho tư tưởng triết học Hy Lạp cổ đại chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn minh Nhưng quan niệm của các nhà triết học Ai Cập và Babilon

đã có ảnh hưởng tích cực đến sựu phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại Có thể nói đó là một trong những tiền đề của triết học Hy Lạp cổ đại

b Những đặc điểm cơ bản của triết học Hy Lạp cổ đại:

Trang 3

Triết học Hy lạp cổ đại được coi là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại, và là một trong những điểm xuất phát của lịch sử triết học thế giới Nền triết học giai đoạn này có những đặc điểm sau:

- Triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị Nó là công cụ lý luận để giai cấp này duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò của mình

- Có sự phân chia rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật – duy tâm, biện chứng – siêu hình, vô thần – hữu thần

- Gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng về thế giưới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó

- Đã xây dựng nên phép biện chứng chất pháp

- Triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng vấn đề con người

2/ Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy tâm tôn giáo trong triết học Hy Lạp cổ đại.

Nhờ chế độ chiếm hữu nô lệ mà giai cấp chủ nô Hy Lạp có được đặc quyền và điều kiện để nghiên cứu sáng tạo triết học và nghệ thuật.Tuy nhiên cần phải thấy rằng vai trò đó là khác nhau đối với các bộ phận trong giai cấp chủ nô Giai cấp chủ nô Hy Lạp bị phân hóa thành 2 bộ phân chính: chủ nô dân chủ (duy vật vô thần) và chủ nô quý tộc (duy tâm tôn giáo) Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật vô thần và chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại về sau này được Lenin khái quát là

cuộc đấu tranh giữa đường lối của Democritos và Platon Đây chính là

cuộc đấu tranh ý thức hệ của 2 tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc trong triết học Hy Lạp

Trang 4

Một số nội dung cụ thể biển hiện sự đấu tranh giữa đường lối của Democritos và Platon:

Nội dung Democritos (460-370 TCN) Platon (427-347 TCN)

Bản thể luận - Kiên định lập trường duy vật vô

thần

- Sự sống của con người là kết quả của

sự biến đổi tự nhiên, bắt đầu từ sinh vật sống dưới nước rồi đến động vật

có vú; trải qua sự biến đổi lâu dài của

tự nhiên mới thành con người

- Thừa nhận có linh hồn Sự vật không

có linh hồn còn sinh vật có linh hồn và linh hồn cấu tạo bởi các nguyên tử

- Sở dĩ con người tin vào thần thánh là

do con người bất lực trước những hiện tượng khủng khiếp của thiên nhiên

- Khởi nguyên của thế giới là nguyên

tử, vật chất Nguyên tử vận động vĩnh viễn và vốn có không tách rời khỏi vật chất, nguyên tử vận động trong chân không (không gian), chân không là điều kiện của nguyên tử vận động;

điều đó có nghĩa là vật chất vận động trong không gian và thời gian vô cùng,

vô tận Ông đã kế thừa và phát triển thuyết nguyên tử của Leucippus lên

-Lập trường duy tâm thần bí

-Bản nguyên của thế giới là “thế giới

ý niệm”, ông gọi là những ý tưởng

có trước, một thế giới trừu tượng bất biến

-Quan niệm về 2 thế giới:

+ Thế giới các sự vật cảm tính (đây

là thế giới không chân thực): được sinh ra từ một lực lượng tinh thần là

“ý niệm” Thế giới các sự vật cảm tính là cái bóng của thế giới ý niệm + Thế giới ý niệm (là đúng đắn, chân thực): tồn tại chân thực, bất biến; nó sinh ra vạn vật trên thế giới

-Các sự vật hiện tượng vận động là

do linh hồn Linh hồn do thánh tạo

ra Linh hồn thế giới làm cho vũ trụ vận động còn linh hồn cá biệt làm cho các sự vật hiện tượng vận động -Con người được cấu thành từ thể xác và linh hồn Thể xác con người được cấu thành từ các yếu tố lửa,

Trang 5

một trình độ mới.

+ Nguyên tử vận động trong chân không, khi kết hợp lại thì thành sự vật, khi tách rời thì sự vật mất đi

+ Nguyên tử là những hạt vật chất nhỏ nhiều vô hạn không thể phân chia được, không khác nhau về chất mà khác nhau về hình dạng, tư thế và trình tự sắp xếp Chính sự khác nhau này mà tại nên sự khác nhau giữa các

sự vật

+ Sự xuất hiện hay mất đi của các sự vật hiện tượng là kết quả của sự kết hợp hay phân tán của nguyên tử

+ Sử dụng thuyết nguyên tử để giải thích sự hình thành của vũ trụ

nước, không khí, đất; khi con người chết đi phần xác sẽ mất còn phần hồn lại bay vào vũ trụ

Nhận thức

luận

-Đối tượng của nhận thức là thế giới khách quan và mục tiêu của nhận thức

là đạt tới hiểu biết bản chất của sự vật, hiện tượng

-Có 2 dạng nhận thức: nhận thức mờ tối và nhận thức trí tuệ

+ Nhận thức mờ tối là do cảm giác mang lại nhưng chưa sâu, nhưng là cơ

sở của trình độ nhận thức lý tính

-Đối tượng của nhận thức là thế giới

ý niệm

-Tuyệt đối hóa nhận thức lý tính Nhận thức lý tính ở trình độ trực giác trí tuệ mới thấy được “ý niệm”, đó mới là chân thực “Trực giác trí tuệ”

là quá trình hồi tưởng của linh hồn Linh hồn nhớ lại những gì nó đã quên trong “ý niệm”

Trang 6

+ Nhận thức trí tuệ là nhận thức được bản chất của sự vật, đây là nhận thức đáng tin cậy

-Nhận thức cảm tính chỉ là những

“tưởng tượng”, những kiến giải về cái bóng của ý niệm nên không chân thực

Logic học Coi logic học là công cụ của nhận

thức, nhấn mạnh phương pháp quy nạp nhằm vạch ra bản chất của giới tự nhiên

Xem xét logic học xen kẽ với phép biện chứng duy tâm nhằm đạt tới “ý niệm”, coi trọng phương pháp diễn dịch

Chính trị

-xã hội

-Đứng trên lập trường của tầng lớp dân chủ chủ nô chống lại chủ nô quý tộc, ông đề cao dân chủ nhưng là dân chủ cho chủ nô, còn nô lệ phải làm theo số phận

-Đề cao đạo đức con người Tư tưởng

về đời sống kinh tế xã hội là cơ sở của đời sống đạo đức

-Phẩm chất con người là việc làm, hạnh phúc con người là khả năng trí tuệ

-Xuất thân là tầng lớp chủ nô quý tộc

vì vậy quan niệm về chính trị - xã hội, đạo đức mang nặng tính giai cấp

-Chỉ có tầng lớp các nhà triết học và quý tộc mới có đạo đức thanh cao Còn đạo đức của dân thường là kìm chế dục vọng thấp hèn Nô lệ không

có đạo đức

-Đạo đức của Platon là thứ đạo đức duy tâm tôn giáo, phân biệt đẳng cấp

Phần thứ hai

Trang 7

TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI TRUNG CỔ VÀ CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM THỜI TRUNG

CỔ

1/ Triết học phương Tây thời trung cổ.

a Điều kiện kinh tế - xã hội:

Về kinh tế: Đây là giai đoạn thực hiện bước chuyển từ chế độ chiếm hữu nô

lệ sang xã hội phong kiến

Từ giữa thế kỷ V, những cuộc nổi dậy của nô lệ và những cuộc đấu tranh giai cấp khác bên trong cùng với sự tiến công của các man tộc bên ngoài đã dẫn tới sự sụp đổ của đế quốc La Mã phương Tây – chế độ nô lệ chấm dứt, chế độ phong kiến ra đời trên sự hoang tàn của kinh tế và văn hóa Nghề thủ công suy sụp, thương nghiệp giảm bớt, các thành phố cổ đại tiêu điều nhường chỗ cho nền kinh tế nông nghiệp, trung tâm của cuộc sống chuyển về nông thôn với việc xác lập nền kinh tế tự nhiên, nô lệ trở thành những nông dân tự do

Đặc điểm của nền kinh tế phong kiến là nền kinh tế mang tính tự nhiên, tự cung tự cấp, đóng kín và trì trệ dựa trên lao động thủ công thô sơ với hình thức bóc lột phát canh thu tô của địa chủ đối với nông dân Nhìn chung đây là nền kinh

tế thụt lùi so với thời Cổ đại

Song, cuối thời kỳ phong kiến (thế kỷ XII – XIV) nền kinh tế bắt đầu có sự phát triển: kinh tế tiền tệ dần thay thế nền kinh tế tự nhiên, thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển, nhiều thành phố thương cương mọc lên, một số ngành

kỹ thuật khá phát triển Sự phát triển này tạo tiền đề cho thời kỳ Phục hưng, cho

sự quá độ từ phong kiến lên Tư bản

Về mặt chính trị - xã hội: Xã hội phân hóa thành 2 giai cấp lớn là địa chủ

và nông dân Quyền chiếm hữu ruộng đất, các tư liệu sản xuất khác cũng như sản phẩm làm ra thuộc về địa chủ phong kiến Cuối thời kỳ này diễn ra các cuộc thập

tự chinh thúc đẩy công thương nghiệp phát triển, tạo ra một tầng lớp thị dân

Trang 8

đương đầu với lãnh chúa đồng thời giúp cho văn hóa phương Tây giao lưu với văn hóa phương Đông

Về mặt tinh thần: lúc đầu là Cơ đốc giáo và sau là Thiên chúa giáo giữ vai

trò thống trị Những giáo lý tôn giáo được xác định là những nguyên lý cơ bản về chính trị, kinh thánh có vai trò như luật lệ bất di bất dịch trong mọi cuộc xét xử Giáo hội Kitô là một thế lực phong kiến to lớn và là một tổ chức tập quyền nghiêm khắc, thống trị xã hội cả về chính trị và tinh thần, do Giáo hoàng La Mã cầm đầu Vương quyền có vị trí, vai trò thấp hơn thần quyền, nhà nước phong kiến hoàn toàn phụ thuộc vào Giáo hội Giáo hoàng và các linh mục được xem là

sứ giả của chúa trời Chính vì điều đó mà Giáo hội giữ vai trò độc quyền chi phối trong lĩnh vực văn hoá, nhà trường hoàn toàn nằm trong tay các thầy tu, triết học được đem phục vụ cho tôn giáo và Giáo hội Có thể nói, tín điều nhà thờ là điểm xuất phát của mọi tư duy; thế giới quan thần học bao trùm lên triết học, luật học

và chính trị Điều đó đã giải thích vì sao giai cấp nông dân tuy hết sức đông đảo nhưng lại “tối tăm về trí tuệ” và bị tước hết mọi quyền hành Vì thế, các nhà sử học đã gọi thời kỳ này là “đêm trường trung cổ”

b Đặc điểm của triết học phương Tây thời trung cổ:

Thứ nhất: Triết học phương Tây trung cổ bị chi phối mạnh bởi tư tưởng

thần học và tôn giáo của Thiên Chúa giáo Triết học thời kỳ này mang đậm tính tôn giáo, hầu hết các nhà triết học là thần học, và một trong những đặc điểm nổi bật là chứng minh sự tồn tại của Thượng Đế, và chứng minh cho những tín điều tôn giáo của nhà thờ Đây là thời kỳ thụt lùi so với thời cổ đại

Thứ hai: Triết học kinh viện là đặc trưng bao trùm triết học thời kỳ này,

được nghiên cứu sáng tạo chủ yếu bởi các nhà triết học thần học trong các cơ sở giáo dục của Cơ đốc giáo (tu viện, trường dòng), do đó nó xa rời thực tiễn của xã hội và con người

Trang 9

Thứ ba: Các nhà triết học đều giải quyết mối quan hệ giữa cái chung và cái

riêng (giữa khái niệm và các sự vật riêng lẻ), trên cơ sở đó nảy sinh hai khuynh hướng triết học phổ biến là chủ nghĩa Duy thực và chủ nghĩa Duy danh Cuộc đấu tranh giữa hai chủ nghĩa này biểu hiện của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa Duy vật

và chủ nghĩa Duy tâm thời trung cổ

Thứ tư: Triết học thời kỳ này chứa đựng chủ nghĩa tự nhiên thần luận và

phiến thần luận

Thứ năm: Triết học phương Tây thời kỳ trung cổ là bước thụt lùi so với thời

kỳ cổ đại trong lịch sử Triết học

2/ Nội dung đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong

triết học phương tây thời trung cổ.

Các nhà triết học Mácxít đã thống nhất đánh giá rằng, hiện tượng tương đối tích cực xảy ra trong triết học phương Tây thời trung cổ (tập trung trong giai đoạn tồn tại của triết học kinh viện từ thế kỷ IX đến thế kỷ XV) là cuộc đấu tranh giữa

“Phái duy danh” và “Phái duy thực”; trong đó, “Phái duy danh” có khuynh hướng duy vật và “Phái duy thực” có khuynh hướng duy tâm Cuộc đấu tranh này đã

được V.I Lênin đánh giá là “có những điểm chung với cuộc đấu tranh giữa phái duy vật chủ nghĩa và phái duy tâm chủ nghĩa”

a/ Giai đo n đ u c a ch ngh a kinh vi n (t th k IX đ n th k XII):ạn đầu của chủ nghĩa kinh viện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ầu của chủ nghĩa kinh viện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ủa chủ nghĩa kinh viện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ủa chủ nghĩa kinh viện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ĩa kinh viện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ừ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ế kỷ IX đến thế kỷ XII): ỷ IX đến thế kỷ XII): ế kỷ IX đến thế kỷ XII): ế kỷ IX đến thế kỷ XII): ỷ IX đến thế kỷ XII):

Đại biểu Giawawngxxicot Origienno,

người Ailen (810-877)

Pierre Abélard, người Pháp (1079-1142)

Quan niệm về

mối quan hệ

giữa lý trí và

niềm tin tôn

giáo.

Thể hiện rõ quan niệm duy tâm thần học Tuy cho rằng lý trí và lòng tin hoàn toàn dung hợp với nhau, phủ nhận lý trí để đề cao tôn giáo hoặc phủ nhận tôn giáo để đề cao lý trí đều

Đề cao vai trò của lý trí Cho rằng lòng tin phụ thuộc một cách rõ rệt vào những cơ sở của lý trí, chính lý trí là tiêu chuẩn và là sự đảm bảo cho tính chân lý của lòng tin tôn

Trang 10

nguy hiểm cho nhà thờ, song mục đích cuối cùng vẫn là củng cố lòng tin của tôn giáo, đề cao uy tín của nhà thờ

giáo; phê phán nhiều đại biểu của nhà thờ và chỉ ra tính chất không chuẩn xác của các học thuyết thần học

Quan niệm về

mối quan hệ

giữa cái chung

và cái riêng.

Cho rằng cái chung có trước cái riêng

và là cơ sở của cái riêng; cái chung là cái bản chất của sự vật vì các sự vật đều bắt nguồn từ cái chung và cái chung chứa đựng các sự vật bên trong Mục đích là chứng minh cho

sự tồn tại và vai trò tối cao của Thượng đế đối với đời sống của con người và giới tự nhiên

Khẳng định khái niệm chung không tồn tại bên ngoài các sự vật cụ thể, không có đời sống độc lập, nhưng

nó cũng không tồn tại trong bản thân các sự vật; ý nghĩa của khái niệm chung không nằm trong bản thân từ ngữ chỉ khái niệm mà nằm trong ý nghĩa của từ ngữ Có phần nào xa lìa tín điều chính thống của nhà thờ

b/ Giai đo n h ng th nh c a ch ngh a kinh vi n (th k XIII):ạn đầu của chủ nghĩa kinh viện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ưng thịnh của chủ nghĩa kinh viện (thế kỷ XIII): ịnh của chủ nghĩa kinh viện (thế kỷ XIII): ủa chủ nghĩa kinh viện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ủa chủ nghĩa kinh viện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ĩa kinh viện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ện (từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII): ế kỷ IX đến thế kỷ XII): ỷ IX đến thế kỷ XII):

người Italia (1225-1274)

Duns Scotus, người Anh (1265-1308)

Quan niệm về

mối quan hệ

giữa lý trí và

niềm tin tôn

giáo.

Tuy phân định rõ ranh giới nhưng không đối lập giữa triết học và thần học, giữa lý trí và lòng tin Ông cho rằng, đối tượng của triết học là nghiên cứu “chân lý của lý trí”, đối tượng của thần học là nghiên cứu “chân lý của lòng tin tôn giáo” Thượng đế là khách thể cuối cùng của cả triết học

và thần học, là nguồn gốc của mọi chân lý Do đó, giữa triết học và thần học không mâu thuẫn; trong đó, triết

Cho rằng, đối tượng của thần học là nghiên cứu Thượng đế, đối tượng của triết học (siêu hình học) là tồn tại (hiện thực khách quan - vật chất

- giới tự nhiên) Với quan niệm này, ông có ý tưởng cắt đứt mối liên hệ giữa triết học và thần học, muốn giải phóng triết học khỏi ách áp bức của Giáo hội Tuy nhiên, ông vẫn đề cao vai trò của lòng tin nhưng cũng không hạ thấp quá đáng vai trò của

Ngày đăng: 22/12/2021, 21:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w