rong nghiệp cơng nghiệp hóa, đại hóa đất nước hội nhập quốc tế nay, việc phát triển nguồn nhân lực trở nên quan trọng cấp thiết Do đó, việc nghiên cứu bổ sung, hồn thiện sách phát triển nguồn nhân lực nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài tất yếu khách quan Đây nhiệm vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng đặt nhằm góp phần thực thành công mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững Thực tốt khâu phát triển nguồn nhân lực làm tăng tiềm lực sức mạnh quốc gia, tạo sức mạnh tổng hợp, định đến thành công việc xây dựng kinh tế độc lập tự chủ ngày cao bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày sâu rộng Để làm rõ quan điểm em xin tìm hiểu đề tài : “Phân tích quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển nguồn nhân lực q trình cơng nghiệp hóa, đại hóa Việt Nam nay?
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN
⸎⸎⸎⸎⸎
BÀI TẬP LỚN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Đề tài: Phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực trong qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
hiện nay? Liên hệ bản thân sinh viên.
Nhóm thực hiện: Nhóm 9
Lớp : Kinh tế chính trị Mác-Lê-nin_1.1(14.FS).4_LT
Giảng viên hướng dẫn: Đồng Thị Tuyền
HÀ NỘI, THÁNG 11/2021
Trang 2Bảng phân công công việc
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN 2 PHẦN NỘI DUNG 2
2.1 Khái quát về cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa 2
2.1.1 Về cách mạng công nghiệp 2
2.1.2 Về công nghiệp hóa 4
2.2 Phân tích và chứng minh định nghĩa nguồn nhân lực 5
2.3 Quan điểm của ĐCS Việt Nam về việc phát triển nguồn nhân lực – tiền đề cần thiết để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH 7
2.4 Thực trạng nguồn nhân lực nước ta 9
2.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực và liên hệ thực tiễn với bản thân sinh viên 11
2.5.1 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 11
2.5.2 Liên hệ bản thân với tư cách là sinh viên 14
PHẦN 3 PHẦN KẾT LUẬN 16
Trang 4PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế hiện nay, việc phát triển nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng và cấp thiết
Do đó, việc nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực
là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và là một tất yếu khách quan Đây cũng là một trong những nhiệm vụ được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt ra nhằm góp phần thực hiện thành công mục tiêu đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững Thực hiện tốt khâu phát triển nguồn nhân lực sẽ làm tăng tiềm lực và sức mạnh của quốc gia, tạo ra sức mạnh tổng hợp, quyết định đến thành công của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Để làm rõ những quan điểm
trên em xin tìm hiểu đề tài : “Phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay?” Và liên hệ đến bản thân sinh viên.
Do trình độ hiểu biết còn hạn chế nên bài làm không thể tránh khỏi sai sót nên em kính mong nhận được sự góp ý, chỉnh sửa của giảng viên để bài viết này thêm phần hoàn thiện hơn
Trang 5PHẦN 2 PHẦN NỘI DUNG
2.1 Khái quát về cách mạng công nghiệp và công nghiệp hóa.
2.1.1 Về cách mạng công nghiệp
Cách mạng công nghiệp là những bước phát triển nhảy vọt về chất trình
độ của tư liệu lao động trên cơ sở những phát minh đột phá về kỹ thuật và công nghệ trong quá trình phát triển của nhân loại kéo theo sự thay đổi căn bản về phân công lao động xã hội cũng như tạo bước phát triển năng suất lao động cao hơn hẳn nhờ áp dụng một cách phổ biến những tính năng mới trong kỹ thuật -công nghệ đó vào đời sống xã hội
2.1.1.1 Khái quát lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp
Về mặt lịch sử, cho đến nay, loài người đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp và đang bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) Cụ thể:
Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất khởi phát từ nước Anh, bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX.
Nội dung cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là chuyển
từ lao động thủ công thành lao động sử dụng máy móc, thực hiện cơ giới hóa sản xuất bằng việc sử dụng năng lượng nước và hơi nước
Trang 6Nghiên cứu về CMCN lần thứ nhất, C.Mác đã khái quát tính quy luật của cách mạng công nghiệp qua ba giai đoạn phát triển là: hiệp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp C.Mác khẳng định đó là ba giai đoạn tăng năng suất lao động xã hội; ba giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất gắn với sự củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa; đây cũng là ba giai đoạn xã hội hóa lao động và sản xuất diễn ra trong quá trình chuyển biến từ sản xuất nhỏ, thủ công phân tán lên sản xuất lớn, tập trung, hiện đại
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Nội dung của cách mạng công nghiệp lần thứ hai được thể hiện ở việc sử dụng năng lượng điện và động cơ điện Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai
là sự tiếp nối cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, với những phát minh về công nghệ và sản phẩm mới được ra đời và phổ biến như điện, xăng dầu, động
cơ đốt trong Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai cũng đã tạo ra những tiến
bộ vượt bậc trong giao thông vận tải và thông tin liên lạc
Cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt đầu từ khoảng những năm đầu thập niên 60 thế kỷ XX đến cuối thế kỷ XX.
Đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng này là sự xuất hiện công nghệ thông tin, tự động hóa sản xuất Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đã đưa tới những tiến bộ kỹ thuật công nghệ nổi bật trong giai đoạn này là: hệ thống mạng, máy tính cá nhân, thiết bị điện tử sử dụng công nghệ số và robot công nghiệp
Trang 7Cách mạng công nghiệp lần thứ tư từ 2011 – đến nay, đang tiếp diễn.
Gần đây tại Việt Nam cũng như trên nhiều diễn đàn kinh tế thế giới, việc
sử dụng thuật ngữ cách mạng công nghiệp lần thứ tư với hàm ý có một sự thay đổi về chất trong lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thế giới, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành trên cơ sở cuộc cách mạng số, gắn với sự phát triển và phổ biến của Internet kết nối vạn vật với nhau (Internet of Things - IoT) Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có biểu hiện đặc trưng là sự xuất hiện các công nghệ mới có tính đột phá về chất như trí tuệ nhân tạo, big data, in 3D
Như vậy, mỗi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện có những nội dung cốt lõi, phát triển nhảy vọt về tư liệu lao động Sự phát triển của tự liệu lao động
đã thúc đẩy sự phát triển của văn minh nhân loại Theo nghĩa đó, vai trò của cách mạng công nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự hoàn thiện của quan hệ sản xuất và đổi mới phương thức quản trị
2.1.2 Về công nghiệp hóa
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi nền sản xuất xã hội từ dựa trên lao động thủ công là chính sang nền sản xuất xã hội dựa chủ yếu trên lao động bằng máy móc nhằm tạo ra năng xuất lao động cao
Đối với Việt Nam, Công nghiệp hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình phát triển vì nó đưa cả nền sản xuất vật chất và đời sống văn hóa - xã hội của đất nước lên trình độ mới
Trang 8Đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa có vai trò tạo điều kiện, tiền đề vật chất - kỹ thuật cho chế độ xã hội chủ nghĩa Ở mỗi thời
kỳ lịch sử, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa có nội dung và bước đi cụ thể, phù hợp Ở nươcs ta, khi chính thức bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng chủ trương tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa,
và từ cuối thế kỷ XX đến nay, quá trình này được xác định đầy đủ là công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là một quá trình kinh tế, kỹ thuật - công nghệ và kinh tế - xã hội toàn diện, sâu rộng nhằm chuyển đổi nền sản xuất và xã hội Việt Nam từ trình độ nông nghiệp lạc hậu lên trình độ công nghiệp với các trình độ công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại, văn minh Trên cơ sở tổng kết công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay và bám sát bối cảnh, yêu cầu, nhiệm vụ mới, Đại hội XIII của Đảng nêu rõ chủ trương:
“Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” Để hoàn thành các nhiệm vụ đã để ra đòi hỏi phải không ngừng tạo dựng nên các tiền đề như nguồn vốn, khoa học công nghệ, kinh tế đối ngoại và đặc biệt đào tạo sử dụng nguồn nhân lực vì đây là một yếu tố quan trọng quyết định thành công sự nghiệp CNH-HĐH
2.2 Phân tích và chứng minh định nghĩa nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động
Trang 9Nguồn nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể chất
và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên có tham gia vào nền sản xuất xã hội Các cách hiểu trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực, song đều có chung một ý nghĩa là nói lên khả năng lao động của xã hội
Nguồn nhân lực được xem xét dưới góc độ số lượng và chất lượng Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số Quy
mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại.Tuy nhiên sau thời gian khoảng 15 năm (vì đến lúc đó con người mới bước vào độ ) Về chất lượng, nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: tình trạng sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn và năng lực phẩm chất…
Cũng giống như các nguồn lực khác, số lượng và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất
và văn hóa cho xã hội
Trang 102.3 Quan điểm của ĐCS Việt Nam về việc phát triển nguồn nhân lực – tiền
đề cần thiết để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH .
Đảng ta xác định mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng
nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hê ̣ sản xuất tiến bô ̣ phù hợp với trình đô ̣ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh và nâng cao phát triển nguồn nhân lực là tiền đề cần thiết để thực hiện mục tiêu đó
Theo Văn kiện Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng đề ra định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, đó là: “Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh
mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên
ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”
Để có được nguồn nhân lực chất lượng cao đủ trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, Nhà nước cần quan tâm thích đáng đến việc đầu tư cho nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nói chung, nhân lực có chất lượng cao nói riêng
Trang 11Trong điều kiện nước ta chưa có đủ điều kiện, khả năng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho tất cả các ngành, lĩnh vực thì cùng với việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ như yêu cầu của Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khoá XII, cần tập trung cho những ngành, lĩnh vực trọng tâm, then chốt của nền kinh tế để tạo sự bứt phá về chất lượng nguồn nhân lực
Với sự ưu tiên phát triển NNL chất lượng cao đã được đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII cho thấy, đường lối, chủ trương về phát triển NNL ở nước ta theo xu hướng đáp ứng được chất lượng, yêu cầu trong bối cảnh thế giới hiện nay đó là cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế số, cạnh tranh, hội nhập quốc tế,
đó là ưu tiên phát triển nhanh, bền vững… Đây cũng là bước đột phá chiến lược trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế – xã hội còn thấp khi bước vào nền kinh tế tri thức, cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế… Do đó, yêu cầu nâng cao chất lượng NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp đổi mới và phát triển bền vững Nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất – kỹ thuật, khoa học – công nghệ… có mối quan hệ nhân – quả với nhau, trong đó NNL được xem là nguồn lực quan trọng nhất, chi phối các nguồn lực khác và quá trình phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia
Trang 12Nói tóm lại, yếu tố con người là yếu tố tiên quyết quyết định sự thành bại của quá trình CNH – HĐH Để thực hiện hiệu quả CNH - HĐH đất nước, chúng
ta phải lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam đặc biệt là con người hiện đại làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh, bền vững Nguồn nhân lực
ở vai trò chủ thể tham gia vào quá trình CNH - HĐH không chỉ cần sự cần cù, trung thành, nhiệt tình quyết tâm, mà điều quan trọng hơn là có trí tuệ khoa học,
ý chí chiến thắng cái nghèo nàn lạc hậu, tính năng động luôn thích ứng với hoàn cảnh, ý thức kỷ luật, Với những điều kiện và yếu tố nêu trên có thể thấy việc phát triển nguồn nhân lực là hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng CNH-HĐH đổi mới đất nước
2.4 Thực trạng nguồn nhân lực nước ta.
Việc sử dụng nguồn nhân lực đạt hiệu quả một cách tối đa và hợp lý luôn
là thách thức, khó khăn với mọi quốc gia chứ không riêng ở Việt Nam Sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý không phải là một điều đơn giản, song nếu làm được điều đó thì sẽ thúc đẩy việc sản xuất có hiệu quả hơn rất nhiều, năng xuất lao động sẽ tăng, phúc lợi xã hội tăng cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ làm cho sự nghiệp lớn là xây dựng CNXH thành công nhanh chóng
Hiện nay, dân số Việt Nam khoảng 98 triệu người, trong đó tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khoảng 68,7% (quý 1/2021), đây là một lợi thế về số lượng nguồn nhân lực của Việt Nam (Tổng cục Thống kê, 2021) Chất lượng nguồn nhân lực đã tăng đáng kể trong những năm gần đây
Trang 13Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2015 là 51,6% tăng lên khoảng 64,5% năm 2020, trong đó tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ năm 2015 là 20,29%
đã tăng lên đến khoảng 24,5% vào năm 2020 Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) của Việt Nam được xếp hạng ở vị trí 110/189 quốc gia và đứng thứ nhì trong khu vực Đông Nam Á, chỉ sau chỉ số HDI của Singaprore Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị vẫn ở mức dưới 4% Người lao động Việt Nam được đánh giá là cần cù, chịu khó, thông minh, năng suất lao động cũng luôn được cải thiện và đạt mức tăng bình quân 3,9%/ năm (2006 - 2015)
Hiện nay, ở Việt Nam, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số (96,7%) trong tổng số doanh nghiệp của cả nước, đây là thành phần chiếm ưu thế và là nơi sử dụng nguồn nhân lực nhiều nhất trong nền kinh tế Trên thực tế thì nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ này vẫn ở mức hạn chế. Việc hợp tác quốc tế mạnh mẽ đã mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong việc hoàn thiện chất lượng nguồn nhân lực theo các tiêu chuẩn tiến bộ trên thế giới
Bên cạnh những điểm tích cực, thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay vẫn còn những hạn chế trong đào tạo, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Việt Nam còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao do công tác
đào tạo chưa phù hợp
Trang 14Thứ hai, việc thu hút và sử dụng nguồn nhân lực cũng gặp khó khăn khi
đối diện một xu hướng không tránh khỏi là nạn “chảy máu chất xám” (brain drain) xảy ra tại Việt Nam Mức sống chưa cao và chế độ lương thưởng chưa phù hợp của môi trường làm việc trong nước đã dẫn đến việc nhiều lao động có trình
độ và được đào tạo đã xuất ngoại, làm việc tại các nước phát triển hơn hoặc tình trạng du học sinh đi học và không quay trở về làm việc tại Việt Nam
Thực trạng của việc sử dụng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay vẫn còn có nhiều bất cập như trên nhưng thực sự đã có cố gắng rất nhiều trong việc phân bổ và sử dụng Đa số lao động đã làm đúng với ngành nghề của mình được đào tạo, phát huy được những ưu điểm như thông minh sáng tạo, cần cù và nhiệt tình trong công việc, từng bước theo kịp với nền khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất, đẩy nhanh tiến trình thực hiện CNH-HĐH
2.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực và liên hệ thực tiễn với bản thân sinh viên
2.5.1 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các bậc học, đặc biệt là bậc đại học, cao đẳng Đây là giải pháp quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc
tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay