1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

vấn đề thực tiễn áp dụng cơ chế thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng một số vấn đề cần TRAO đổi về cơ CHẾ THỎA THUẬN về tài sản của vợ CHỒNG

30 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Thực Tiễn Áp Dụng Cơ Chế Thỏa Thuận Chế Độ Tài Sản Của Vợ Chồng
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
Thể loại Bài Luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 70,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó bao hàm các quy định mang tính chất mệnh lệnh buộc cácbên chủ thể tham gia chế độ này phải tuân theo, đó là tập hợp các quy tắc liên quan đếnnhững tài sản cần thiết cho cuộc sốn

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

Gia đình là tập hợp những người được gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ dựatrên hôn nhân, huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng, quan hệ giáo dục và cùng với đó là làmphát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau

Trong đó, mối quan hệ vợ chồng giữa một người đàn ông và một người phụ nữchính là sự khởi nguồn và là nền tảng xây dựng nên các mối quan hệ khác trong gia đình.Hai con người, hai cá thể hoàn toàn riêng biệt, tuy nhiên, thông qua sự kiện pháp lý đặcbiệt gọi là kết hôn, nó đã ràng buộc họ với nhau về các quyền và nghĩa vụ giữa hai người.Mối quan hệ đó được vung đắp nên từ tình cảm rồi dần dần theo năm tháng vật chất đượchình thành từ cuộc sống hôn nhân giữa họ Vật chất ở đây có thể là tài sản chung hoặc tàisản riêng được hình thành trước, trong hay sau thời kỳ hôn nhân của vợ chồng Chính vì

sự phức tạp của nó nên đây được xem là một trong những vấn đề được pháp luật quan tâmnhất và được quy định nhiều nhất trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Đó chính làvấn đề liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung rất nhiều những quy định mới và

đã khắc phục được phần nào những mặt còn hạn chế về tài sản của Luật Hôn nhân và gia

Trang 2

đình những năm 1959, năm 1987 và năm 2000 Tuy nhiên, mặc dù đã thông qua thực tiễnxét xử để đưa ra các dự liệu về những trường hợp phát sinh khác trong thực tế thế nhưngvẫn có những vấn đề mà pháp luật không thể giải quyết được và điều này dẫn đến cáctranh chấp về vấn đề tài sản của vợ chồng, gây khó khăn trong việc giải quyết và thụ lý vụ

án của Tòa

Sau đây nhóm chúng em xin được trình bày về vấn đề thực tiễn áp dụng cơ chế thỏathuận chế độ tài sản của vợ chồng để tìm hiểu rõ thêm về vấn đề này

Chú thích: Luật Hôn nhân và gia đình: Luật HN&GĐ.

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG:

1.Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng:

Cho đến nay, chế độ tài sản của vợ chồng được rất nhiều người quan tâm đến, vềmặt pháp lý vẫn chưa có quy định cụ thể nào về khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng.Trong thực tiễn khoa học pháp lý về hôn nhân gia đình hiện nay, các nhà nghiên cứu đãđưa ra rất nhiều quan điểm về khái niệm này, dưới đây xin được nêu ra bốn quan điểm màtheo nhóm là phù hợp nhất

− Quan điểm thứ nhất: Luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng là tập hợp các quy tắc vềthành phần cấu tạo của các khối tài sản mà vợ, chồng hoặc cả hai có quyền sở hữu; vềcác quyền của vợ chồng đối với các khối tài sản đó và về những nghĩa vụ tài sản đốivới người thứ ba vợ hoặc chồng hoặc cả hai có trách nhiệm thực hiện.1

− Quan điểm thứ hai: Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy định của phápluật về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, phương thức tác động, cách thức xác lập

1 Nguyễn Ngọc Điện (2004), Bình luận khoa học luật HNGĐVN, tập II, NXB Trẻ, tr.10

Trang 3

quan hệ tài sản để xác định sở hữu chung, sở hữu riêng của vợ, chồng trong mối quan

hệ vợ chồng với nhau và với người thứ ba.2

− Quan điểm thứ ba: Chế độ tài sản của vợ chồng gồm sở hữu của vợ chồng đối với tàisản thuộc sở hữu chung hợp nhất và sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng3

− Quan điểm thứ tư: Chế độ tài sản của vợ chồng gồm tài sản chung của vợ chồng và tàisản riêng của mỗi người, trong đó bao gồm cả quyền và nghĩa vụ gắn liền với mỗiloại tài sản theo quy định đối với vợ, chồng, thành viên trong gia đình và với ngườithứ ba4

Nói tóm lại, các quan điểm trên đều khẳng định chế độ tài sản của vợ chồng baogồm tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ, chồng

2.Đặc điểm về chế độ tài sản của vợ chồng:

Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm ba đặc điểm quan trọng như sau:

− Chủ thể: Ngoài việc có đầy đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, cácbên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau

− Những quy định của pháp luật vê chế độ hôn nhân gia đình mà Nhà nước đề ra nhằmtạo điều kiện cho vợ chồng chủ động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Thôngqua đó, Nhà nước đảm bảo quyền lợi của gia đình, trong đó bao hàm cả lợi ích cánhân của vợ và chồng

− Chế độ tài sản của vợ chồng phụ thuộc vào sự phát sinh hoặc chấm dứt của quan hệhôn nhân

− Chế độ tài sản của vợ chồng mang những đặc thù riêng trong việc thực hiện quyền vànghĩa vụ của chủ thể, như quyền định đoạt tài sản bị hạn chế trong một số trường hợp.(Ví dụ: Nếu tài sản riêng đang là nguồn sống duy nhất của cả gia đình, khi định đoạtliên quan đến tài sản này thì phải có thoả thuận của hai vợ chồng)

3.Vai trò, ý nghĩa về chế độ tài sản của vợ chồng:

2 Lê Vĩnh Châu (2001), Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật HNVGĐVN, Luận văn Th.s Luật, tr.2

3 Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hôn nhân gia đình Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr.158

4 Nguyễn Tiến Phát, Chế độ pháp lý về tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam hiện hành; Thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản riêng của vợ, chồng

Trang 4

3.1.Vai trò:

− Chế độ tài sản của vợ chồng được pháp luật ghi nhận nhằm đảm bảo các nguyên tắc

xử sự phù hợp với truyền thống văn hóa, thuần phong mĩ tục, đạo đức dân tộc của cácbên

− Việc thực hiện và áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng góp phần bảo đảm thực hiệncác quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng và giữa các thành viên của gia đìnhvới nhau

− Các giao dịch tài sản trong thời kì hôn nhân được đảm bảo thực hiện thông qua cácquy định về chế độ tài sản của vợ chồng, như vậy chế độ tài sản của vợ chồng gópphần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại

3.2.Ý nghĩa:

− Các quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng phần nào đó đã phản ảnh trình độphát triển các điều kiện kinh tế - xã hội (tính khách quan) và ý chí của nhà nước thểhiện bản chất của xã hội (tính chủ quan)

− Khi xác lập quan hệ hôn nhân, dù cho các bên trong quan hệ đó lựa chọn chế độ tàisản nào (pháp định hay ước định) thì cũng luôn được điều chỉnh bởi pháp luật của nhànước Việc phân định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ và chồng của chế độ tàisản nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tàisản của vợ chồng

− Chế độ về tài sản của vợ chồng được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm quyền vànghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ này

4.Các loại chế độ tài sản của vợ chồng:

4.1.Chế độ tài sản pháp định:

Chế độ tài sản pháp định được áp dụng đối với vợ chồng khi kết hôn mà không lậphợp đồng hôn nhân Trong đó bao hàm các quy định mang tính chất mệnh lệnh buộc cácbên chủ thể tham gia chế độ này phải tuân theo, đó là tập hợp các quy tắc liên quan đếnnhững tài sản cần thiết cho cuộc sống tối thiểu của gia đình chẳng hạn như nhà ở, tiềnlương… Ở chế định này, các căn cứ, nguồn gốc thành phần các loại tài sản chung và tàisản riêng của vợ, chồng (nếu có); quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tàisản đó; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng; phương thức thanh

Trang 5

toán liên quan đến các khoản nợ chung hay riêng của vợ chồng được các nhà làm luật dựliệu từ trước và đưa ra các quy định phù hợp để điều chỉnh.

4.2.Chế độ tài sản ước định:

Chế định tài sản ước định bao hàm các chế độ đặc thù mà vợ chồng thông qua hợpđồng hôn nhân, lựa chọn quan hệ tài sản tùy theo hoàn cảnh sống, ý chí chủ quan củachính mình Những chọn lựa này, sau khi đã được thỏa thuận hợp pháp thì quan hệ tài sản

ấy được công nhận và nếu có tranh chấp xảy ra sẽ căn cứ theo thỏa thuận ban đầu mà giảiquyết Hiện nay, Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về áp dụng chế

độ tài sản của vợ chồng như sau: “Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản

theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thoả thuận”.

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG:

1. Chế độ tài sản ước định ở một số nước trên thế giới:

Chế độ tài sản theo thỏa thuận không còn là điều mới lạ với nhiều nước trên thế giới,ngược lại, nó đã tồn tại từ rất sớm Trước đây, người La Mã cổ đại khi kết hôn thường tựlập thỏa thuận trong đó ghi xác định trước quan hệ tài sản giữa họ với nhau trong cuộcsống tương lai, đồng thời cũng nêu rõ những điều kiện thừa kế tài sản khi một bên vợ(chồng) chết

Phần lớn các quốc gia phát triển trên thế giới hiện nay đều qui định cả hai chế độ tàisản vợ chồng: theo pháp luật và theo thỏa thuận, tiêu biểu có Hoa Kỳ và Pháp Trong khi

đó, một số quốc gia xã hội chủ nghĩa như Bulgari, Hungari, Roumani, Tiệp Khắc, ngoài racòn có Argentina và một số bang ở Mehico còn duy trì duy nhất một chế độ tài sản phápđịnh đối với vợ chồng

Trong khu vực, Trung Quốc trước đây không có qui định chế độ tài sản vợ chồngtheo thỏa thuận, nay đã công nhận chế độ này Nhật Bản vốn là quốc gia nặng về truyềnthống cộng đồng và gia đình cũng đã có qui định về thỏa thuận giữa vợ chồng đối với tàisản

Trang 6

1.1 Trung Quốc:

Trước khi ban hành Luật hôn nhân 2001, chế độ tài sản theo thỏa thuận không đượccông nhận ở Trung Quốc Theo đó, mọi tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đềuthuộc sở hữu chung theo pháp luật

Năm 2001, Luật hôn nhân Trung Quốc bổ sung qui định mới liên quan đến việc thỏathuận về tài sản giữa vợ chồng Điều 17 của luật này qui định rằng tất cả thu nhập kiếmđược và tài sản của các bên được coi là tài sản chung ngoại trừ trường hợp các bên cóthỏa thuận khác (Điều 19) Cụ thể, Điều 19 luật này qui định: vợ hoặc chồng có thể, bằngthỏa thuận, ước định tài sản của mỗi bên trước và sau hôn nhân Hơn nữa, thỏa thuận này

có thể qui định chế độ sở hữu tài sản, hoặc là sở hữu chung toàn bộ, hoặc là sở hữu chungmột phần hoặc là sở hữu riêng Tất cả những thỏa thuận này đều phải được thể hiện bằngvăn bản Nếu thỏa thuận này không rõ ràng hoặc thiếu thì qui định về chế độ sở hữu vợchồng theo pháp luật được áp dụng

1.2 Nhật Bản:

Nhật Bản là một quốc gia mang nặng nhiều biểu hiện phong kiến và bất bình đẳnggiới Tuy vậy, hiện nay Nhật Bản đã có riêng một văn bản pháp luật điều chỉnh về hìnhthức và đăng kí thỏa thuận tài sản giữa vợ chồng (Mặc dù tên tiếng anh của văn bản nàyđược dịch theo các cách khác nhau: “Family Registration Act” hay “Matrimonial propertyagreement Registration Act” nhưng toàn bộ nội dung của nó chỉ nói về việc đăng kí thỏathuận tài sản giữa vợ chồng và hình thức của thỏa thuận) Về nội dung của của thỏa thuậntài sản giữa vợ chồng được qui định trong bộ luật dân sự (Civil Code) Điều 755 Bộ luậtdân sự Nhật Bản ghi nhận quyền được lập thỏa thuận tài sản giữa vợ chồng của các cặp

vợ chồng: các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng sẽ được tuân theo các qui địnhdưới đây nếu như vợ chồng không kí vào một hợp đồng qui định trước về tài sản của họtrước khi đăng kí kết hôn Luật cũng qui định: Nếu vợ chồng có một thỏa thuận về tài sản

mà trong đó qui định khác với chế độ tài sản pháp định thì thỏa thuận tài sản giữa vợchồng này không được chống lại người thừa kế hàng thứ nhất của vợ hoặc chồng hoặcngười thứ ba trừ khi nó được đăng kí trước khi đăng kí kết hôn

Trang 7

1.3 Hoa Kỳ:

Có thể nói rằng không có ở một quốc gia nào mà vấn đề lập hôn ước lại trở nên phổbiến như ở Hoa Kỳ Ngoài hôn ước hay thỏa thuận về tài sản giữa vợ chồng trước hônnhân (prenuptial agreement), Hoa Kỳ còn cho phép các cặp vợ chồng lập một thỏa thuậntương tự như hôn ước trong thời kì hôn nhân (postnuptial agreement tạm dịch là hậu hônước) Khoảng giữa thế kỉ 19, một số án lệ ở Hoa Kỳ đã cho phép sự tồn tại của hôn ước,đến tháng 7 năm 1983 một đạo luật về hôn ước (Uniform premarital agreement Act gọi tắt

là UPAA) đã được ban hành dựa trên kết quả của các án lệ, UPAA được chấp nhận ở đa sốcác bang của Hoa Kỳ, một số bang còn lại có những qui định khác hay đặc biệt hơn so vớiUPAA

1.4 Cộng Hòa Pháp:

Nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản trong hôn nhân bắt nguồn từ việc thực hiệnnguyên tắc tự do ký kết hợp đồng đã được thừa nhận ở Pháp từ thế kỷ XVI Từ thời kỳ đó,luật pháp và tập quán đã thừa nhận những sự thỏa thuận của vợ chồng về chế độ tài sảnphù hợp với hoàn cảnh kinh tế của họ, như là một quyền tự do cá nhân

Bộ luật Dân sự 1804 ra đời đã kế thừa tinh thần này và duy trì nguyên tắc khôngthay đổi những thỏa thuận của vợ chồng về chế độ hôn sản Hiện nay, nguyên tắc vợchồng có quyền tự do lựa chọn chế độ tài sản được khẳng định ngay trong quy định đầutiên của phần những quy định chung của Bộ luật Dân sự về các chế độ tài sản của vợ

chồng Điều 1387 quy định: “Luật pháp chỉ điều chỉnh quan hệ vợ chồng về tài sản khi

không có thỏa thuận riêng, mà vợ chồng có thể làm vì cho rằng điều đó là cần thiết, miễn sao những thỏa thuận đó không trái với thuần phong mỹ tục và những quy định sau đây” 5 Những người kết hôn hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận một chế độ tài sản choriêng mình Nếu họ không thiết lập những thỏa thuận về vấn đề này, chế độ tài sản phápđịnh sẽ đương nhiên được áp dụng Mặt khác, nguyên tắc tự do thỏa thuận về chế độ tàisản của vợ chồng còn giữ hiệu lực ngay cả trong những trường hợp chế độ tài sản đã được

5 Luật dân sự Pháp

Trang 8

xác định, bằng việc vợ chồng có quyền thỏa thuận thay đổi Sự thay đổi này có thể đượcthực hiện trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân Theo quy định của điều 1394BLDS, những thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải được tiến hành với sự thamgia của công chứng viên, theo những thể thức nhất định.

2. Chế độ tài sản ước định ở Việt Nam:

2.1.Trước năm 1975:

Trong thời kỳ Pháp thuộc, luật pháp dân sự Việt Nam mang đậm dấu ấn của Bộ luậtNapoleon Trong ba bộ dân luật được áp dụng ở ba miền, chế định về quyền tự do lập hônước trong Bộ luật Dân sự Pháp đã được sao chép lại ở Bộ dân luật Bắc và Bộ dân luậtTrung Nhưng khác với Bộ luật Dân sự Pháp, hai bộ luật này chỉ dự liệu một số trườnghợp chung nhất định để áp dụng cho những cặp vợ chồng không lập hôn ước mà không đềxuất những chế độ vợ chồng có thể thỏa thuận lựa chọn

Đến khi Cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, nhà nước ta đã ban hành haisắc lệnh đầu tiên quy định điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân gia đình: sắc lệnh 159/SLngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn, sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một

số quy lệ và chế định trong dân luật Trong đó chỉ có sắc lệnh 97 quy định về vấn đề tàisản của vợ chồng nhưng nó không đề cập đến chế độ tài sản ước định mà chỉ đề cập tớivấn đề bình đẳng trong quan hệ vợ chồng trong đó có quan hệ tài sản

Ngày 29/12/1959 Luật HN&GĐ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được

Quốc hội thông qua Điều 15 luật này quy định: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu,

hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” Như vậy,

Luật HN&GĐ năm 1959 ở miền Bắc chỉ quy định về một hình thức chế độ tài sản phápđịnh (chế độ cộng đồng toàn sản) và hoàn toàn không có sự tồn tại của chế độ tài sản ướcđịnh

Về vấn đề này, pháp luật ở hai miền đã thể hiện những nội dung trái chiều Ở miềnNam, chế định tài sản ước định đã được công nhân trong ba đạo luật được lần lượt banhành để điều chỉnh các quan hệ dân sự, gia đình (Luật gia đình ngày 02/01/1959, Luật

Trang 9

15/64 ngày 23/07/1964 và Bộ dân luật ngày 20/12/1972) Cả ba đều thừa nhận quyền tự

do lập hôn ước của vợ chồng và chế độ tài sản pháp định chỉ được áp dụng khi vợ chồng

không lập hôn ước Chẳng hạn Điều 144 Bộ dân luật năm 1972 quy định: “Luật pháp chỉ

quy định chế độ phụ phu tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước” và Điều 145 quy định:

“Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn không trái với trật tự công cộng và

thuần phong mỹ tục”

Tuy nhiên, việc ghi nhận hôn ước trong các văn bản đó là do ảnh hưởng của dân luậtPháp chứ cũng không do sự biến đổi nội tại của xã hội Việt Nam Chế định hôn ước đượcquy định ở Bộ luật dân sự Bắc kỳ năm 1931 và Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936 Riêng tậpDân luật giản yếu Nam kỳ 1883 không có ghi nhận về hôn ước cũng như vấn đề tài sản vợchồng tuy nhiên án lệ ở Nam kỳ trong thời kỳ này lại luôn nhắc đến nguyên tắc tự do lậphôn ước mà các tòa án Pháp coi là lẽ đương nhiên được áp dụng trong khi luật không quyđịnh

Chế định hôn ước được quy định trong Bộ dân luật năm 1972 với những nét cơ bảnsau:

− Luật pháp chỉ qui định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước

− Vợ chồng được tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn là không trái với trật tự côngcộng và thuần phong mỹ tục

− Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn và được công chứng

− Hôn ước không thể thay đổi trong thời kì hôn nhân

− Hôn ước có thể sửa đổi trước khi kết hôn nhưng bản sửa đổi cũng phải được côngchứng

− Hôn ước sẽ không có hiệu lực với người thứ ba nếu như không được ghi và giấy đăng

kí kết hôn

Quy định về chế định hôn ước trong Bộ dân luật năm 1972 còn khá chung chung vàkhông cụ thể, tỉ mỉ như trong Luật HN&GĐ năm 1959 Bộ dân luật năm 1972 chỉ được ápdụng và có hiệu lực trong một thời gian ngắn

Trang 10

Tuy không có sự thống nhất giữa hai miền trong quy định pháp luật nhưng nhìnchung khái niệm về hôn ước và quyền tự do lập hôn ước của vợ chồng đã được thừa nhận

từ khá sớm và duy trì trong một khoảng thời gian ở Việt Nam Sau khi bị xóa bỏ ở miềnBắc năm 1959, quy định này tiếp tục được thừa nhận và áp dụng ở miền Nam trongkhoảng 20 năm (1959 đến 25/3/1977) Như vậy xét về mặt lịch sử, vấn đề về chế định tàisản ước định không phải là vấn đề mới ở Việt Nam

2.2.Sau năm 1975:

 Luật HN&GĐ 1986:

Luật HN&GĐ năm 1986 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá VII, kỳ họp thứ 12, thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986 và có hiệu lực vào ngày 3tháng 1 năm 1987 Luật HN&GĐ 1986 được dùng thay thế cho Luật HN&GĐ năm 1959

So với Luật HN&GĐ năm 1959 thì Luật HN&GĐ năm 1986 đã có sự thay đổi vềchế độ tài sản Luật HN&GĐ năm 1986 đã có những quy định tạo ra môi trường pháp lý

để đảm bảo về quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng; bảo đảm sự tự do của vợ,chồng trong giao dịch bên ngoài xã hội; xác định khả năng thanh toán, trách nhiệm đốivới bên thứ ba Ngoài ra, Luật HN&GĐ 1986 cũng đã thừa nhận việc vợ chồng có tài sản

riêng và được thể hiện ở Điều 16: “Điều 16 Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước

khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng.” Việc thừa nhận là bảo đảm pháp lý quan trọng trong đời sống, lao động, sinh

hoạt của từng cá nhân công dân và không bị chi phối bởi yếu tố tình cảm

Luật HN&GĐ năm 1986 đã khắc phục được hầu hết những hạn chế và khuyết điểmcủa Luật HN&GĐ năm 1959 Tuy nhiên về vấn đề tự do thỏa thuận về tài sản của vợchồng vẫn còn bị hạn chế Luật HN&GĐ 1986 có đề cập đến vấn đề thỏa thuận về tài sản

ở Điều 15 và Điều 42, cụ thể là trong trường hợp mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và nhữnggiao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn (Điều 15) và trong trường hợp lyhôn (Điều 42)

“Điều 15

Trang 11

Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình.

Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng”.

“Điều 42

Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định…”.

Ta có thể thấy, Luật HN&GĐ 1986 có việc thoản thuận về tài sản nhưng phạm vithỏa thuận còn hẹp, chỉ được thỏa thuận đối với định đoạt tài sản có giá trị lớn khi có giaodịch và trong ly hôn Và việc thỏa thuận tài sản trong ly hôn phải được Tòa án nhân dâncông nhận Ngoài ra, đối tượng áp dụng đối với trường hợp định đoạt tài sản chung cònrộng, còn mơ hồ Việc xác định tài sản có giá trị lớn sẽ bao hàm nhiều tài sản, không cụthể; và còn thế nào là tài sản có giá trị lớn

Luật HN&GĐ 1986 không có quy định nào về việc lập hôn ước của vợ chồng,nhưng không ấn định quy định cấm về việc này Trong bối cảnh đó, nhìn chung, giới luậtgia và những người áp dụng pháp luật đều cho rằng chế độ hôn sản pháp định có hiệu lực

áp dụng đối với tất cả các quan hệ hôn nhân hợp pháp, do vậy, mọi thỏa thuận của vợchồng trái với các quy định của chế độ hôn sản pháp định cần bị tuyên bố là vô hiệu khi

có tranh chấp xảy ra

Luật HN&GĐ năm 1986 đã có những thay đổi tích cực về các vấn đề về tài sản;nâng cao nguyên tắc bình đẳng của vợ chồng trong hôn nhân; quy định chế định tài sảnriêng của vợ chồng Nhưng về chế định tài sản ước định vẫn không được các nhà làm luậtquan tâm nhiều, có quy định về việc thỏa thuận nhưng phạm vi áp dụng còn hẹp Đó lànhững thiếu sót của các nhà làm luật

 Luật HN&GĐ 2000:

Luật HN&GĐ năm 2000 được Quốc hội nước Cùng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamKhóa X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09 tháng 6 năm 2000 và có hiệu lực thi hành kể từ

Trang 12

ngày 01 tháng 1 năm 2001 Luật HN&GĐ 2000 được dùng thay thế cho Luật HN&GĐnăm 1986 Từ 57 điều trong Luật HN&GĐ 1986 tăng lên 110 điều trong Luật HN&GĐ2000.

So với Luật HN&GĐ 1986 thì Luật HN&GĐ 2000 đã mở rộng phạm vi áp dụng hơn

về chế định tài sản ước định Việc thỏa thuận về tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GĐnăm 2000 được áp dụng trong các trường hợp như:

- Định đoạt tài sản chung trong giao dịch dân sự đối với tài sản chung có giá trị lớnhoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinhdoanh thì phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận Được quy định tại khoản 3 Điều

28: “Điều 28 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung…3 Việc xác lập, thực

hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.” Việc định đoạt tài sản

chung trong quy định này Luật HN&GĐ năm 1986 cũng có quy định nhưng đốitượng áp dụng của tài sản chung rộng hơn, chỉ cần nằm trong trường hợp tài sảnchung có giá trị lớn là được; còn Luật HN&GĐ năm 2000 có bổ sung thêm trườnghợp tài sản là nguồn thu nhập chính của gia đình và trường hợp tài sản được dùng vàotrong kinh doanh

- Xác định quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa

kế riêng có là tài sản chung của vợ chồng hay không Được quy định tại khoản 1 Điều

27: “Điều 27 Tài sản chung của vợ chồng 1….Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có

được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận”

− Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của vợ chồng nhằm mục đích riêng có lý dochính đáng thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản Được quy định tại khoản 1

Điều 29: “Điều 29 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 1 Khi hôn nhân tồn

tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản

Trang 13

chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.” Đây là quy định hoàn toàn mới trong Luật

HN&GĐ, quy định này tạo nên nhiều lợi ích cho cá nhân vợ, chồng Vợ, chồng có thể

tự chủ hơn trong việc sử dùng tài sản vào mục đích riêng (có lý do chính đáng) nhưngkhông gây ảnh hưởng đối với gia đình

− Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng sau khi chia từ tài sản chung có là tài sảnriêng hay không; và thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung

có phải là tài sản chung hay không Được quy định tại Điều 8 Nghị định 70/2001:

“Điều 8 Hậu quả chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân

1 Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.

Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ, chồng.

2 Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.”

- Khôi phục chế độ tài sản chung của vợ, chồng Được quy định tại Điều 9 Nghị định

70/2001: “Điều 9 Khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng 1 Trong trường

hợp vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó muốn khôi phục chế độ tài sản chung, thì vợ chồng phải thoả thuận bằng văn bản có ghi rõ các nội dung sau đây:….”

- Chia tài sản khi ly hôn Được quy định tại khoản 1 Điều 95: “Điều 95 Nguyên tắc

chia tài sản khi ly hôn 1 Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.” Quy định này so với Luật HN&GĐ năm 1986

không có gì thay đổi

Nhà lập pháp bước đầu đã thừa nhận sự thỏa thuận của vợ chồng đối với khối tài sảncủa họ Việc thừa nhận chế định thỏa thuận về tài sản của vợ chồng đã mang lại nhiều lợiích đối với cá nhân người vợ, chồng

Về cơ bản Luật HN&GĐ năm 2000 đã mở rộng hơn về chế định tài sản ước định.Luật HN&GĐ năm 2000 đã có sự hòa hợp với Bộ luật Dân sự về quyền con người, tôntrọng việc thỏa thuận giữa các bên Luật HN&GĐ năm 2000 cũng đã có những quy định

về việc lập thỏa thuận giữa vợ chồng như về điều kiện áp dụng, hình thức, thủ tục,…

Trang 14

 Luật HN&GĐ 2014:

Chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Luật HN&GĐ các năm 1959, 1986 và 2000 chỉ quy định duy nhất một chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản pháp định Tham khảo Điều 27, 28, 32, Điều 95 đến Điều 99 và một số Điều khác trong Luật HN&GĐ năm 2000, ta có thể thấy chế độ tài sản pháp định

là chế độ tài sản trong hôn nhân duy nhất được pháp luật thừa nhận, vợ chồng, bằng cách này hay cách khác, không thể thỏa thuận để xác lập một chế độ tài sản trong hôn nhân khác với chế độ này

Việc Luật HN&GĐ chỉ quy định một chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sảnpháp định đã ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, nhất là đối với quyền định đoạt tài sản củacông dân được Hiến pháp, cụ thể hơn là Bộ luật Dân sự quy định Thứ nhất, mỗi cá nhân

có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình theo ý chícủa mình, miễn sao không xâm phạm lợi ích của người khác, không trái với đạo đức xãhội Thứ hai, khi áp đặt chế độ hôn sản pháp định cho mọi trường hợp thật sự không đápứng được nhu cầu của một số cặp vợ chồng Tùy vào tâm tư nguyện vọng của các cặp vợchồng Có những cặp muốn rằng khi cả hai về chung sống dưới một mái nhà thì tất cảnhững gì mình có được, dù là trước hay sau khi kết hôn đều là của chung; bên cạnh đó, đểđảm bảo quyền lợi sau này của mình và người thân thì lại có những trường hợp ngườichồng, người vợ muốn tách biệt nhau về mặt tài sản, không muốn những gì mình tạo lậpđược trong thời kì hôn nhân là của chung hai vợ chồng và muốn thỏa thuận với nhau vềviệc đóng góp cho đời sống chung của gia đình Chính vì những điều trên, qua quá trìnhtiếp thu ý kiến và học hỏi kinh nghiệm quốc tế, Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung quyđịnh về chế độ tài sản của vợ chồng: Chế độ tài sản ước định

− Xác lập thỏa thuận chế độ tài sản:

+ Thời điểm thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng: trước khi kết hôn

+ Hình thức: bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực

+ Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của thỏa thuận tài sản của vợ chồng: từ ngày đăng

ký kết hôn

Trang 15

+ Nội dung cơ bản về thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng (quy định tại Điều

15, 17, 18 Nghị định số 126/204/NĐ-CP):

“Điều 15 Xác định tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

1 Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì

vợ chồng có thể thỏa thuận về xác định tài sản theo một trong các nội dung sau đây:

a) Tài sản giữa vợ và chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Giữa vợ và chồng không có tài sản riêng của vợ, chồng mà tất cả tài sản do

vợ, chồng có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung;

c) Giữa vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;

d) Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.

2 Thỏa thuận về tài sản của vợ chồng phải phù hợp với quy định tại các Điều 29,

30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình.”

5 Sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng

Vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản vợ chồng nhưng phải công chứng hoặc chứng thực Nội dung cụ thể được quy định tại Điều 17 và Điều 18 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP.

“Điều 17 Sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng

1 Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được áp dụng thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung của chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định.

2 Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.”

“Điều 18 Hậu quả của việc sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của

vợ chồng

1 Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung của chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực từ ngày được công chứng hoặc chứng thực Vợ, chồng có nghĩa vụ cung cấp

Ngày đăng: 22/12/2021, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w