1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LỊCH sử NHÀ nước và PHÁP LUẬT THẾ GIỚI vai trò của giáo hội đối với sự hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến tây âu

13 182 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 103,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra cũng không thể không nhắc đến nghệ thuật xây dựng nhà thờ và lâu đài, Thập tự chinh, được kêu gọi lần đầu năm 1095, là các nỗ lực của người Công giáo Tây Âu nhằm tái kiểm soát Đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ - THƯƠNG MẠI - QUỐC TẾ

HỌ VÀ TÊN: DOÃN THÁI KHẢ HƯNG

MSSV:2053801011100 LỚP: CLC45A MÔN: LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THẾ GIỚI

Trang 2

MỤC LỤC

I Mở đầu 1

II Sự thiết lập nhà nước phong kiến ở Tây Âu 3 III Giáo hội thời phong kiến Tây Âu 5

IV Vai trò của Giáo hội đối với sự hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến Tây Âu 8

V Kết luận 9 Tài liệu tham khảo 10

Trang 3

I Mở đầu

Thời kỳ Trung Đại là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã vào thế kỷ V, kéo dài tới cuối thế kỷ XV và chuyến sang thời kỳ Phục hưng và Thời đại khám phá Trung Đại là thời kỳ thứ hai trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ đại

cổ điển và Hiện đại Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, chế độ tập quyền tan rã, sự di cư hàng loạt và xâm lược của các bộ tộc, bắt đầu từ hậu kỳ cổ đại, tiếp tục diễn ra trong Sơ kỳ Trung đại Các làn sóng di cư với mức độ lớn của các man tộc trong giai đoạn di cư, bao gồm nhiều sắc tộc German, hình thành nên những vương quốc mới trên tàn tích của Đế quốc Tây La Mã Đế quốc Đông La

Mã (Byzantine) vẫn duy trì vai trò một cường quốc ở Đông Địa Trung Hải Hầu hết các vương quốc tại phương Tây đều tích hợp một số định chế La Mã còn tồn tại Các tu viện được thành lập rộng khắp nơi để tiếp tục truyền bá Kito giáo cho châu Âu

Bước sang Trung kỳ Trung Đại, bắt đầu từ những năm 1000, đời sống ở các nước phương Tây dần dần phát triển, cải tiến kỹ thuật và nông nghiệp, thương mại phát đạt và hình thành chế độ phong kiến Đây là thời kỳ của các nhà thờ, các tòa thành, các hiệp sĩ và các nàng tiên nhưng đây cũng là thời kỳ của chiến tranh, dịch bệnh, nạn đói của những kẻ bất lương Đây cũng là giai đoạn đường biên giới châu Âu được hình thành, từ đó cảnh quan bắt đầu được hình thành như ngày nay, và cũng từ đó các thành phố ra đời Vì sao giai đoạn này được gọi là thời Trung Đại? Đây là tên gọi do những nhà thông thái thời Phục hưng đặt cho giai đoạn này Vì theo họ thời gian này tương ứng với giai đoạn giữa, tức là nằm giữa thời Cổ đại, thời kỳ họ hết mực ngưỡng mộ và thời kỳ đương đại họ đang sinh sống Thời Cổ đại có nhiều nhà tư tưởng lớn, các Kim tự tháp Ai Cập, các đền thờ Hy Lạp, còn Phục hưng là thời kỳ khám phá và phát minh Vì vậy đối với các nhà thông thái thời Trung Đại là giai đoạn trung bình, không có điều gì xảy ra trong thời kỳ này

Vì sao thời Trung Đại không hẳn là thời kỳ “đen tối” ? Đây là giai đoạn châu Âu mới hình thành, cũng là lúc ngôn ngữ ra đời, nông nghiệp dần phát triển và nạn đói được đẩy lùi Thời Trung Đại người ta còn phát minh ra được rất nhiều thứ: bánh lái cho tàu thuyền, lưỡi cày, in ấn, mắt kính, cối xay, đồng hồ quả lắc và thậm chí cả ngân hàng, Ngoài ra cũng không thể không nhắc đến nghệ thuật xây dựng nhà thờ và lâu đài, Thập tự chinh, được kêu gọi lần đầu năm 1095, là các nỗ lực của người Công giáo Tây Âu nhằm tái kiểm soát Đất Thánh từ tay người Hồi giáo Các nhà quân chủ củng cố nhà nước tập quyền, giảm bớt tội phạm và bạo lực, nhưng khiến cho ý tưởng một thế giới Kitô giáo hợp nhất trở nên xa vời Đời sống trí thức nở rộ với triết học kinh viện, nhấn mạnh sự kết hợp đức tin và lý trí, cùng với sự thành lập các viện đại học Thần học của Tôma Aquinô, những bức họa của Giotto, thơ ca của Dante và Chaucer, các cuộc lữ hành của Marco Polo,

và kiến trúc Gothic trỗi dậy trong các đại giáo đường như Nhà thờ chính tòa Đức

Bà Chartres là những thành tựu của giai đoạn này, lan đến thời Hậu kỳ kế tiếp

Trang 4

Đó là những nét độc đáo của Giáo hội, để nắm rõ hơn về việc Giáo hội sẽ tác động đến sự hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến Tây Âu như thế nào, tôi xin được trình bày với những ý sau

Trang 5

II Sự thiết lập nhà nước phong kiến ở Tây Âu

Các tộc người thiện chiến cao lớn, tóc vàng từ Đông Âu và Bắc Âu phát triển thịnh vượng bên ngoài biên giới Đế chế La Mã Họ là người German (Giéc-manh) hay người Thuringen (theo tiếng gọi của người La Mã) Đến cuối thế kỷ

IV, người La Mã và người German vẫn là láng giềng tốt với nhau, nhưng đến năm 375 bộ tộc du mục đến từ Trung Á ồ ạt đổ vào xâm lược châu Âu, đó là người Hung do thủ lĩnh Atila dẫn đầu Người Hung đã gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp châu Âu Những kẻ xâm lược này được gọi là người Barbarians, vì người German không nói tiếng Hy Lạp, cũng không nói tiếng Latinh Bởi vì không cùng ngôn ngữ, nên khi giao tiếp người La Mã chỉ nghe thấy người German kêu những

âm thanh “barba, barba” Khi Atila và người Hung đặt chân đến Đông Âu, người Barbarians vốn đã cư trú ở đây từ trước bị đẩy sâu vào bên trong, tràn về phía Tây Mỗi dân tộc đi theo một hướng khác nhau, người Anglo và người Saxon đánh chiếm vùng đất của nước Anh ngày nay, người Alemanni chiếm vùng nước Đức, người Frank xâm lược xứ Gaul,…Vì thế mà vào thế kỉ V châu Âu được chia thành các vương quốc từ đó, sinh ra các quốc gia như ngày nay

Nói về vương quốc Frank, năm 481 vua Clovis lên nắm quyền và cho đến lúc ông qua đời năm 511 Frank là vương quốc hùng mạnh nhất châu Âu Nhưng thanh bình không được bao lâu thì những kẻ kế vị vua Clovis thường được gọi là “vua lười” bắt đầu xâu xé lẫn nhau Từ thế kỷ V đến thế kỷ VIII, châu Âu trải qua một trong những giai đoạn biến động nhất trong lịch sử, còn gọi là thời kỳ dã man Nhờ vào lưỡi gươm sắc bén và đội kỵ binh tinh nhuệ của mình, người Frank đã đánh người La Mã chiếm lấy phần đất Bắc xứ Gaul vào năm 486 Sau đó họ càn quét tiếp người Alemanni, chiếm phần đất phía Bắc nước Đức ngày nay Cuối cùng, họ đẩy người Mexico về Tây Ban Nha và chiếm lấy vùng Tây Nam xứ Gaul Sau khi đẩy hết các tộc người khác ra ngoài, Clovis chọn Paris làm thủ đô, vương quốc Frank tương lai sẽ là nước Pháp ra đời như vậy

Charles đệ Nhất sinh năm 742, khi ông lên ngôi nắm quyền vào năm 768 người ta gọi ông là Charles Đại đế tiếng Latin là Carolus Magnus và trong tiếng Pháp là Charlemagne Suốt thời gian trị vì kéo dài 46 năm, ông đã hợp nhất châu Âu thành một vương quốc rộng lớn, xây dựng một chính quyền vững chắc có tổ chức, khuyến khích phát triển nghệ thuật, văn hóa và giáo dục Do một mình ông không thể cai quản được hết cả một vương quốc rộng lớn, nên ông có ý tưởng chia đất nước ra thành nhiều phần nhỏ là các lãnh địa và ông tin tưởng giao những phần đất này cho những nhân vật cao cấp là các bá tước Như mọi năm bốn lần, vua cho những người thân tín của mình đến kiểm tra các bá tước, để xem

họ có làm đúng chức trách hay không Charlemagne ủng hộ Giáo hội Thiên Chúa

và cho phép truyền bá Giáo hội đạo Thiên Chúa khắp nơi Năm 800, Giáo hoàng

đã ban thưởng cho ông bằng cách phong ông là Hoàng đế của Đế quốc La Mã thần thánh Vì sao Giáo hoàng lại phong cho ông là Hoàng đế? Vào thời đó, Giáo hoàng vẫn chưa có nhiều quyền lực, thậm chí họ còn phải lo sợ rất nhiều thứ điển hình là vào năm 799 Leon đệ Tam bị người nhà của người tiền nhiệm tấn công và tra tấn, ông phải trốn vào một nhà tu Charlemagne ra tay giải cứu, sau đó ủng hộ

Trang 6

ông ta Để cảm tạ, Giáo hoàng quyết định phong ông làm hoàng đế vào ngày 25 tháng 12 năm 800

Lễ đăng quang của Charlemagne được xem như một điểm bước ngoặt trong lịch

sử trung đại, đánh dấu sự trở lại Đế quốc Tây Rôma trong hình hài mới, bởi tân hoàng đế cai trị trên phần lớn lãnh thổ trước kia thuộc các hoàng đế phương Tây

Nó cũng đặt Charlemagne lên tư thế ngang hàng với Đế quốc Byzantine Tuy nhiên, có những khác biệt giữa đế quốc Carolingien mới thành lập và cả đế quốc Tây Rôma trước kia và đế quốc Byzantine đương thời Lãnh thổ Frank chủ yếu là nông thôn, chỉ có một vài thành thị nhỏ Hầu hết dân cư là nông dân sinh sống ở những trang trại nhỏ Thương mại rất yếu ớt và hầu hết diễn ra với người Anh

và Scandinavia, tương phản với Đế quốc Rôma xưa kia với mạng lưới giao thương tập trung ở miền Địa Trung Hải Đế chế Frank được cai trị bằng một triều đình lưu động, chu du cùng nhà vua từ miền này sang miền khác mà không có kinh đô thực sự, cùng với khoảng 300 quan lại được gọi là những bá tước (tiếng Pháp cổ: comte) cai quản những quận (tiếng Pháp cổ: conté, nguồn gốc của từ 'county' trong tiếng Anh hay tương tự) Tăng lữ và giám mục giáo phận cũng đóng vai trò quan lại, cung như các sứ thần của hoàng đế (tiếng Latin: missus dominicus) đóng vai trò thanh tra biệt phái và người giảng hòa

Những cuộc xâm lăng mang những nhóm sắc tộc mới tới châu Âu, mặc dù không đồng đều vì một số khu vực nhận những dòng di cư nhiều hơn vùng khác Sự định cư của các dân tộc kéo theo sự thay đổi trong ngôn ngữ Tiếng Latin của Đế quốc Tây Rôma dần dần bị thay thế bởi những ngôn ngữ dựa trên Latin, nhưng có những đặc trưng riêng, được gọi là các ngôn ngữ Roman

Trong khi Tây Âu chứng kiến sự hình thành những vương quốc mới, Đế quốc Đông Rôma vẫn còn nguyên vẹn và trải qua một sự phục hồi kinh tế cho tới đầu thế kỉ 7 Ít có cuộc xâm lược động đến miền đông đế chế; hầu hết xảy ra ở vùng Balkan Hòa bình với Ba Tư, kẻ thù truyền kiếp của Rôma, kèo dài trong phần lớn thế kỉ 5 Đế quốc phương đông đặc trưng bởi những mối quan hệ gần gũi hơn giữa nhà nước chính trị và Giáo hội Ki-tô, và những vấn đề giáo lý có một vai trò quan trọng hơn trong chính trị phương đông so với Tây Âu

Trang 7

III Giáo hội thời phong kiến Tây Âu

Ở Tây Âu, một số gia tộc thượng lưu Rôma diệt vong trong khi số còn lại tham gia vào Giáo hội nhiều hơn các sự vụ thế tục Các giá trị gắn với nền học thức

và giáo dục Rôma hầu như biến mất, và trong khi năng lực biết đọc biết viết vẫn

là quan trọng, nó lui xuống thành một kĩ năng thực dụng hơn là một dấu hiệu về

vị thế tinh hoa

Kitô giáo từng là một nhân tố thống nhất chính yếu giữa miền Đông và Tây châu

Âu, nhưng cuộc chinh phục Bắc Phi của người Ả Rập đã cắt lìa mối liên lạc đường biển giữa hai khu vực này Giáo hội Byzantine ngày càng khác biệt trong ngôn ngữ, nghi lễ, luật lệ với Giáo hội phương Tây Giáo hội phương Đông dùng

Cấu trúc giáo hội thời Đế quốc Rôma tồn tại qua những đợt di dân và xâm lược hầu như nguyên vẹn ở phương Tây, nhưng ngôi vị giáo hoàng ít được coi trọng,

và chỉ một vài giám mục ở phương Tây xem giám mục của Rôma (tức Giáo hoàng) như là lãnh tụ về tôn giáo hay chính trị Với việc Byzantine tái chinh phục Italia từ người Goth, trước năm 750 các Giáo hoàng muốn đăng quang cần sự chuẩn thuận từ Hoàng đế Đông Rôma và do đó nhiều Giáo hoàng quan tâm nhiều hơn tới các sự vụ ở Byzantine và các tranh cãi thần học ở phương Đông Các bản lưu trữ thư từ của Gregorius Cả (Giáo hoàng những năm 590-604) cho thấy trong

số hơn 850 bức thư, hầu hết là liên quan tới sự vụ ở Ý hay ở Constantinopolis Phần duy nhất ở Tây Âu mà Giáo hoàng có ảnh hưởng là đảo Anh, nơi Gregorius gửi đoàn truyền giáo năm 597 để cải người Anglo-Saxon sang Ki-tô giáo Những linh mục Ireland là những nhà truyền giáo tích cực nhất ở Tây Âu giữa thế kỉ 5 và

7, đầu tiên tới xứ Anh và Scotland sau đó tiến vào lục địa Dẫn dắt bởi những tu

sĩ như Columba (mất năm 597) và Columbanus (mất năm 615), họ đã lập nên những tu viện, dạy tiếng Latin và Hy Lạp, và soạn nhiều công trình tôn giáo lẫn thế tục

Đế quốc La Mã Thần thánh xuất hiện khoảng năm 800, khi Charlemagne, vua của người Frank, được Giáo hoàng phong làm Hoàng đế Đế chế của ông dựa trên Pháp, Các quốc gia vùng thấp và Đức hiện đại trải dài tới Hungary, Ý, Bohemia, Hạ Sachsen và Tây Ban Nha Ông và cha mình nhận được sự giúp đỡ liên tục từ một liên minh với Giáo hoàng, người muốn giúp ông chống lại người Lombard Giáo hoàng phụ thuộc chính thức vào Đế chế Đông La

Mã, nhưng Hoàng đế Đông La Mã không làm gì (khi có thể) để chống lại người Lombard

Sau sự sụp đổ của Đế quốc La Mã trong thế kỷ thứ V, không có chính quyền thế tục mạnh mẽ duy nhất ở phương Tây Tuy nhiên, có một quyền năng giáo hội trung tâm ở Rô-ma, Giáo hội Công giáo Trong chân không quyền lực này, Giáo hội đã vươn lên trở thành quyền lực thống trị ở phương Tây Giáo hội bắt đầu mở rộng vào đầu thế kỷ thứ X, và khi các vương quốc thế tục giành được quyền lực cùng một lúc, tự nhiên nảy sinh các điều kiện cho một cuộc đấu tranh quyền lực giữa Giáo hội và Vương quốc về quyền lực tối thượng

Trang 8

Đại Ly giáo hay Ly giáo Đông–Tây là sự kiện chia rẽ Kitô giáo xảy ra vào thời Trung Cổ mà kết quả là hai hệ phái Kitô giáo được hình thành: phương Đông và phương Tây , sau này tương ứng là Chính thống giáo Đông phương và Công giáo Rôma Năm 1054, sứ thần Rôma gặp Cerularius và yêu cầu ông thần phục Giáo hội Rôma là “mẹ của giáo hội hoàn vũ” nhưng Cerularius đã khước từ Năm

1965, Giáo hoàng Phaolo VI và Thượng phụ Đại kết thành Constantinopolis, Athenagoras I đã gỡ bỏ tuyệt thông lẫn nhau giữa hai giáo hội, đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trình hòa giải

Ngay từ đầu thời Trung Đại, các tín đồ thường hành hương đến Jerusalem ở Palestine để được viếng mộ Chúa Jesus Năm 1070, người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ chiếm cả vùng đất và cấm không cho người Thiên Chúa giáo đến đây nữa Ngày

27 tháng 11 năm 1095, Giáo hoàng lúc bấy giờ là Urbanus đã kêu gọi tất cả số dân trên khắp châu Âu giải phóng Jerusalem Đây chính là khởi đầu của cuộc Thập tự chinh đầu tiên, trong hơn 200 năm những người Thiên Chúa giáo phương Tây đã chiến đấu quyết liệt với người Hồi giáo phương Đông

Cuộc chiến Thập tự chinh được đặt tên như vậy vì họ chiến đấu trên danh nghĩa cây thập tự của Chúc Jesus, để dễ nhận biết mọi người thêu lên áo một thập tự lớn màu đỏ Cuộc Thập tự chinh diễn ra với hàng ngàn người nông dân, công nhân, thợ thủ công đã đáp lại lời kêu gọi của Xã hoàng, theo sau những linh mục đầy nhiệt huyết Mọi người đổ ra đường, vừa đi vừa hô to “Theo ý Chúa”, mọi người đổ bộ xuyên châu Âu để đến châu Âu Nhưng đó toàn là những người dân nghèo, chỉ có cuốc xẻng và không có tiền bạc Để có cái ăn, họ cướp bóc các thành phố và làng xóm trên đường đi, gieo rắc sợ hãi khắp nơi Họ băng qua Thổ Nhỹ Kỳ, ở đây họ bị đội quân Thổ Nhỹ Kỳ tàn sát

Cuộc Thập tự chinh thứ nhất diễn ra trong hai giai đoạn, sau khi cuộc viễn chinh lần đầu của dân thường tan rã, các đoàn hiệp sĩ đã quyết định tiếp sức Họ tôn một trong các anh hùng thời bấy giờ là Godfrey xứ Bouillon làm lãnh đạo và đến được Constantinople vào năm 1097 Sau trận chiến thảm khốc, Jerusalem bị cướp sạch phá sạch, gần như toàn bộ người dân bao gồm cả phụ nữ và trẻ em đều bị tàn sát Quân Thập tự thắng lợi và tiến vào thành phố vào ngày 15 tháng 7 năm 1099, cuộc Thập tự chinh thứ nhất đã kết thúc như vậy

Nhưng tiếp sau đó là hàng loạt cuộc Thập tự chinh diễn ra, mọi việc có thể kết thúc sau khi giải phóng được Jerusalem, nhưng một số hiệp sĩ muốn ở lại đây làm vương, làm tướng Họ lập ra bốn vương quốc, tất nhiên người Hồi giáo tìm cách đuổi họ về và để tự vệ những người Thiên Chúa giáo lại tiến hành tiếp 7 cuộc Thập tự chinh nữa

Kết cục của Jerusalem thật sự thảm khốc, nhưng mọi người vẫn ủng hộ các cuộc Thập tự chinh này Lúc bấy giờ người dân rất ngộ đạo, họ tin rằng có thể sống trường thọ và sẽ được tha thứ khi đến Jerusalem, các hiệp sĩ thì muốn đến đây để phiêu lưu, chiếm đất và gây chiến Ban đầu những người lính Thập tự đi bộ hàng ngàn ki-lô-mét, băng rừng vượt suối và sa mạc, lội qua sông, chống cự với cái lạnh, cái đói, cái mệt và những cuộc chạm trán ngoài ý muốn đến phương Đông,

Trang 9

ngay cả những vị anh hùng phải bỏ mạng Năm 1190, Hoàng đế Đức là Friedrich

I Barbarossa đã chết đuối trên một con sông ở Thổ Nhỹ Kỳ Đây là bài học cho những người lính Thập tự sau này, từ đó những người lính chỉ dến phương Đông bằng tàu băng qua Địa Trung Hải

Quân thập tự củng cố những miền đất chiếm được bằng cách lập nên các nhà nước mới Trong thế kỉ 12 và 13, một loạt các cuộc tranh chấp xảy ra giữa những nhà nước này và các nước Hồi giáo xung quanh Sự thỉnh cầu từ các quốc gia tới giáo hoàng dẫn tới những cuộc thập tự chinh về sau, chẳng hạn như Cuộc thập tự chinh thứ ba, được triệu tập để nỗ lực giành lại Jerusalem vốn bị Saladin chiếm năm 1187 Năm 1203, dưới tác động của Cộng hòa Venezia, cuộc Thập tự chinh thứ tư bị phân tán khỏi mục tiêu ban đầu là Đất Thánh sang Constantinople, chiếm đóng thành phố này năm 1204, lập nên Đế quốc Latin và làm suy sụp Byzantine

Trang 10

IV Vai trò của Giáo hội đối với sự hình thành và phát triển của nhà nước

phong kiến Tây Âu

Thời Trung Đại, Giáo hội Thiên Chúa là một thế lực lớn Giáo hội do Giáo hoàng lãnh đạo từ Roma, quyền lực của Giáo hoàng còn hơn cả các lãnh chúa và thậm chí hơn cả đức vua Các giáo dân còn được gọi là tín đồ, những người tin vào Thiên Chúa, trong số họ người ta phân thành hai nhóm: một là những người thế tục không thuộc thành phần tăng lữ, và thứ hai là thầy tu thuộc giới tăng lữ, dâng cả cuộc đời cho Chúa, tập hợp các tăng lữ gọi là Giáo hội Có hai loại thầy tu, các linh mục sống chung với người thế tục và các tu sĩ sống tách biệt trong các tu viện theo những luật

lệ khắt khe Tu viện trưởng là cấp trên của các tu sĩ, họ điều hành tu viện Giám mục là cấp trên của các linh mục, mỗi giám mục cai quản một vùng gọi là giáo phận Giáo phận chia nhỏ thành giáo xứ Còn Giáo hoàng là lãnh đạo tối cao, chỉ huy tất cả mọi người

Vào thời Trung Đại, hằng năm mọi người đều phải nộp thuế cho Giáo hội gọi là thuế thập phân Người nông dân phải nộp một phần mười nông sản thu hoạch được cho Giáo hội, người thợ thủ công cũng phải nộp một phần mười thu nhập Hơn nữa rất nhiều người còn quyên tiền cho Giáo hội và di chúc để lại một phần tài sản cho Giáo hội khi qua đời

Hình thức trừng phạt giáo dân xấu: bị rút phép không công, bị khai trừ khỏi cộng đồng giáo dân, họ không được tham dự vào lễ ban Thánh Thể, không được xưng tội trong nhà thờ, không được Xức dầu Thánh khi qua đời Lúc bấy giờ việc này cũng giống như bị đày xuống địa ngục, rằng không ai che chở cho họ nữa Có lúc Giáo hoàng còn rút phép không công cả của các vị vua hay hoàng đế Các nhà thờ là trung tâm của các thành phố lẫn làng quê, vào các ngày chủ nhật nhà thờ là nơi tập hợp của các giáo dân Để trở thanh con chiên ngoan đạo, giáo dân phải thực hiện các luật lệ được đặt ra: phải đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật, phải bố thí cho người nghèo, phải tạ ơn Chúa trước bữa ăn, phải cầu nguyện mỗi khi chuông nhà thờ vang lên vào buổi sáng, trưa và chiều…Như vậy Giáo hội hiện diện mọi lúc, mọi nơi trong cuộc sống của người dân, Giáo hội len lỏi cả vào những buổi ăn của người dân, buộc họ phải ăn chay vào mọi thứ sáu và trong mùa Vọng, 24 ngày trước buổi Giáng sinh và vào cả mùa Chay, 40 ngày trước lễ Phục sinh Vào mùa Chay, người

ta không được ăn thịt, không được ăn bơ, không được ăn ngọt, chỉ được ăn một bữa trong ngày, không được vui chơi, tổ chức lễ hội và cũng không được tiến hành hôn lễ

Về bản chất, tầm nhìn sớm nhất của Kitô hữu là một tầm nhìn của một Thần quyền, một chính quyền đã thành lập và duy trì các giá trị Kitô giáo, mà các thể chế của họ được truyền bá và hơn với học thuyết Kitô giáo Trong giai đoạn này, các thành viên của các giáo sĩ Kitô giáo nắm giữ quyền lực chính trị Mối quan hệ

cụ thể giữa các nhà lãnh đạo chính trị và các giáo sĩ khác nhau nhưng, về mặt lý thuyết, các bộ phận quốc gia và chính trị đôi khi được đưa vào dưới sự lãnh đạo của Giáo hội Công giáo như một tổ chức Mô hình quan hệ nhà thờ-nhà nước này được nhiều lãnh đạo Giáo hội chấp nhận và các nhà lãnh đạo chính trị trong lịch

sử châu Âu

Ngày đăng: 22/12/2021, 16:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w