1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Anh chị hãy phân tích các đặc trưng của văn hóa làng những hệquả tích cực và hạn chế của văn hóa làng trong bối cảnh hiện nay

16 320 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 116,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những khu công nghiệp, khu chế xuất đó mà đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao hơn: nhà nào cũng có tivi, đài, xe máy.v.v… Các quán hàng thì mọc lên ngày một nhiều cùng với các l

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

KHOA: TIẾNG ANH

BÀI TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: Anh/Chị hãy phân tích các đặc trưng của văn hóa làng? Những hệ quả tích cực và hạn chế của văn hóa làng trong bối cảnh hiện nay? Liên hệ

thực tế tại địa phương

của mình?

Học phần : Cơ sở văn hóa Việt Nam

Sinh viên thực hiện : Trần Mai Thương

Mã sinh viên : 19F7511552

Nhóm học phần : Nhóm 1

Giảng viên phụ trách : Hồ Viết Hoàng

Trang 2

Huế, tháng 6 năm 2021

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU……… .4

1 Lí do chọn dề tài……… ………4

2 Lịch sử nghiên cứu……… …5

3 Mục tiêu nghiên cứu……….5

4 Phương pháp nghiên cứu……… 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………6

6 Bố cục tiểu luận………6

B NỘI DUNG………7

I Các đặc trưng của văn hóa làng……….……… 7

1 Làng và văn hoá làng………7

2 Đình làng……… 8

3 Hội làng……… ……10

3.1 Lịch sử hình thành……… …10

3.2 Lễ và hội……….10

4 Chợ làng……….10

II Những hệ quả tích cực và hạn chế của văn hóa làng trong bối cảnh hiện nay……… 12

1 Hệ quả tích cực………12

2 Hạn chế của văn hóa làng trong bối cảnh hiện nay……….13

III Liên hệ thực tế……… 14

C PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 16

Trang 3

Tài liệu tham khảo

1 Lễ hội cổ truyền, Lê Trung Vũ (chủ biên ), Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội, 1992

2 Việt Nam phong tục tái bản, Phan Kế Bính, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1990.

3 Tạp chí Quê hương online.

4 Diệp Đình Hoa (1990), Tìm hiểu làng Việt , NXB Khoa học xã hội, Hà

Nội

5 Đào Duy Anh(2002), Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, NXB Thông Tin.

6 Trần Quốc Vượng (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb.Giáo Dục, Hà

Nội

7 Phan Đại Doãn,(2004), Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch

sử, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Trang 4

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay khi mà đất nước đang trên đà phát triển ngày một hiện đại và giàu đẹp hơn Không nằm ngoài sự phát triển đó ở các vùng nôn thôn, các làng quê đã có nhiều sự thay đổi để bắt kịp sự phát triển của đất nước, bằng chứng là ở các vùng nông thôn ngày nay các khu công nghiệp, các khu chế xuất mọc lên ngày càng nhiều và quy mô thì ngày càng lớn hơn

Từ những khu công nghiệp, khu chế xuất đó mà đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao hơn: nhà nào cũng có tivi, đài, xe máy.v.v… Các quán hàng thì mọc lên ngày một nhiều cùng với các loại hình dịch vụ giải trí: karaoke, internet.v.v…

Nhưng đó cũng chính là vấn nạn cần quan tâm vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của nhân dân Và quan trọng hơn nó sẽ phá vỡ nét văn hóa

“làng” độc đáo khi mà ngày nay mọi người giành thời gian cho những hoạt động của làng xã ngày càng ít

Để không cho một nét văn hóa độc đáo có từ hàng ngàn năm bị phai nhạt

và lãng quên Để cho mọi người thấy được những nét độc đáo mà không đâu trên thế giới ngày nay có và gìn giữ được thì việc nghiên cứu và tìm tòi những nét đẹp độc đáo của văn hóa làng lại cần thiết đến vậy chính vì lý do này mà

em chọn đây là đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận này

Đề tài này tuy không phải là một đề tài mới và đã được rất nhiều nhà khoa học lớn tìm tòi và nghiên cứu Đây là một vấn đề rộng lớn, em muốn chọn đề tài

Trang 5

này để phân tích rõ những hệ quả tích cực và những hạn chế của văn hóa làng trong bối cảnh hiện nay

2 Lịch sử nghiên cứu:

Lý luận và thực tiễn xây dựng làng văn hóa không hoàn toàn mới xét ở bình diện cả nước Nhiều công trình đã được công bố với các cách tiếp cận khác nhau về văn hóa làng

Có thể kể đến như Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính [11], Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Quốc Vượng [12], Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh[3], Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử của Phan Đại Doãn [13] Đây được xem là những công trình tiêu biểu, có đóng góp to

lớn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa làng của người Việt Đồng thời, đây cũng là những công trình đóng vai trò gợi mở, định hướng cho người nghiên cứu trong quá trình thực hiện khóa luận

Ở những công trình trên, các tác giả đã bàn về văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất ở làng xã Nhiều tác giả đã đề cập đến hội làng, nếp sống, phong tục, tôn giáo, sân khấu dân gian, văn hóa nghệ thuật dân gian Một số chuyên luận không những có ý kiến nhận xét về di sản của làng xã, về các mặt kinh tế

-xã hội, văn hóa mà còn nêu lên những điểm tích cực và cả những tiêu cực của làng xã trong quá trình dựng nước và giữ nước

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Tìm hiểu, phân tích các đặc trưng của văn hóa làng Từ đó nêu ra những hệ quả tích cực và hạn chế của văn hóa làng trong bối cảnh ngày nay và thực trạng làng tại địa phương

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 6

Tiểu luận được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu khác nhau trong từng giai đoạn:

- Nhóm phương pháp thu thập thông tin:

+ Phương pháp điền dã dân tộc học

+ Phương pháp điều tra xã hội học

+ Kế thừa tài liệu thứ cấp (Bảo tàng, sách, báo, luận văn, tài liệu tham

khảo, tạp chí )

- Nhóm phương pháp phân tích sử lý thông tin:

+ Hệ thống - phân tích - so sánh - tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu liên - đa ngành

- Phương pháp nghiên cứu Văn hóa học

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Những giá trị văn hóa truyền thống của làng, văn hóa đặc trưng được gìn giữ đến ngày nay

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Nghiên cứu văn hóa làng trong thời gian hiện nay

- Về Thời gian: Nghiên cứu những giá trị văn hóa còn lưu giữ được tới hiện nay

6 Bố cục tiểu luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận có nội dung gồm ba phần:

- Các đặc trưng của văn hóa làng

- Những hệ quả tích cực và hạn chế của văn hóa làng hiện nay

- Liên hệ thực tế tại địa phương

Trang 7

B NỘI DUNG:

Làng Việt, trong quá khứ và hiện tại, luôn là một cộng đồng về lãnh thổ, kinh tế, văn hóa và là những tế bào sống trong cơ cấu xã hội Việt Nam, nơi lưu giữ và biểu hiện sinh động bản sắc văn hóa Việt Nam

I Các đặc trưng của văn hóa làng:

1 Làng và văn hoá làng:

Khái niệm Làng gắn với hình ảnh làng xã cổ truyền ở Việt Nam với 3 đặc trưng cơ bản: ý thức cộng đồng làng (ý thức dân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuất bảo vệ xóm làng, xây dựng văn hoá, lối sống, đạo đức.v.v ); ý thức tự quản (thể hiện rõ nhất trong việc xây dựng hương ước); và tính đặc thù độc đáo, rất riêng của mỗi làng

Làng không chỉ là sản phẩm của một nền tổ chức chính trị nhà nước mà

nó còn là sản phẩm văn hoá mang bản sắc người Việt Văn hoá làng được thể hiện thông qua các biểu trưng văn hoá mang giá trị truyền thống: cây đa, bến sông, con đê, mái đình, giếng nước đến các bản gia phả, hương ước, hội hè đình đám, những làn điệu dân ca, dân vũ Đó còn là phong tục tập quán, cách ứng xử, tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo, phương thức hoạt động, nghề đặc trưng.v.v…Có thể xem văn hoá làng chính là những khuôn thước ứng xử nằm sâu trong mỗi con người, những nhân tố tạo nên tính cộng đồng Và những ứng xử giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, giữa các cộng đồng với nhau được tổng kết qua kinh nghiệm sống đã trở thành văn hoá Văn hóa làng như

Trang 8

một dòng nước ngầm không thể nhìn thấy nhưng lại có sức mạnh chi phối, điều khiển mỗi người trong cộng đồng làng

Các nhà nghiên cứu văn hoá cũng như sử học Việt Nam đều khẳng định

80% văn hoá vật thể là ở làng Đó chính là “cây đa, bến nước, sân đình”, là

ngôi chùa hay những ngôi nhà cổ Và cũng 80% văn hóa phi vật thể ra đời từ văn hoá làng Đó là những phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng.v.v…Nói sâu hơn thì văn hoá làng chính là cái gốc của văn hoá dân tộc Tổng thể nền văn hóa dân tộc đều mang bản sắc văn hoá vùng, miền Mà cái tạo nên văn hoá vùng miền chính là văn hoá làng, đơn vị tổ chức nhỏ nhất Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có nền văn hóa riêng biệt Vì vậy nền văn hóa Việt Nam cũng đa dạng và vô cùng phong phú

2 Đình làng:

Đình làng - một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lâu đã in váo tâm khảm của mỗi con người và tỏa sáng trong những áng thơ văn

"Hôm qua tát nước đầu đình Để quên chiếc áo trên cành hoa sen" Đã từ rất lâu

rồi, khi nói đến văn hoá làng - nét văn hoá của nông thôn Việt Nam, chúng ta liên tưởng ngay tới những hình ảnh rất đặc trưng, làm nên biểu tượng của làng quê Đó là những hình ảnh của "cây đa, bến nước, sân đình, bụi tre, vườn cây,

ao cá " Đình làng trang trọng và thiêng liêng, nó gần như là đại diện, là biểu tượng của quyền lực làng xã Nhưng đình làng lại là nơi tụ họp mọi người trong mọi sinh hoạt cộng đồng Đình làng trở thành một nơi thân quen gần gũi, là nơi

ở, là cuộc sống của những người nông dân Việt Nam

Nét đặc trưng: Đình làng xưa - nét đặc trưng tiêu biểu nhất của làng quê Việt Nam Đình là biểu hiện sinh hoạt của người Việt Nam, nơi "cân bằng" phép

tắc của cuộc sống cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân làng, nhất là về tín ngưỡng, nơi để thờ thần Thành Hoàng làng, người có công với dân, cứu nước, giữ nước hoặc giúp dân nghề nghiệp sinh sống Nhìn quanh

đình làng, ta sẽ thấy lòng tri ân, trọng nghĩa, trọng tài, ''Uống nước nhớ nguồn''

của người Việt Nam Tuy đình là của dân làng nhưng thần không hẳn là người

Trang 9

của làng Hơn nữa người Việt Nam thừa hưởng nhiều tín ngưỡng cổ sơ, nguyên thủy nên thờ và tôn kính rất nhiều vị thần như: thần núi, thần biển, thần nước.v.v… ở tất cả những tín ngưỡng ấy, các thế hệ dân Việt Nam tiếp nối nhau tạo thành một nền vǎn hoá đình, một nền vǎn hóa hỗn hợp, đa dạng, có mặt nhiều thành phần tôn giáo khiến cho đình trở thành một tập thể siêu thần, thành một sức mạnh vô hình, tạo một niềm tin, một niềm hy vọng, một sức mạnh vô hình của làng cộng đồng xã Việt Nam Ở nước ta vào đầu thời Trần, vua Trần

Thái Tông xuống chiếu: " nơi nào có đình trạm thì phải tô tượng Phật để thờ trong đình đó" Là bởi thời đó Phật giáo đang chiếm ưu thế Sang thời Lê, kinh

tế hàng hóa phát triển, những đình trạm cũng được sử dụng làm chợ, nên gọi là đình chợ (như đình chợ Đông Ba - Huế) Từ thế kỷ XVI đến XIX có những lúc không có chiến tranh, người dân có điều kiện phát triển kinh tế nên đình được phát triển hơn Trải qua thời gian, đình làng dần dần thiên di vào miền Trung, nhất là Bắc Trung Bộ Nhưng càng vào Nam càng ít và đến Nam Bộ, ngôi đình chỉ còn là ngôi đền

Đình tồn tại trên công thổ, công điền của làng Người từ 18 tuổi trở lên được nhận ruộng công về làm và nộp hoa lợi cho đình hoạt động Mỗi khi ra đình

phân biệt mâm ăn và chiếu ngồi, chia phần "một miếng giữa làng hơn một sàng

só bếp", "một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc trần" Như vậy, đình làng diễn

ra sự phân chia đẳng cấp rất chặt chẽ, trọng tuổi hơn trọng chức sắc, là nơi quyết định về kinh tế, chính trị và tâm tư tình cảm của người dân Hàng năm đình có lễ hội thường được tổ chức vào ngày sinh hoặc ngày mất của vị thần được thờ Lễ hội gắn với truyền thống lịch sử gắn với lễ nghi nông nghiệp Tế thần là hoạt động lễ, hội tế để biểu thị lòng biết ơn của dân làng đối với thần, mong thần tiếp tục phù hộ cho dân làng mạnh khỏe, được mùa Lễ vật tế thần là

cỗ tam sinh (trâu, bò, dê hoặc lợn) là những sản phẩm nông nghiệp, là lễ vật kỷ niệm Nhìn chung, văn hoá đình Việt Nam có tính hoàn toàn độc lập của một cộng đồng xã hội biết tổng hợp dung hòa mọi nền văn hóa khác thành một nét văn hóa riêng nhằm phục vụ an ninh cho dân tộc mình, trong ấy, yếu tố chủ yếu

Trang 10

vẫn là thờ cúng những người có công với làng xã, người anh hùng dựng làng lập nước và bảo vệ đất nước

3 Hội làng:

3.1 Lịch sử hình thành:

Hội làng đã có từ xa xưa, theo sử sách, nhiều hội làng nổi tiếng tiêu biểu cho tín ngưỡng phồn thực được bảo lưu từ thời thượng cổ Ngay trên trống đồng cổ, cũng có những nét hoa vǎn, dấu ấn của hội làng Có những hội làng trở nên tiêu biểu, nức tiếng gần xa như hội: Đền Hùng-tỉnh Phú Thọ, hội Cổ Loa, Lệ Mật, Phù Đổng của Hà Nội, các hội làng ở Hà Tây.v.v…

3.2 Lễ và hội:

Cũng như Lễ hội truyền thống, hội làng gồm hai phần lễ và hội, thường diễn

ra ở các ngôi đình làng Nhưng, ở hội làng, phần hội bao giờ cũng nổi trội hơn

Lễ thể hiện lòng ngưỡng mộ, sùng bái anh hùng, tôn vinh danh nhân, người có công với dân, tổ nghề, có thể là những thần, thánh, phật, mẫu, những nhân vật siêu phàm, những đại diện cho tôn giáo, người bảo trợ tinh thần và đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho cộng đồng Phần lễ thường gồm các hoạt động rước nước và mộc đục, rước và tế Hội là dịp thể hiện những sinh hoạt văn hóa cộng đồng từ múa, hát giao duyên, hát thờ, các diễn xướng sân khấu cổ truyền, các cuộc thi tài mang tính thượng võ (bơi trải - hội làng Đăm, chạy cờ - làng Triều Khúc, thú chơi cờ người - làng Xuân Phương.v.v ), các trò diễn phong tục v.v Trong các sinh hoạt hội, mọi người tham gia trình diễn, sáng tác, thưởng thức và hưởng thụ sau những ngày lao động vất vả, không kể sang hèn Vì thế,

có thể cho rằng, hội làng đã tạo nên niềm cộng cảm sâu sắc giữa các thành viên trong cộng đồng, là sự nhất quán trong việc trao truyền các giá trị vǎn hóa giữa các thế hệ

4 Chợ làng:

Trang 11

Nhắc đến văn hoá làng xã người ta không thể không nhắc tới chợ làng Quả thật một phần đời sống của những người dân quê được khắc hoạ qua sự phát triển của chợ làng Ngoài ý nghĩa trao đổi mua bán, chợ làng còn là nơi để thăm hỏi, mời gọi, nói chuyện con trâu, cái cày, chuyện ruộng, vườn, đồi núi.v.v Tất cả cứ ồn ã, xôn xao và đậm đà tình làng, nghĩa xóm Bởi thế, người xưa đã

từng ao ước: “Muốn cho gần chợ mà chơi gần sông mà tắm, gần nơi đi về”.

Trong mỗi con người Việt Nam, dù ít hay nhiều, cũng lưu giữ trong ký ức một miền quê với bóng dáng cây đa, giếng nước, con kênh và một Chợ Làng

Ai sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nào đó mới hiểu hết cái thú của đi chợ làng Chợ làng không chỉ là nơi bán - mua mà còn là nơi mọi người trao đổi,

thăm hỏi lẫn nhau do mối quen biết “tình làng nghĩa xóm”.

Toàn người làng với nhau nên người bán không nói thách quá, người mua ít mặc cả theo kiểu trả giá chỉ còn “một nửa” như ở các chợ lớn nơi đô thị!

Sản phẩm hàng hoá của chợ làng cũng bình dị như chính con người vậy Mọi thứ bày biện không hề hào nhoáng: giỏ cua, mớ ốc vẫn còn vương bùn non, mớ rau còn nhựa ứa, sọt trứng lơ thơ vài sợi rơm mới lót ổ…

Đến bất cứ một vùng quê nào, chỉ cần nhìn qua chợ làng, quan sát hàng hoá -thực phẩm bày bán và khung cảnh bán - mua là có thể biết được đời sống của người dân nơi đây Cái sự no đủ hay thiếu thốn nó bày ra hết! Vẫn còn những vùng quê nghèo mà chợ làng chỉ họp nháo nhào, bán - mua lèo tèo vài thứ mà giá rẻ như… cho!

Chợ phiên thường họp sớm và tan muộn hơn ngày thường một chút, hàng hoá cũng phong phú hơn Cách đây mấy mươi năm, có những thứ phải chờ đến chợ phiên mới mua được (ví dụ: lưỡi xẻng, cán cuốc, rổ, rá, con dao rựa.v.v…), còn ngày thường chỉ có những thực phẩm thông thường Bây giờ đương nhiên chợ phiên vẫn đông hơn, nhưng ngày thường thì hàng hoá cũng không phải khan hiếm

Không khí ở chợ làng vui nhất vào những ngày áp tết âm lịch ra chợ vào lúc này, bạn sẽ gặp những người… cả năm mới gặp Ấy là những người con của

Trang 12

làng học tập hay làm ăn xa về tụ họp ăn Tết với gia đình Con người Việt Nam

dù có đi đâu, ở đâu thì đến ngày tết thiêng liêng của dân tộc cũng luôn có xu hướng tìm về gia đình, quê hương bản quán Và chợ làng là nơi những người con xa thấy rõ nhất sự biến đổi của cảnh sống quê mình

II Những hệ quả tích cực và hạn chế của văn hóa làng trong bối cảnh hiện nay:

Trước những tác động của đời sống hiện đại, làng xã Việt đang đối diện nhiều thách thức to lớn Không ít giá trị từng được xem là tiêu biểu của cộng đồng làng, nay được nhìn nhận như những vật cản ngăn trở con đường phát triển Sự du nhập những yếu tố văn hóa ngoại lai cũng gây nên nhiều tác động tiêu cực, làm phai nhạt nét đặc trưng của văn hóa làng

1 Hệ quả tích cực:

Ngày nay, làng xã cổ truyền đã thay đổi, không còn bao bọc khép kín trong lũy tre làng mà là một đơn vị dân cư mở, mỗi xã là một đơn vị hành chính cấp nhỏ nhất trong hệ thống hành chính bốn cấp hiện nay Đây là điều kiện để các làng xã phát triển, nhất là phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng làng nghề hay nông nghiệp sạch… để nâng cao đời sống nhân dân

Cùng với truyền thống tốt đẹp, những mặt tích cực, văn hóa làng cũng có những mặt tiêu cực, trong đó có không ít hủ tục lạc hậu Ðó là khuynh hướng tự

cung, tự cấp trong sản xuất, tiêu dùng; đó là nếp sống đóng kín, "đèn nhà ai nhà nấy rạng" Ðó là tàn dư phong kiến còn tồn tại dai dẳng trong đời sống, "phép vua thua lệ làng", "dại bầy hơn khôn độc"

Về đời sống văn hóa, tinh thần, trong những năm qua nông thôn ta đã được hưởng thụ những thành quả to lớn do đời sống được nâng cao, khoa học-công nghệ phát triển Giao thông nông thôn thuận lợi, đường đi tới đâu, ánh

Ngày đăng: 22/12/2021, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w