1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHỨNG MINH LUẬN ĐIỂM “VĂN HÓA VIỆT NAM MANG TÍNH TỔNG HỢP VÀ HỖN DUNG” TỪ CÔNG CỤ ĐỊNH VỊ GIAO LƯU – TIẾP BIẾN VĂN HÓA

28 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 295,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơchế này tạo ra các vùng giao thoa văn hoá - nơi chịu ảnh hưởng đồng thời của củanhiều trung tâm văn hoá, và cả những “vùng tối” nơi sức lan tỏa không với tới.Đếnlượt mình các vùng giao

Trang 1

Học viện Ngoại giao -*** -

Sinh viên: Từ Thị Xuân Anh

Tô Thúy Quỳnh Nguyễn Hải Chi Phan Tuấn Kiệt Phạm Thị Khánh Linh Phan Thu Ngân

Lớp: TTCLC48 (A)

Trang 2

PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

Kết luận toàn bài

3 Nguyễn Hải Chi Chứng minh “văn hóa Việt Nam mang tính tổng hợp và hỗn dung” qua giao lưu tiếp biến văn hóa Ấn 4

và hỗn dung” qua giao lưu tiếp biến tiếp biến văn hóa Trung Hoa

5

Phạm Thị Khánh

Linh

Chứng minh “văn hóa Việt Nam mang tính tổng hợp

và hỗn dung” qua giao lưu tiếp biến văn hóa phương Tây (phần 4.1, 4.2a, 4.2b)

6

và hỗn dung” qua giao lưu tiếp biến văn hóa phương Tây (phần 4.3c)

Trang 3

MỤC LỤC

I Công cụ định vị giao lưu tiếp biến văn hóa 4

1 Định nghĩa (acculturation) 4

2 Cơ sở khoa học 4

3 Lý do dùng công cụ này để chứng minh 5

II Chứng minh văn hóa Việt Nam mang tính hỗn dung và tổng hợp qua giao lưu tiếp biến với các nền văn hóa lớn 5

1 Định nghĩa tính hỗn dung và tổng hợp 5

1.1 Văn hóa “hỗn dung” là gì? 5

1.2 Văn hóa “tổng hợp” là gì? 6

2 Giao lưu tiếp biến với văn hóa Ấn Độ 7

2.1 Các giai đoạn của quá trình giao lưu với văn hóa Ấn Độ 7

2.2 Kết quả của sự giao lưu với Ấn Độ 9

2.3 Kết luận 13

3 Giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa 14

3.1 Sơ lược về văn hóa Trung Hoa 14

3.2 Tầm ảnh hưởng 14

3.3 Kết quả 15

3.4 Tính tổng hợp và hỗn dung 18

3.5 Tổng kết 18

4 Giao lưu tiếp biến với văn hóa phương Tây 18

4.1 Tổng quan các giai đoạn trong quá trình giao lưu văn hóa với phương Tây 18

4.2 Các biểu hiện của văn hóa hỗn dung giữa Việt Nam và phương Tây 19

III Kết luận 25

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 4

I Công cụ định vị giao lưu tiếp biến văn hóa

1 Định nghĩa (acculturation)

Giao lưu - tiếp biến văn hoá là phương pháp định vị văn hoá dựa trên lý thuyết cáctrung tâm và sự lan toả văn hoá hay còn gọi là thuyết khuếch tán văn hoá.Thuyếtnày cho rằng, sự phân bổ của văn hoá mang tính không đồng đều; văn hoá tậptrung ở một số khu vực sau đó lan tỏa ra các khu vực kế cận Càng xa trung tâm,ảnh hưởng của văn hoá gốc càng giảm - cho tới khi mất hẳn (lan tỏa tiên phát) Cơchế này tạo ra các vùng giao thoa văn hoá - nơi chịu ảnh hưởng đồng thời của củanhiều trung tâm văn hoá, và cả những “vùng tối” nơi sức lan tỏa không với tới.Đếnlượt mình các vùng giao thoa văn hoá cũng có khả năng “phát sáng” tạo nên sự lantoả thứ phát, để hình thành nên những trung tâm văn hoá mới và tiếp tục ảnhhưởng đến các khu vực kế cận.Thuyết lan toả văn hoá giúp lý giải vì sao trongcùng một khu vực địa lý lại có sự tương đồng về văn hoá, và vì sao ở những khuvực giáp ranh giữa các nền văn hoá lớn thường tồn tại các nền văn hoá hỗn dung.Giao lưu – tiếp biến văn hoá được hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người

có văn hoá khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp với nhau gây ra sự biến đổi môthức văn hóa so với ban đầu của một hay cả hai chủ thể Tiếp biến văn hóa là yếu

tố của nền văn hóa này thâm nhập vào nền văn hóa kia, hoặc nền văn hóa này vaymượn những yếu tố của nền văn hóa kia, rồi trên cơ sở đó mà điều chỉnh, cải biếncho phù hợp Tiếp biến văn hóa có thể xảy ra theo con đường kinh tế, tôn giáo, tưtưởng, văn hóa nghệ thuật, Tuy nhiên, dù có giao lưu văn hóa, áp dụng và thựchành các giá trị của nền văn hóa khác, nhóm người vẫn giữ được nền văn hóa riêngbiệt của họ

Tiếp biến văn hóa nói đơn giản là quá trình mà qua đó một người hoặc một nhómngười từ một nền văn hóa áp dụng và thực hành các giá trị của nền văn hóa kháctrong khi vẫn giữ được nền văn hóa riêng biệt của họ

2 Cơ sở khoa học

Giao lưu - tiếp biến văn hóa là phương thức tồn tại, quy luật phát triển của mọi nềnvăn hóa, trong đó có Việt Nam Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự vận độngthường xuyên của xã hội, của văn hóa, gắn bó với tiến hóa xã hội và cũng gắn bóvới sự phát triển của văn hóa

Lịch sử các nền văn minh nhân loại cho thấy: Không có một nền văn hóa nào dùlớn và có ảnh hưởng sâu rộng lại liên tục phát triển trong một địa bàn khép kín,biệt lập, tách rời với các nền văn hóa khác

Trang 5

Đề cập đến văn hóa cũng có nghĩa là đề cập đến tất cả các khâu của giao lưu (cánhân, cộng đồng) cho đến hoạt động giao lưu và sản phẩm của hoạt động giao lưuấy.

Do đó, khi tiến hành định vị một nền văn hóa, nhất thiết phải xét nó trong quan hệdẫn đến các trung tâm văn hóa kế cận hoặc các trung tâm văn hóa đã từng có mốiliên hệ với nền văn hóa ấy trong lịch sử, tức là phải xét đến quá trình giao lưu - tiếpbiến dẫn đến sự hình thành và phát triển của văn hóa ấy

3 Lý do dùng công cụ này để chứng minh

Không chỉ là một phương pháp định vị văn hóa, mà còn là một phương pháp đượcvăn hóa học sử dụng thường xuyên khi tiến hành phân xuất kết cấu của một nềnvăn hóa cụ thể

Xuyên suốt tiến trình lịch sử, tất cả các nền văn hóa còn tồn tại đến giờ thì đều hiệnthân như kết quả của quá trình giao lưu - tiếp biến văn hóa

Giúp lý giải vì sao trong cùng một khu vực địa lý lại có sự tương đồng về văn hóa,

và vì sao ở những khu vực giáp ranh giữa các nền văn hóa lớn thường tồn tại cácnền văn hóa hỗn dung

Do vị trí địa lý là nơi giao lưu giữa các trung tâm văn hóa lớn, Văn hóa Việt Nam

là kiểu văn hóa hỗn dung điển hình

Giao lưu và tiếp biến không những tạo cơ sở phát triển của các nền văn hóa, màquá trình đó cũng giúp các chủ thể nhận thức, hướng đến tinh thần khoan dung vănhóa, tôn trọng và chủ động hơn trong việc phát triển và gìn giữ bản sắc của mình.Tiếp biến văn hóa trở thành phương tiện đề người Việt chống lại đồng hóa văn hóa,làm giàu và phát triển mạnh mẽ nền văn hóa với bản sắc riêng của mình

II Chứng minh văn hóa Việt Nam mang tính hỗn dung và tổng hợp qua giao lưu tiếp biến với các nền văn hóa lớn.

1 Định nghĩa tính hỗn dung và tổng hợp.

1.1 Văn hóa “hỗn dung” là gì?

Một nền văn hóa “hỗn dung” có thể hiểu là một nền văn hóa có sự hỗn hợp vàdung chấp của các nền văn hóa khác trên thế giới Trong đó, tính dung chấp là sẵnsàng tiếp thu các yếu tố ngoại sinh, miễn là có lợi Tính dung chấp văn hóa khôngđồng nghĩa với tính hỗn tạp và lai căng văn hóa Trái lại, nó có tác dụng điều tiếtquá trình lựa chọn và kết hợp một cách sáng tạo giữa các yếu tố văn hóa ngoại sinhvới văn hóa bản địa, sao cho bản sắc văn hóa dân tộc vẫn giữ được bảo tồn và duytrì Nhờ có tính dung chấp mà quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa không những

Trang 6

không làm tổn hại đến nền văn hóa bản địa, mà trái lại còn làm cho nền văn hóa ấycàng trở nên giàu có và phong phú hơn.

Biết cách loại bỏ những yếu tố văn hóa lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của dân tộc,

và biết chấp nhận những giá trị tiến bộ bên ngoài để đưa dân tộc tiến lên – là mộtphẩm hạnh mà không phải nền văn hóa nào cũng có được Bởi lẽ, phẩm hạnh nàychỉ xuất hiện ở những dân tộc giàu lòng vị tha và dung chấp

Một mặt, tính dung chấp văn hóa của người Việt bắt nguồn từ quá trình hình thànhdân tộc Việt: Đây là dân tộc được hình thành từ sự hòa huyết về chủng, từ sự tổnghợp về mặt ngôn ngữ và từ sự giao thoa của nhiều nền văn hóa trong khu vực.Chính quá trình hình thành như vậy đã quy định rằng: nền văn hóa của người Việtphải là một hệ thống tổng hợp và phải là một hệ thống mở, và do đó phải có tínhdung chấp

Mặt khác, kinh nghiệm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã góp phầnđịnh hình tính dung chấp văn hóa của dân tộc này: đứng trước một cường quốchung mạnh tại khu vực lại luôn có dã tâm xâm chiến và đồng hóa, việc phải mởcửa nền văn hóa và chấp nhận những giá trị bên ngoài tràn vào là một tất yếu Bởivậy, dân tộc Việt Nam không những đứng trước những vấn đề mà nhiều dân tộckhác gặp phải gọi là sự lựa chọn giữa “đóng” hay “mở cửa” nền văn hóa dân tộc.Vấn đề đặt ra đối với người Việt luôn là: nên hấp thụ những yếu tố văn hóa nào, vàcải biến chúng ra sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển của dân tộc.Nếu biết vậndụng tính dung chấp văn hóa, thì đó sẽ là một lợi thế lớn của dân tộc trong côngcuộc hội nhập vào đời sống hiện nay

Do đó, văn hóa “hỗn dung” là kiểu văn hóa vừa tiếp thụ những yếu tố văn hóa củabên ngoài vừa cải biến những yếu tô văn hóa bên ngoài sao cho phù hợp với nềnvăn hóa của mình để vẫn giữ được bản sắc dân tộc

Lấy một ví dụ về tính hỗn dung của văn hóa Việt Nam, ta thấy khi tiếp xúc vớiphương Tây, người Việt ta đã Việt hoá những từ của họ thành từ Việt thông dụngdung trong cuộc sống như: xà phòng (savon), ga (gaz), cà phê (café), caramen(caramel), cacao (cacao), cà rốt (carotte) và còn rất nhiều các từ khác nữa

Trang 7

Trên cơ sở kết hợp giữa tôn giáo du nhập từ bên ngoài (Phật giáo) với tín ngưỡngthờ cúng Tổ tiên, người Việt Nam đã tạo ra một tôn giáo riêng của mình, đó là đạoHòa Hảo.

Vậy yếu tố văn hóa bên ngoài ở đây chính là Phật giáo Nhưng khi Phật giáo đượctruyền vào Việt Nam thì đã được người Việt cải biến cùng tiền ngưỡng thờ cúng tổtiên – yếu tố có sẵn của dân tộc ta Từ đó, tạo nên một tôn giáo riêng của mình làđạo Hòa Hảo

2 Giao lưu tiếp biến với văn hóa Ấn Độ

Với bản tính hòa bình, giá trị nhân bản cùng con đường du nhập tự nhiên, phicưỡng chế, mang tính thuyết phục thay vì chinh phục, văn hóa Ấn Độ đã đượcngười Việt Nam dễ dàng chấp nhận và dần thẩm thấu sâu vào tâm thức của ngườiViệt

2.1 Các giai đoạn của quá trình giao lưu với văn hóa Ấn Độ

a) Giai đoạn Bắc thuộc (Đầu công nguyên đến thế kỉ X)

Văn hóa Ấn Độ đã ảnh hưởng tới Việt Nam ngay từ đầu công nguyên đến thế kỷ Xqua các đợt sóng lan tỏa: Tiên phát và thứ phát

Lan tỏa tiên phát:

Ngay từ đầu công nguyên, Ấn Độ đã có sự giao thương mạnh mẽ với Trung Đông

và vùng Địa Trung Hải Trong 5 tuyến đường biển mà văn hóa Ấn Độ vào nước ta,đáng chú ý là các tuyến vào Ninh Thuận – Bình Thuận – Khánh Hòa – Phú Yên,tuyến vào Bình Định, Quảng Nam là những điểm văn hóa Ấn Độ dừng chân vàphát triển thuộc địa bàn cư dân Chăm cổ Khi vượt biển đi xa buôn bán, người Ấn

Độ đã mang các sư tăng, thầy tu, thầy Bàlamôn đi theo để cầu sự bình yên, từ đótạo điều kiện cho văn hóa Ấn Độ cùng những giáo lý tôn giáo được lan tỏa Trongnhững tôn giáo Ấn Độ du nhập, chủ yếu có hai dòng: Ấn Độ giáo hay Bàlamôngiáo và đạo Phật

Đến thế kỷ II, tại khu vực phía Bắc Việt Nam, Khâu-Đà-La đã đến Luy Lâu truyềngiáo Sự thâm nhập của Phật giáo ở thời kỳ này đã ở vào giai đoạn mới với việchình thành tăng đoàn Các tăng sĩ bắt đầu dịch Kinh, sáng tác, xây dựng chùachiền… Luy Lâu (Bắc Ninh) đã tồn tại như một trung tâm Phật giáo quan trọng vàphồn thịnh

Cũng trong giai đoạn này, lợi dụng lúc nhà Hậu Hán suy yếu, một viên chức quậnTượng Lâm (phía nam Thừa Thiên ngày nay) là Khu Liên đã lãnh đạo người Chămnổi lên khởi nghĩa thắng lợi vào năm 192, lập nên vương quốc Lâm Ấp NgườiChăm đã thoát khỏi ách đô hộ của Trung Hoa, người Ấn Độ lại đến ngày một nhiềuhơn mà không mang theo chiến tranh, vì vậy nền văn hóa Ấn Độ đã được người

Trang 8

Chăm vui vẻ tiếp nhận Ảnh hưởng của Ấn Độ tới văn hóa Chăm phát huy mạnh

mẽ trong khoảng từ thế kỷ thứ VII đến hết thế kỷ thứ XV, khi Chămpa chấm dứt sựtồn tại với tư cách quốc gia dân tộc Thậm chí, trong khoảng tám thế kỷ nói trên,ảnh hưởng này lớn đến mức người ta chỉ nhìn thấy những yếu tố của Ấn Độ trongvăn hóa Chăm

Từ Ấn Độ, người Chăm đã tiếp thu nhiều tôn giáo: Phật giáo, Bàlamôn giáo và Hồigiáo Thế nhưng, ở chính quốc từ thế kỷ thứ V, Phật giáo đã bị Bàlamôn giáo tấncông và dẫn đến lụi tàn Chính vì vậy, khi nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ trong việchình thành văn hóa Chăm thì Bàlamôn giáo là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất

Lan tỏa thứ phát:

Đó là sự gặp gỡ văn hóa Ấn Độ dòng Đại thừa (chủ yếu là Thiền tông và Tịnh độtông) có xuất phát điểm từ Trung Hoa thâm nhập một cách mạnh mẽ xuốngphương Nam (kể từ thế kỷ III trở đi Chẳng mấy chốc nó đã lấn át dòng tiểu thừa

có từ trước đó, để lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo cũng nhưtrong tín ngưỡng dân gian

Như vậy, qua hai đợt lan tỏa, văn hóa Ấn Độ đã để lại dấu ấn trong văn hóa ViệtNam, bao gồm: Phật giáo (đại thừa và tiểu thừa); văn hóa Chăm (chủ yếu làBàlamôn giáo) và văn hóa Óc Eo

b) Giai đoạn tự chủ:

Đây là thời kỳ mà các triều đại phong kiến Việt Nam cai trị đất nước Các triều đạiNgô, Đinh, Lý, Trần,… đều tạo điều kiện để Phật giáo phát triển đến mực cựcthịnh Rất nhiều chùa có quy mô lớn và kiến trúc độc đáo đã được xây dựng như:chùa Phật Tích, chùa Dạm (chùa Đại Lãm), chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), chùaPhổ Minh,… Bên cạnh đó, trong quá trình mở đất về phía Nam, văn hóa Chămcũng đã ảnh hưởng không ít đến kinh tế - xã hội đương thời

Đạo Phật đạt đến thời cực thịnh vào thời nhà Trần rồi bắt đầu suy thoái vào thờinhà Hậu Lê do hai nguyên nhân chính: Bản thân Phật giáo đã tác động tiêu cực đến

sự phát triển của xã hội đương thời, và điều kiện kinh tế - xã hội thời Lý – Trần –Lê

c) Giai đoạn từ nửa cuối thế kỉ XIX đến nay (1858 – nay)

Quân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng vào năm 1858 đã mở đầu gần 100 năm ViệtNam bị thực dân đô hộ Chính quyền thực dân đã dùng nhiều phương kế nhằm tiêudiệt truyền thống lịch sử và văn hóa Việt Nam, đẩy Phật giáo một lần nữa đứngtrước nguy cơ mất còn do chính sách hủy diệt có hệ thống của Pháp

Một trong những nguyên nhân chủ yếu mà người Pháp dựa vào để xâm lược ViệtNam là chính sách kì thị Thiên Chúa giáo của nhà Nguyễn Chính vì vậy, chính

Trang 9

quyền thực dân ra sức ủng hộ để tôn giáo này lan rộng khắp nơi bằng cách phá hủyPhật giáo dưới nhiều hình thức khác nhau Bên cạnh đó, nhà Nguyễn do độc tônNho học trước đây nên Phật giáo cũng không được quan tâm Bản thân Phật giáocũng tự làm suy yếu do một số cách hành trì đạo pháp không đúng đắn.

Vào những năm 1929-1930, xã hội Việt Nam có sự chuyển biến rõ rệt Phong tràochấn hưng Phật giáo phát triển mạnh mẽ trên thế giới cũng đã xuất hiện tại ViệtNam cùng với sự phát triển của của Thiên Chúa giáo do thực dân Pháp bảo trợ vàgiúp đỡ Các tôn giáo mới tách ra từ Phật giáo truyền thống, nhiều tín đồ Phật giáo

đã rời bỏ đạo Phật để theo các tôn giáo khác cũng chứng tỏ niềm tin của nhân dânđối với Phật giáo ngày càng giảm sút Tình hình đó đã đòi hỏi Phật giáo Việt Namphải cải cách để đủ sức tồn tại, đồng hành cùng các tôn giáo khác

Đến giữa thế kỉ XX, đất nước bị chia cắt thành hai miền nhưng nhìn chung chínhsách với đạo Phật cũng không tích cực hơn thời Pháp thuộc Sau năm 1954, chínhquyền tổng thống Ngô Đình Diệm kì thị đạo Phật một cách công khai và quyết liệt,đàn áp đạo Phật bằng nhiều cách khác nhau mà đỉnh điểm là sự kiện nhà sư ThíchQuảng Đức tự thiêu năm 1963 để phản đối sự kì thị này Tại miền Bắc, chínhquyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng hạn chế các hoạt động tín ngưỡng củangười dân, kiểm soát gắt gao Phật giáo cũng như các tôn giáo khác do theo đuổichủ nghĩa Mác – Lênin và tiến hành công cuộc giải phóng miền Nam

Cho tới những năm gần đây tại Việt Nam, Phật giáo và các tôn giáo khác đã được

tự do phát triển, thể hiện qua việc trùng tu và xây mới nhiều chùa chiền, tổ chứcnhiều sự kiện cũng như xuất bản số lượng khá lớn các ấn phẩm về đạo Phật Phậtgiáo hiện nay trở thành tín ngưỡng được nhiều người dân tôn thờ nhất cùng với tínngưỡng thờ Tổ tiên truyền thống

2.2 Kết quả của sự giao lưu với Ấn Độ

Phật giáo khi được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư người Việt bản địahóa, trở thành một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam, cùng sinh tồn với dân tộc.Qua các thời đại như Đinh, Lê, Lý, Trần, Phật giáo cùng song hành hưng thịnh vớiđất nước và các vị thiền sư cũng có vị trí quan trọng trong các triều đại đó Dùđược bản địa hóa để quyện mình vào lòng dân tộc, nhưng Tam tạng kinh điển Phậtgiáo vẫn được truyền thừa trong suốt hơn 200 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam, tạo

nên dấu ấn của Phật giáo trong văn hóa Việt Nam Những kết quả của sự giao lưu

giữa văn hóa Ấn Độ với văn hóa Việt Nam được thể hiện ở:

a) Sự xuất hiện Phật giáo Việt Nam

Ngay khi mới du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã tạo nên sự hòa hợp giữa tínngưỡng bản địa sẵn có với những sinh hoạt văn hóa, giáo lý cơ bản của Phật giáo,

Trang 10

hình thành nên một loại tín ngưỡng Phật giáo bình dân trong thế kỷ đầu côngnguyên.

Thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo Đại thừa, vốn đã được thay đổi căn bản trong lòngnền văn hóa Trung Hoa, trở nên gần gũi hơn với đời sống trần tục khi truyền vàoViệt Nam cùng với sự cai trị của các triều đại phong kiến Trung Hoa Được nhândân Việt Nam tiếp nhận một cách tự nguyện, Phật giáo Việt Nam đã từng là cơ sởcủa khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, bởi vậythấm đượm chủ nghĩa yêu nước của người Việt Phật giáo đã trở thành một tôngiáo lớn làm đối trọng chống lại sự đồng hóa của Nho giáo – nền văn hóa của kẻxâm lược trong thời kỳ Bắc thuộc

Nhà Lý ra đời đã đưa Phật giáo lên hạng quốc đạo Nhiều triều vua nối tiếp nhau

đã thực hiện rất nhiều Phật sự, không chỉ góp phần phát triển việc tu học mà cònqua đó phát triển một nền văn hóa riêng của Đại Việt khác biệt với Trung Hoa Mộtdấu ấn quan trọng thời kỳ này là việc khai sinh Thiền phái Thảo Đường Tuy nhiên,

vì khuynh hướng thiên trí thức và văn chương, thiền phái Thảo Đường không cắm

rễ được trong quần chúng mà chỉ ảnh hưởng đến một số trí thưc có khuynh hướngvăn học Phật giáo thời nhà Lý có nhiều ảnh hưởng không chỉ với dân thường mà

cả vua quan

Nhà Trần lên nắm quyền đã tiếp tục kế thừa và phát triển thêm nền tảng xã hội đã

có từ thời Lý, trong đó có Phật giáo Nét nổi bật nhất của Phật giáo thời kỳ này là

sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do người Việt Nam sáng lập mà tổ sưchính là vua Trần Nhân Tông Số lượng chùa chiền và tăng sĩ tăng lên rất nhiều,các chùa cũng như các tăng sĩ được nhiều ưu đãi lớn không chỉ từ phía vua quan

mà còn từ nhân dân

Phật giáo cũng có ảnh hưởng rất lớn đến các mặt Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hộitrong thời kỳ tự chủ của dân tộc Sự phát triển của Phật giáo với tinh thần nhập thếkhông hề đứng trên tư tưởng thống trị, quyền lực và quyền lợi Phật giáo đã thựcthi một tinh thần khoan dung, độ lượng, hòa hợp đối với dân chúng, với kẻ thù và

cả đối với những tư tưởng giáo lý khác Điều này không những làm cho Phật giáođứng ở trung tâm của hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội trong giai đoạn thế kỷ X– XIV mà thậm chí có những lúc quyết định vận mệnh quốc gia

b) Góp phần hình thành nét độc đáo của nền văn hóa Chăm

Vương quốc Chămpa là một quốc gia độc lập tồn tại từ khoảng thế kỷ thứ II đếnnăm 1832 trên phần đất ngày nay thuộc miền Trung Việt Nam Văn hóa Chămpa đãtừng phát triển rực rỡ với những đỉnh cao là phong cách Đồng Dương và phongcách Mỹ Sơn mà nhiều di tích đền tháp và các công trình điêu khắc đá, đặc biệt làcác hiện vật có hình linga vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay cho thấy ảnh hưởngcủa Ấn giáo và Phật giáo là hai tôn giáo chính của chủ nhân vương quốc Chămpa

Trang 11

xưa Chămpa hưng thịnh nhất vào thế kỷ thứ IX và X, sau đó dần dần suy yếu dướisức ép Nam tiến của Đại Việt từ phía Bắc Năm 1471, Chămpa chịu thất bại nặng

nề trước Đại Việt và nước Chămpa thống nhất chấm dứt tồn tại Phần lãnh thổ cònlại của Chămpa tiếp tục bị các chúa Nguyễn thôn tính và đến năm 1832 toàn bộvương quốc chính thức sáp nhập vào Việt Nam

Văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng đến văn hóa Chăm chủ yếu là Bàlamôn, bên cạnh đócòn có đạo Hồi và Phật giáo Như vậy, có thể nói cư dân Chămpa đã có hàng loạtnhững biểu hiện văn hóa liên quan đến tư tưởng và văn hóa Ấn Độ

Ảnh hưởng về tôn giáo

Văn hóa Chăm chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo khác nhau từ Ấn Độ (Bàlamôngiáo, Phật giáo, Hồi giáo), nhưng Bàlamôn giáo là yếu tố đóng vai trò quan trọngnhất trong việc hình thành văn hóa Chăm Bàlamôn giáo là tôn giáo được hìnhthành trên cơ sở kinh Veda, thờ Brahma (thần sáng tạo), Visnu (thần bảo tồn) vàSiva (thần phá hủy)

Chămpa tiếp nhận tư tưởng Bàlamôn giáo của Ấn Độ kết hợp với tín ngưỡng bảnđịa làm cho sắc thái của tôn giáo có sự biến đổi rõ ràng Vì vậy, người Chăm đặcbiệt nhấn mạnh vai trò của thần Siva trong bộ ba vị thần, khiến cho việc thờ phụngthần Siva trở thành một nhánh tôn giáo phát triển khá độc lập (Siva giáo) Sivagiáo và tín ngưỡng phồn thực bản địa hòa trộn với nhau hình thành một thứ tôngiáo hỗn dung mà ở đó, Siva được hóa thân thành Linga hay hiện diện đi kèm vớiLinga – với tư cách là đối tượng thờ cúng của người Chăm

Bên cạnh niềm tin vào các vị thần Ấn Độ, người Chăm còn thờ nhiều vị thần khác

có nguồn gốc siêu nhiên hay những công thần khai quốc Việc nhân thần hóa đượcthờ phụng cùng các vị thần linh Ấn Độ là điều hiếm thấy chỉ có ở Chămpa Ngoài

ra, khi tiếp nhận Bàlamôn giáo từ Ấn Độ kết hợp với tín ngưỡng của cư dân bảnđịa (tín ngưỡng Phồn thực, sùng bái các nữ thần…), người Chăm đã biến cải thànhđạo Bà Chăm, một tôn giáo mới gần gũi với người Chăm hơn và được xem nhưmột biến thể của Bàlamôn Cũng như vậy, người Chăm đã sáng lập ra đạo Bà Nikhi tiếp thu Hồi giáo trên cơ sở tín ngưỡng bản địa Đạo Bà Ni tin vào thánh Allahnhưng họ vẫn thờ các vị thần truyền thống của mình và khu vực như thần Mưa,thần Núi, thần Biển…

Như vậy, mặc dù nguồn văn hóa Ấn Độ đóng vai trò quan trọng trong văn hóaChăm, nhưng trước khi có sự du nhập của văn hóa Ấn Độ thì người Chăm đã đượcthừa hưởng di sản của nền văn hóa Sa Huỳnh (khoảng 1000 năm TCN) Văn hóaChăm là tổng hợp của văn hóa bản địa và văn hóa do giao lưu tiếp biến

Ảnh hưởng của lịch pháp Ấn Độ đến cách tính lịch của Chămpa

Trang 12

Từ ngày đầu dựng nước, Chămpa đã tiếp thu lịch Saka của Ấn Độ một cách chủđộng, chuyển lịch Saka sang Sakawi để phục vụ cho việc tiến hành các lễ hội dângian, nghi lễ trong nông nghiệp, đặc biệt là ngày hành lễ tôn giáo Đồng thời,Chămpa vốn là cư dân hoạt động mạnh mẽ trên con đường hàng hải quốc tế nênlịch được ứng dụng để xem ngày giờ, dự đoán thời tiết trước khi ra khơi… Đặcbiệt, lịch Chăm còn dùng các vương triều của Ấn Độ để gọi tên thời gian.

Ảnh hưởng của kiến trúc, điêu khắc Ấn Độ đến nghệ thuật xây dựng tháp Chăm

Các vương triều Chămpa đều xây dựng hoặc trùng tu công trình tôn giáo để chứng

tỏ sự tồn tại của vương triều mình, phô trương sức mạnh quốc gia và đặc biệt lànhằm mục đích tạ ơn thần linh qua việc dâng lễ vật cúng cho đền tháp vì đã phù trợsức mạnh cho vương triều

Chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ, vật liệu cơ bản và chủ yếu để xây dựng đền tháp

là gạch Trải qua bao thế kỉ, những tháp gạch Chămpa vẫn còn tươi rói, màu sắcánh hồng, kết dính với nhau một cách kì lạ mà nhiều nhà khoa học chưa thể giải

mã Trên tổng thể thân tháp bằng gạch, những hoa văn, con vật thiêng liêng củaHindu giáo hay cảnh sinh hoạt trong cung đình đã được trạm trổ rất sinh động vàchân thật

Đặc điểm của gạch Chămpa là mềm, xốp nên khi dựng xong hình dáng tháp hoànchỉnh, họ mới tiến hành chạm, khắc, khảm lên tháp những ước vọng mà nhà vua vàquần chúng nhân dân muốn gửi gắm vào Tháp Chămpa thường gồm 3 tầng, tầngtrên cùng đặt các vị thần quốc giáo, tầng giữa thường diễn tả hoạt động sống trongcung đình, tầng đế chỉ gia cố nền móng cho vững chắc, không có trang trí Mỗi mộtngôi tháp chỉ có một lối vào chính cũng là vị trí đặt các nhân thần (Vua được thầnthánh hóa), đồng thời là thực hành các nghi lễ chính thức vào những ngày lễ trọngđại của Bàlamôn giáo Các mặt còn lại đều là cửa giả và đóng kín Hình thể củamột tháp Chămpa bao giờ cũng thu nhỏ dần khi càng lên cao Phần lớn các thápChăm đều có hình chóp tượng trưng cho ngọn núi Mêru trong thần thoại Ấn Độ,trên các tầng có thể có tháp con ở góc, ứng với các ngọn núi nhỏ Người Chămpa

đã tiếp thu kĩ thuật xây dựng tháp từ Ấn Độ, nhưng qua bàn tay kĩ sư Chămpa cáckhối tháp trở nên hài hòa, cứng rắn, mạnh mẽ, dễ gần gũi nhưng đầy bí hiểm Quansát tháp ở bất cứ vị trí nào và vào lúc nào cũng thấy nét uy nghiêm tráng lệ

Ảnh hưởng về thể chế chính trị của Chămpa

Vương quốc Chămpa áp dụng hệ thống thần quyền của Ấn Độ để xây dựng hệthống thần quyền Chămpa Triều đình Chămpa đã đặt địa danh trên đất Chămpabằng các tên của Ấn Độ như: vùng Avamati (vùng từ Quảng Bình đến Quảng Namngày nay), vùng Khauthara (thuộc Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay), vùngPanduranga (thuộc Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay)

Trang 13

Ảnh hưởng về lịch sử chữ viết Chămpa

Quá trình cải biên chữ Brami của Ấn Độ đến Akhar Thrah Chămpa là cả một thờigian lâu dài Vai trò của Akhar Thrah rất quan trọng, là loại chữ viết được dùng phổbiến và rộng rãi trong quần chúng, ghi chép tất cả các công việc hành chính củavương triều, chép sử, sáng tác văn chương Điểm mới của Akhar Thrah là từ mẫuchữ Brami qua sự cải biến để ghi âm tiết Chămpa Và trên thế giới chỉ còn ngườiChămpa sử dụng hệ thống chữ Akhar Thrah do họ sáng tạo ra

Tóm lại, từ tiền đề nền độc lập ban đầu, người Chăm đã củng cố và dựng xây một

nền văn hóa Chămpa phát triển khá rực rỡ, trong đó văn hóa Ấn Độ giữ vai trò ảnhhưởng chủ đạo Nền văn hóa Chămpa chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ từ ýthức hệ quản lí thần dân đến thuyết nhân thần Sự giao lưu, tiếp biến văn hóa dễnhận diện nhất là nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc ở các đền tháp cổ nằm khắpmiền Trung Việt Nam Và nét Bàlamôn giáo còn hiện hữu đến cách thức tổ chức xãhội của Chămpa Văn minh Ấn Độ đã được tiếp nhận một cách hòa bình và hài hòavới văn hóa bản địa tạo nên văn minh Chămpa rực rỡ trong lịch sử

c) Dấu ấn của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa Óc Eo – Phù Nam

Ngay từ đầu thế kỷ XX, những cổ vật đầu tiên của văn hóa Óc Eo đã được pháthiện trên cánh đồng Óc Eo – Ba Thê thuộc xã Vọng Thê – huyện Thoại Sơn – tỉnh

An Giang Do sự phong phú của loại hình, sự độc đáo của chất liệu và vẻ đẹp rực

rỡ của mỹ thuật chế tác nên ngay từ lúc bấy giờ, các di vật của văn hóa Óc Eo đãlôi cuốn sự chú ý của nhiều học giả nổi tiếng Theo L.Malleret (học giả ngườiPháp), nền văn hóa này có phạm vi phân bố chủ yếu ở vùng trũng miền Tây sôngHậu gồm địa bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, BạcLiêu… và một phần đất Đông Nam Campuchia Các di tích của nền văn hóa này cóquy mô khá lớn, trong đó có hai thị trấn Trăm Phố và Óc Eo Riêng Óc Eo có diệntích rộng tới 450 ha, là một đô thị mang đặc điểm của một thành phố ven biển vớitiền cảng Tà Keo (Cạnh Đền) cách đấy 15km

Xã hội Óc Eo là một xã hội phát triển nhiều ngành nghề thủ công như nghề gốm,nghề luyện đồng, luyện sắt, luyện thiếc, nghề kim hoàn Đặc biệt nông nghiệp vàthương nghiệp lúc này đã khá phát triển với một loạt chứng cứ như những côngtrình thuỷ lợi cổ, kênh rạch vừa tưới tiêu vừa là đường giao thông, sản phẩm thủcông thể hiện sự chuyên hoá, những đồng tiền bằng vàng, bạc, thiếc còn nguyênhay cắt làm tư làm tám, các loại trang sức, con dấu bằng đá quý, thuỷ tinh, nhiềusản phẩm có nguồn gốc ngoại nhập Nền văn hoá này còn để lại nhiều kiến trúckhác nhau như vết tích nhà sàn, những kiến trúc đồ sộ bằng gạch đá lẫn lộn thểhiện trình độ cao trong kỹ thuật xây dựng Nghệ thuật tạc tượng điêu luyện gồmhai nhóm tượng Ấn Độ giáo và Phật giáo Ngoài ra còn tìm thấy chữ viết trên cáccon dấu, mặt nhẫn, bia đá…, đó là dạng chữ Phạn (Brami) thế kỷ V thời kỳ Gúpta

Trang 14

của Ấn Độ cổ đại L.Malleret cho rằng nền văn hóa này là sản phẩm của một nhànước cổ đại tồn tại từ thế kỷ II đến thế kỷ VI ở Đông Nam Á, từng được sử TrungQuốc ghi chép nhiều lần, đó là Vương quốc Phù Nam Tính chất cảng thị thể hiệnqua vị trí địa lý của thành thị Óc Eo và các di vật có nguồn gốc từ Ấn Độ, ĐịaTrung Hải, Trung Đông, Trung Hoa làm cho văn hóa Óc Eo mang đậm yếu tố

“ngoại sinh”, được những nhà nghiên cứu trước đây coi là nguyên nhân chủ yếucủa sự phát triển văn hóa này

Như vậy, văn hóa Óc Eo có giao lưu rộng lớn với những nền văn minh thời cổ đại,tiêu biểu là với Ấn Độ (những tượng thờ thuộc Ấn Độ giáo, Phật giáo, đồ trangsức, hoa văn chạm chìm, con dấu, văn tự…)

2.3 Kết luận

Như vậy, có thể nhận thấy Phật giáo là “mẫu số chung” của những đợt sóng giaolưu văn hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ Văn hóa Ấn Độ đã ghi dấu ấn khá sâu đậmtrong đời sống văn hóa của Việt Nam kết hợp cùng những giá trị vốn có của vănhóa dân tộc đã góp phần tạo nên nền tính tổng hợp, hỗn dung của văn hóa ViệtNam

3 Giao lưu tiếp biến với văn hóa Trung Hoa

3.1 Sơ lược về văn hóa Trung Hoa

Trung Hoa là cái nôi văn hóa của nhân loại, và nền văn hóa Trung Hoa đã đượchình thành cách đây ít nhất 3500 năm Là một trong những điều bí ẩn, hấp dẫn đốivới các nhà nghiên cứu văn hóa trên toàn thế giới, văn hóa Trung Hoa có tầm ảnhhưởng rất lớn đối với nhiều quốc gia khác Đây là kết quả của quá trình lâu dài màcác triều đại Trung Hoa từng đô hộ “gần một nửa thế giới”

Không chỉ vậy, văn hóa Trung Hoa còn là đại diện đặc trưng nhất của nền văn hóaphương Đông, bởi lẽ:

1 Hầu hết các giá trị xã hội được bắt nguồn từ Nho giáo, Đạo giáo

2 Các phong tục tập quán, cách sinh hoạt, chuẩn mực đạo đức có ảnh hưởngmạnh mẽ đến tất cả các nước trên thế giới - đặc biệt là các nước láng giềng(gồm Việt Nam)

3.2 Tầm ảnh hưởng

a) Giai đoạn Bắc thuộc.

Vào cuối đời Tây Hán, đầu đời Đông Hán: Cùng với chính sách cai trị và “Hánhóa” đất Việt cổ, văn hóa Hán bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam Ngay từnhững năm đầu tiên sau Công nguyên: Thái thú (người đại diện của triều đìnhtrung ương, tiếp xúc với dân địa phương) của quận Cửu Chân (Thanh Hóa) - Nhâm

Ngày đăng: 22/12/2021, 11:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Hồng Thúy và cộng sự (2011). Đại cưong văn hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cưong văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Hồng Thúy và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2011
2. Phạm Thái Việt và Đào Ngọc Tuấn (2004). Đại cưong về văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cưong về văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phạm Thái Việt và Đào Ngọc Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin
Năm: 2004
3. Lương Ninh (2004). Lịch sử Vưong quốc Champa, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Vưong quốc Champa
Tác giả: Lương Ninh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2004
4. Võ Sĩ Khải (2018). Kiến trúc trong văn hóa Óc Eo, hậu Óc Eo ở Nam Bộ, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc trong văn hóa Óc Eo, hậu Óc Eo ở Nam Bộ
Tác giả: Võ Sĩ Khải
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2018
5. Lê Đình Phụng (2012). Tìm hiểu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở miền Trung Việt Nam. Di sản văn hóa vật thể, 1 (38), 68-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa vật thể
Tác giả: Lê Đình Phụng
Năm: 2012

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w