Đề 2: Em hãy bình luận và đánh giá về nhận định sau để làm nổi bật vai trò của Hiến pháp trong xã hội hiện đại: “Hiến pháp là công cụ để nhân dân kiềm chế quyền lực nhà nước.” Nội dung:
Trang 1Đề 2: Em hãy bình luận và đánh giá về nhận định sau để làm nổi bật vai trò của Hiến pháp trong xã hội hiện đại:
“Hiến pháp là công cụ để nhân dân kiềm chế quyền lực nhà nước.”
Nội dung:
I.Lời nói đầu
Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất do Quốc hội ban hành dựa trên ý chí nhân dân và do nhân dân làm chủ thể gốc
trong việc kiềm chế quyền lực nhà nước Vì lẽ đó “Hiến pháp là công cụ để
nhân dân kiềm chế quyền lực nhà nước” Bài viết sau đây là những nhận định
và đánh giá về để làm nổi bật vai trò của Hiến pháp trong xã hội hiện đại
II.Phần nội dung
1.Khái niệm Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, do cơ quan đại diện có thẩm quyền cao nhất của nhân dân thông qua theo thủ tục đặc biệt hoặc do nhân dân trực tiếp thông qua bằng trưng cầu dân ý, trong đó quy định những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất của chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hóa – xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu tổ chức và hoạt động của nhà nước, thể hiện một cách tập trung nhất ý chí và lợi ích của giai cấp (hoặc liên minh giai cấp) cầm quyền
Đặc điểm của Hiến pháp:
Trang 2- Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là luật mẹ, luật gốc vì vậy nó là nên tảng,
là cơ sở để xây dựng và phát triển toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia
- Hiến pháp là luật tổ chức, quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác định cách thức tổ chức và xác lập các mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, quy định cấu trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ và cách thức tổ chức chính quyền địa phương
- Hiến pháp là luật bảo vệ các quyền con người và công dân, các quyền con người và quyền công dân quy định trong Hiến pháp là cơ sở pháp lí chủ yếu để nhà nước tôn trọng và đảm bảo thực hiện các quyền con người và công dân
- Hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lí tối cao, tất cả các văn bản pháp luật khác không được trái với Hiến pháp, bất kì một văn bản pháp luật nào trái với Hiến pháp đều bị huỷ bỏ
2 Phân tích
a) Sự cần thiết của kiềm chế quyền lực nhà nước
Con người bên cạnh những đức tính sáng tạo, chăm chỉ còn chứa đựng
cả những tính lười nhác, tùy tiện, tính tham lam, tính ỷ lại, tính dựa dẫm vào những người khác, nhất là tính cách đam mê quyền lực Khi có quyền lực, con người dễ có khả năng buộc người khác phải làm theo những ý muốn đam mê của mình Sự thực “Lòng đam mê quyền lực và lòng đam mê danh vọng là những ước muốn vô hạn định của con người” Vì thế, khi có quyền lực, con người hay có xu hướng lạm quyền Việc kiềm chế tiềm năng sử dụng và lạm quyền lực nhà nước là một thách thức đối với bất cứ Nhà nước nào Điều khó khăn hơn nữa là làm việc này mà không làm cho các cơ quan nhà nước mất đi
Trang 3tính mềm dẻo cần phải có để tiến hành các công việc của Nhà nước Việc sử dụng không đúng quyền lực nhà nước tạo ra những vấn đề nghiêm trọng của sự tín nhiệm Nhà nước của công chúng sẽ có tác động rất lâu dài trước công luận
Đó là một trong những rủi ro vô cùng nguy hiểm của xã hội Vì những lẽ đó, việc phải quy định về kiềm chế quyền lực Nhà nước như là một quy luật khách quan của sự phát triển xã hội
b) Hiến pháp là sản phẩm của cơ quan đại diện cho nhân dân
Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền khẳng định một chân lý tối thượng - tinh hoa của nền văn minh nhân loại là “nhân dân - người sáng tạo nên lịch sử”- tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, chủ quyền của nhân dân cao hơn chủ quyền của nhà nước (vấn đề này phản ánh rõ nhất qua quyền lập hiến của nhân dân)
Tất cả quyền lực là thuộc về Nhân dân và Nhân dân là chủ thể kiểm soát quyền lực, vì vậy để phòng, chống sự tha hóa quyền lực, để kiểm soát quyền lực, thì Nhân dân phải thực sự làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình Nhân dân phải thực sự tham gia vào quá trình quản lý đất nước, tham gia quản lý xã hội, tham gia quản lý nhà nước, tham gia quản lý, điều hành quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh-quốc phòng… của đất nước
Kiểm soát quyền lực thông qua việc thực thi thực chất, đầy đủ và rộng rãi quyền làm chủ của Nhân dân, cả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham dự; thực hiện nghiêm phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”; thông qua chế độ tranh cử, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ
Trang 4lãnh đạo, quản lý công khai, minh bạch; thông qua chế độ thực sự công khai, minh bạch mọi công việc của đất nước, của Nhân dân phải rất coi trọng chế độ công khai, minh bạch: công khai, minh bạch chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tất cả các tổ chức, các cơ quan, đơn vị, của tất cả các cá nhân từ người giữ cương vị cao nhất đến cán bộ, công chức, viên chức để Nhân dân kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện; công khai, minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các tổ chức và cá nhân được trao quyền lực; thông qua việc kiểm tra, giám sát của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, của Nhân dân, của công luận; thông qua việc tự do tư tưởng, tự do ngôn luận để Nhân dân thể hiện chính kiến của mình tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng hệ thống chính trị; Nhân dân tham gia xây dựng đất nước, làm chủ đất nước Muốn vậy, phải nâng cao trình độ dân trí, Nhân dân phải vươn lên làm chủ thực sự mọi công việc của đất nước Đại hội XII của Đảng chỉ rõ
“tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân, được Nhân dân tham gia ý kiến” Nhân dân có quyền chất vấn, yêu cầu cơ quan nhà nước phải giải trình, có quyền phản đối những việc làm sai trái, có quyền yêu cầu cán bộ không đủ tư cách phải từ chức hoặc bị cách chức… Khuyến khích công luận lên tiếng phê phán, phản đối những việc sai trái để tăng sức đề kháng của cơ thể xã hội… Phát huy mạnh mẽ, chủ động, tích cực sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân vào việc kiểm soát quyền lực Xây dựng và thực thi cơ chế, chế tài đủ mạnh để các tổ chức bộ máy, các nhóm người, các cá nhân được giao quyền lực phải thực hiện đúng, đầy đủ, có trách nhiệm chức trách, nhiệm vụ được giao, không dám - không thể - không muốn
Trang 5lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực vì mục đích, lợi ích cá nhân Cuộc đấu tranh phòng, chống tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực đòi hỏi quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, theo phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” tạo ra sức mạnh tổng hợp để thực hiện có hiệu quả cao nhất
Bầu cử là một trong những phương thức để nhân dân kiềm chế quyền lực nhà nước và bầu cử phải thực sự mang tính dân chủ Nhân dân kiểm soát Nhà nước trước hết qua hệ thống bầu cử, thông qua hoàn thiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của hội đồng nhân dân các cấp, các công cụ thanh tra, kiểm toán, kiểm tra của bộ máy nhà nước Tuy nhiên, nhân dân còn các công cụ khác, như thông qua các tổ chức có tính đại diện xã hội, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp; qua giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, qua hệ thống phương tiện truyền thông Tuy nhiên, nhân dân cũng có thể lạm quyền khi sử dụng các quyền của mình Đó là khi vì
tự do cá nhân của mình mà xâm hại đến tự do của xã hội và tự do của cá nhân khác, là khi nhân dân xâm hại đến ý chí chung, thậm chí phạm tội Ví dụ, sử dụng quyền tự do ngôn luận, quyền biểu tình, quyền dân chủ để chống lại cộng đồng và xã hội; lạm dụng quyền tự do tin, hay không tin tôn giáo tín ngưỡng, để cổ xúy, truyền bá mê tín dị đoan hoặc tư tưởng hận thù, chia rẽ dân tộc
Như vậy, một mặt, cần phát huy dân chủ của nhân dân, để nhân dân có điều kiện thực hành dân chủ, hiện thực hóa quyền và lợi ích của mình; mặt
Trang 6khác, nhà nước, các đảng chính trị, và tự bản thân nhân dân cũng cần kiềm chế các hoạt động tự do quá trớn, vô chính phủ; xâm hại quyền tự do, dân chủ của cộng đồng và của các thành viên khác trong xã hội
c) Hiến pháp là luật tổ chức, quy định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các
cơ quan nhà nước
Hiến pháp có vai trò rất quan trọng đối với việc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong nhà nước pháp quyền trên ba khía cạnh chính sau:
Thứ nhất, bằng việc ghi nhận đầy đủ những nguyên tắc cơ bản, các quy
phạm và các chế định quan trọng hơn cả về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước tương ứng với ba nhánh quyền lực truyền thống (quyền lập pháp - QLP, quyền hành pháp - QHP và quyền tư pháp - QTP)
Thứ hai, bằng việc phân công một cách rõ ràng, rành mạch những thẩm
quyền và chức năng của các cơ quan công quyền tương ứng với ba nhánh quyền lực truyền thống đã nêu, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền góp phần tạo nên các cơ sở hiến định để các quan chức của các cơ quan này có thể thực thi đúng, đầy đủ và hiệu quả chức trách công vụ của mình với tư cách là những “công bộc”, “người đầy tớ” của nhân dân
Thứ ba, bằng việc ghi nhận một cách đầy đủ, khoa học và chặt chẽ
những nguyên tắc cơ bản, các quy phạm và các chế định quan trọng hơn cả về kiềm chế nhà nước tương ứng với ba nhánh quyền lực truyền thống đã nêu, Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền góp phần điều chỉnh ở mức cao nhất sự phối hợp, phân công và cân bằng, cũng như sự kiểm tra và chế ước lẫn nhau giữa các cơ quan công quyền của các nhánh này nhằm loại trừ các biểu hiện tùy
Trang 7tiện, lạm quyền, tệ quan liêu, tham nhũng, hách dịch, cửa quyền, xâm phạm các quyền và tự do hiến định của công dân, đồng thời đem lại các dịch vụ công tốt nhất cho xã hội
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn đọng một số hạn chế Ví dụ trong hiến pháp 2013 cụ thể tại điều 39 khoản 1 nên thay quy định “Nam và nữ có quyền kết hôn và ly hôn” bằng quy định “Mọi người có quyền kết hôn và ly dị”, điều 27 khoản 3 nên mở rộng quy định “Cấm mọi hành động phân biệt đối
xử về giới” thành “Cấm mọi hành động phân biệt đối xử về giới, nhận dạng giới và xu hướng tình dục” Bởi lẽ xu hướng trên thế giới là ngày càng thừa nhận các quyền của LGBT, bao gồm các quyền không biệt đối xử và quyền về hôn nhân của họ
d) Hiến pháp là luật bảo vệ quyền con người và quyền công dân
Hiến pháp năm 2013 đã nêu rõ chủ thể và nội dung quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Thứ nhất, về tên Chương, lần đầu tiên
trong lịch sử lập hiến, “quyền con người” đã trở thành tên gọi của Chương, thay vì chỉ gọi là “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” như Hiến pháp năm
1992 và các bản Hiến pháp trước đó Sự bổ sung cụm từ “quyền con người” là điểm nhấn quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Đây không chỉ đơn thuần là sự bổ sung một cụm
từ mang tính chất kỹ thuật lập hiến, mà còn phản ánh tư duy phát triển, phù hợp với xu hướng của dân tộc, thời đại và nhân loại Bên cạnh đó, cũng xóa bỏ ranh giới còn chưa rõ ràng giữa khái niệm về quyền con người và quyền công dân (quyền con người là quyền tự nhiên, bất cứ ai cũng có quyền đó; quyền công dân là quyền của những người có quốc tịch Việt Nam), ghi nhận việc mở rộng
Trang 8các chủ thể của quyền, khẳng định chủ thể rộng nhất của quyền con người là mọi cá nhân, mọi người đều được hưởng Việc thay đổi tên Chương từ “Quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân” thành “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân” trong Hiến pháp năm 2013 còn thể hiện sự nỗ lực và cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các Công ước quốc
tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên Thứ hai, Chương quy định
về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đưa lên và đặt trang trọng tại Chương II, ngay sau Chương I quy định về chế độ chính trị Đây cũng không chỉ đơn thuần là sự thay đổi số học về vị trí các chương mang tính chất kỹ thuật lập hiến, mà còn thể hiện sự thay đổi về nhận thức lý luận, tư duy lập hiến, là sự khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đề cao nguyên tắc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, chủ quyền tối cao thuộc về Nhân dân, đồng thời cũng phản ánh thực tiễn đổi mới toàn diện, hội nhập sâu rộng, tiến bộ và phát triển của đất nước ta, thể hiện nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo
đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Thứ
ba, với quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con
người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1 Điều 14), Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức lý luận và tư duy lập hiến trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân
so với Hiến pháp năm 1992 (chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự
và kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện ở các quyền công dân) Điểm nhấn của nội dung này là việc bổ sung nguyên tắc “Quyền con người, quyền công
Trang 9dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2 Điều 14) Đây chính là điều kiện để bảo đảm tính hiện thực của quyền con người, quyền công dân, bảo đảm sự cân bằng, minh bạch và lành mạnh giữa các lợi ích trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân, cá nhân và phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; hạn chế tối đa bất cứ sự lạm dụng hay tùy tiện nào tước đi hay hạn chế các quyền và tự do vốn có của mọi người bởi
các cơ quan nhà nước Thứ tư, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định và làm
rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo hướng: quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người
có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không
ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 15 và Điều 16) Nguyên tắc hiến định này vừa khẳng định sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền và nghĩa vụ, vừa đặc biệt nhấn mạnh đến việc thực hiện quyền của người này không thể là sự chối bỏ, phủ nhận hay xâm phạm đến quyền của người khác; nói khác đi, việc tôn trọng các quyền tự do của mỗi người phải đặt trong mối quan hệ với việc tôn trọng quyền và tự do của người
khác Thứ năm, so với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung
05 quyền hoàn toàn mới và sửa đổi, bổ sung trên 30 quyền còn lại Về các quyền hoàn toàn mới, với 5 điều cụ thể: Điều 19 (quyền sống), Điều 40 (quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng
Trang 10lợi ích từ các hoạt động đó), Điều 41 (quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa), Điều 42 (quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp), Điều 43 (quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa
vụ bảo vệ môi trường), Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định sự phát triển mạnh
mẽ trong chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Các quyền này đều nằm trong hai nhóm quyền cơ bản được ghi nhận trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên và là các quyền vô cùng thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi người với tư
cách là thành viên của cộng đồng nhân loại và với tư cách là cá nhân Thứ sáu, Hiến pháp năm 2013 đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm của Nhà
nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân, nhất là các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội…
III.Đánh giá chung
Nhìn chung, một đất nước có phát triển hay không là dựa vào những quy định Hiến pháp của quốc gia đó có tiến bộ và phù hợp với ý chí nhân dân hay không Bài tiểu luận này được viết dựa trên những tìm hiểu quy định pháp luật hiện hành trong Hiến pháp Mặc dù tiểu luận này chỉ đưa ra một khía cạnh
nhưng em hy vọng nó phần nào giúp chúng ta hiểu hơn về vấn đề “Hiến pháp
là công cụ để nhân dân kiềm chế quyền lực nhà nước.”