Triết học Mác – Lênin là gì? Triết học Mác Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới.
Trang 1TIỀU LUẬN MÔN:
Trang 3MỤC LỤC
I TỔNG QUAN 1
1 1 Tính cấp thiết 1
1 2 Đối tượng nghiên cứu 1
1 3 Nội dung nghiên cứu 1
1 4 Ý nghĩa của đề tài 1
II TRIẾT HỌC, VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 2
3.1 Triết học là gì? 2
3.1.1 Triết học, đối tượng nghiên cứu của triết học 2
3.1.2 Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan 3
3.2 Vấn đề cơ bản và các trường phái của triết học 4
3.2.1 Vấn đề cơ bản của triết học 4
3.2.2 Các trường phái của triết học 4
3.2.2.1 Chủ nghĩa duy vật 4
3.2.2.2 Chủ nghĩa duy tâm 5
3.2.2.3 Thuyết không thể biết 6
3.3 Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình 6
3.4 Vai trò của triết học trong đời sống xã hội 8
3.5 Vai trò của triết học trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay 11
III KẾT LUẬN 17
Trang 4I TỔNG QUAN
1 1 Tính cấp thiết
Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, cái giúp cho con người vượt qua những khókhăn, thử thách, giải thoát con người khỏi những thách đố và vướng mắc của cuộc sống, đápứng nhu cầu thường nhật và lâu dài của nhân loại không chỉ là kinh tế, kỹ thuật hiện đại vàcông nghệ cao, mà còn là triết học Triết học giúp cho con người tìm ra lời giải không chỉ chonhững thách đố muôn thuở, mà còn cho những vấn đề hoàn toàn mới do quá trình toàn cầu hoáđặt ra Triết học không chỉ giúp con người nhận thức rõ địa vị của mình, lối sống xứng đáng vớicon người, mà còn giúp họ xác định mục tiêu và lý tưởng sống để từ đó, góp phần biến đổi hiệnthực nhằm phục vụ cho chính mình Không chỉ thế, trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, triếthọc còn giúp cho con người có được sự định hướng đúng đắn trong hành động và củng cốquyết tâm hành động, đánh giá đúng những biến động đang diễn ra, gợi mở cách đi, hướng giảiquyết các vấn đề mà cuộc sống đang đặt ra Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, triếthọc cũng đang thực hiện chính những vai trò to lớn đó Đó là lý do vì sao cần phải nghiên cứutriết học nhằm ứng dụng triết học vào trong đời sống xã hội
1 2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận này là nghiên cứu vai trò của triết học trong đời sống
xã hội
1 3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của tiểu luận này bao gồm những nội dung chính sau đây:
- Nguyên nhân ra đời và ý nghĩa của cuộc cách mạng triết học
- Vấn đề cơ bản và các trường phái của triết học
- Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
- Vai trò của triết học trong đời sống xã hội
- Vai trò của triết học trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay
1 4 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài này sẽ giúp hiểu chúng tôi hiểu rõ hơn về vai trò của thế giới quan hoặc vai tròcủa con người đối với thế giới và chức năng phương pháp luận của triết học trong đời sống xãhội loài người Đồng thời, vai trò triết học trong xã hội ngày nay còn giúp chúng ta ý thức đượcnhững khó khăn, thử thách, vướng mắc và ý thức được địa vị của mình trong xã hội Bên cạnh
Trang 5đó vai trò của triết học còn giúp giải quyết được những khó khăn mà chúng ta đã từng gặp phảitrong cuộc sống…
II TRIẾT HỌC, VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI
3.1 Triết học là gì?
3.1.1 Triết học, đối tượng nghiên cứu của triết học
Triết học ra đời gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN)tại một số trung tâm văn minh cổ đại như Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp
Theo người Ấn Độ, triết học đọc là darshana, có nghĩa là sự chiêm ngưỡng, là conđường suy ngẫm để dẫn dắt con ngời đến với lẽ phải Còn ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học cógốc ngôn ngữ là chữ "triết" Đó không phải là sự miêu tả, mà là quá trình tranh luận để tìm bảnchất của đối tượng
Ở phương Tây, thuật ngữ "Triết học" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "Philôsôphia”, nghĩa
là "yêu mến sự thông thái" Triết học đợc xem là hình thái cao nhất của tri thức, có thể làm sáng
tỏ bản chất của mọi vật
Khái quát lại, triết học là một hình thái ý thức xã hội; là hệ thống tri thức lý luận chungnhất của con ngời về thế giới; về vị trí, vai trò của con ngời trong thế giới ấy
Với quan niệm đó, triết học cổ đại không có đối tượng nghiên cứu riêng của mình, mà
đ-ợc xem là "khoa học của mọi khoa học"
Từ thế kỷ XV - XVI đến thế kỷ XVIII, các bộ môn khoa học chuyên ngành, nhất là khoahọc thực nghiệm phát triển mạnh mẽ, dần dần tách ra khỏi triết học, từng bước làm phá sảntham vọng muốn đóng vai trò "khoa học của mọi khoa học" của một số học thuyết triết học lúcbấy giờ, đặc biệt là triết học Hêghen
Đầu thế kỷ XIX, triết học Mác ra đời đã đoạn tuyệt hoàn toàn với quan niệm trên và xácđịnh đối tợng nghiên cứu của mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thứctrên lập trường duy vật triệt để và nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội
và tư duy Quan niệm macxit cho rằng:"Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, làhọc thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, của thái độ con ngời đốivới thế giới; là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy"
Khác với các khoa học cụ thể chỉ đi vào nghiên cứu từng lĩnh vực riêng biệt của thế giới,triết học xem xét thế giới nh một chỉnh thể và đem lại một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể
đó Triết học là sự diễn tả thế giới quan bằng lý luận Mặc dù có sự khác nhau giữa các hệ
Trang 6thống triết học, nhưng điểm chung của chúng là đều nghiên cứu những vấn đề chung nhất của
tự nhiên, xã hội và con người, mối quan hệ của con ngời nói chung, của tư duy nói riêng vớithế giới
Như vậy, với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, khái quát nhất, triết họckhông thể ra đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài nười Triết học chỉ có thể xuất hiện trongnhững điều kiện nhất định sau:
Thứ nhất, lao động đã phát triển đến mức có sự phân chia lao động xã hội thành laođộng trí óc và lao động chân tay, tạo điều kiện và khả năng nghiên cứu, hệ thống hóa các quanđiểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và trên cơ sở đó triết học đã ra đời
Đó là khi chế độ Công xã nguyên thuỷ đã bị thay thế bằng chế độ Chiếm hữu nô lệ - chế độ xãhội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử nhân loại Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khi mới ra đời,triết học tự nó đã mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp xã hộinhất định
Thứ hai, con ngời đã có sự phát triển cả về thể lực và trí lực, có một vốn hiểu biết nhấtđịnh và đạt đến khả năng khái quát hóa, trừu tượng hóa để có thể rút ra đợc cái chung từ vô sốcác sự vật và hiện tợng riêng lẻ, xây dựng nên các học thuyết, lý luận
Điều đó khẳng định rằng, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học đã ra đời
từ thực tiễn và do nhu cầu của thực tiễn quy định
3.1.2 Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan
Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân conngười, về cuộc sống và vị trí con người trong thế giới đó
Đặc tính của tư duy con ngời là muốn đạt tới sự hiểu biết hoàn toàn, đầy đủ; song trithức mà con ngời đạt được luôn luôn là có hạn Quá trình tìm hiểu về quan hệ giữa con ngườivới thế giới đã hình thành nên những quan niệm nhất định, trong đó có sự hoà quyện thốngnhất giữa cảm xúc và trí tuệ, tri thức và niềm tin Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thànhthế giới quan, song nó chỉ gia nhập thế giới quan khi đã trở thành niềm tin định hớng cho hoạtđộng của con người
Khác với thế giới quan thần thoại và tôn giáo, thế giới quan triết học dựa vào tri thức, là
sự diễn tả quan niệm của con nười dưới dạng hệ thống các quy luật, phạm trù đóng vai trò lànhững nấc thang trong quá trình nhận thức thế giới Với ý nghĩa đó, triết học đợc xem là hạtnhân lý luận của thế giới quan, là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về
vị trí của con người trong thế giới đó
Trang 73.2 Vấn đề cơ bản và các trường phái của triết học
3.2.1 Vấn đề cơ bản của triết học
Ngay từ thời cổ đại đã nảy sinh vấn đề quan hệ giữa linh hồn con ngời với thế giới bênngoài Triết học ra đời cũng giải quyết vấn đề đó, nhng ở tầm khái quát cao hơn là mối quan hệgiữa tw duy và tồn tại Theo Ăngghen: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triếthọc hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa t duy với tồn tại"( C Mác và Ăngghen: Toàn tập, NxbCTQG, HN, 1995, t.21, tr.403); bởi vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và xuất phát điểm đểgiải quyết các vấn đề khác của triết học Đồng thời sẽ là tiêu chuẩn để xác định lập trờng thếgiới quan của các triết gia và các học thuyết của họ
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
Mặt thứ nhất: Giữa vật chất và ý thức, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyếtđịnh cái nào?
Mặt thứ hai: ý thức con ngời có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan haykhông? Nghĩa là con ngời có khả năng nhận thức hay không?
Việc trả lời hai câu hỏi trên đã dẫn đến sự hình thành các trờng phái và các học thuyếttriết học khác nhau
3.2.2 Các trường phái của triết học
3.2.2.1 Chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trớc, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tạimột cách khách quan, độc lập với ý thức con ngời và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sựphản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người; không thể có tinh thần, ý thức nếukhông có vật chất
Chủ nghĩa duy vật đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại và cho đến nay, lịch sử phát triểncủa nó luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, tồn tại dới nhiều hình thứckhác nhau
+ Chủ nghĩa duy vật cổ đại mang tính chất phác, ngây thơ, xuất phát từ giới tự nhiên đểgiải thích thế giới Hạn chế của nó là còn mang tính trực quan, trong khi thừa nhận tínhthứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể Ví dụ nhưquan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit
+ Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII: Do ảnh hưởng của Cơ học cổ điểnnên chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy
Trang 8siêu hình, máy móc - phương pháp nhìn nhận thế giới trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại.Tuy không phản ánh đúng hiện thực, nhưng CNDV siêu hình vẫn đóng vai trò quantrọng trong cuộc đấu tranh chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo Ví dụ như quanniệm của Niutơn, Bêcơn và các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII.
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập vào những năm 40của thế kỷ XIX, sau đó đợc V.I Lênin tiếp tục phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của cáchọc thuyết triết học trước đó và vận dụng các thành tựu của khoa học đương thời, chủnghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế củachủ nghĩa duy vật trước đó, thể hiện là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duyvật Nó không chỉ phản ánh đúng đắn hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúpcác lực lượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy
3.2.2.2 Chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có trước và quyết định giới tự nhiên Giới
tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức
Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình thức chủ yếu là:
+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con người,khẳng định mọi sự vật, hiện tượng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, củachủ thể Ví dụ quan niệm của Beccơly
+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nhưng đókhông phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có trước và tồn tại độc lập vớicon người, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và tư duy Nó thường được mangnhững tên gọi khác nhau như ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tínhthế giới.Ví dụ quan niệm của Platon, Hêghen
Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốcnhận thức Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến
bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoa học Còn nguồn gốc xã hộicủa chủ nghĩa duy tâm là các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thứccủa nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ýthức khỏi thế giới vật chất
Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩaduy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của tư duy triết học Đồng thời, nó biểuhiện cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội
Trang 9Bên cạnh các nhà triết học nhất nguyên luận (duy vật hoặc duy tâm) giải thích thế giới
từ một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có các nhà triết học nhị nguyên luận Họxuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất và tinh thần để giải thích mọi hiện tợng của thế giới.Theo họ, thế giới vật chất sinh ra từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thểtinh thần Họ muốn dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, nhng cuối cùng họrơi vào chủ nghĩa duy tâm khi thừa nhận ý thức hình thành và phát triển tự nó, không phụ thuộcvào vật chất
3.2.2.3 Thuyết không thể biết
Khi giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, đại đa số các nhà triết học( cảduy vật và duy tâm) đều thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người, nhưng vớinhững cách lý giải trái ngược nhau Chủ nghĩa duy vật xuất phát từ chỗ coi vật chất có trước, ýthức có sau và là sự phản ánh thế giới vật chất đã thừa nhận con người có thể nhận thức đượcthế giới khách quan và các quy luật của nó Còn chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có tr ước vàquyết định vật chất nên nhận thức không phải là sự phản ánh thế giới, mà chỉ là sự tự nhậnthức, tự ý thức về bản thân ý thức Họ phủ nhận thế giới khách quan là nguồn gốc của nhậnthức
Học thuyết triết học phủ nhận khả năng nhận thức của con người được gọi là thuyếtkhông thể biết Họ cho rằng, con người không thể hiểu được đối tượng hoặc nếu có hiểu thì chỉ
là hình thức bên ngoài; bởi vì tính xác thực của các hình ảnh về đối tượng mà các giác quan củacon người cung cấp trong quá trình nhận thức không đảm bảo tính chân thực Tiêu biểu là quanniệm của Beccơly, Hium
3.3 Phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình
Một vấn đề rất quan trọng mà triết học phải làm sáng tỏ là: các sự vật, hiện tượng của thếgiới xung quanh ta tồn tại như thế nào?
Vấn đề này có nhiều cách trả lời khác nhau, những suy đến cùng đều quy về hai quanđiểm chính đối lập nhau là biện chứng và siêu hình
Trang 10Như vậy, phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối liên hệràng buộc lẫn nhau, trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo,linh hoạt, "không chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ giữa chúng,không chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và tiêu vong của sự vật,không chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái động của sự vật, không chỉ thấycây mà còn thấy cả rừng".
Phương pháp biện chứng đã phát triển trải qua ba giai đoạn và đợc thể hiện qua ba hìnhthức lịch sử của phép biện chứng: phép biện chứng tự phát, phép biện chứng duy tâm, phépbiện chứng duy vật
- Trong phép biện chứng tự phát thời cổ đại, các nhà biện chứng cả phương Đông vàphương Tây đã thấy các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ sinh thành, biến hóa trong những sợidây liên hệ vô cùng tận Nhưng đó mới chỉ là cái nhìn trực quan, chưa phải là kết quả củanghiên cứu và thực nghiệm khoa học
- Trong phép biện chứng duy tâm, mà đỉnh cao là triết học cổ điển Đức (ngườikhởi ướmg là Cantơ và người hoàn thiện là Hêghen), lần đầu tiên trong lịch sử t duy nhân loại, cácnhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất củaphương pháp biện chứng Nhng đó là phép biện chứng duy tâm, bởi nó bắt đầu từ tinh thần vàkết thúc ở tinh thần; thế giới hiện thực chỉ là sự sao chép ý niệm tuyệt đối
x Trong phép biện chứng duy vật, C.Mác và Ph.Ăngghen đã gạt bỏ tính chất thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen để xây dựng phép biệnchứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất
3.3.2 Phương pháp siêu hình
- Nhận thức đối tượng trong trạng thái cô lập, tách rời đối tợng khỏi các chỉnh thể khác;giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối
- Nhận thức đối tợng trong trạng thái tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi
về số lượng và nguyên nhân biến đổi nằm ở bên ngoài sự vật
Như vậy, phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệtlập, tĩnh tại với một t duy cứng nhắc, "chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìnthấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại mà không nhìn thấy sựphát sinh và tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh mà quên mất sự vậnđộng của những sự vật ấy, chỉ thấy cây mà không thấy rừng"