1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh

224 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Lựa Chọn Ứng Dụng Trò Chơi Vận Động Nâng Cao Tính Tích Cực Của Trẻ Mẫu Giáo 5 – 6 Tuổi Trong Hoạt Động Giáo Dục Thể Chất Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Phan Thị Mỹ Hoa
Người hướng dẫn GS.TS. Huỳnh Văn Sơn, TS. Dương Thị Thùy Linh
Trường học Trường Đại Học Thể Dục Thể Thao Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 7,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 quy định về GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1 GS.TS Huỳnh Văn Sơn

2 TS Dương Thị Thùy Linh

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2021

Trang 2

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật đặt ra nhiều thách thức đối với nguồn nhân lực ở các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển Giáo dục ở Việt Nam cần có sự thay đổi để thích ứng với những biến đổi như vũ bão của khoa học công nghệ mới và sự toàn cầu hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 lần

thứ XI đã chỉ rõ “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,

có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật; có sức khoẻ ” [17]

Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, tạo sự khởi đầu cho việc hình thành và phát triển nhân cách của một con người

Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của GDMN là “Giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” [10], trong đó giáo dục thể chất

(GDTC) cho trẻ là nội dung quan trọng nhất, đặt nền móng cho sự phát triển về thể lực lẫn trí lực và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ

GDTC trong chương trình phát triển GDMN với nhiệm vụ “Tăng cường bảo vệ sức khỏe, thói quen tốt cho trẻ và đảm bảo sự phát triển thể chất toàn diện và giáo dục lòng yêu thích thể dục thể thao; giáo dục kỹ năng sống cho trẻ qua việc tăng cường áp dụng đa dạng các hình thức và phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ vào việc

tổ chức các hoạt động theo quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” nhằm tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, trải nghiệm và sáng tạo theo phương châm “học bằng chơi, chơi mà học” [8] Hoạt động GDTC cho trẻ được thực hiện bằng nhiều hình thức

khác nhau trên cơ sở các đặc điểm phát triển sinh lý, tâm lý và vận động của trẻ Trong các hình thức GDTC cho trẻ thì trò chơi vận động (TCVĐ) thuộc loại trò chơi

có quy luật đơn giản, dễ hiểu, lặp đi lặp lại nhiều lần với nhiều nội dung hấp dẫn, tình

Trang 3

huống bất ngờ Thông qua TCVĐ, trẻ được trải nghiệm, được thử sức với dạng hoạt động gây hứng thú, từ đó hình thành cho trẻ hứng thú và ý chí nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ vận động Tuy nhiên, để trẻ mẫu giáo (MG) tích cực sau mỗi lần chơi thì cần phải lựa chọn TCVĐ phù hợp cho trẻ cũng như cách thức tổ chức phải phù hợp và hiệu quả

Theo Cục Y tế dự phòng thì phần lớn trẻ ở thành phố ít vận động hoặc lượng vận động không đủ so với độ tuổi Việc ít vận động kéo dài sẽ làm giảm sút khả năng chống lại các yếu tố ảnh hưởng như thời tiết, khí hậu, vi khuẩn và dễ mắc bệnh truyền nhiễm gấp 3 – 5 lần so với trẻ vận động thường xuyên, đồng thời dẫn đến trẻ dễ mắc bệnh béo phì [15] Vấn đề này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là ít sử dụng hoặc chưa lựa chọn được TCVĐ thích hợp để nâng cao tính tích cực (TTC) cho trẻ Trong xu hướng đổi mới GDMN hiện nay, việc tổ chức hoạt động phát triển thể chất cần phải chú ý kích thích TTC của từng trẻ, tạo cho trẻ sự hứng thú, làm nảy sinh cảm xúc tích cực, phấn khởi, bởi đó là những yếu tố quan trọng thúc đẩy trẻ tích cực tham gia vận động Thực hiện được yêu cầu này cũng chính là thực hiện được một trong những yêu cầu cơ bản của đổi mới GDMN hiện nay ở nước ta

Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) với số dân khoảng 8,993 triệu người, là thành phố đông dân nhất nước, chiếm tỉ trọng 9,35% dân số cả nước cùng với tốc độ

đô thị hoá nhanh chóng cùng hàng loạt các dự án phát triển hạ tầng đô thị, giao thông [77] Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh về các loại hình kinh tế, dịch vụ thu hút đông đảo lực lượng lao động là dân nhập cư từ các tỉnh đổ về làm cho dân số tăng nhanh tạo

áp lực lớn cho các cơ quan nhà nước cũng như các cơ sở giáo dục trong việc giải quyết nhu cầu học tập của trẻ cũng như nâng cao chất lượng giáo dục Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế là sự dồi dào về thực phẩm,

sự chăm sóc ăn uống quá mức yêu cầu về năng lượng cũng như xem tivi, video, chơi trò chơi điện tử nhiều, đã tạo nên tình trạng dư cân, béo phì ở trẻ em Ngoài ra, việc ít hoạt động còn hạn chế sự hình thành và phát triển các vận động cơ bản và các tố chất cần thiết cho trẻ [78] Bên cạnh đó, giáo viên mầm non (GVMN) vẫn chưa nhận thức hết tầm quan trọng của việc phát huy TTC cho trẻ Mặt khác, do lớp học quá đông, diện tích chật hẹp, sự thiếu kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động, nên GV thường lúng

Trang 4

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng sử dụng TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC, luận án lựa chọn các TCVĐ phù hợp với đặc điểm của trẻ MG 5 – 6 tuổi và điều kiện cụ thể của nhà trường, xây dựng các kế hoạch ứng dụng hiệu quả TCVĐ Từ đó, nâng cao TTC và góp phần phát triển thể lực của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án sẽ tập trung giải quyết những mục tiêu

cụ thể sau:

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng sử dụng TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 –

6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

- Thực trạng sử dụng TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

- Xác định tiêu chí đánh giá TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi

trong hoạt động GDTC tại TP HCM

- Nguyên tắc lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

- Tiêu chí lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

- Lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả ứng dụng TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 –

6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

- Ứng dụng TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

Trang 5

- Đánh giá hiệu quả tác động thực nghiệm của TCVĐ để nâng cao TTC và sự phát triển thể lực của trẻ MG 5 – 6 tuổi tại TP HCM

Giả thuyết khoa học

TTC là một yếu tố quan trọng góp phần mang lại hiệu quả của hoạt động GDTC Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM còn hạn chế Nếu tìm hiểu rõ thực trạng, từ đó lựa chọn ứng dụng các TCVĐ trong hoạt động GDTC theo một số tiêu chí phù hợp sẽ giúp nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC tại TP HCM

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về lý luận: Luận án hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản như hoạt động

GDTC, TCVĐ, TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi làm cơ sở cho việc lựa chọn ứng dụng TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC

Trang 6

5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất

1.1.1 Quan điểm về giáo dục thể chất trong trường học

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác GDTC cho trẻ trong trường học Quan điểm này được thể hiện rõ tại Chỉ thị số 36/CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường công tác thể dục thể thao

trong giai đoạn mới đã khẳng định phương hướng “Phát triển thể dục thể thao là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước, nhằm phát huy nhân tố con người, công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân dân, đạo đức lối sống lành mạnh làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt vị trí xứng đáng trong hoạt động thể thao quốc tế trong sạch về mặt đạo đức, phong phú về mặt tinh thần, hoàn thiện về mặt thể chất” [5]

Quyết định số 14/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 03/5/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo

dục và Đào tạo về công tác GDTC và y tế trong nhà trường đã nêu rõ “GDTC và y tế trong trường học là hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên” Các hình thức hoạt động GDTC được thực hiện trong giờ học môn thể dục, sức khoẻ và các hoạt động thể dục, thể thao, y tế trong trường học; bao gồm: giờ học nội khoá: giờ học môn thể dục, sức khoẻ theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với các bậc học, cấp học; hoạt động thể dục, thể thao ngoại khoá theo kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lý giáo dục [7]

Chỉ thị số 17 CT/TW ngày 23/10/2002 về phát triển Thể dục thể thao đến năm

2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định “Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao ở trường học, tiến tới đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng GDTC; xem đây

là một tiêu chí công nhận trường chuẩn quốc gia” [4]

Tại Điều 20 Luật Thể dục Thể thao năm 2006 quy định “GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động

Trang 7

cơ bản cho người học thông qua các bài tập và TCVĐ, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” [54]

Nghị định số 11/2015/NĐ-CP ngày 31/01/2015 quy định về GDTC và hoạt

động thể thao trong nhà trường “GDTC trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [12]

Theo Đề án tổng thể phát triển GDTC và thể thao trường học giai đoạn 2016 –

2020, định hướng đến năm 2025 thì “Nâng cao chất lượng, hiệu quả GDTC và thể thao trường học nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể lực toàn diện, trang bị kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản và hình thành thói quen tập luyện thể dục, thể thao thường xuyên cho trẻ em, học sinh, sinh viên; gắn GDTC, thể thao trường học với giáo dục ý chí, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống; đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí, lành mạnh cho trẻ em, học sinh, sinh viên, đồng thời góp phần phát hiện, đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao cho đất nước” [70]

1.1.2 Quan điểm về giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo

GDTC là nội dung vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của trẻ cả về nhân cách và thể chất; đồng thời GDTC là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng

và Nhà nước nhằm đổi mới nền giáo dục Việt Nam

Theo tinh thần của Chỉ thị số 153-CP ngày 12/8/1966 của Hội đồng Chính phủ

thì “Giáo dục trẻ em từ 3 đến 7 tuổi, bằng cách tổ chức vui chơi mà giáo dục cho trẻ những đức tính tốt, những tập quán tốt, chăm sóc sức khỏe, tập cho các cháu vừa chơi vừa học, chuẩn bị cho các cháu vào trường phổ thông Giáo dục mẫu giáo tốt mở đầu cho một nền giáo dục tốt” [26]

Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 11/01/1979 của Bộ Chính trị khoá IV về cải

cách giáo dục nêu rõ mục tiêu “Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho tới lúc trưởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con

Trang 8

7

người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện” [6] Cải

cách toàn diện nền giáo dục là một yêu cầu rất cần thiết và cấp bách và là nhu cầu thực tiễn đặt ra vào thời điểm đó

Theo Điều 23, Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ “Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” Trong đó, “Nội dung GDMN phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo

và người trên; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc

tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ” [56]

Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 23/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc

phê duyệt Đề án “Phát triển GDMN giai đoạn 2006 – 2015” đã nhấn mạnh “Xây dựng

và triển khai chương trình GDMN mới theo hướng tích hợp các nội dung chăm sóc, giáo dục theo chủ điểm, tổ chức các hoạt động cho trẻ, đặc biệt là hoạt động vui chơi phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi và yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ” [68]

Dựa trên nội dung của Luật Giáo dục năm 2005 và Quyết định số 149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số

17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 về chương trình GDMN xác định “Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học bằng chơi” Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ” [8]

nghĩa là khi lựa chọn, tổ chức các TCVĐ phải gắn với đặc điểm tâm sinh lý, phù hợp với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ

Theo Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 ngày 13/06/2012 của Thủ

tướng Chính phủ nêu rõ “Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước 6 tuổi, tạo

Trang 9

cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ Đến năm 2020 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục bằng những hình thức thích hợp” [69]

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định và nêu rõ

các quan điểm về giáo dục, đào tạo, trong đó nhấn mạnh “Đối với GDMN, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp một Hoàn thành phổ cập GDMN cho trẻ

5 tuổi, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020 Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển GDMN dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục” [18]

Chỉ thị số 2699/CT-BGDĐT ngày 08/8/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2017 – 2018 của ngành Giáo dục, theo đó phương hướng

chung đối với GDMN là “tiếp tục đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” [11]

Tại Điều 23, Luật Giáo dục năm 2019 nêu rõ “GDMN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi GDMN nhằm phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một” [55]

Chăm lo giáo dục phát triển toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm

mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong đào tạo nguồn nhân lực tương lai của đất nước Trong đó, GDTC và thể thao trường học được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm nhất là GDMN Với hệ thống các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, quyết định,… của Đảng và Nhà nước đã hoàn thiện, đồng bộ,

có tính thống nhất, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện trong thực tiễn

Trang 10

Theo Corbin và các cộng sự thì hoạt động thể chất được định nghĩa là “sự vận động cơ thể làm gia tăng đáng kể sự tiêu hao năng lượng, được thực hiện thông qua việc co các cơ xương” [91] Tương tự, theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, hoạt động thể chất “là các vận động cơ thể có sử dụng năng lượng” [98] Như vậy, hoạt động thể

chất chỉ đơn thuần đề cập đến sự vận động cơ thể mà không có mục đích từ trước; hạn chế trong việc sử dụng phương pháp, phương tiện khi hoạt động, đồng thời không có vai trò rõ ràng của nhà giáo dục và người được giáo dục, không gắn liền với hoạt động đánh giá Điều này chính là điểm khác biệt cơ bản giữa hoạt động thể chất và hoạt động GDTC

Có thể thấy, thuật ngữ “giáo dục thể chất” thường đi kèm với thuật ngữ “hoạt động” Do đó, phần lớn các tác giả thường định nghĩa “hoạt động GDTC” gọi tắt là GDTC như sau:

- Theo tác giả Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn thì “Hoạt động GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người Tổng hợp quá trình đó xác định khả năng thích nghi thể lực của con người GDTC được chia thành hai mặt riêng biệt, dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động” [76]

- Theo Bộ Giáo dục New Zealand: “ oạt động GDTC bao gồm các hoạt động

có sự vận động về cơ thể mà một người nào đó tham gia dưới một sự huấn luyện cụ thể” [94]

- Theo Rico Meneghini, “Hoạt động GDTC, một phần không thể thiếu trong quá trình giáo dục tổng thể, là một lĩnh vực hướng đến việc phát triển các công dân

Trang 11

có sức khỏe về thể chất, tinh thần, và cảm xúc xã hội thông qua việc sử dụng các hoạt động thể chất được chọn lọc nhằm đạt được các mục tiêu này” [95]

- Trường Britannica, hoạt động GDTC là thuật ngữ dùng để chỉ bất kỳ một hoạt động tiêu hao năng lượng nào được tạo ra bởi các yêu cầu của nhà giáo dục trong đó

có chuyển động cơ thể thông qua các cơ xương Theo định nghĩa này, hoạt động GDTC bao gồm toàn bộ phạm vi hoạt động được yêu cầu từ các mức hoạt động thể chất rất thấp khi nghỉ ngơi đến các hoạt động sử dụng sức tối đa [90]

- Tác giả Nguyễn Nam, hoạt động GDTC là hình thức giáo dục được đào tạo một cách bài bản có hệ thống Trong đó các môn học chủ yếu là dạy học sinh, sinh viên vận động thông qua các động tác có nhịp điệu nhằm khai thác các tố chất vận động tiềm ẩn bên trong con người Qua đó để xác định được những khả năng thích nghi thể lực của con người, cải thiện sức khỏe tinh thần

- Theo Nguyễn Thanh Đề, hoạt động GDTC không chỉ là hoạt động dạy học sinh xếp hàng, đội hình đội ngũ, mà còn là bộ môn chuyên biệt, dạy học vận động và phát triển có chủ đích các tố chất của con người GDTC là một yếu tố không thể thiếu trong các yếu tố: đức, trí, thể, mĩ nhằm phát triển con người cân đối, toàn diện [44]

- Tác giả Lâm Tuyết Thúy, hoạt động GDTC là một quá trình sư phạm nhằm hoàn thiện hình thái, chức năng cơ thể con người Đặc điểm nổi bật của hoạt động GDTC là quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực [72]

Xuất phát từ định nghĩa hoạt động và các định nghĩa về hoạt động GDTC,

nghiên cứu xác lập định nghĩa hoạt động GDTC như sau: “Hoạt động GDTC là sự tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục, trong đó người giáo dục tổ chức và điều khiển hoạt động của người được giáo dục nhằm phát triển các vận động cơ bản và các tố chất vận động tạo ra sự phát triển thể chất”

1.2.1.2 Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động GDTC

Hai nhiệm vụ cơ bản của hoạt động GDTC là giúp người được giáo dục phát triển các hoạt động vận động cơ bản (dạy học động tác) và phát triển có chủ định các

tố chất vận động của con người Do đó, GDTC được chia thành hai mặt riêng biệt là dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động Tùy vào yêu cầu của từng cấp học, chương trình học sẽ tập trung vào từng nhiệm vụ cụ thể nêu trên

Trang 12

11

- Dạy học động tác: là quá trình trang bị những kỹ năng, kỹ xảo vận động (đi,

bò, chạy, nhảy, ném…) với mục tiêu là thực hiện đúng động tác ổn định vững chắc, tính nhịp điệu cao làm phương tiện rèn luyện thể chất cho người tập

- Giáo dục các tố chất vận động (tố chất thể lực): là quá trình riêng biệt trong việc phát triển thể lực con người và thường được chia thành các loại cơ bản bao gồm: sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khả năng phối hợp Muốn đạt hiệu quả cao trong giáo dục các tố chất vận động phải lựa chọn các phương tiện và phương pháp tập luyện để tạo nên lượng vận động phù hợp với trình độ thể lực và tâm lý lứa tuổi người tập

Như vậy, hoạt động GDTC có nhiệm vụ cơ bản là dạy học động tác và giáo dục

tố chất vận động của con người Hai nhiệm vụ này có liên quan chặt chẽ, làm tiền đề cho nhau thậm chí có thể chuyển hóa Tuy nhiên chúng không bao giờ đồng nhất, giữa chúng có quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển thể chất và GDTC khác nhau [76] Luận án khai thác hai nhiệm vụ này trong hoạt động GDTC để làm cơ sở nghiên cứu

1.2.2 Hoạt động giáo dục thể chất của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

1.2.2.1 Định nghĩa

Trường mầm non là cơ sở kết hợp giữa nhà trẻ và MG, nhận trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi Trẻ MG 5 – 6 tuổi thường được gửi ở các trường mầm non

Xuất phát từ định nghĩa hoạt động GDTC, luận án xác lập định nghĩa hoạt động

GDTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi như sau “Hoạt động GDTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi là sự tác động qua lại giữa GV và trẻ MG 5 – 6 tuổi, trong đó GV tổ chức và điều khiển hoạt động của trẻ MG 5 – 6 tuổi nhằm giúp trẻ phát triển các vận động cơ bản và các tố chất vận động tạo ra sự phát triển thể chất”

Như vậy, hoạt động GDTC ở trẻ MG 5 – 6 tuổi cũng hướng vào hai nhiệm vụ chung của hoạt động GDTC sao cho phù hợp lứa tuổi Cụ thể dạy học động tác ở đây không phải là tiết dạy như học sinh phổ thông mà là tổ chức hoạt động theo hình thức chơi mà học, học mà chơi Bên cạnh đó, hoạt động GDTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi còn giúp trẻ bảo vệ và tăng cường sức khỏe, hình thành một số thói quen vệ sinh ban đầu cho trẻ:

Trang 13

- Bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cho trẻ: ở tuổi này cơ thể trẻ phát triển rất

nhanh, nhưng sức đề kháng còn yếu, các cơ quan còn non yếu, cần phải được chăm sóc đặc biệt nhằm đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ diễn ra đúng lúc, nâng cao khả năng miễn dịch đối với những bệnh trẻ thường mắc phải Nhiệm vụ này bao gồm: nuôi dưỡng trẻ một cách khoa học; rèn luyện một cách khoa học (các bài tập vận động, trò chơi, dạo chơi…)

- Phát triển và hoàn thiện các vận động cơ bản của trẻ: nhờ có tính thích nghi

của hệ thần kinh, khi sức khoẻ của trẻ được bảo vệ và tăng cường, kỹ năng vận động của trẻ được hình thành, phát triển và hoàn thiện dần Đó là những vận động đứng, đi, chạy, nhảy, ném, leo trèo và vận động của bàn tay, ngón tay, khả năng phối hợp thị giác, thính giác

- Phát triển các tố chất vận động cho trẻ ở mức độ cơ bản: bao gồm sức nhanh,

sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khả năng phối hợp vận động Các tố chất này phát triển

sẽ giúp trẻ dễ dàng thực hiện các vận động

- ình thành một số thói quen văn hoá vệ sinh ban đầu cho trẻ: đó là những

thói quen ăn uống, vệ sinh, sinh hoạt (tắm rửa, chơi tập); thói quen tự phục vụ… Những thói quen này được hình thành trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc và rèn luyện theo mọi chế độ sinh hoạt mang tính khoa học, diễn ra một cách thường xuyên, liên tục và ổn định

Hoạt động GDTC trong trường mầm non được xem là một hoạt động giáo dục Hiện nay hoạt động GDTC ngày càng có ý nghĩa quan trọng bởi cơ thể trẻ giai đoạn này còn đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện về các hệ thần kinh, cơ xương,

bộ máy hô hấp, bên cạnh đó một số trẻ vẫn chưa mạnh dạn, tự tin tham gia các hoạt động GDTC Nếu giáo dục và vận động không đúng cách sẽ dễ dẫn đến sự phát triển sai lệch, không cân đối về cơ thể trẻ, vì vậy GDTC đúng cách là điểm tựa giúp trẻ phát triển toàn diện

1.2.2.2 Ý nghĩa

Hoạt động GDTC là một hoạt động quan trọng trong giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện, làm cho con người được phát triển toàn diện để có thể tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội

Trang 14

13

Theo các tác giả Ballard và các cộng sự thì hoạt động GDTC của trẻ MG nói chung và trẻ MG 5 – 6 tuổi nói riêng nhằm giúp trẻ:

- Giảm nguy cơ thừa cân, tiểu đường và các bệnh mãn tính khác,

- Giúp trẻ tự tin hơn,

- Giúp giảm nguy cơ trầm cảm và giảm tác hại của stress,

- Giúp trẻ chuẩn bị để trở thành các thành viên khỏe mạnh, hữu ích cho xã hội,

- Giúp nâng cao chất lượng cuộc sống nói chung [89]

Lứa tuổi MG nói chung và MG 5 – 6 tuổi nói riêng, hoạt động GDTC là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của gia đình và trường mầm non Bởi lẽ, ở lứa tuổi này, quá trình tăng trưởng diễn ra rất nhanh (nhanh nhất trong cuộc đời con người), nhưng cơ thể của trẻ dễ chịu ảnh hưởng của tác động bên ngoài, sức đề kháng của trẻ còn kém nên dễ mắc các bệnh nguy hiểm

Sự phát triển thể chất của trẻ ở lứa tuổi này đặt cơ sở cho sự phát triển thể chất sau này của trẻ, đồng thời nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tâm lý và nhân cách của trẻ Cơ thể khoẻ mạnh giúp trẻ trở nên hoạt bát, hồn nhiên hơn và có những xúc cảm, tình cảm lành mạnh với bản thân, với người khác và với thế giới xung quanh Ngoài ra, hoạt động GDTC còn gắn liền với giáo dục trí tuệ cho trẻ Bởi lẽ, cơ thể trẻ phát triển khoẻ mạnh, hệ thần kinh cân bằng, các giác quan phát triển… sẽ giúp cho trẻ tích cực hoạt động, tích cực tiếp xúc và làm quen với môi trường xung quanh Nhờ đó, hoạt động nhận thức của trẻ thêm phong phú và chính xác, tư duy trở nên nhạy bén Mặt khác, trẻ khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, khéo léo sẽ say sưa, hứng thú hơn trong quá trình tri giác cái đẹp của thế giới xung quanh (đồ dùng, đồ chơi…) và tự nó

có khả năng tạo ra cái đẹp và sống theo cái đẹp (biết giữ gìn đồ chơi sạch đẹp, biết gọn gàng, ngăn nắp,…) Ngoài ra, trẻ khoẻ mạnh có thể lao động, yêu thích làm những công việc tự phục vụ mình và giúp đỡ bạn bè, người lớn xung quanh, góp phần phát triển nhân cách toàn diện

Như vậy, hoạt động GDTC cho trẻ MG nói chung và trẻ MG 5 – 6 tuổi nói riêng là rất quan trọng Do đó, cha mẹ và những người nuôi dạy trẻ cần phải đặt hoạt động GDTC là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ

1.2.2.3 Hình thức hoạt động giáo dục thể chất

Trang 15

Hoạt động GDTC cho trẻ MG gồm: thể dục buổi sáng; giờ học thể dục; thể dục giữa giờ; TCVĐ; dạo chơi tham quan; tổ chức ngày hội, ngày lễ thể dục thể thao [51] Mỗi hình thức đều có những nhiệm vụ và tầm quan trọng riêng nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và có tác dụng hỗ trợ cho nhau

- Thể dục buổi sáng: trẻ thực hiện các động tác của bài tập phát triển chung, có thể tập theo nhạc, tập với các dụng cụ như cờ, nơ, gậy, vòng,… và được tập theo trình tự: động tác phát triển cơ hô hấp, cơ tay vai, cơ chân, cơ bụng – lườn và bật nhảy Qua bài tập thể dục buổi sáng, trẻ được thở không khí trong lành, hít thở sâu, tăng cường quá trình trao đổi chất và tuần hoàn cho cơ thể, giúp các khớp, dây chằng mềm dẻo, linh hoạt, đồng thời hỗ trợ cho hoạt động hàng ngày của trẻ thêm nhịp nhàng, nhanh nhẹn, giảm động tác thừa và tạo cho trẻ tâm trạng sảng khoái, vui tươi đón ngày hoạt động mới Những động tác của bài tập thể dục buổi sáng cũng là một trong các nội dung kết hợp của giờ học thể dục

- Giờ học thể dục: là hoạt động nhằm cung cấp cho trẻ những kiến thức, kỹ năng

vận động cơ bản cần thiết trong cuộc sống Vận động cơ bản có ý nghĩa lớn trong việc hình thành tư thế đúng, củng cố tất cả các nhóm cơ bắp trong cơ thể và nâng cao sự hoạt động, khả năng định hướng trong không gian, phát triển đúng các quá trình tâm – sinh lý của trẻ, góp phần giáo dục thẩm mỹ cho trẻ, giáo dục về cái đẹp khi vận động, tính chính xác và tính biểu cảm Trong giờ học thể dục, GV phải thực hiện đủ ba phần: khởi động, trọng động, hồi tĩnh Trong phần trọng động, ngoài việc cung cấp kiến thức, kỹ năng, vận động mới cho trẻ, GV còn cần phải thực hiện thêm hai nội dung kết hợp là bài tập phát triển chung và TCVĐ

- Thể dục giữa giờ: được tiến hành xen kẽ giữa các hoạt động chuyển tiếp giữa các hoạt động học và vui chơi, sau khi ngủ dậy Thể dục giữa giờ làm thay đổi tính chất hoạt động và tư thế của trẻ bằng cách vận động tích cực, kích thích tất cả mọi bộ phận trên cơ thể loại trừ mệt mỏi Có thể tiến hành theo hình thức trò chơi hoặc thực hiện một số động tác phát triển chung để tăng cường vận động cơ bắp

- TCVĐ (chuyên biệt): được tổ chức để củng cố, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận động, hình thành điều kiện thuận lợi để phát triển, rèn luyện các tố chất vận động, phát triển tư duy, ngôn ngữ, giáo dục các phẩm chất đạo đức, ý chí, ý thức tổ chức kỷ luật cho trẻ

Trang 16

15

- Dạo chơi tham quan: là hình thức nghỉ ngơi tích cực, trẻ được hít thở không khí trong lành, rèn luyện thể lực, kỹ năng vận động, tố chất thể lực trong điều kiện tự nhiên, trong sân trường, hay ở một địa điểm ngoài trường, có thể tận dụng những địa hình sẵn

có hoặc được tạo nên để trẻ có thể vận dụng các vận động cơ bản vào các tình huống

khác nhau, qua đó giáo dục trẻ tính tập thể, lòng dũng cảm, chấp hành tổ chức kỷ luật

Nội dung tham quan bao gồm các TCVĐ, tập thể dục, nghỉ ngơi, đi dạo chơi với các dụng cụ, các đồ chơi mang theo hoặc tổ chức thi đua, thi đấu Trên đường đi, GV cho phép trẻ nhảy qua rãnh nước nhỏ, đi trên gờ tường thấp, trên cây đổ nghiêng phù hợp Có thể hướng dẫn trẻ quan sát các hiện tượng xung quanh, cuối buổi đi dạo, có thể cho trẻ chơi một TCVĐ nhẹ nhàng để tập trung trẻ trước khi ra về

- Trong các ngày hội, ngày lễ, trẻ được thực hiện các vận động theo một trình tự nhất định, tất cả các trẻ được tham gia các hoạt động thể dục, thể thao một cách tích cực, hào hứng, sôi nổi Qua đó, thúc đẩy các hoạt động tập thể, gây không khí náo nức cho trẻ

vì trẻ được tham gia “biểu diễn”, “thi tài” của tập thể lớp mình cho các lớp khác xem, phát triển tính linh hoạt, mạnh dạn hơn, tinh thần tập thể và để lại cho trẻ cảm xúc tươi vui, phấn khởi, óc thẩm mĩ về các “vận động viên tí hon”

Mỗi hình thức hoạt động GDTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi nêu trên đều có ý nghĩa

và tác dụng riêng biệt, nhưng tất cả các hình thức đó đều có tác dụng hỗ trợ cho nhau, trong đó giờ học thể dục là hoạt động cơ bản nhất TCVĐ được sử dụng trong nhiều hình thức GDTC cho trẻ MG 5 – 6 tuổi bao gồm TCVĐ trong giờ học thể dục, TCVĐ

chuyên biệt và TCVĐ được tổ chức trong dã ngoại tham quan [51] Trong giới hạn

phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ lựa chọn ứng dụng TCVĐ trong hình thức giờ học thể dục và giờ TCVĐ (chuyên biệt)

1.3 Lý luận về trò chơi vận động của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất

1.3.1 Định nghĩa trò chơi vận động

1.3.1.1 Định nghĩa trò chơi

Trò chơi là hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với mọi người, trò chơi có chứa đựng chủ đề, nội dung nhất định, có những quy tắc nhất định mà người tham gia phải tuân thủ [2] Theo Từ điển Tiếng Việt, chữ “Trò” được hiểu là một hình thức mua vui, bày ra trước mặt mọi người, chữ “Chơi” là một từ chung để chỉ những hoạt động lúc

Trang 17

hiểu là những hoạt động làm thỏa mãn nhu cầu của con người, trước hết về vui chơi, giải trí [81]

Theo triết gia Heraclitus hình dung trò chơi như “Tiến trình chơi là một đứa trẻ đang chơi thực hiện những nước đi của nó trên bàn chơi” [93] Cùng với triết gia

Heraclitus định nghĩa trò chơi trở thành một định nghĩa then chốt trong hệ thống triết

học của Plato Theo Plato quan niệm “Trò chơi (game) là các hoạt động được cấu trúc hóa với những chỉ dẫn, luật lệ và mục tiêu” [92]

Theo Từ điển Oxford, “Game is an activity that you do to have fun, often one that has rules and that you can win or lose” có thể hiểu như sau: Trò chơi là một hoạt

động mang tính quy tắc và đem lại niềm vui cho người chơi, trong khi chơi, người chơi có thể thắng hoặc thua [96]

Theo tác giả Lê Thị Liên Hoan,“Trò chơi là phương pháp giáo dục thực hiện hiệu nghiệm nhất đối với việc hình thành nhân cách” [27]

Như vậy, trò chơi là các hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu giải trí đa dạng của con người

1.3.1.2 Định nghĩa vận động

Vận động là một thuật ngữ được hiểu theo nhiều cách khác nhau, trong đó chủ

nghĩa duy vật biện chứng quan niệm “Vận động không chỉ là sự rời chỗ của vật chất trong không gian, mà cả những biến đổi về vật chất của vật chất nữa, nó là phương thức tồn tại của vật chất” [50]

Theo tác giả Hoàng Phê, “Vận động là hoạt động thay đổi tư thế hay vị trí của thân thể hoặc bộ phận thân thể” [48]

Có thể thấy, vận động có trong tất cả các hoạt động của con người Vận động là

sự hoạt động tích cực của các cơ quan vận động của con người, là phương tiện cơ bản đặc biệt của quá trình GDTC GDTC chủ yếu thông qua hoạt động tự vận động

1.3.1.3 Định nghĩa trò chơi vận động

Theo tác giả Đinh Văn Lẫm và Đào Bá Trì thì “TCVĐ là hoạt động của con người, được cấu thành bởi hai yếu tố: vui chơi giải trí, thỏa mãn nhu cầu về mặt tinh thần; giáo dục và giáo dưỡng thể chất góp phần giáo dục đạo đức, ý chí, lòng dũng cảm, tinh thần đoàn kết… hình thành và phát triển các tố chất, kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống” [36]

Trang 18

17

Theo tác giả Lê Thị Liên Hoan, “TCVĐ là một trong những phương tiện và phương pháp quan trọng để hình thành và phát triển thể lực cũng như để giáo dục toàn diện đối với trẻ mầm non” [27]

Trong quyển “Phát triển TTC vận động cho trẻ mầm non”, tác giả Đặng Hồng

Phương nhìn nhận “TCVĐ là những trò chơi trong đó lượng vận động chiếm ưu thế Những chủ đề của trò chơi thường được lấy từ cuộc sống thực tế xung quanh và thể hiện những hình ảnh về các hiện tượng thiên nhiên, xã hội, các hành vi của con vật

Do đó, các TCVĐ mang tính hiện thực” [50]

Tác giả Lê Thu Hương cho rằng “TCVĐ là loại trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi Đó là loại trò chơi đòi hỏi trẻ phải phối hợp các thao tác vận động để giải quyết các nhiệm vụ ít nhất 2 - 3 tháng vận động được đặt ra như

là nhiệm vụ chơi, qua đó thể chất trẻ được phát triển” [28]

Trên cơ sở tổng hợp nhiều nguồn tài liệu về định nghĩa trò chơi, vận động,

TCVĐ, luận án xác lập thuật ngữ “TCVĐ là một trò chơi có quy định, có lượng vận động chiếm ưu thế, thường do người lớn hoặc trẻ em sáng tạo ra cách để chơi, trong khi chơi đòi hỏi phải huy động, phối hợp hoạt động của quá trình nhận thức

và vận động nhằm phát triển thể chất cho trẻ”

1.3.2 Định nghĩa trò chơi vận động của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất

Xuất phát từ định nghĩa TCVĐ, TCVĐ của trẻ MG 5 – 6 tuổi được luận án xem

xét như sau: “TCVĐ của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC là một trò chơi

có quy định, có lượng vận động chiếm ưu thế, do GV hoặc trẻ MG 5 – 6 tuổi sáng tạo ra cách để chơi, trong khi chơi đòi hỏi phải huy động, phối hợp hoạt động của quá trình nhận thức và vận động của trẻ MG 5 – 6 tuổi nhằm phát triển thể chất cho trẻ”

Có thể đề cập đến một số điểm chính yếu trong định nghĩa này như sau:

- TCVĐ của trẻ MG 5 – 6 tuổi có quy định

- TCVĐ của trẻ MG 5 – 6 tuổi có lượng vận động chiếm ưu thế

- TCVĐ của trẻ MG 5 – 6 tuổi đa phần do GV học tập, tái tạo hoặc sáng tạo Một vài trường hợp khác, trẻ MG 5 – 6 tuổi có thể sáng tạo ra cách để chơi trò chơi

Trang 19

- TCVĐ của trẻ MG 5 – 6 tuổi đòi hỏi phải huy động, phối hợp hoạt động của quá trình nhận thức và vận động

- TCVĐ của trẻ MG 5 – 6 tuổi nhằm đạt được mục tiêu GDTC ở trẻ

1.3.3 Đặc điểm về trò chơi vận động của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Trong chương trình GDTC ở lứa tuổi MG, TCVĐ được sử dụng khá thường xuyên bởi TCVĐ có những đặc điểm cơ bản phù hợp với đặc điểm của trẻ và hoạt động chủ đạo của lứa tuổi là hoạt động vui chơi

Thứ nhất, TCVĐ mang tính hiện thực

Hầu hết các TCVĐ áp dụng cho trẻ MG 5 – 6 tuổi là những trò chơi mang tính chủ đề phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và khả năng tư duy, tưởng tượng của trẻ Nhưng chủ đề trong TCVĐ thường được lấy từ cuộc sống thực tế xung quanh và biểu hiện có hình tượng như bắt chước những hoạt động lao động sản xuất, sản xuất, sinh hoạt,… thông qua các trò chơi như đi săn, chèo thuyền, đánh lô cốt,…

Thứ hai, TCVĐ là sự hoạt động của các bộ phận trên cơ thể trẻ

Trong hoạt động GDTC cho trẻ, luôn đan xen những chủ đề mang tính sáng tạo, đòi hỏi khi tham gia trò chơi, trẻ phải tập trung chú ý, phân tích và tổng hợp những điều GV giảng dạy và biến sự hiểu biết đó thành những hoạt động của mình Cùng với hoạt động của bộ máy phân tích và bộ máy vận động là các hoạt động của hàng loạt các cơ quan, bộ phận khác trên cơ thể của trẻ được khai thác

Thứ ba, TCVĐ mang tính sáng tạo

Chủ đề, quy tắc chơi tuy đã được xác định, nhưng chỉ mới đề ra hướng chủ yếu nhất, ngoài ra các trẻ phải tự giải quyết các tình huống nảy sinh một cách nhanh trí, sáng tạo và khéo léo Ví dụ, đối với trò chơi mèo đuổi chuột, chỉ quy định chuột phải chạy trốn, mèo thì đuổi Tuy nhiên, cách chạy trốn, chạy ra sao hoặc chạy đuổi bắt như thế nào là do trẻ tự giải quyết đồng nghĩa với việc trẻ phải suy nghĩ lựa chọn cách chạy một cách nhanh trí và sáng tạo

Thứ tư, TCVĐ mang tính tự giác

Sự thay đổi thường xuyên và bất ngờ của các tình huống trong khi chơi là những điều rất hấp dẫn và lôi cuốn trẻ tham gia trò chơi một cách say sưa và hoàn toàn tự giác Một TCVĐ tích cực là trò chơi khiến trẻ tham gia một cách tự nguyện,

Trang 20

1.3.4 Phân loại trò chơi vận động

TCVĐ rất phong phú, đa dạng vì vậy có nhiều quan điểm phân loại khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại:

Dựa vào nguồn gốc xuất hiện thì TCVĐ được chia thành 2 nhóm:

- Nhóm TCVĐ dân gian: trò chơi kéo co, bịt mắt bắt, mèo đuổi chuột, chi chi

chành chành, rồng rắn, kéo cưa lừa xẻ

- Nhóm trò chơi mới: là trò chơi được các nhà giáo dục thiết kế, xây dựng như

chạy tiếp cờ, chó sói xấu tính, thỏ đánh trống, bỏ khăn, bắt chước tạo dáng, ném trúng

đích [23]

Tác giả Phan Thị Thu phân loại TCVĐ như sau:

- TCVĐ có chủ đề: trong các trò chơi có cốt truyện, nội dung và đặc điểm của những hành động được thực hiện trong trò chơi liên quan đến những hiểu biết của trẻ

về các hiện tượng trong cuộc sống TCVĐ này tác động gián tiếp lên hành vi của trẻ

qua hình tượng nhân vật với đặc điểm vận động quan hệ giữa chúng

Ví dụ: mèo phải chạy nhanh để bắt, chuột thì chạy trốn nhanh để không bị bắt

- TCVĐ không có chủ đề: là những trò chơi không có cốt truyện dẫn dắt hành động người chơi

Ví dụ: trò chơi với các vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy, ném, đẩy,…

- TCVĐ vui nhộn, giải trí như bóng chuyền, bóng đá, cầu lông [71]

Tác giả Trần Đồng Lâm phân chia TCVĐ theo các cách sau:

Trang 21

- Phân loại theo khối lượng vận động

Dựa vào mức độ cao thấp, nặng nhẹ của những hoạt động tác động vào cơ thể khi trẻ tham gia TCVĐ Có 3 loại:

+ TCVĐ có khối lượng vận động không đáng kể (ví dụ như trò chơi bịt mắt bắt

dê, chim bay cò lả, …)

+ TCVĐ có khối lượng vận động trung bình (ví dụ như trò chơi rồng rắn, dung dăng dung dẻ,…)

+TCVĐ có khối lượng vận động cao (ví dụ như trò chơi kéo co, chuyền bóng tiếp sức, lò cò,…)

- Phân loại theo mức độ phức tạp của trò chơi

+ TCVĐ không chia đội gồm loại có người điều khiển và không có người điều khiển, trong đó có trường hợp toàn bộ số người chơi tham dự cùng một lúc và trường hợp số người chơi tham dự lần lượt nối tiếp nhau Ví dụ như trò chơi: chi chi chành chành, bật ô, bắt chước tạo dáng, lùa vịt, sóng đánh, tàu hỏa chạy

+ TCVĐ chia thành đội có yêu cầu số người chơi của các đội phải ngang nhau, thậm chí số lượng các trẻ gái và trẻ trai của các đội cũng phải bằng nhau Ví dụ như trò chơi: ai nhanh hơn, vượt chướng ngại vật,…

- Phân loại theo những động tác cơ bản của TCVĐ

Cách phân loại này dựa vào các động tác cơ bản như bò, đi, chạy, nhảy, ném, mang, vác, thăng bằng, định hướng và trò chơi phối hợp

- Phân loại theo tố chất thể lực cơ thể

Dựa vào tố chất thể lực của cơ thể, người ta phân chia thành TCVĐ về tốc độ,

về sức mạnh, sức bền, sự khéo léo linh hoạt,…[34]

Trong phạm vi của luận án, tác giả lựa chọn cách phân loại TCVĐ theo các tố chất thể lực làm cơ sở cho việc lựa chọn các TCVĐ để tiến hành nghiên cứu

1.3.5 Các bước tổ chức trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Để tổ chức TCVĐ cho trẻ đạt hiệu quả cao cần được tiến hành qua các bước sau [35], [45], [63]:

Bước 1: Lựa chọn TCVĐ

Để tổ chức cho trẻ chơi một TCVĐ thì GV phải lựa chọn TCVĐ dựa vào mục đích, yêu cầu của trò chơi Khi lựa chọn TCVĐ, GV cần chú ý đến các đặc điểm tâm

Trang 22

21

sinh lý của trẻ, mức độ an toàn của trò chơi cũng như điều kiện cơ sở vật chất Sau khi

đã chọn được trò chơi, GV cần biên soạn thành giáo án dạy học từng bước cho trẻ

Bước 2: Chuẩn bị địa điểm, phương tiện để tổ chức cho trẻ chơi

Sau khi chọn được TCVĐ, GV cần chuẩn bị địa điểm, phương tiện để tổ chức trò chơi cho trẻ Các dụng cụ chơi phải phù hợp với nội dung chơi và địa điểm tổ chức chơi phải an toàn, không có bất cứ yếu tố gây nguy hiểm nào cho trẻ

Bước 3: Tổ chức đội hình cho trẻ chơi

- Tập hợp trẻ theo các đội hình khác nhau và ổn định tổ chức, phân chia đội (nếu trò chơi phải chia đội) Tùy tính chất của trò chơi, GV có thể tổ chức trò chơi theo nhiều đội hình: đội hình hàng dọc, đội hình hàng ngang, đội hình một hay hai vòng tròn,…

- Chọn vị trí đứng của GV để giải thích và điều khiển trò chơi

Vị trí đứng phải đảm bảo trẻ nghe rõ lời của GV nói, nhìn rõ được GV làm mẫu

và GV phải quan sát được toàn bộ trẻ chơi, nhưng không gây cản trở cuộc chơi của trẻ

- Chọn đội trưởng cho từng đội hoặc các trẻ tham gia đóng vai trò của cuộc chơi

Bước 4: Giới thiệu và giải thích trò chơi

GV cần nắm vững các quy định của TCVĐ để giới thiệu và giải thích trò chơi cho trẻ Nếu trẻ chưa biết trò chơi đó, thì GV cần giới thiệu, giải thích và làm mẫu tỉ

mỉ, nhưng nếu trẻ đã biết hoặc đã nắm vững trò chơi thì cách giới thiệu và giải thích đơn giản hơn Khi giải thích trò chơi cho trẻ, GV nên nói ngắn gọn, rõ ràng, làm mẫu sao cho tất cả trẻ đều nghe và hiểu được cách chơi

Thông thường khi giới thiệu và giải thích trò chơi nên tiến hành theo các bước sau: gọi tên trò chơi, quy định và cách chơi, yêu cầu về tổ chức kỷ luật, cách đánh giá thắng, thua và những điểm cần chú ý khác

Bước 5: Điều khiển trò chơi

Khi điều khiển TCVĐ, GV cần thực hiện các thao tác sau:

- Cho trẻ làm một số động tác khởi động (có thể cho trẻ khởi động trước khi tổ chức đội hình chơi)

- Cho trẻ bắt đầu cuộc chơi

- Theo dõi quá trình chơi

Trang 23

- Điều chỉnh khối lượng vận động của trò chơi

Thao tác này có thể thực hiện bằng nhiều cách:

+ Dùng tiếng vỗ tay, tiếng trống, tiếng reo hò để tăng nhịp điệu trò chơi, rút ngắn hoặc tăng thời gian cuộc chơi

+ Thay đổi phạm vi hoạt động của trò chơi (rút ngắn hoặc tăng cự li, giảm hoặc tăng trọng vật…)

+ Thay đổi số lượng người chơi

+ Thay đổi yêu cầu, mục đích hoặc quy định chơi

+ Nghỉ giải lao (nếu cần giảm khối lượng vận động)

- Đề phòng chấn thương ở những chỗ có nguy cơ hay bối cảnh đông trẻ

Bước 6: Đánh giá kết quả cuộc chơi

Sau mỗi lần hoặc một số lần cho trẻ chơi, GV cần nhận xét, đánh giá kết quả cuộc chơi Dựa vào yêu cầu, quy định chơi, kết quả cuộc chơi GV đánh giá và phân loại thắng thua thật công bằng, rõ ràng và khách quan

1.4 Lý luận về tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất

Theo A.N Lêônchiev, A.A Liublinxkaia “TTC chỉ sự sẵn sàng hoạt động và con người tích cực có ý nghĩa là con người đang ở trạng thái hoạt động Nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với TTC, nó chính là nguồn gốc, là động lực của TTC” [37],

Trang 24

23

Các tác giả L.M Ackhanghenxki, R Minle,… cho rằng không nên xem xét TTC chỉ là trạng thái hoạt động cũng như không nên tách rời mặt bên trong của TTC với mặt bên ngoài của nó hoặc là sự phát triển TTC chỉ xem xét bằng các đặc trưng số lượng và chất lượng của con người [16]

Theo Từ điển Tiếng Việt, TTC được hiểu theo ba nghĩa sau:

Một là, TTC có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển; trái với tiêu cực

Hai là, TTC là tỏ ra chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra sự biến đổi theo hướng phát triển

Ba là, TTC thể hiện thông qua thái độ hăng hái, nhiệt tình đối với nhiệm vụ, với công việc [48]

Theo Từ điển Oxford, định nghĩa TTC là “activity” nghĩa là chỉ trạng thái hoạt động và tính chủ động [96]

Tác giả Nguyễn Thị Yến Linh định nghĩa “TTC là chủ động trong hoạt động, hăng hái, nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc được giao thông qua đó thúc đẩy phát triển” [39]

Từ những định nghĩa nêu trên có thể thấy TTC có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, TTC là một thành tố tâm lý bên trong của con người và được thể hiện thông qua hoạt động bên ngoài

Thứ hai, TTC gắn liền với hoạt động, mang tính chủ động của chủ thể

Thứ ba, động cơ, nhu cầu, hứng thú hoạt động là động lực thúc đẩy con người hoạt động và là nguồn gốc bên trong của TTC

Thứ tư, TTC là sự cố gắng, nỗ lực giải quyết các nhiệm vụ của chủ thể để đạt được mục đích

Từ các nguồn tài liệu trên, luận án xác lập thuật ngữ TTC trong luận án này

như sau: “TTC là thành tố tâm lý bên trong của con người được thể hiện ra bên ngoài thông qua sự chủ động trong hoạt động, hứng thú, nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc được giao”

Trang 25

1.4.2 Định nghĩa tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất

Điều kiện cơ bản của TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC là sắc thái tình cảm tích cực trong hoạt động vận động, điều này được đảm bảo bằng mức độ

dễ tiếp thu các hình thức của hoạt động GDTC [50] TTC của trẻ được biểu hiện bằng

sự hăng hái, năng động đồng nghĩa với việc trẻ làm chủ hành động của mình

Đối với lứa tuổi MG 5 – 6 tuổi, TTC của trẻ còn phụ thuộc vào những hình thức của hoạt động GDTC Đặc biệt, trong các TCVĐ có yếu tố thi đua, trẻ thường huy động khả năng vận động của mình và đạt kết quả cao hơn so với những bài tập thông thường Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ MG, trong đó TCVĐ

là một thành phần quan trọng phù hợp và gây cảm xúc tích cực cho trẻ MG 5 – 6 tuổi

Xuất phát từ định nghĩa TTC, có thể xác lập định nghĩa TTC của trẻ MG 5 – 6

tuổi trong hoạt động GDTC như sau: “TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC là thành tố tâm lý bên trong của trẻ được thể hiện ra bên ngoài thông qua hứng thú, mong muốn được tham gia giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động GDTC, chủ động, hợp tác, có kỹ năng giải quyết các vấn đề phát sinh để hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong hoạt động GDTC và đặc biệt là sự phát triển các tố chất vận động nhất định”

1.4.3 Biểu hiện tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất

Phân tích từ lý luận về TTC, TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC được biểu hiện như sau:

Biểu hiện 1: Trẻ tỏ ra hứng thú, mong muốn được tham gia giải quyết các nhiệm vụ khi GV tổ chức hoạt động GDTC

Hứng thú là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy TTC của trẻ Hứng thú tạo điều kiện cho trẻ, nỗ lực khám phá, bộc lộ hết những năng lực vốn có của mình Hứng thú tạo nên ở chủ thể khát vọng được tiếp cận và đi sâu vào đối tượng, làm nảy sinh cảm xúc tích cực (say mê, hài lòng, phấn khởi, yêu thích,…) nâng cao sự tập trung chú ý và khả năng làm việc [25]

Usinxki đã nói “Một sự học tập nào mà chẳng có hứng thú gì cả và chỉ tiến hành bằng sức mạnh cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của người

Trang 26

Theo tác giả Trần Văn Điền, thuật ngữ “hứng thú” (interest) được hiểu là “sự thích thú, sự chú ý” [19]

Có thể thấy hứng thú là một biểu hiện quan trọng của TTC Khi trẻ có hứng thú, trẻ sẽ tham gia hoạt động tích cực và có thể mang lại hiệu quả cao hơn Một câu chuyện hấp dẫn, trẻ hứng thú nghe thì trẻ sẽ nhớ nội dung câu chuyện lâu Nghĩa là khi trẻ hứng thú với trò chơi thì khả năng tập trung chú ý, khả năng ghi nhớ của trẻ sẽ tốt hơn

Tác giả P.A Rudick định nghĩa: “Chú ý là xu hướng và tính tập trung của hoạt động tâm lý nhằm vào một đối tượng nào đó” [58]

Theo K.K Platonop thì “Chú ý là sự tập trung ý thức vào một số đối tượng tri giác hoặc đối tượng ghi nhớ, đồng thời tách những đối tượng ấy khỏi những đối tượng khác, là một hành động của ý thức hướng vào một đối tượng nhất định Trong chú ý thể hiện tính lựa chọn của ý thức” [53]

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn định nghĩa “Chú ý là sự tập trung của ý thức vào một hay một nhóm sự vật hiện tượng để định hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh - tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả” [84], [85]

Ở trẻ MG 5 – 6 tuổi việc tập trung chú ý được thể hiện thông qua các hành động như chú ý lắng nghe, chú ý quan sát hướng dẫn của GV Sự tập trung chú ý giúp trẻ trở nên điềm tĩnh và chủ động, nắm bắt nhanh, chính xác các yêu cầu của GV

Ngoài ra, việc trẻ tập trung chú ý còn định hướng giúp trẻ phối hợp linh hoạt các năng lực của bản thân để đưa ra những hành động chính xác và hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chơi

Biểu hiện 2: Trẻ chủ động trong việc giải quyết các nhiệm vụ của GV trong hoạt động GDTC

Trang 27

Tính chủ động của trẻ được thể hiện trong các ý định, nghĩa là trẻ muốn “tự tôi”, hoặc được thực hiện hành động theo ý nghĩ của mình mà không cần đến sự nhắc nhở của GV Tính chủ động xuất phát từ sự tự tin của trẻ Tác giả Rudaki khẳng định

“Tính tự tin chính là trụ cột của tinh thần phong độ, khiến con người cởi mở, lạc quan, làm tiêu trừ và ngăn ngừa sinh sản lòng tự ti, biết xử lý vấn đề một cách quyết đoán, nhanh gọn” Tác giả Trí Đức viết “Tính tự tin là biết tin tưởng vào khả năng phẩm chất của mình, tin tưởng và khả năng to lớn và phẩm chất tốt đẹp của mình có thể đạt được qua rèn luyện trong học tập và lao động Tự tin phải đi đôi với nỗ lực, bền bỉ và kiên trì phấn đấu,… Tự tin là dám chịu trách nhiệm về việc mình làm và chủ động tìm kiếm cách khắc phục mọi hoàn cảnh khó khăn” [74]

Ở trẻ MG 5 – 6 tuổi, sự tự tin trong hoạt động GDTC giúp trẻ mạnh dạn, chủ động tham gia vào TCVĐ, tin tưởng vào những việc mình làm và khả năng của mình, không ngần ngại, không ỷ lại vào người khác, nhanh nhẹn, linh hoạt khi thực hiện các nhiệm vụ chơi mà GV đã giao Bên cạnh đó, sự tự tin trong hoạt động GDTC còn giúp trẻ trình bày suy nghĩ và việc làm của mình cho GV nghe, mạnh dạn nói lên khả năng của mình bằng những câu như: “Con làm được…”, “Làm cái đó thì không khó/dễ…”

Biểu hiện 3: Trẻ biết giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động GDTC

Theo tác giả Phan Khắc Nghệ “giải quyết vấn đề vừa là quá trình, vừa là phương tiện cá nhân sử dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm có được trước đó để giải quyết một vấn đề mà cá nhân có nhu cầu cần giải quyết” [47]

Theo tác giả Đinh Lan Anh “giải quyết vấn đề của trẻ MG là khả năng trẻ thực hiện những hành động có kết quả theo cách thức đã lựa chọn bằng cách vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm đã có để nhận diện, đồng thời biết ứng phó trước các tình huống khó khăn trong các hoạt động nhằm đạt được hiệu quả” [1]

Ở độ tuổi từ 5 – 6 tuổi sự chủ động giải quyết vấn đề của trẻ được bộc lộ khá phong phú như trẻ nhận ra được vấn đề xảy ra trong hoạt động GDTC; trẻ lắng nghe ý kiến của bạn; chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng với bạn; trẻ chủ động, tích cực tìm kiếm các phương tiện để giải quyết vấn đề phát sinh; trẻ có thái độ ứng xử đúng mực với bạn [1]

Biểu hiện 4: Trẻ nỗ lực để hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong hoạt động GDTC

Trang 28

27

Trẻ MG 5 – 6 tuổi đã hình thành động cơ mang ý nghĩa xã hội, hành động của trẻ hướng vào các quan hệ xã hội, mong muốn làm cho người khác hài lòng, trẻ thực hiện một cách có ý thức công việc mang nội dung đạo đức Do vậy, hành vi của trẻ đã tuân theo quy định của gia đình, trường học, nơi công cộng Ở trẻ xuất hiện quan hệ phụ thuộc theo hệ thống thứ bậc của các động cơ hành vi mà thứ bậc này được sắp xếp theo vị trí quan trọng của mỗi loại động cơ đối với bản thân Chính sự xuất hiện nổi bật một động cơ tốt trong hệ thống thứ bậc đã hình thành có tác dụng giúp trẻ vượt khó khăn nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra mà không bị kích thích bởi những động cơ khác thấp hơn [22], [46], 83] Ở tuổi MG 5 – 6 tuổi, trẻ có thể nỗ lực ý chí tương đối lâu bền Những hành động không có kết quả không dễ làm trẻ từ bỏ ý định mà buộc trẻ tập trung chú ý hơn nữa vào hành vi của mình Trong quá trình hoạt động tự lực đòi hỏi ở trẻ sự căng thẳng của hoạt động trí tuệ và thể lực, kỹ năng biết vượt qua khó khăn bên trong và bên ngoài để đạt mục đích Nếu không có sự nỗ lực ý chí, trẻ khó thành công trong việc đạt mục đích ở những hoàn cảnh khác nhau Vì vậy, sự nỗ lực của ý chí là biểu hiện cơ bản TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi, thể hiện kỹ năng biết vượt qua khó khăn để đạt mục đích

Biểu hiện 5: Trẻ hợp tác với bạn cùng giải quyết các nhiệm vụ trong hoạt động GDTC

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “hợp tác là chung sức, giúp đỡ nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đạt mục đích chung” [81]

Theo C Mác, “hình thức lao động của nhiều người làm việc bên nhau và với nhau trong cùng một quá trình sản xuất hay trong các quá trình sản xuất khác nhau, nhưng liền với nhau theo kế hoạch gọi là hợp tác” [75]

Trẻ MG 5 – 6 tuổi, sự thỏa thuận chơi, thiết lập mối quan hệ chơi, vai chơi trở nên khá tốt Sự phối hợp hành động chơi cũng trở nên nhịp nhàng hơn Ở độ tuổi này, tính chủ động khi chơi được thể hiện rõ nét hơn, khi phân vai trẻ không chỉ dựa trên quan hệ thiện cảm cá nhân mà còn dựa vào khả năng, phẩm chất của bạn vì thế trò chơi càng thú vị Đồng thời trẻ biết cùng nhau lên kế hoạch cho trò chơi, biết lắng nghe, thảo luận, bàn bạc về trò chơi, biết hợp tác, phối hợp hành động giải quyết các nhiệm vụ [41]

Trang 29

Biểu hiện 6: Trẻ phát triển các tố chất vận động

TTC và biểu hiện phát triển các tố chất vận động không phải lúc nào cũng tỷ lệ

thuận Song TTC sẽ dự báo xu hướng phát triển các tố chất vận động

Sự phát triển của TTC trong một giai đoạn nhất định chính là tiền đề dự báo xu hướng hoàn thiện và phát triển các tố chất vận động nhất định Cụ thể: phát triển các

tố chất vận động: trẻ đạt được sự thay đổi từ mức thấp đến cao, từ chưa phát triển đến phát triển 5 tố chất vận động: nhanh, mạnh, bền, mềm dẻo, khả năng phối hợp vận động

Bảng 1.1 Biểu hiện TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC

1

Trẻ tỏ ra hứng thú với hoạt động GDTC, mong muốn

được tham gia giải quyết các nhiệm vụ khi GV tổ chức

hoạt động GDTC

Quan sát trẻ

2 Trẻ chủ động trong việc giải quyết các nhiệm vụ của

3 Trẻ biết giải quyết các các vấn đề phát sinh trong hoạt

4 Trẻ nỗ lực để hoàn thành tốt các nhiệm vụ trong TCVĐ Quan sát trẻ

5 Trẻ hợp tác với bạn cùng giải quyết các nhiệm vụ trong

6 Trẻ phát triển các tố chất vận động Sử dụng test

1.5 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Đối với đặc điểm về sinh lý và tâm lý của trẻ MG, một số quan niệm cho rằng

“Trẻ em là người lớn thu nhỏ”, nghĩa là sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn chủ yếu

về mặt cơ thể như tầm cỡ, kích thước Tuy nhiên, Rutxô lại cho rằng “Trẻ em không phải

là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ nhỏ vì trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó Vì vậy, trẻ MG có những đặc điểm về sinh lý, tâm lý của riêng mình và không giống với người lớn” [67]

1.5.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Ở tuổi này, hệ thần kinh của trẻ đã phát triển khá đầy đủ Trẻ đã biết hành động theo sự chỉ dẫn của người lớn Do đó, cần rèn luyện cho trẻ thói quen tốt như kỷ luật, trật tự, ý thức giữ gìn vệ sinh, thói quen ăn ngủ, vui chơi, tập luyện, học tập,… đúng giờ

Trang 30

29

Hệ cơ và xương: ở lứa tuổi này phát triển không đều Tỉ lệ thân thể thay đổi rõ rệt, sức bền cơ thể tăng lên Quá trình cấu tạo xương chưa kết thúc Sự phát triển bộ xương để làm điểm tựa cho vận động và bảo vệ các cơ quan bên trong ở lứa tuổi này còn chưa kết thúc, trong xương còn nhiều sụn Tính cứng chắc của xương tương đối kém Tính có thể biến đổi của xương còn lớn nên dễ phát sinh cong gập, biến đổi hình dạng Vận động cơ thể hợp lí có thể làm cho hình thái cấu trúc xương của trẻ có chuyển biến tốt, xương biến đổi cứng chắc hơn Vì vậy, khi hướng dẫn trẻ vui chơi cần phải bảo đảm an toàn, tránh tập lâu và nặng, tránh những động tác có cường độ vận động quá cao, quá đột ngột, tuyệt đối không cho các em tập những động tác quá mạnh Tổ chức cơ bắp của trẻ MG tương đối ít Các sợi cơ nhỏ, mảnh, thành phần nước trong cơ nhiều nên sức mạnh cơ bắp yếu, dự trữ năng lượng của cơ bắp cũng hạn chế Sự phát triển của các mô cơ diễn ra chủ yếu là nhờ sự dày lên của các sợi cơ Trọng lượng của các cơ trong cơ thể trẻ MG chỉ chiếm 22 – 24% trọng lượng toàn thân Các cơ của trẻ không có nhiều sức mạnh nên chóng bị mệt mỏi trong lúc hoạt động cơ bắp Vì vậy, cần phải điều chỉnh chặt chẽ lượng vận động cơ bắp của trẻ trong quá trình tập luyện bài tập vận động Nếu trẻ được thường xuyên tham gia vận động thể lực sẽ tăng cường một cách có hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sức mạnh, sức bền của cơ bắp được phát triển [73]

Tim trẻ đã phát triển nhưng sức co bóp yếu, nhịp đập nhanh Vì vậy cần tránh

để cho trẻ vận động liên tục trong một thời gian dài, tránh hoạt động đột ngột làm cho trẻ hồi hộp, sợ hãi Khi vận động, cơ thể trẻ đòi hỏi tim và mạch làm việc nhiều hơn

và sẽ có tác dụng rèn luyện nhất định với hệ tim mạch Nhu cầu oxi của trẻ rất lớn là

do các quá trình phát triển của cơ thể trẻ Điều hòa thần kinh tim còn chưa hoàn thiện cho nên nhịp co bóp dễ mất ổn định và cơ tim nhanh mệt khi vận động Nhưng khi thay đổi hoạt động, tim của trẻ nhanh hồi tĩnh và sức khỏe của trẻ được phục hồi Do

đó, khi hướng dẫn trẻ vận động phải luôn luôn thay đổi nội dung tập, luân chuyển giữa động và tĩnh, tránh cho trẻ chơi các trò chơi có khối lượng vận động lớn dễ dẫn đến suy thoái cơ tim [30], [73]

Hô hấp ở trẻ em khác với người lớn cả về cấu tạo và cơ chế hoạt động Ở độ tuổi 5 – 6 tuổi, trẻ đang chuyển từ cách thở chủ yếu bằng cơ hoành (làm cho lồng ngực nở theo chiều dọc) sang thở bằng cách giãn nở lồng ngực (gồm khung xương

Trang 31

sườn và các bắp thịt ngực) Vì vậy, cần tạo điều kiện cho trẻ thở theo kiểu ngực bằng những trò chơi có động tác cho sự giãn nở lồng ngực Tránh những động tác làm ép lồng ngực trong một thời gian dài làm cản trở đến hô hấp như nằm sấp, ngồi tì ngực vào bàn,… [50]

Vận động cơ thể còn có ảnh hưởng nhất định đối với các hệ thống, cơ quan khác của cơ thể trẻ em Khi trẻ tham gia vận động cơ thể hợp lí, có thể làm tăng nhanh nhu động của ruột và dạ dày, có lợi cho việc thúc đẩy tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, đồng thời cũng có thể tăng thêm mức độ ăn uống của trẻ

Các hệ thống cơ quan của cơ thể mặc dù đảm nhiệm những nhiệm vụ khác nhau và có các chức năng khác nhau, song chúng dựa vào nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, hợp tác chặt chẽ với nhau làm thành một thể thống nhất để tồn tại Để phát triển những khả năng của trẻ, cần phải giáo dục trẻ thông qua rèn luyện thân thể Bởi vì cơ

sở vật chất của hoạt động trí tuệ chính là phát triển thể chất Vì vậy, quan tâm đến đặc điểm sinh lý của trẻ MG 5 – 6 tuổi là điều kiện cơ bản góp phần quan trọng vào việc GDTC cho trẻ

1.5.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Ở độ tuổi MG 5 – 6 tuổi, trẻ đã hình thành năng lực quan sát, đặc biệt là quan

sát theo chỉ dẫn bằng lời của người khác Thời gian quan sát tăng dần theo lứa tuổi Khả năng chú ý tăng nhưng chú ý chủ định và thời gian chú ý chủ định vào một sự vật, hiện tượng nào đó còn hạn chế Vì vậy, GV cần làm mẫu nhiều, sinh động, rõ ràng, chính xác kết hợp với giảng giải đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, tránh giải thích suông, dài dòng

Trí nhớ của trẻ MG đang phát triển Các động tác trong TCVĐ được các em đặc biệt yêu thích Sự ghi nhớ của trẻ chủ yếu là ghi nhớ chưa có chủ định, nhưng khi trẻ hứng thú với một việc phải ghi nhớ (ví dụ như một vai trong TCVĐ) thì trẻ đã có ý thức và chủ định sắp xếp nội dung để nhớ theo trình tự và cách thức của riêng mình

Tư duy trực quan của trẻ đang được phát triển mạnh Trẻ đã tự giải thích một

số hiện tượng, sự việc cụ thể đơn giản GV cần kết hợp đặc điểm trên trong khi hướng dẫn các TCVĐ

Đây cũng là giai đoạn khả năng bắt chước của trẻ phát triển mạnh đặc biệt là khả năng bắt chước những động tác tương đối phức tạp Trẻ không chỉ có khả năng

Trang 32

Trẻ MG 5 – 6 tuổi, về mặt tình cảm đã hình thành tương đối phong phú và đang

tiếp tục phát triển mạnh Ngoài ra, trẻ cũng đã hình thành một số hứng thú là tiền đề của những năng khiếu thể dục thể thao [83]

1.6 Các công trình nghiên cứu có liên quan

1.6.1 Một số nước trên thế giới

Tình hình nghiên cứu về TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC trên thế giới có thể chia thành 3 nhóm nghiên cứu cơ bản như sau:

1.6.1.1 Nhóm các nghiên cứu về trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục thể chất

Theo I.K Khailisop trong quyển “GDTC cho thiếu nhi trong gia đình, ở nhà trẻ, lớp MG” đã khẳng định vai trò của trò chơi đối với việc giáo dục trẻ, nhất là các trò chơi có tính chất hoạt động như TCVĐ Ông cho rằng “Về mặt giáo dục và lý luận GDTC, trò chơi là một trong những biện pháp để giáo dục toàn diện và phát triển nhi đồng Trò chơi chiếm phần chủ đạo trong công tác GDTC cho trẻ chưa đến tuổi đi học, đặc biệt là các trò chơi có tính chất hoạt động giúp trẻ rèn luyện thể chất và các

Trang 33

tưởng tượng là con đường dẫn tới trừu tượng hoá việc thực hiện các qui tắc trong trò chơi góp phần rèn luyện những phẩm chất ý chí ở trẻ, trò chơi là phương tiện xã hội

hóa trẻ em tích cực nhất [43], [87] Chính vì vậy, Macarenco nhấn mạnh “Trò chơi giáo dục nên các phẩm chất cần thiết của người lao động, của một người công dân tương lai”

B.B Gorihepxky cho rằng TCVĐ là hình thức chủ yếu của sự vận động và là phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ trước tuổi đi học Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chọn chủ đề chơi Chủ đề chơi cần liên quan tới yêu cầu cuộc sống xã hội ngày nay Theo ông, trong quá trình chơi TCVĐ trẻ được giáo dục các phẩm chất đạo đức vì trò chơi là phương tiện để hình thành nhân cách cho trẻ [32]

N.K Krupxkaia là người có công lao lớn nhất trong quá trình phát triển lý luận

về giáo dục toàn diện cho trẻ MG Bà đã chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu lý luận giáo dục mới, xây dựng trên cơ sở học thuyết Mac – Lênin, kết hợp với nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa Bà cho rằng, hoạt động GDTC cho trẻ có ý nghĩa to lớn, coi luyện tập thể dục thể thao là nhiệm vụ quan trọng để làm vững mạnh thế hệ mai sau Ghi nhận sự tác động có ích của bài tập thể chất lên cơ thể trẻ, bà đề cao vai trò của TCVĐ TCVĐ không chỉ củng cố sức khỏe của cơ thể, mà còn được sử dụng với mục đích giáo dục, góp phần hình thành, củng cố kỹ năng vận động, giáo dục cách biết điều khiển bản thân có tổ chức, có tính cách [29]

Cũng nghiên cứu về TCVĐ, hai tác giả H Tatrova và M Mexia trong quyển

“Thể dục và trò chơi nhà trẻ” đã xây dựng một hệ thống các bài tập và các TCVĐ

đơn giản để rèn luyện các vận động cơ bản và các tố chất thể lực cho trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ, nhất là hình thành tư thế đúng cho trẻ [62]

Theo A.V Kenhman và cộng sự thì TCVĐ là loại vận động tích cực, một trong những phương tiện GDTC tốt nhất cho trẻ MG TCVĐ cần phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung để tạo cho trẻ có điều kiện sáng tạo và phát triển tư duy của mình một cách độc lập trong những trường hợp cụ thể TCVĐ có ý nghĩa giáo dục rất lớn và chiếm một phần quan trọng trong thể dục cơ bản [30]

Yuri Manovxki đã nêu nhiều luận điểm quan trọng về việc chăm sóc sức khỏe trẻ em trước tuổi đi học trên cơ sở nghiên cứu hàng loạt trẻ em trong nhiều năm

Trong quyển “Chăm sóc sức khỏe trẻ em”, tác giả khẳng định có 3 điều cốt lõi nhất

Trang 34

33

mà các bậc phụ huynh, các cô nuôi dạy trẻ phải đảm bảo, đó là chế độ dinh dưỡng, giữ gìn vệ sinh và tổ chức cho trẻ chơi các TCVĐ phù hợp với lứa tuổi Như vậy, tác giả

đã nhấn mạnh vai trò của TCVĐ là cần thiết và tất yếu đối với trẻ [88]

Cùng đánh giá cao vai trò của TCVĐ trong hoạt động GDTC, Maxim Gorki xem TCVĐ là một biện pháp hữu hiệu nhất không những để GDTC mà còn góp phần giáo dục trí tuệ cho con người [66]

Lexgap có nhiều phát hiện nổi bật khi nghiên cứu về TCVĐ Ông coi TCVĐ như là “bài tập” nhờ đó trẻ chuẩn bị cho cuộc sống sau này Trong những trò chơi đó, trẻ lĩnh hội kỹ năng, thói quen, hình thành tính cách của nó Quy tắc của trò chơi có ý nghĩa như quy luật, thái độ của trẻ cần phải có ý thức, tự giác và có trách nhiệm Việc thực hiện những quy tắc này yêu cầu đối với tất cả các trẻ, vì thế chúng có ý nghĩa giáo dục lớn Trò chơi làm phát triển những phẩm chất đạo đức, tính kỷ luật, trung thực, công bằng, giúp đỡ lẫn nhau Ông coi trò chơi như phương tiện giáo dục nhân cách [51]

Có thể thấy, khá nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến phương pháp, hình thức GDTC cho trẻ MG, trong đó có TCVĐ ầu hết các nghiên cứu đều đánh giá cao việc sử dụng TCVĐ vì tính hiệu quả của nó trong hoạt động GDTC của trẻ nói chung

vả trẻ MG nói riêng

1.6.1.2 Nhóm các nghiên cứu về tính tích cực của trẻ mẫu giáo

Vấn đề TTC của trẻ MG cũng được các nhà khoa học quan tâm và đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau

Đề cập đến tầm quan trọng của TTC thì nhà khoa học J A Cômenxki – nhà

giáo dục Tiệp Khắc quan niệm rằng “ ãy tìm ra những biện pháp để phát huy TTC của người học và cho phép GV dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” [24]

Theo A.X Macarenco, “Trò chơi không cần nỗ lực, không có hoạt động tích cực là trò chơi tồi” Nếu trẻ chơi mà lại “trở thành thụ động”, toàn bộ sự tham gia chơi của chúng dẫn đến sự suy nghĩ thụ động từ đó hình thành nên con người không

có tính sáng kiến, không quen khắc phục khó khăn Trò chơi tốt phải dạy cho trẻ quen với những nỗ lực thể chất và tâm lý, trò chơi phải giáo dục cho trẻ các phẩm chất lao động của người lao động” [42]

Trang 35

A Đixtervec, nhà giáo dục người Đức trong quyển “ ướng dẫn đào tạo GV” chỉ ra rằng “Không thể ban cho hoặc truyền đạt đến bất kỳ một người nào sự phát triển và sự giáo dục Bất cứ ai mong muốn được phát triển và giáo dục cũng phải phấn đấu bằng hoạt động của bản thân, bằng sức lực của chính mình; bằng sự cố gắng của bản thân… Vì thế hoạt động tự lực nói riêng và TTC nói chung là phương tiện và đồng thời là kết quả của sự giáo dục” [39]

J Dewey – nhà giáo dục người Mỹ khẳng định “GV là người hướng dẫn trẻ và đáp ứng mọi yêu cầu của trẻ Còn trẻ phải tích cực trong mọi hoạt động của mình, là chủ thể nhận thức” [82]

Nhiều nhà giáo dục Nga đã nghiên cứu về phương pháp tăng mật độ vận động trên giờ thể dục và khẳng định nội dung các bài tập vận động, sự kết hợp hợp lý, độ phức tạp, thời gian thực hiện, tác động của cảm xúc, đều ảnh hưởng lớn đến mật độ vận động và sự tích cực của trẻ trên giờ học thể dục Đây là nghiên cứu có đóng góp

về việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến TTC của trẻ trong hoạt động GDTC [39]

Cùng nghiên cứu về TTC của trẻ, theo Т.I Оsокinа,“Sự tham gia của GV vào các trò chơi và các bài tập giúp nâng cao trạng thái cảm xúc, ảnh hưởng tốt đến sự tích cực vận động của trẻ; duy trì kỷ luật trong lớp học là cần thiết do sự phức tạp của việc tổ chức giờ học và đảm bảo sự an toàn cho trẻ” [97]

V.А Siskinna trong nghiên cứu của mình đã đưa ra các biện pháp chuyên biệt

để nâng cao TTC cho trẻ như sau:

- Sử dụng tối đa sự đa dạng hiện có của các loại vận động và cách thực hiện vận động, tốc độ và cường độ vận động, phương pháp chuyển đổi, sự nhịp điệu, sự sắp xếp, phân bố các công cụ và thiết bị luyện tập hợp lý;

- Giao cho trẻ nhiệm vụ thật cụ thể, lựa chọn phương pháp vận động trong những tình huống cụ thể, gọi tên vận động, nói chuyện về vận động đó, đánh giá việc thực hiện vận động của mình và của bạn;

- Gọi tên những bài tập khó nhất, dễ nhất, thú vị nhất và giải thích cho những cách gọi tên đó…;

- Thường xuyên lôi cuốn trẻ vào việc thực hiện vận động bằng cách sử dụng những TCVĐ, các bài thơ đồng dao, âm nhạc [59]

Trang 36

35

Theo Henri Wallon, động cơ vui chơi của trẻ là sự cố gắng tích cực của đứa trẻ

để tác động lại thế giới bên ngoài nhằm lĩnh hội cho được những năng lực của con người chứa trong thế giới đó Trong trò chơi, trẻ luyện tập được những năng lực vận động, cảm giác và những năng lực trí tuệ [83]

Nhìn chung, TTC của trẻ không phải là vấn đề nghiên cứu mới trên thế giới Tuy nhiên các nghiên cứu về đề tài này không nhiều, trong đó tập trung vào sự cần thiết khi hình thành TTC của trẻ và các yếu tố ảnh hưởng đến TTC của trẻ Cũng chưa

có nhiều nghiên cứu chỉ ra những biểu hiện cụ thể TTC của trẻ MG

1.6.1.3 Nhóm các nghiên cứu về lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo trong hoạt động giáo dục thể chất

Nghiên cứu về TCVĐ trong hoạt động GDTC, tác giả Ghecda Lenec trong

quyển “Rèn luyện thể lực và trò chơi cho trẻ 3 – 6 tuổi” cho rằng nhu cầu vận động

lớn và tính hiếu động là đặc trưng cơ bản trong hoạt động của trẻ; vì vậy cần lựa chọn nhiều loại hình bài tập, TCVĐ tác động toàn diện tới các bộ phận cơ thể để rèn luyện thể lực Trên cơ sở những ý tưởng đó, tác giả cũng nêu ra 34 bài tập, TCVĐ mẫu để trẻ rèn luyện hàng ngày và 16 bài tập, TCVĐ mẫu giúp trẻ vui chơi trong những lần dã ngoại [20]

Theo kết quả thực nghiệm 50 trò chơi trong đó có TCVĐ kèm theo lời hát dành cho trẻ 3 – 6 tuổi, các tác giả N Lamoureu và S Pesquies khẳng định trong quyển

“Múa vòng và những trò chơi có hát” rằng trò chơi kèm theo hát và múa là dạng hoạt

động được trẻ em ở Pháp yêu thích nhất, và không có gì thay thế được Họ coi đây là một hình thức giáo dục tổng hợp về thể chất và tinh thần trẻ thơ, giúp các em khỏe hơn, vui tươi và hồn nhiên hơn, qua đó kích thích sự phát triển ngôn ngữ cùng các năng khiếu nghệ thuật, thể thao ở trẻ MG [33]

Theo tác giả Katxtrikop thì trẻ MG có nhu cầu lớn nhất về các TCVĐ Động cơ thúc đẩy trẻ chơi các trò chơi này chủ yếu là do sự ham thích cá nhân và do tính hấp dẫn của các trò chơi Do đó cần lựa chọn các TCVĐ có tính hấp hẫn và phù hợp với

sở thích của trẻ MG [66]

Để TCVĐ đáp ứng được các yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng và bảo vệ sức khỏe cho trẻ, theo D.V Xuxlaeva, cần phải đảm bảo sự thú vị, tạo cho trẻ có những cảm xúc tích cực nhất định bằng cách đưa thêm những TCVĐ mới lạ và tăng

Trang 37

dần độ phức tạp của các nhiệm vụ, yêu cầu trẻ phải suy nghĩ cách thực hiện, thể hiện TTC với mong muốn đạt được kết quả tốt [39]

Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về lựa chọn ứng dụng TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC có thể rút ra một số kết luận:

- TCVĐ trong hoạt động GDTC và TTC của trẻ MG là hai vấn đề đã xuất hiện

từ rất lâu được tiến hành nghiên cứu khá phong phú, đặc biệt là các nước có nền giáo dục phát triển Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới tập trung nhiều vào việc tìm hiểu tầm quan trọng của TCVĐ, sự cần thiết khi hình thành TTC của trẻ và các yếu tố ảnh hưởng đến TTC của trẻ

- Các nghiên cứu về lựa chọn ứng dụng TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG trong

hoạt động GDTC chưa được khai thác nhiều trong nghiên cứu, nhất là các TCVĐ

dành riêng cho trẻ MG 5 – 6 tuổi

1.6.2 Tại Việt Nam

Nhận thức được tầm quan trọng của TCVĐ đối với sự phát triển toàn diện của trẻ MG, ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về TCVĐ Các công trình nghiên cứu về TCVĐ ở nước ta khá đa dạng, phong phú Tương tự các nhóm nghiên cứu trên thế giới, các công trình nghiên cứu của các tác giả ở Việt Nam cũng phân thành 3 nhóm cơ bản sau đây:

1.6.2.1 Nhóm các nghiên cứu về trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục thể chất

Theo hướng nghiên cứu này phải kể đến các tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Thị Châu, Hoàng Thị Bưởi, Đặng Hồng Phương, Đinh Văn Vang, Trần Đồng Lâm, Đinh Mạnh Cường, Phạm Vĩnh Thông, Lưu Chí Liệm, Hoài Sơn, Bùi Thị Việt, Phan Thị Thu,… Nhìn chung các nghiên cứu tập trung về ý nghĩa của TCVĐ là chủ yếu

Tác giả Lương Kim Chung trong quyển “Vun trồng thể lực cho đàn em nhỏ”

đã nêu ra các phương tiện, phương pháp rèn luyện thể lực cho trẻ MG lớn, trong đó chú trọng nhất đến các bài tập thể lực, các TCVĐ và việc tổ chức dạo chơi ngoài trời

để phát huy tác dụng trong việc phát triển thể lực của trẻ [13]

Đặng Hồng Phương với bài viết “Nghiên cứu phương pháp dạy học bài tập vận động cơ bản cho trẻ MG lớn (5 – 6 tuổi)” đã nêu rõ các cách thức tổ chức quá trình

Trang 38

37

dạy học của GV, trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, trẻ giữ vai trò chủ động, tích cực nhằm tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vận động mới, hình thành năng lực vận động, phát triển thể chất và tâm lý cho các em Tác giả đã thiết kế 20 bài học thực hiện một cách sáng tạo bằng cách thay đổi trò chơi, đội hình tập, dụng cụ thể thao,… và hệ thống bài tập kiểm tra đánh giá mức độ phát triển tố chất thể lực và trí lực của trẻ [49] Cũng theo tác giả này, trong quá trình GDTC, TCVĐ là một phương pháp hoàn thiện

kỹ năng vận động cho trẻ Ngoài ra nó còn có tác dụng hình thành những điều kiện thuận lợi để phát triển, rèn luyện các tố chất thể lực cho trẻ Ví dụ, trò chơi “Đuổi bắt”, trẻ phải thể hiện sự nhanh nhẹn, chạy thật nhanh, luồn thật khéo để khỏi bị bắt [52]

Trong lĩnh vực Tâm lý học trẻ em, Nguyễn Ánh Tuyết đã cho ra quyển “Tâm

lý học trẻ em lứa tuổi mầm non (từ lọt lòng đến 6 tuổi)”, theo tác giả trò chơi là

phương tiện phát triển toàn diện nhân cách của trẻ thông qua việc phát triển các chức năng tâm lý như trí tuệ, thể chất, đạo đức, thẩm mỹ Tác giả nhấn mạnh rằng vui chơi

là hoạt động chủ đạo của trẻ MG thì việc tổ chức các trò chơi, trong đó có TCVĐ cho trẻ là cực kỳ quan trọng và có ý nghĩa giáo dục to lớn Tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ, trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người [83]

Cùng quan điểm tiếp cận về hoạt động của trẻ MG của tác giả Nguyễn Ánh

Tuyết, Trương Thị Khánh Hà đã cho ra đời quyển “Tâm lý học phát triển” Theo tác

giả trò chơi cùng những hoạt động vận động có vai trò quan trọng đối với sự phát triển vận động, trí tuệ và các phẩm chất nhân cách của trẻ Đặc biệt, đối với trẻ từ 3 – 6 tuổi, cha mẹ và cô giáo cần tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào nhiều trò chơi phong phú, nhiều hoạt động đa dạng để giúp trẻ phát triển về thể lực, trí tuệ và nhân cách [21]

Tác giả Đinh Văn Vang cho rằng trong quá trình GDTC, TCVĐ là phương tiện hoàn thiện kỹ năng vận động cơ bản cho trẻ: bò, chạy, nhảy, ném, bắt… Đồng thời qua trò chơi này, những phẩm chất thể lực cơ bản cũng được hình thành như nhanh nhẹn, linh loạt, dẻo dai… [86]

Như vậy có thể thấy, ở Việt Nam cũng có khá nhiều nghiên cứu về TCVĐ của nhiều tác giả khác nhau Các tác giả đều thống nhất với nhau rằng TCVĐ có ý nghĩa

Trang 39

to lớn và vai trò quan trọng trong hoạt động GDTC cho trẻ Do đó, GV cần tăng cường sử dụng TCVĐ trong hoạt động GDTC cho trẻ

1.6.2.2 Nhóm các nghiên cứu về tính tích cực của trẻ mẫu giáo

Tác giả Lý Thị Anh đã nghiên cứu một số biện pháp phát huy TTC của trẻ MG

4 – 5 tuổi trong hoạt động GDTC Tác giả đã nhận định TTC của trẻ MG 4 – 5 tuổi

trong giờ học thể dục được thể hiện ở việc tập trung, chú ý nghe, làm theo hiệu lệnh của GV, hứng thú tích cực vận động, mạnh dạn tự tin khi thực hiện, thực hiện đầy đủ các phần cơ bản của động tác, thích thực hiện nhiều lần [3] Đây là nghiên cứu góp phần cung cấp lý luận về biểu hiện TTC của trẻ trong hoạt động GDTC

Tác giả Đặng Hồng Phương trong nghiên cứu phát triển TTC vận động cho trẻ

mầm non đã chỉ ra rằng “Phát triển TTC vận động ở trẻ là quá trình vận dụng các phương pháp tích cực nhằm phát huy khả năng vận động và đảm bảo mật độ vận động của trẻ trong hoạt động GDTC, đặc biệt là trong tiết học thể dục” [50]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn với bài viết “Thực trạng TTC nhận thức của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong trò chơi phân vai có chủ đề” quan niệm trò chơi phân vai có chủ đề

giúp trẻ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người, các chuẩn mực đạo đức, cũng như giúp trẻ phát triển một cách hài hòa, toàn diện về thể chất, thẩm mĩ, trí tuệ, tình cảm, ý chí và ngôn ngữ,… Trong bài viết này, tác giả cũng đưa ra 5 tiêu chí về TTC nhận thức của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong trò chơi phân vai có chủ đề đó là: (1) tự nguyện tham gia trò chơi, chủ động thỏa thuận vai, sẵn sàng đảm nhận vai chơi; (2) thể hiện tốt vai chơi; (3) trao đổi trong quá trình chơi; (4) thích thú, tập trung vào vai chơi; (5) sáng tạo trong việc thể hiện vai chơi [60] Đây là nghiên cứu cần quan tâm vì nghiên cứu cung cấp hệ thống lý luận quan trọng về biểu hiện TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi

Nguyễn Thị Yến Linh với nghiên cứu “Biện pháp nâng cao TTC vận động trong giờ học thể dục cho trẻ 5 – 6 tuổi” đã đánh giá TTC thông qua các tiêu chí như

hứng thú vận động, nhu cầu đối với hoạt động vận động, sự tích cực tham gia của trẻ vào các hoạt động vận động và kết quả của sự tích cực này là mức độ lĩnh hội kỹ năng, kỹ xảo vận động Trên cơ sở đó, tác giả cũng đề xuất 4 nhóm biện pháp nâng cao TTC là xây dựng môi trường kích thích TTC vận động của trẻ; sử dụng biện pháp trò chơi; thi đua; kích thích trẻ tích cực tham gia vào ngày hội lễ thể dục thể thao Kết

Trang 40

39

quả thử nghiệm ban đầu cho thấy trẻ nhanh nhẹn, khéo léo, mạnh dạn, tự tin, trẻ có tinh thần đoàn kết, tính đồng đội cao, có kỹ năng làm việc nhóm, hoạt động trong nhóm tốt [39]

Những năm gần đây, vấn đề TTC của trẻ đang được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và bắt đầu có các nghiên cứu về biểu hiện TTC của trẻ Song vấn đề TTC, đặc biệt là TTC trong hoạt động GDTC vẫn là một mảng nghiên cứu còn rất hạn chế Rất ít các công trình nghiên cứu về việc tổ chức TCVĐ để nâng cao TTC, cả về việc lựa chọn TCVĐ đến việc tổ chức và đánh giá TTC của trẻ trong hoạt động GDTC

1.6.2.3 Nhóm các nghiên cứu về lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo trong hoạt động giáo dục thể chất

Tác giả Lê Anh Thơ với công trình “Nghiên cứu sử dụng một số TCVĐ dân gian trong GDTC cho trẻ MG 4 – 5 tuổi”, trong nghiên cứu này tác giả đã xác định trò

chơi và đồ chơi là những nhu cầu thiết yếu của trẻ em, là phương tiện, phương pháp chủ đạo để giáo dục Việc lựa chọn đúng và đủ các trò chơi có tác dụng phát triển thể chất, hình thành những kỹ năng cơ bản và nhân cách cho trẻ MG Theo tác giả, việc sử dụng TCVĐ dân gian trong hoạt động vui chơi hàng ngày sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC cho trẻ MG 4 – 5 tuổi Trong nghiên cứu của mình, Lê Anh Thơ đi sâu phân tích những yêu cầu có tính nguyên tắc trong lựa chọn và hướng dẫn TCVĐ cho trẻ MG, trên cơ sở đó biên soạn 20 TCVĐ dân gian để thiết kế, tổ chức trong giờ GDTC [66]

Khi nghiên cứu một số biện pháp phát huy TTC của trẻ MG 3 – 4 tuổi trong

giờ học thể dục, tác giả Nguyễn Thị Xuân Trinh đã đề ra một số biện pháp như lựa chọn nội dung bài tập, động tác gắn với thực tiễn, gần gũi với cuộc sống; sử dụng hợp

lý địa điểm, thiết bị dụng cụ luyện tâp, sử dụng những vật liệu có sẵn trong thiên nhiên; tạo tình huống có vấn đề (câu chuyện, trò chơi, âm nhạc ); làm mẫu chính xác, đẹp giải thích rõ ràng dễ hiểu; tạo mối quan hệ tốt giữa cô và trẻ, cô quan tâm đến hứng thú của trẻ; đánh giá khen ngợi động viên kịp thời sự tiến bộ của từng cá nhân trẻ [79]

Tác giả Trần Đồng Lâm và Đinh Mạnh Cường cho rằng TCVĐ cũng như những bài tập thể dục thể thao khác, nếu được thực hiện đúng phương pháp khoa học thì nhất định có tác dụng nâng cao sức khỏe: hệ vận động được củng cố và phát triển,

Ngày đăng: 22/12/2021, 04:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.2. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC (Trang 58)
Bảng  3.3  cho  thấy  về  kết  quả  khảo  sát  về  ưu  thế  sử  dụng  TCVĐ  trong  hoạt  động GDTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi tại TP - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
ng 3.3 cho thấy về kết quả khảo sát về ưu thế sử dụng TCVĐ trong hoạt động GDTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi tại TP (Trang 60)
Bảng 3.10. Mô tả hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo các tiêu chí - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.10. Mô tả hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của thang đo các tiêu chí (Trang 69)
Bảng 3.13. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett các biến độc lập - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.13. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett các biến độc lập (Trang 71)
Bảng 3.15. Tiêu chí đánh giá TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.15. Tiêu chí đánh giá TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi trong hoạt động GDTC (Trang 72)
Bảng 3.17. Kết quả phỏng vấn chuyên gia về các test đánh giá thể lực - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.17. Kết quả phỏng vấn chuyên gia về các test đánh giá thể lực (Trang 78)
Bảng 3.19. Thực trạng thể lực của trẻ MG từ 5 – 6 tuổi tại các trường MN - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.19. Thực trạng thể lực của trẻ MG từ 5 – 6 tuổi tại các trường MN (Trang 80)
Bảng 3.20. So sánh giá trị trung bình các test đánh giá thể lực của trẻ em nam - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.20. So sánh giá trị trung bình các test đánh giá thể lực của trẻ em nam (Trang 81)
Bảng 3.21. So sánh giá trị trung bình các test đánh giá thể lực của trẻ em - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.21. So sánh giá trị trung bình các test đánh giá thể lực của trẻ em (Trang 84)
Bảng 3.23. Đánh giá của chuyên gia về các tiêu chí lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.23. Đánh giá của chuyên gia về các tiêu chí lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC (Trang 99)
Bảng 3.25. TCVĐ đề xuất lựa chọn ứng dụng trong hoạt động GDTC - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.25. TCVĐ đề xuất lựa chọn ứng dụng trong hoạt động GDTC (Trang 102)
Bảng 3.26. Kết quả lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.26. Kết quả lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi (Trang 105)
Bảng 3.29 liệt kê 24 TCVĐ do chuyên gia chọn thỏa mãn tiêu chí TCVĐ phù  hợp với đặc điểm tâm lý và khả năng của trẻ - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.29 liệt kê 24 TCVĐ do chuyên gia chọn thỏa mãn tiêu chí TCVĐ phù hợp với đặc điểm tâm lý và khả năng của trẻ (Trang 107)
Bảng 3.28 cho thấy: - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.28 cho thấy: (Trang 108)
Bảng 3.29. Kết quả lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi - (Luận án tiến sĩ) nghiên cứu lựa chọn ứng dụng trò chơi vận động nâng cao tính tích cực của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động giáo dục thể chất tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.29. Kết quả lựa chọn TCVĐ nâng cao TTC của trẻ MG 5 – 6 tuổi (Trang 109)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w