Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh [r]
Trang 1MỘT SỐ ĐỀ THAM KHẢO LỚP 11_KÌ II
Đề 1:
“ Vần thơ của Bác, vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình ”
Điều đó thể hiện như thế nào trong bài Chiều tối
A Mở bài:
- Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam Người là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Đóng góp to lớn nhất của Người là sự nghiệp cách mạng Bên cạnh Hồ Chí Minh - nhà cách mạng, còn có Hồ Chí Minh - nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn
- Chiều tối là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình Hồ Chí Minh
- Dẫn được hai câu thơ của Hoàng Trung Thông
B.Thân bài :
a Giải thích ngắn gọn ý thơ của Hoàng Trung Thông
- Thơ Bác luôn hài hòa chất thép với tinh thần chiến đấu vượt khó, dũng khí kiên cường và chất tình tình cảm dạt dào với thiên nhiên, cuộc sống, con người
- Thơ Bác sáng lên vẻ đẹp một chiến sĩ và thi sĩ
b Phân tích, chứng minh: Trong bài Chiều tối, chất thép và chất tình thể hiện rất tinh tế
- Hai câu đầu: Qua bức tranh thiên nhiên, Bác thể hiện tình yêu thiên nhiên, phong thái ung dung, tự chủ gần gũi với những hiền triết, những người nghệ sĩ thời xưa Đó là tiếng thơ trữ tình, dào dạt cảm xúc
- Hai câu sau: Qua bức tranh cuộc sống, thơ Bác toát ra tình yêu cuộc sống con người, niềm vui, niềm lạc quan Những cảm xúc ấy là sự hài hòa chất tình và chất thép trong thơ, bởi vì có niềm lạc quan Bác sẽ có thêm nghị lực sống, quyết tâm vượt qua cảnh ngộ lưu đày, cô quạnh để đối mặt với số phận, vượt qua số phận Đó là phong thái cứng cỏi của người chiến sĩ cách mạng gang thép trong thơ và trong nhân cách con người Bác
* Lưu ý: - Trong quá trình phân tích, học sinh phải kết hợp giữa nội dung và nghệ thuật bài thơ để làm rõ vấn đề
- Phần này học sinh có thể liên hệ dẫn chứng thêm một số bài thơ khác trong Nhật ký trong tù để tăng sức thuyết
phục cho bài viết
(Phần phân tích chứng minh có thể làm theo cách khác như sau
a Lòng nhân ái bao la, tình yêu cuộc sống sâu nặng
- Yêu thiên nhiên, tạo vật Qua bài thơ, hình ảnh thiên nhiên luôn chiếm vị trí nổi bật Bác nâng niu từng biểu hiện của sự sống: “cánh chim, đám mây Có ai ngờ, thiên nhiên lại hiện lên đẹp và sáng đến thế trong bài thơ Bác bị giải
đi vào lúc nửa đêm
- Quan tâm tới con người Dù trong hoàn cảnh nào, Bác cũng không quên nghĩ tới con người Hình ảnh thiếu nữ xay ngô tối với Bác là vẻ đẹp của cuộc sống bình dị Ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng reo vui với nó (dẫn chứng)
b Một tâm hồn tự do, không tù ngục, xích xiềng nào giam giữ nổi.
c Một tâm hồn có tinh thần thép vượt qua những đọa đày về thể xác, mọi thử thách khốc liệt về tinh thần.
Qua hình ảnh quyện điểu và cô vân, ta bắt gặp thoáng buồn, thoáng cô đơn rất người của Bác Nhưng trước ngọn lửa hồng Bác quên đi việc mình chưa được dừng chân trên con đường đày ải mà để lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trên trang thơ, xua tan cái lạnh lẽo, cô đơn của lòng người và cảnh vật Ngọn lửa hồng trở thành vẻ đẹp tinh thần của nhà cách mạng
d Một tâm hồn lạc quan, tin tưởng
Kết thúc bài thơ bằng hình ảnh ngọn lửa hồng mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan Lời thơ vời vợi lòng tin
e Một hồn thơ phong phú
- Thi hứng đã đến với Người trong những giờ phút nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời, ngay cả trong lúc đối với người bình thường, cảm xúc thơ dễ bị triệt tiêu nhất hoặc không cất lên nổi: Cốt cách thi nhân ở Bác thể hiện ở niềm rung động trước cái đẹp, dù trong cảnh huống nào
- Niềm rung động ấy được thể hiện bằng những vần thơ vừa cổ kính, vừa hiện đại của một tâm hồn nghệ sĩ mang cốt cách phương Đông Hồn thơ Hồ Chí Minh bắt rễ rất sâu vào truyền thống dân tộc, truyền thống phương Đông)
c Bình luận: Qua bài Chiều tối, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hiện lên tinh tế: người nghệ sĩ- chiến sĩ Đọc thơ
Người, chúng ta thấy được một con người lạc quan, tinh thần cách mạng sáng ngời Ý kiến của nhà thơ Hoàng Trung Thông về thơ Hồ Chí Minh thật xác đáng
C Kết bài: Tổng kết vài nét về ý kiến của Hoàng Trung Thông và bài thơ Chiều tối
Trang 2Đề 2: Vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh qua bài thơ Chiều tối
(MB+KB tự làm nhé)
1: Những biểu hiện cụ thể: Là nhật ký, tác phẩm còn là tập thơ trữ tình nên thiên về việc bộc lộ thế giới bên trong,
thế giới tâm hồn của người sáng tạo Đó là lòng nhân ái bao la, là tình yêu cuộc sống sâu nặng, là tâm hồn của con người có sự tự do tinh thần tuyệt đối, là cốt cách vững vàng, một phong thái ung dung tự tại
a Lòng nhân ái bao la, tình yêu cuộc sống sâu nặng
- Yêu thiên nhiên, tạo vật Qua bài thơ, hình ảnh thiên nhiên luôn chiếm vị trí nổi bật Bác nâng niu từng biểu hiện của sự sống: cánh chim, đám mây
- Quan tâm tới con người Dù trong hoàn cảnh nào, Bác cũng không quên nghĩ tới con người Hình ảnh thiếu nữ xay ngô tối với Bác là vẻ đẹp của cuộc sống bình dị Ngọn lửa hồng reo vui trong bếp lửa gia đình, lòng Bác như cũng reo vui với nó (dẫn chứng)
b Một tâm hồn tự do, không tù ngục, xích xiềng nào giam giữ nổi.
c Một tâm hồn có tinh thần thép vượt qua những đọa đày về thể xác, mọi thử thách khốc liệt về tinh thần.
Qua hình ảnh quyện điểu và cô vân, ta bắt gặp thoáng buồn, thoáng cô đơn rất người của Bác Nhưng trước ngọn lửa hồng Bác quên đi việc mình chưa được dừng chân trên con đường đày ải mà để lòng mình reo vui cùng ngọn lửa, để hình ảnh tỏa ấm trên trang thơ, xua tan cái lạnh lẽo, cô đơn của lòng người và cảnh vật Ngọn lửa hồng trở thành vẻ đẹp tinh thần của nhà cách mạng
d Một tâm hồn lạc quan, tin tưởng
Kết thúc bài thơ bằng hình ảnh ngọn lửa hồng mang lại cảm giác phấn chấn, lạc quan Lời thơ vời vợi lòng tin
e Một hồn thơ phong phú
- Thi hứng đã đến với Người trong những giờ phút nặng nề, cực nhọc nhất của cuộc đời, ngay cả trong lúc đối với người bình thường, cảm xúc thơ dễ bị triệt tiêu nhất hoặc không cất lên nổi: Cốt cách thi nhân ở Bác thể hiện ở niềm rung động trước cái đẹp, dù trong cảnh huống nào
- Niềm rung động ấy được thể hiện bằng những vần thơ vừa cổ kính, vừa hiện đại của một tâm hồn nghệ sĩ mang cốt cách phương Đông Hồn thơ Hồ Chí Minh bắt rễ rất sâu vào truyền thống dân tộc, truyền thống phương Đông
Đề 3: Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Tràng giang (Huy Cân)
A Mở bài
- Huy Cận là một trong những trụ cột của phong trào Thơ Mới
- Thi phẩm Lửa thiêng thì thường lẳng lặng kết hợp và dung hoà giữa chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Pháp với cái
hàm súc, sâu lắng của thơ Đường để tạo cho thơ mình một vẻ đẹp riêng: vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại
- Có thể thấy rõ nét đặc sắc của bài thơ Tràng giang là ở sự kết hợp hài hoà hai phẩm chất : màu sắc cổ điển và chất
hiện đại
B.Thân bài
1 Màu sắc cổ điển trong Tràng Giang:
a Giải thích cổ điển là gì?
Là những thi pháp, hình ảnh thơ cổ được sử dụng trong văn học, đó là truyền thống là tinh hoa của văn học dân tộc
b Màu sắc cổ điển và hiện đại trong bài thơ Tràng giang
- Tràng giang là một thi phẩm được viết trên tinh thần không khước từ với truyền thống Tác giả vận dụng được
nhiều nét tinh hoa của văn chương trung đại và tạo cho bài thơ một vẻ đẹp hài hoà giữa màu sắc cổ điển và màu sắc hiện đại phù hợp với phong cách thơ giàu suy tưởng của chính mình Màu sắc cổ điển đậm đà, in dấu ấn toàn diện tạo nên vẻ độc đáo của một bài Thơ Mới
- Nét đẹp cổ điển và hiện đại được thể hiện ngay từ thi đề của bài thơ “Tràng giang” Hai chữ “tràng giang” mang
tính cổ điển mà trang nhã, là từ Hán Việt, gợi cho ta đên những bài thơ Đường thi có màu sắc xưa cũ, cổ kính Nhưng nếu các thi nhân xưa đến với thiên nhiên để tìm sự giao cảm thì nhà thơ hiện đại Huy Cận lại đứng trước
“Tràng giang” để thể hiện nỗi ưu tư, buồn bã trước kiếp người nhỏ bé cô đơn Đó là một tâm hồn rất hiện đại mà
qua đó ta có thể thấy được nét quyến rũ của bài thơ
- Ngoài ra bài thơ “Tràng Giang” mang vẻ đẹp cổ điển và hiện đại thể hiện ở thể loại thơ và bút pháp mà tác giả sử dụng Thể loại thơ ở đây là thơ 7 chữ với lối ngắt nhịp đăng đối nhuần nhuyễn Song, “ Tràng giang” cũng rất mới
qua những từ ngữ giãi bày cảm xúc cá nhân
Trang 3- “Tràng giang” là một bức tranh về phong cảnh mà còn là một bản nhạc về tâm hồn Nét thi vị của bài thơ là ở vẻ
đẹp cổ điển và hiện đại luôn hòa quyện, sóng đôi Nét đẹp của bài thơ sẽ mãi đi vào lòng người, để rồi qua vẻ đẹp đó
ta thấy được một tấm lòng yêu nước thầm kín, một tài hoa rực sáng của thi ca
c Phân tích chứng minh
Cổ điển ở nhan đề:
- Bài thơ mới lại có nhan đề bằng chữ Hán “Tràng” ( một âm đọc khác của “trường”) gợi sự cổ kính “Giang” là tên chung để chỉ các dòng sông Hai chữ này gợi một không gian cổ kính, trang trọng, bát ngát như trong Đường thi, gợi nhớ câu thơ nổi tiếng của Lý Bạch: “Duy kiến trường giang thiên tế lưu” ( Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng) Hai âm "ang" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng
mà còn rộng mênh mông, bát ngát Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường Giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng
- Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước,
không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về kiếp người cô đơn, nhỏ
bé trước vũ trụ bao la
Cổ điển ở đề từ:
“Trời rộng” gợi cảm giác về sự vô biên của vũ trụ “Sông dài” tạo ấn tượng về cái vô cùng của không gian Trời rộng
và sông dài mở ra không gian ba chiều gợi cảm giác rợn ngợp của con người cô đơn, bé nhỏ trước cái mênh mang, bất tận của trời đất
Cổ điển ở thi liệu
Ở Tràng giang, ta bắt gặp nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ: con thuyền, dòng sông, cách bèo, mặt nước Có những hình ảnh tượng trưng thường gặp trong thơ cổ : Tràng giang, sông dài , trời rộng, bến cô liêu, mây cao, núi bạc, cánh chim nhỏ, bóng chiều sa, khói hoàng hôn, cuộc sông' con người thì buồn tẻ, chán chường với "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa
Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu:
Cổ điển ở tứ thơ sóng đôi:
- “Tràng giang” được cấu tứ trên nền cảm hứng không gian sóng đôi:
- Có dòng “Tràng giang” thuộc về thiên nhiên trong tư cách một không gian hữu hình và ( cũng có ) dòng “Tràng giang” tâm hồn như một không gian vô hình trong tâm tưởng Đây vốn là cấu tứ quen thuộc của Đường Thi
- Tiếp cận Tràng giang trong tư cách dòng sông thiên nhiên có thể thấy một điều đặc biệt: khổ thơ nào cũng có thông
điệp về nước Thông điệp trực tiếp là các từ : “nước”, “con nước”, “dòng”…Thông điệp gián tiếp là các từ : “sóng gợn”, “cồn nhỏ”, “bèo dạt”, “bờ xanh”, “bãi vàng”…
- Tiếp cận Tràng giang với tư cách dòng sông cảm xúc trong tâm hồn lại phát hiện thêm một điều thú vị nữa: Cảnh nào cũng gợi buồn
Cổ điển ở nghệ thuật đối:
- Màu sắc cổ điển còn được bộc lộ qua cách sử dụng nghệ thuật đối của Đường Thi nhưng khá linh hoạt và phóng túng Chẳng hạn: “Sóng gợn…”đối với “ Con thuyền…”; “Nắng xuống đối với trời lên…” ; “Sông dài đối với trời rộng…” Nhưng đóng góp quan trọng hơn cả là nghệ thuật đối được sử dụng một cách triệt để bằng hai hệ thống hình ảnh mang tính tương phản giữa một bên là những sự vật nhỏ bé, gợi suy ngẫm về cái hữu hạn của kiếp người: thuyền, củi, bến, bèo, cánh chim…và một bên là những hình ảnh lớn lao, hùng tráng gợi liên tưởng về cái vô hạn của
vũ trụ: sông dài, trời rộng, lớp lớp mây cao, núi bạc…
Sử dụng hệ thống từ láy gợi âm hưởng cổ kính: (10 lần/16dòng thơ, cách ngắt nhịp truyền thống: 3/4)
- Hệ thống từ láy trải khắp bài thơ: “Tràng giang”, “điệp điệp”, “song song”, “lơ thơ”, “đìu hiu”, “chót vót”, “mênh mông”, “lặng lẽ”, “lớp lớp”, “dợn dợn”.Ngoài ra, tác giả còn sử dụng sáng tạo thi liệu của Đường Thi với rất nhiều hình ảnh và chất liệu quen thuộc Đặc biệt câu kết mượn thẳng ý thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc Lâu: “Yên
ba giang thượng sử nhân sầu” ( Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai - Tản Đà dịch )
2 Màu sắc hiện đại:
Dù bài thơ Tràng giang có in đậm màu sắc cổ điển trên một số phương diện như đã phân tích thì hiện đại vẫn
là nét chính của thi phẩm này Bởi cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn mênh mang, sâu lắng của cái tôi cô đơn trước vũ trụ được bộc lộ một cách trực tiếp qua một cách diễn đạt cô đọng và hàm súc Tâm trạng của một cái tôi lãng mạn đó lại được thể hiện bằng bút pháp tả thực vừa phá vỡ qui tắc ước lệ truyền thống vừa đem đến một phong cách trữ tình mới
Trang 4- Nét hiện đại trong Tràng giang trước nhất thể hiện ở “nỗi buồn thế hệ” của một “cái tôi” Thơ mới thời mất nước “chưa tìm thấy lối ra”, qua xu hướng giãi bày trực tiếp “cái tôi” trữ tình (buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà…), qua những từ ngữ sáng tạo mang dấu ấn xúc cảm cá nhân của tác giả (sâu chót vót, niềm thân mật, dợn…)
- Mặt khác, Tràng giang cũng không thiếu những hình ảnh, âm thanh chân thực của đời thường, không ước
lệ (củi khô, tiếng vãn chợ chiều, bèo dạt…) Bài thơ hiện đại và là một bài thơ mới Có cái mới của hồn thơ, có cái mới của chủ thể trữ tình.Khác với thơ xưa, tâm trạng của chủ thể trữ tình,cảm hứng cá nhân của nhà thơ chạy suốt toàn bài mới là nhất quán Nó khác hẳn với kết cấu đề - thực - luận - kết , hay tiền giải - hậu giải của thơ Đường Bài thơ hiện đại trong cách cảm nhận sự vật, trong cách sử dụng thi liệu hình ảnh : củi, sông, nắng, bèo, cát, cây xanh, cánh chim , Tất cả làm nên một bức tranh thiên nhiên quê hương gần gũi , quen thuộc Bởi nó đã in dấu, đã hằn sâu, đã hoà cùng dòng chảy và đã lẫn vào những cảnh quê hương sông nước trên khắp đất nước Việt Nam yêu dấu
(Có thể phân tích bài thơ theo hướng sau
Khổ 1: Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đã bắt gặp những con sóng lòng đầy ưu tư, sầu não như thế: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Cũng như nhiều nhà thơ mới khác cùng thời, Huy Cận luôn mang trong tâm tư của mình nỗi sầu của cả thế hệ Đó là nỗi sầu nhân gian, nỗi sầu vạn kỷ chảy về:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp.
Nhìn dòng sông mênh mông gợn sóng, tác giả cảm thấy
+ Buồn điệp điệp: Điệp từ như nhấn mạnh mức độ của nỗi buồn Nỗi buồn ấy đang trải ra, đang dềnh lên mênh mông bát ngát cùng sóng nước
+ Và giữa không gian sông nước mênh mông ấy có một con thuyền thật lặng lẽ:
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Con thuyền xuôi mái là con thuyền buông mái không chèo để mặc dòng nước cuốn trôi Giữa không gian rộng lớn, con thuyền trở nên nhỏ bé bơ vơ
Không chỉ có vậy thuyền còn gợi lên một cái gì nổi lênh như kiếp người trong cuộc đời cũ Nhất là ở đây con thuyền lênh đênh thả mái xuôi dòng
Cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao ta chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của dòng “tràng giang”
Và trong cái thiên nhiên vô cùng, vô tận ấy, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong lòng
Thuỳên về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Thuyền về, nước ở lại, sầu chia li bao trùm trăm ngả Trên dòng nước mênh mông ấy, một cành củi khô nhỏ
bé gầy guộc vừa lìa cành bập bềnh trên sóng nước không biết trôi về đâu
- Hai câu thơ, phép đối được sử dụng một cách sáng tạo, chỉ đối ý đối hình mà vần thơ vẫn cân xứng hài
hoà.Con thuỳên và cành củi khô đang cùng trôi nổi trên tràng giang.
- Các số từ sầu trăm ngả, củi một cành khô, mấy dòng đã cho ta thấy rõ cái ám ảnh về kiếp người nhỏ bé hữu hạn, sự đau khổ sầu thương thì to lớn vô hạn
Nét đẹp cổ điển “tả cảnh ngụ tình” thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đã gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như
con sóng sẽ còn vỗ mãi ở các khổ thơ còn lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ Đó là ở cách
nói “Củi một cành khô” thật đặc biệt Nó không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà còn hé mở tâm trạng của
nhân vật trữ tình, một nỗi niềm đơn côi, lạc lõng
Khổ 2: Nỗi lòng ấy được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo Vẫn là cảnh
sông nước nhưng tác giả vẽ thêm đất thêm người:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời nên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu.
Nỗi buồn vô hạn ấy lại được miêu tả qua một không gian bao la Cái nhỏ bé tương phản với cái mênh
môngvô cùng:
- Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu nghĩa là cồn nhỏ bé thưa thớt buồn bã Vần lưng nhỏ- gió kết hợp với láy âm lơ
thơ và đìu hiu làm âm hưởng lời thơ như nặng trĩu lòng người về một nỗi buồn hiu hắt cô quạnh
Trang 5- Và nghệ thuật láy tài ba ấy đã gợi lên màu sắc cổ kính, dẫn hồn người đọc trở về với cổ thi:“Non quì quạnh quẽ trăng treo-Bến phì gió thổi đìu hiu mấy gò”(Chinh phụ ngâm),”lơ thơ tơ liễu buông mành”(Truyện Kiều)
- Chợ chiều vốn đã buồn,thì vãn chợ chiều lại càng buồn hơn xao xác hơn lại Thế mà giờ đây cái âm thanh xao xác ấy dường như tác giả cũng không nghe thấy
- “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” Câu thơ mang âm hưởng của một câu hỏi bộc lộ cái ngơ ngác của thi
nhân với nỗi buồn cô quạnh chưá chất trong lòng.Và cũng chính câu hỏi ấy nó làm cho không gian có tiếng của con người nhưng thật thoảng thật mơ hồ.Âm thanh ấy chỉ càng gợi thêm không khí tàn tạ vắng vẻ chia lìa
Những câu tiếp theo,nỗi buồn không chỉ có ở mặt đất mà dường như nó còn bao trùm cả bầu trời:
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu
Bầu trời và lòng sông là không gian ba chiều Thường người ta nói:cao chót vót và sâu thăm thẳm Nhưng Huy Cận lại viết
- “sâu chót vót” để diễn tả độ cao, độ trong, độ sâu thẳm của bầu trời nhiều nắng, nhiều ánh sáng của trưa đã
ngả sang chiều.Và không chỉ có không gian hai chiều nắng xuống trời lên, mà nó còn được mở rộng ra thành
-“sông dài trời rộng” không gian ba chiều Cả một không gian rộng lớn bao la mênh mông đến rợn ngợp.Và nổi lên trên cái khung nền ấy là
_“bến cô liêu”-bến sông nhỏ bé vắng người Cái nhỏ bé của bến sông như một nét chấm phá gợi tả cái bao la bát ngát của khônggian Qua đó càng tô đậm cảm giác cô đơn rợn ngợp của con người trước vũ trụ bao la
Khổ 3: Trong không gian buồn xa vắng đó ai cũng muốn tìm đến những dấu vết của cuộc sống con người
- “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng”.Câu thơ gợi nhớ đến câu ca quen thuộc:bèo dạt mây trôi Nó cũng gợi cho
ta hình dung rõ nét về sự lênh đênh trôi nổi vô định, tan tác chia lìa của những kiếp người truân chuyên lưu lạc.
Cái buồn càng được nhấn mạnh hơn bắng hai lần phủ định:
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
- Không một cây cầu ,không một con đò nghĩa là hoàn toàn không bóng người hay một cái gì đó gợi đến tình người Chỉ có màu vàng của bãi tiếp nối với màu xanh của bờ chạy dài về phía chân trời xa đến vô tận như hai thế giới cuả sự cô đơn xa lạ không chút niềm thân mật, không chút đồng điều tân hồn
- Ở đây tác giả đã dùng thủ pháp nghệ thuật cổ điển: lấy không để nói có Nhắc đến chợ chiều đã vãn, không
có tiếng người, một dòng sông hoang vắng không cầu không đò làm cho ta càng tha thiết khát khao cuộc sống ấm cúng đông vui
Khổ 4: Ở khổ cuối, Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho khoảnh khắc hoàng hôn trên sông
nước tràng giang:
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
- Câu thơ thể hiện một cái nhìn xa vời vợi Hình ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ tình và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:
+“Mặt đất mây đùn cửa ải xa” Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển
động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra mãi, và khi ánh chiều phản chiếu chúng lấp lánh như những núi bạc Cảnh sắc thiên nhiên thật tráng lệ và kỳ vĩ Bầu trời chắc là xanh thẳm hoặc tím thẫm trong khoảnh khắc hoàng hôn nên màu mây cuối chân trời mới ánh lên màu bạc ấy
+Giữa cái bao la mênh mông ấy bỗng xuất hiện một cánh chim nhỏ nhoi:
“Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”
- Thơ ca xưa nói về cảnh hoàng hôn vẫn thường điểm thêm một cánh chim trên nền trời.Ví dụ: Chim bay về
núi tối rồi (ca dao), Chim hôm thoi thót về rừng (Nguyễn Du), Ngàn mai gió núi chim bay mỏi (Bà Huyện Thanh
Quan), Nhưng cánh chim trong thơ Huy Cận đúng là cánh chim chiều trong thơ mới Bởi nó có sự đối lập giữa chim nghiêng cánh nhỏ với lớp lớp mây cao, giữa cánh chim nhỏ bé với vũ trụ bao la.Và sự đối lập ấy càng làm cho cảnh
rộng hơn mênh mông hơn, xa vắng hơn Cánh chim như ènhỏ nhoi hơn đơn lẻ hơn Cánh chim ấy đang sa xuống
phía chân trời như một tia nắng chiều rớt xuống Tuy có hơi hướng của sự sống gợi chút ấm cúng cho cảnh vật nhưng nhơ bé quá mông lung quá, vì thế nỗi buồn càng da diết thêm
- Giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại
Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhà.
“Dợn dợn” là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó Từ láy này hô ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê” :
Trang 6Không khói hoàng hôn cũng nhà.
Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đã không còn Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước.Câu thơ cũng gợi cho ta nhớ đến câu thơcủa Thôi Hiệu trong Hoàng hạc lâu:Yên ba giang thượng sử nhân sầu-Trên sông khói sóng
cho buồn lòng ai Người xưa nhìn khói sóng mà nhớ nhà Còn nhà thơ mới của chúng ta tuy không thấy khói sóng cũng nhớ nhà.Nên ènỗi buồn nhớ quê hương của nhà thơ cũng da diết hơn, cháy bỏng hơn.Và có lẽ chỉ đến thơ mới
thì nỗi buồn nhớ quê mới có được cái cảm giác dợn dợn như thế và theo Xuân Diệu: Tuy khôngkhói hoàng hôn nhưng chính là bằng cách ấy tác giả đã đưa thêm khói hoàng hôn của Thôi Hiệu vào bài thơ của mình để làm giàu thêm cái buồn và nỗi nhớ nhà của người lữ thứ trước cảnh tràng giang
Cái tôi trong thơ mới tất nhiên là phải buồn Thơ Huy Cận lại càng buồn hơn Nhưng trong nỗi buồn cô đơn của nhà thơ ta vẫn thấy một niềm khát khao được gần gũi hoà hợp cảm thông giữa người với người trong tình đất nước, tình nhân loại )
3 Kết bài
Nếu Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong tất cả những nhà thơ mới thì Huy Cận là nhà thơ có công tô bồi cho lâu đài thơ mới càng thêm lồng lộng sáng đẹp Là một nhà thơ mới nhưng Huy Cận đã hoà vào dòng chảy của Thơ mới một cách nhuần nhị những yếu tổ cổ điển của văn học trung đại Việt Nam, của Đường thi Trong nỗi niềm
“mang mang thiên cổ sầu” của người phương Đông xưa trước con người và vũ trụ, nhà thơ lồng vào đấy nỗi cô đơn
của con người cá nhân ý thức cái tôi cá thể vừa tiếp thu được từ triết học và thơ ca phương Tây Cái tôi cá thể từ văn hoá văn học Pháp bước xuống cuộc đời để rồi cảm nhận nỗi cô đơn, bất lực của mình, nên ngoái nhìn về phía quê nhà, về phía truyền thống, mong cầu được sống vói cái ta làng xã ngày xưa Thơ ông, do đó mà có sự hoà hợp giữa
thi pháp thơ Đường với thi pháp thơ tượng trưng Pháp
ĐỀ 4: VẺ ĐẸP CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI CỦA BÀI THƠ CHIỀU TỐI (HỒ CHÍ MINH)
A MỞ BÀI
- Hồ Chí Minh là nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam Người là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Đóng góp to lớn nhất của Người là sự nghiệp cách mạng Bên cạnh Hồ Chí Minh - nhà cách mạng, còn có Hồ Chí Minh - nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn
- Chiều tối là bài thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình Hồ Chí Minh
- Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển và hiện đại
B/ THÂN BÀI
I/ GIỚI THIỆU CHUNG
1/ Xuất xứ
- Bài thơ được rút trong tập Nhật kí trong tù
- Trên đường chuyển lao khổ ải từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Bác Hồ viết liền năm bài thơ Chiều Tối là bài thơ thứ ba trong chùm thơ này
2/ Cổ điển và hiện đại trong bài Chiều tối
a Giải thích cổ điển là gì?
Là những thi pháp, hình ảnh thơ cổ được sử dụng trong văn học, đó là truyền thống là tinh hoa của văn học dân tộc
b Cổ điển và hiện đại trong bài thơ: Bài thơ được sáng tác theo thể thơ Đường luật thất ngôn tứ tuyệt Vì thế nó
mang đậm phong vị Đường thi ở bút pháp nghệ thuật lấy cảnh để ngụ tình, lấy động tả tĩnh, lấy ít gộ nhiều Nhưng bài thơ còn được sáng tác bởi người Cộng sản Hồ Chí Minh nên bên cạnh phong vị cổ điển nó đây còn là một bài thơ hiện đại Chất hiện đại được bộc lộ ở sự vận động của hình tượng thơ, nhất là tấm lòng tư tưởng của thi nhân: yêu thiên nhiên, yêu con người, tinh thần lạc quan của Bác dù ở bất kì hoàn cảnh nào Đó chính là chất thép lấp lánh trong thơ Hồ Chí Minh
3 Phân tích chứng minh
1/ Bài thơ được mở đầu bằng một bức tranh phong cảnh thiên nhiên
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không
Nhà thơ không trực tiếp nói về thời gian nhưng thời gian vẫn hiện về qua cảnh vật :
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chim bay về tổ đúng là dấu hiệu của chiều tối, chiều muộn
Trang 7Điều này ta thường thấy trong thơ ca : như: “chim bay về núi tối rồi”(ca dao); “chim hôm thoi thót về rừng”(Truyện Kiều); “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi”(Bà Huyện Thanh Quan); “Mây vẩn tầng không chim bay đi”(Xuân Diệu);
“Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”(Huy Cận).
Có thể nói hình ảnh chim bay về tổ, về rừng sau một ngày kiếm ăn là hình ảnh tiêu biểu mang ý nghĩa thời gian là cách cảm nhận thời gian mang tính truyền thống mang phong vị Đường thi
Thời gian còn hiện về qua Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Hai chi tiết phác họa mà gợi lên cái hồn của cảnh vật, ngày tàn màn đêm buông xuống, tạo vật dần chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi,
Cũng ở hai câu thơ đầu, ta con cảm nhận không gian của bức tranh thơ là ở chốn núi rừng với ánh sáng của ngày tàn Ánh sáng làm nền cho khung cảnh thơ là ánh sáng mặt trời vào lúc sắp tắt hẳn ở chốn núi rừng nên trong ánh sáng
như thế ta chỉ có thể nhìn thấy đỉnh trời Người tù ngẩng đầu lên nhìn lên đỉnh trời, nhận ra con chim bay về tổ và chòm mây lững lờ trôi Điều này nhà thơ không nói, nhưng người đọc có thể cảm nhận được như thế
Cảnh chiều hôm nơi xóm núi kia được đặc tả qua hai câu thơ thất ngôn vừa hình tượng vừa gợi cảm Mặt đất thì âm
u mà bầu trời thì rộng lớn thoáng đãng
Hai câu thơ mang vẻ đẹp cổ điển: Tả ít mà gợi nhiều, mượn điểm để vẽ diện, lấy động để gợi cái tĩnh, lấy cái cực
nhỏ, đơn chiếc để diễn tả cái bát ngát mênh mông
Nhìn chim bay, mây trôi mà cảm thấy bầu trời bao la hơn, cảnh chiều tối êm ả tĩnh lặng hơn Và như vậy buổi chiều trên đường chuyển lao của tác giả sao mà phảng phất những buổi chiều mà hình sắc đã vĩnh viễn đọng lại trong thơ
ca cổ
Và tất cả đều chứa đầy tâm trạng Cảnh bao giờ cũng ngụ tình : Cánh chim chiều của tác giả không phải đang bay
trong trạng thái bình thường mà là :
“Quyện điểu qui lâm”-“chim mỏi về rừng” Suốt ngày bay đi kiếm ăn, cánh chim cũng mệt mỏi Hình ảnh chim
chiều nhưng cũng là hình ảnh ẩn dụ cho tâm trạng của nhà thơ Nhà thơ cũng mệt mỏi sau một ngày lê bước trên
con đường đi đày Giờ đây không biết đâu là chặng nghỉ chân qua đêm
Câu thơ thứ hai nhà thơ tiếp tục phác hoạ tâm trạng: chòm mây như có tâm hồn, như mang tâm trạng
Nó cô đơn lẻ loi và lặng lẽ lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn của trời chiều Bầu trời có chim, có mây nhưng mây
lẻ loi, chim mệt mỏi Đã thế lại đang ở cảnh ngộ chia lìa Chim bay về rừng, chòm mây ở lại giữa từng không
Hai câu thơ tả cảnh mà mở ra cả một không gian tâm trạng, cảnh buồn, người buồn
Vì cánh chim bay về tổ gợi niềm ước mong sum họp, chòm mây cô đơn trôi lẻ loi chầm chậm về phía trời xa gợi thân phận lênh đênh trôi dạt nơi đất khách quê người Và không biết tới bao giờ nhà thơ mới được tự do như cánh chim và chòm mây trên bầu trời kia
Nhưng cũng qua hai câu thơ này ta hiểu thêm được nét đẹp trong tâm hồn nhà thơ là : Dù ở bất kì hoàn cảnh nào, dù
phải sống giữa muôn ngàn cực khổ kể cả lúc thân thể mất tự do, Bác vẫn luôn giữ cho mình một tình yêu say đắm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, luôn hoà hồn mình vào hồn của trời đất rộng lớn với sự tự do tuyệt đối của tinh thần
như Bác đã từng nói: Vui say ai cấm ta đừng, đường xa âu cũng bớt phần quạnh hiu Và cũng qua nỗi buồn đó qua
tư thế ngẩng đầu dõi theo một cánh chim một chòm mây, ta còn thấy một khát vọng tự do cũng như chất thép Hồ Chí
Minh
2/ Hai câu sau
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng
(Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng)
Nếu hai câu thơ đầu cảnh vật hiện ra trong những nét chấm phá phần nào mang tính ước lệ cổ điển với chim muông
mây trời thì đến hai câu sau là Cảnh sinh hoạt gần gũi và ấm áp trên mặt đất.
Hiện ra ở trung tâm bài thơ lúc này là một thiếu nữ sơn thôn với công việc lao động bên bếp lửa gia đình Một chất thơ khác một hơi thở trữ tình khác làm cho vẻ đẹp của buổi chiều thêm hài hoà phong phú, làm cho bài thơ thêm dáng vẻ hiện đại hơn
Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày
đang tắt dần, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống Còn ở đây, dù không tả thời gian, nhưng ai cũng biết
Đất trời đã vào đêm, bóng tối ken dày muôn nơi Thời gian được vận động theo cánh chim và làn mây, theo những
vòng xoay của cối xay ngô, quay mãi “Ma bao túc – Bao tức ma hoàn”, và đến khi cối xay ngô dừng lại thì “lô dĩ
hồng”, lò than đã rực hồng Thực ra cái lò lửa ấy không phải đúng lúc đó mới bật sáng lên Nó vẫn đỏ lên rồi, nhưng
phải đến khi ánh trời tắt hẳn, núi rừng mù mịt thì tự nhiên con người ta chỉ nhìn thấy nơi đâu có ánh lửa Và vì thế lúc xay ngô xong, trời tối hẳn nên mới nhìn thấy nó rực hồng lên Hình ảnh cô gái hiện ra bên bếp lò lửa đỏ đến với
Trang 8nhà thơ một cách tự nhiên như thế thôi Và như thế, trong nguyên tác Bác không dùng chữ tối vậy mà ta vẫn nhận ra
trời đổ tối Bác dùng cái sáng để nói cái tối
Bếp lửa của cô gái xay ngô đã hồng lên nghĩa là buổi chiều êm ả đã kết thúc để bước vào đêm tối Nhưng không phải
là đêm tối lạnh lẽo âm u như cảm nhận của người xưa mà là một đêm tối ấm áp sáng bừng rực lửa Sự vận động của
thời gian bất ngờ và khoẻ khoắn
Cùng với sự vận động về thời gian ta còn thấy sự vận động trong tâm trạng của nhà thơ Thực ra trong nhưng bài thơ
vịnh cảnh chiều hôm xưa cũng thấp thoáng bóng người, cũng chứa đầy tâm trạng : Lom khom dưới núi tiều vài chú – Lác đác bên sông chợ mấy nhà Cảnh có con người mà thiếu vắng sự sống Con người chỉ làm tôn thêm cái hùng vĩ,
hoang sơ của trời đất thiên nhiên Còn trong bài thơ của Bác, trên nền cảnh của thiên nhiên rộng lớn, con người, sự sống của con người, ngọn lửa của con người bỗng trở thành tụ điểm, thành trung tâm toả ấm nóng và niềm vui ra tất cả
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc – lô dĩ hồng: có hình ảnh cô gái toát lên vẻ trẻ trung, khỏe mạnh, sống động, có cảnh
làm ăn bình dị : xay ngô, có lò than đã rực hồng Các chi tiết nghệ thuật ấy làm hiện lên một mái ấm gia đình, một
cảnh đời dân dã bình dị ấm áp
Và như vậy là không phải thiên nhiên làm chủ mà con người mới là chủ thể, con người đã kịp thắp lên ngọn lửa, con
người đã tạo nên ánh sáng và hơi ấm cho con người, cho cảnh thiên nhiên Chính cảnh xay ngô của thiếu nữ và lò
than đã rực hồng kia đã làm vợi đi những đau khổ của người đi đày qua miền sơn cước xa lạ Nó đưa lại cho người đi đường lúc chiều hôm chút hơi ấm của sự sống, chút niềm vui hạnh phúc trong lao động của con người Nói cách khác, nó là điểm tựa tâm hồn cho một tù nhân Cộng Sản Hồ Chí Minh
Và cũng chính nhờ điểm tựa tâm hồn ấy mà Bác có thể cảm nhận được một cuộc đời một con người dù là bình thường nhỏ bé nơi xóm núi heo hút trong hoàn cảnh ngặt nghèo của bản thân :
Sơn thôn thiếu nữ Ma bao túc – bao túc ma hoàn lô dĩ hồng là điệp ngữ vừa làm cho lời thơ giàu nhạc điệu, vừa
diễn tả sự chuyển động vòng tròn nặng nề của cối xay ngô Qua đó ta cảm nhận được sự trân trọng của nhà thơ trước đức tính cầm mẫn của thiếu nữ xóm núi
Bài thơ được sáng tác theo thơ Đường luật Và Bác không chỉ tiếp thu tinh hoa của thơ Đường, mà còn nhà thơ còn đem vào hình thức chật hẹp của thơ Đường tâm hồn của người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc Điều đó được thể hiện ở câu kết của bài thơ
Bài thơ không khép lại trong sự mệt mỏi vội vã của cánh chim, trong sự uể oải cô đơn của chòm mây, trong sự nặng
nề của cối xay ngô (ba câu thơ trên: sự mệt mỏi, vội vã, nặng nề ) mà Bác khép lại bài thơ bằng một chữ ( “hồng”).
Bác đã làm sáng rực toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi uể oải, vội vã, sự nặng nề diễn tả ở trên, đã làm sáng
rực cả khuôn mặt cô em xóm núi, nhuốm hồng lên cả bóng đêm bơỉ cái tình của Bác.
Như vậy tâm trạng của nhà thơ được vận động từ buồn đến vui từ lạnh lẽo cô đơn đến nóng ấm từ lụi tàn đến sự
sống
C KẾT LUẬN:
Chỉ bằng bốn nét vẽ: cảnh chim chiều, áng mây lơ lửng trôi nhè nhẹ, thiếu nữ và lò than, Bác để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc trong thơ ca Việt Nam Nhưng có lẽ không chỉ có thế mà qua bài thơ ta hiểu được tấm lòng yêu thiên nhiên, tấm lòng nhân ái, tinh thần lạc quan của Bác dù ở bất kì hoàn cảnh nào Đó chính là chất thép lấp lánh trong thơ của Bác
Đề
5 : Một trong những nội dung bài thơ “ Đây thôn Vĩ Dạ ” (Hàn Mặc Tử) là “ tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu cuộc sống” Anh / chị hãy phân tích đoạn thơ sau để làm rõ nhận định trên.
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
B Thân bài
a Giải thích vấn đề:
- Đây thôn Vĩ Dạ chính là một tình yêu tuyệt vọng đối với cuộc sống Điều này đã trở thành ngọn nguồn cảm xúc
làm nên bài thơ Cuộc sống trong cái nhìn của Hàn Mặc Tử chính là sự sống nói chung, sự sống thuộc về cảnh sắc thiên nhiên, con người tình yêu đôi lứa
- Vào thời điểm mà Hàn Mặc Tử đang trải qua cơn bạo bệnh, thì như một nghịch lí càng tiến về phía cõi chết, nhà thơ càng yêu cõi sống, yêu một cách cuồng si, đau đớn và tuyệt vọng Đó chính là một tình yêu lớn đối với sự sống bất tử
Trang 9b Phân tích khổ thơ
Nỗi đau đời người, nỗi đau tình người, khát vọng sống, khát vọng tình yêu dâng lên ở đỉnh cao trong khổ thơ cuối của bài thơ
Khổ 3 nói tới hình bóng một giai nhân trong mộng ảo:
Mơ khách đường xa, khách đường xa.
Giấc mơ nhiều khi rất đẹp để rồi nuối tiếc mãi khi tỉnh dậy, không phải là hiện thực Giấc mơ có khi lúc tỉnh chẳng bao giờ nghĩ tới, thật khủng khiếp! Giấc mơ đa phần được tạo lập từ sự nghĩ nhiều, cảm nhiều về một việc gì đó, một người nào đó Giấc mơ của thi nhân là một giấc mơ đẹp mà buồn, tiếc vô cùng Trong giấc mơ, giai nhân hiện ra đấy
mà thấy xa vời vợi Điệp ngữ “khách đường xa, khách đường xa” đẩy người mơ và giai nhân cách xa nhau trong cái
khoảng không gian ngày càng vô vọng Mong chờ khát vọng, đợi trông càng nhiều thì bóng hồng giai nhân càng mờ
xa, mất hút
Cái sắc trắng của áo trong câu thơ: “Áo em trắng quá nhìn không ra” đâu còn là sự cảm nhận của thị giác mà là sự
cảm nhận của cảm giác, bởi bóng hình giai nhân đâu có hiển hiện thật rõ trong giấc mơ mà chỉ hiển hiện bồng bềnh, bảng lãng…Nhưng mà cái sắc trắng của áo em vẫn cứ mãi mãi khắc trọn trong đáy sâu tâm hồn thi sĩ, yêu và thiết tha với nó muôn vàn Vì nó mà sống, mà nhớ, mà thương, mà ao ước ngưỡng vọng đến đam mê cả lúc tỉnh lẫn khi
mơ Rồi lại cũng vì cái sắc trắng ấy của áo em mà thi nhân đau đớn xót xa vô cùng Sắc áo trắng không còn là cái vật
thể bên ngoài của hình hài em mà là biểu tượng của đáy sâu tâm hồn em vậy “ Kim mò đáy đại dương”, “Áo trắng quá, anh nhìn không ra”, xót đau biết nhường nào! Sao có thể hiểu thấu lòng em, biết tim em đập theo nhịp nào? Có
thổn thức hòa điệu trong nhịp đập với trái tim thi nhân? Làm sao mà biết được – Bi kịch cuộc đời, tình yêu dồn nén
tới đỉnh cao trào Sự cắt nghĩa của thi nhân trong hai câu thơ kết bài thơ về cái nhìn “không ra” của mình:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
cũng chỉ là một sự cắt nghĩa phỏng đoán, hoài nghi, giả định mà không hề khẳng định
Có cả hai nguyên nhân : do “Sương khói mờ nhân ảnh” hay do “sự bí ẩn của trái tim” mỹ nhân sau tà áo trắng?
Trong hai nguyên nhân ấy, nguyên nhân nào là chủ yếu? Mối quan hệ của hai nguyên nhân đó thế nào?
Tất cả đều do thi nhân tưởng thế, nghĩ thế và tự vấn mình như thế! Hư hư thực thực không biết nguyên do nào là chính Và vì hư thực như thế nên cõi lòng càng bâng khuâng, day dứt, dằn vặt đau đớn Sương khói của thiên nhiên
xứ Huế, thật thế ư làm mờ ảo bóng hình giai nhân! Chắc là không phải Có thể một thứ “sương khói” khác ảo mờ
giăng màn trước cõi lòng thi nhân - thứ sương khói của sự chênh vênh, chới với giữa biển đời mênh mông mà thi nhân đang tìm cách bấu víu để tồn tại Và chính ở cái thời khắc chới với ấy, rộn lên như dồn cuốn cảm xúc và tinh
lực để bật ra một câu hỏi chủ đạo nhất biểu hiện nỗi đau lớn, niềm khát vọng lớn của thi nhân:
Ai biết tình ai có đậm đà?
“Ai” và “ai” trong câu thơ, lối nói bâng qươ – cách biểu hiện của đại từ phiếm chỉ như không chỉ vào một đối tượng
cụ thể nào Sự thực không phải thế Người đọc thơ Hàn Mặc Tử có thể nhận ra trong cái nét tinh tế ấy, “ ai” thứ nhất chính là thi nhân - và cũng là những con người yêu đời, yêu người, đau đời, đau tình người như thi nhân; “ ai” thứ hai
trong câu thơ là giai nhân, những giai nhân – biểu tượng của tình yêu, của cái đẹp, của cuộc đời Câu hỏi chưa có lời đáp gieo trong lòng người đọc sự hòa điệu tâm trạng day dứt của thi nhân - Nỗi buồn đau lan tỏa, tràn đầy, thấm vào từng tế bào, từng mạch máu đến quằn quại, nhức nhối Đây là câu hỏi của trái tim và đó cũng là câu hỏi muôn thuở của tất cả những người đang yêu càng thiết tha, càng day dứt, dằn vặt:
“Hoa ơi sao chẳng nói?
Anh ơi sao lặng thinh?
Đốt lòng em câu hỏi
Yêu em nhiều không anh?”
(Xuân Quỳnh – Mùa hoa rơi)
c Bình luận
Đây thôn Vĩ Dạ - ba khổ thơ - ba câu hỏi - Một nỗi đau - Nỗi đau cứ tiếp nối, chất chồng, đè nặng lên nhau.
Hình ảnh thơ, giọng điệu, bút pháp có thể thay đổi và sự chuyển đổi tứ thơ bất ngờ, đột ngột chỉ càng chứng tỏ một tài thơ điêu luyện bậc thầy Mạch tứ phát triển nhất quán, chặt chẽ tạo cho sự biểu hiện tư tưởng nghệ thuật ngày càng hoàn thiện trong sự tinh tế và độc đáo Đi suốt bài thơ, thi nhân hiện hữu với tư cách là một con người tha thiết yêu cuộc sống, tha thiết yêu đời, tha thiết yêu người, yêu một tình yêu và cũng vô cùng tha thiết mong được cuộc đời, con người, tình yêu đáp lại Khát vọng ấy là đẹp đẽ và cao cả vô cùng, nhân văn vô cùng!
Đó là một nguyên cớ để ta yêu bài thơ và quý trọng Hàn Mặc Tử
Nhưng ta đến với Đây thôn Vĩ Dạ, đến với Hàn Mặc Tử không phải đi trên con đường phẳng thênh thang đầy hương sắc của hương đồng cỏ nội Con đường ta đến với Đây thôn Vĩ Dạ nói riêng, đến với thơ Hàn Mặc Tử nói chung là
Trang 10con đường hòa điệu xót xa một nỗi đau trĩu nặng, tê tái, khắc khoải đến rợn người Biết là phải cùng hành trình với thi sĩ trên con đường như thế mà ta chẳng chối từ Càng yêu trọng một đời tài hoa mà bất hạnh, ta càng trân trọng nâng niu từng tác phẩm, từng dòng thơ mà ở đó là sự kết tụ tài năng sáng tạo của một bậc thầy, kết tụ máu thịt, tâm
linh và cả sinh mệnh nữa của một hồn thơ mang cái tên Hàn Mặc Tử !
3 Kết bài
Cũng như làng cảnh, sông nước, vầng trăng, con thuyền, bến bãi kia không bao giờ thuộc về thi sĩ, giữa thi sĩ và chúng là một khoảng cách tuyệt vọng, thì với cô gái ấy cũng y như thế Rơi vào tuyệt vọng nhưng tình yêu không chết ngược lại tình yêu càng trở nên da diết, đau đớn Một người yêu sự sống, khát sống như thế mà sự sống trong
anh đang dần tắt Vì là tiếng của tình yêu tuyệt vọng, nên Đây thôn Vĩ Dạ mang âm điệu nghẹn ngào, khắc khoải.