Khái niệm và chức năng của giao tiếp:a/ Khái niệm giao tiếp: Giao tiếp là một nhu cầu quan trọng của con người sống trong xã hội, là một hiện tượng tâm lý- xã hội- ngôn ngữ rất phức tạp
Trang 1RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
GIAO TIẾP VÀ ỨNG XỬ SƯ PHẠM
Trang 21. Khái niệm và chức năng của giao tiếp:
a/ Khái niệm giao tiếp:
Giao tiếp là một nhu cầu quan trọng của con
người sống trong xã hội, là một hiện tượng
tâm lý- xã hội- ngôn ngữ rất phức tạp nên khó có thể đưa ra một định nghĩa đây đủ
và hoàn toàn thống nhất Có thể nêu ra
một sô quan niệm khác nhau về giao tiếp:
- Giao tiếp là hình thức đặc trưng cho mối quan
hệ giữa con người với con người, qua đó
nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý và biểu hiện ở các
quá trình thông tin, hiểu biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau
* NHẬN THỨC VỀ GIAO TIẾP VÀ GIAO TIẾP
SƯ PHẠM
Trang 3* Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng tình cảm, cảm xúc… bằng ngôn ngữ nhằm thiết lập quan hệ,
sự hiểu biết hoặc sự cộng tác…
giữa các thành viên trong xã hội.
* Giao tiếp là cách thể hiện mối
quan hệ của một cá thể người với một hay nhiều người khác trên cơ
sở kinh tế, chính trị… của xã hội
Trang 4* b/ chức năng của giao tiếp
+ nhu cầu khẳng định tài năng, đạo đức và uy tính trong sinh hoạt cộng đồng.
Sự giao tiếp là để con người tiếp xúc trao đổi với
nhau vế trí tuệ tình cảm vật chất và cả thể xác
Phương tiện giao tiếp có thể ngôn ngữ hoặc phi
ngôn ngữ.
Trang 5*Là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, qua đó mà tác động lẫn nhau.
*Trong giao tiếp phải có 2 đối tượng người phát
tin và người nhận tin Người phát tin (A) là người phát ra thông tin tác động vào người khác, là
chủ thể của hoạt động giao tiếp Nhưng khi tiếp nhận thông tin, người đó chính là đối tượng để người khác tác động tới, là người nhận tin (B)
Vậy trong quá trình giao tiếp một người có thể vừa là chủ thể, vừa là đối tượng
Nhân tố giao tiếp là các nhân tố có mặt trong
cuộc giao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối diễn ngôn về hình thức cũng như về nội
dung
2 Các nhân tố giao tiếp
Trang 6*Trong giao tiếp bằng lời nói, có vai thoại có
thể diễn ra như một chiều hay hoán đổi tùy trường hợp :
-Đối thoại ( hội thoại) : hai hay nhiều người
nói chuyện trao đổi bàn bạc với nhau
-Đơn thoại : một người nói cho nhiều người
nghe : như là diễn thuyết, phát thanh, báo
cáo…
Trong giao tiếp bằng chữ viết : như là một lá thư, một bức điện báo, fax, một bài báo, một luận văn
* a/ nhân vật giao tiếp ( thành phần giao tiếp)
Trang 7* b/ thực tế được nói tới
Đó có thể là những yếu tố vật chất, những hiện tượng của tự nhiên, của xã hội hoặc có thể là những tư tưởng tình cảm chi phối tới hoàn cảnh giao tiếp.
Căn cứ vào quan hệ giữa ngôn bản với các nhân tố giao tiếp, với hiện thực được thể hiện và với cái đích của giao tiếp, ta
có thể chia nội dung giao tiếp làm hai phần :
- Thành phần nội dung sự vật
- Thành phần nội dung liên cá nhân.
Trang 8* c/ hoàn cảnh giao tiếp
-Hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi thì quá trình giao tiếp sẽ diễn ra trọn vẹn và đạt kết quả cao Ngược lại hoàn cảnh giao tiếp có trở
ngại thì quá trình giao tiếp sẽ diễn ra
không thể đạt kết quả như mong muốn
-Hoàn cảnh giao tiếp có thể là hoàn cảnh xã hội hoàn cảnh tự nhiên hoàn cảnh tâm lí
chung của cộng đồng hoặc bối cảnh lịch sử
-Hoàn cảnh giao tiếp cũng có thể là tình
huống giao tiếp hay ngữ cảnh
Trang 9* d/hiệu quả giao tiếp
*Việc giao tiếp bao giờ cũng nhằm đạt tới một đích nào đó Đích của những việc giao tiếp vô cùng đa dạng phong phú Có khi
đơn thuần chỉ để làm quen, để bài tỏ một thái độ một tình cảm hoặc thông báo
những tin tức vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng rộng lớn
*Đích là yếu tố đầu tiên để hình thành một ngôn bản và quyết định tính hoàn chỉnh
một ngôn bản Bác đã nói “ trước hết hãy xác định viết để làm gì, viết cho ai rồi mới xác định viết cái gì và viết theo kiểu nào.”
Trang 10* Đích của ngôn bản của sự
giao tiếp bao gồm :
sẻ vui, buồn và những cung bậc tình
cảm rất đa dạng và phong phú của con người.
Trang 11* Đích tác động về hành động : làm cho người nghe, người đọc có một hành động nào đấy dù nhỏ bé hay lớn lao
* Hiệu quả của việc giao tiếp chính
là mức độ đạt được đích giao tiếp
Có những cuộc giao tiếp có thể
nhận biết ngay hiệu quả nhưng
cũng có những cuộc giao tiếp chỉ
có hiệu quả sau thời gian dài.
Trang 12* II Giao tiếp sư phạm
1/ giao tiếp sư phạm là gì ?
Đối tượng hoạt động nghề nghiệp của giáo viên
là con người, do đó giao tiếp là một kĩ năng
quan trọng không thể thiếu Giáo viên nhất
thiết phải có khả năng giao tiếp sư phạm đó là công cụ lao động đặc trưng của nhà giao
Trong khi hoat động nghề giáo vien tất yếu sẽ
có sự giao tiếp với học sinh, với các đồng
nghiệp Đó là sự tiếp xúc trao đổi cảm thông
có nội dung liên quan đến hoạt động sư phạm Vậy các giao tiếp xảy ra như thế được gọi là
giao tiếp sư phạm.
Trang 13* Kĩ năng giao tiếp sư phạm có hai
dạng : kĩ năng sử dụng ngôn ngữ giao
tiếp sư phạm và kĩ năng giao tiếp sư
giao tiếp sư phạm.
* Trong giao tiếp sư phạm, điều cơ bản là cần thể hiện sự tôn trọng học sinh giúp các em phát huy tính tích cực, chủ động
để tiếp thu tốt các tri thức và kĩ năng
Trang 14* 2 Vai trò của giáo viên trong giao tiếp sư phạm
* Giáo viên đóng vai trò chủ đạo Do đó, trong cuộc thoại giáo viên thường là
người :
- Xác định mục đích giao tiếp
- Lựa chọn phương pháp giao tiếp thích
hợp, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ.
- Xác định những thuận lợi và khó khăn
của môi trường giao tiếp để chủ động về nội dung giao tiếp nhằm đạt tới mục
đích giao tiếp nào đó
Trang 15* 3 Các hình thức giao tiếp sư
phạm.
* Dựa vào quan hệ giao tiếp trong môi trường sư phạm, có thể
phân biệt giao tiếp sư phạm
- Giao tiếp giữa thầy và trò.
- Giao tiếp giữa các đồng nghiệp với nhau
- Giao tiếp giữa giáo viên học
sinh.
Trang 16* III Những chỉ dẫn về giao tiếp sư
phạm
1.Những vấn đề chung
a/ cách ứng xử các tình huống “ có vấn đề” của
học sinh
* Những yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp ứng xử
bao gồm:đặc điểm khí chất,dư luận xã hội,
không khí tâm lí, nhân tố thẩm mĩ, nhân tố vật chất, vốn văn hóa
* Những thuộc tính cần thiết cho sự ứng xử
thành công bao gồm: năng lực quan xác đối
tượng, kĩ năng hiểu biết rộng, năng lực tự chủ trong hoạt động giao tiếp
Trang 17* ứng xử trước tình huống “có vấn đề” của HS người GV nên:
- Bình tĩnh không phản ứng tức thời,
không vội lên án HS.
- Cần tìm hiểu rõ căn nguyên và hoàn cảnh hành xử của các em.
- Nhận xét, đánh giá về từng hành vi cụ thể, không nhận xét “chụp mũ HS”
Nên có thái độ nhất quán sai lầm như nhau của trẻ.
Trang 18* b/ ngôn ngữ giao tiếp của GV
-Giọng nói ấm áp, hấp dẫn các em Không nói lắp, nói ngọng Ngữ điệu vừa phải, linh hoạt sinh động
-Vốn từ phong phú,diễn đạt rõ ràng mạch
lạc,dễ hiểu
Trong giao tiếp với HS người GV thực hiện các điều sao
-Gọi đúng tên Hs đó khi giao tiếp
-Thực sự quan tâm đến đối tượng giao tiếp
-Lắng nghe và khích lệ, động viên các em nói những mong muốn, băn khoăn của mình
Trang 19-Biết thử đặt vào vị trí của HS để có sự đồng
cảm, nhằm dễ thuyết phục HS
-Khen ngợi một cách thành thật những cố gắn nổi bật của các em
-Trước khi nhận xét, nhắc nhở, phê bình bao giờ cung không quên khẳng định các ưu điểm, các thành tích của các em
-Thực tế cho thấy thưởng nhiều hơn phạt, khen nhiều hơn chê cách giáo dục có hiệu quả cao
-Không quát tháo và dùng những từ xúc phạm như “láo, hỗn, mất dạy…” dù trong bất cứ hoàn cảnh nào
-Không nên nhắc mãi những khuyết điểm của
các em
Trang 20* c/ về sự giao tiếp sư phạm
- Không nên đối xử đơn điệu, máy móc, ép buộc cả lớp cùng tiến bước như nhau.
- GV thường chỉ quan tâmđến kết quả học tập mà ít quan sát HS ứng bên ngoài thế nào.
- Công bằng không được thiên vị phân biệt đối xử với HS.
- HS thường rất nhạy cảm với thái độ, cử chỉ của GV
Do đó, GV cần chú ý đến những yếu tố phi ngôn
ngữ như giọng nói, tư thế, cử chỉ cách ăn mặc.
- Nên chú ý đến tính hiếu động của trẻ em, nhất là
các em trai, nên có những hoạt động thư giãn giữa giờ.
Trang 21- Cùng lứa tuổi, con gái thường phát
triển sớm hơn con trai, cho nên GV
không nên bực bội khi thấy các em trai hiếu động hơn nhưng cũng có vẻ non nớt hơn.
- Tâm lý trẻ em nhỏ thường cư xử bồng bột một vô thức: vui buồn, yêu ghét,
ganh tỵ, hờn dỗi…thường thay đổi
nhanh chống.
- Do không ý thức rõ ràng, đầy đủ về
ranh giới về tốt và xấu, thực và hư…
GV cần hiểu để hướng dẫn, uốn nắn
các em đúng đắn
Trang 222/ Các trở ngại trong giao tiếp sư phạm
a/ Sự quá chênh lệch giữa người phát
và người thu (về tuồi tác, cương vị,
môi trường, trình độ văn hóa) có thể
là những yếu tố gây hiểu lầm hoặc
không hiểu nhau.
Sự mệt mỏi do lao động chân tay
căng thẳng cũng có ảnh hưởng đến
khả năng tiếp thu thông tin.
Trang 23b/ Về tâm lí, những yếu tố gây trở ngại trong giao tiếp là:
- Những chấn thương tình cảm
- Những sự khác nhau về chính
kiến, những xung đột.
- Những định kiến về ngưởi khác.
- Đối tượng muốn nói rõ sự thật
nhưng cảm thấy không an toàn vì
sự có mặt của của một người thứ
ba.
Trang 24c/ Các trở ngại do môi trường;
những yếu tố gây nhiễu như:
- Các kích thích thị giác gây phân tn1 tư tưởng.
- Nhiệt độ không khí quá cao.
- Tiếng ồn làm cho các thông tin tiếp thu sai lệch
Trang 25Phụ huynh học sinh là một lực lượng giáo dục quan trọng, luôn luôn sát cánh với nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh cho học sinh
Nội dung những lần gặp gỡ chính thức giữa
GV và PHHS đừng bao giờ cũng chỉ bó hẹp trong chyên tiền nong, CSVC, thiết bị dạy học, đời sống GV Những chuyện ấy nếu lặp đi lặp lại nhiều lần trong các cuộc gặp gỡ, dễ làm cho PHHS có định kiến không hay đối với GV, đồng thời cũng vô tình làm cho họ thu hẹp các hoạt động chỉ còn lại những chuyện thu chi, đóng góp
* RÈN LUYỆN HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VÀ XỬ LÍ
CÁC TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP VỚI PHỤ HUYNH HỌC SINH
Trang 26GV nên chuẩn bị nội dung gặp gỡ với PHHS
tương đối toàn diện về những công việc cần
phối hợp để cùng PHHS giáo dục HS theo mục tiêu đào tạo
Vào đầu năm học, GV chủ nhiệm nên thông báo
về những quy định của trường, của lớp về
chương trình, SGK, tập vở, nề nếp, giờ giấc học tập, những yêu cầu cụ thể về sự hỗ trợ của
PHHS trong việc đôn đốc, động viên, kiểm tra
việc học ở nhà của các em cùng các hoạt động khác theo yêu cầu của trường lớp
Có thể xen ghép các loại việc sau đây trong
từng lần gặp gỡ tùy theo tuyến trình năm học:
- Tình hình CSVC dạy và học ở lớp, điều kiện học tập của HS ở nhà
-Ý kiến đóng góp của PHHS về việc dạy học của GV
-
Trang 27-Cách PHHS hỗ trợ con em trong việc học ở nhà:
+ Khi hs có một hiện tượng bất thường (không
tập trung, học tập sa sút, đi trễ hay nghỉ nhiều, có hành vi không tốt ) GV cần thông báo đến PHHS
để có sự hỗ trợ giáo dục.
+ Tôn trọng PHHS nhưng cần chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình và trong khi giao
tiếp.
+ Cần giữ thể diện và uy tín của chính mình và
đồng nghiệp trước PHHS Không làm điều gì khiến PHHS mất sự tôn trọng đối với mình và đồng
Trang 28* RÈN LUYỆN HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VÀ XỬ LÝ CÁC TÌNH HUỐNG SƯ PHẠM VỚI HỌC SINH
I RÈN LUYỆN HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VỚI HỌC SINH
-Trong các loại đối tượng giao tiếp sư phạm, tất nhiên đối tượng giao tiếp cơ bản trong nghề dạy học chính là học sinh.
-Muốn việc dạy học đạt kết quả tốt đẹp, GV cần quan
tâm đến 3 yếu tố:
+ Yếu tố thứ nhất là phẩm chất cá nhân của GV.
+ Yếu tố thứ hai là mối quan hệ giữa GV với cá nhân
hs và với cả lớp học.
+ Yếu tố thứ ba là làm thế nào để mỗi hs đều tự tin,
tự trọng
Trang 291.Những đặc trưng trong phẩm chất cá
nhân của người gv
Học sinh tiểu học vốn rất hồn nhiên, vô tư, chân thật và thường tôn trọng, yêu quý gv tiểu học,
thậm chí xem gv như thần tượng của mình Vì
vậy, gv tiểu học cần đối xử với các em một cách
tự nhiên, chân thành, thể hiện sự quan tâm,
chăm sóc, dạy dỗ, tôn trọng các em Dưới đây là một số điều gv cần quan tâm:
Trang 30-Phải tự nhiên, chân thật, nhiệt tình, vui vè, niềm nở, dễ gần gũi Học sinh tiểu học
thường không thích sự thiếu chân thật, vì vậy, cần cư xử với các em một cách tự
nhiên, không được giả tạo, cả về giọng
nói, dáng điệu, cách biểu lộ tình cảm ( tất nhiên cần tiết giảm những hành vi quá
đáng) Thông cảm với hs
-Biết cùng chơi với hs, biết nói đùa người
GV cần thể hiện rõ ước muốn được làm
việc với hs Sự nhiệt tỉnh của gv làm cho hs cảm nhận được tin tưởng, thương yêu, tôn trọng và điều đó sẽ mang lại ảnh hưởng tốt đẹp đối với việc học của các em
Trang 31-Có mối quan hệ với gia đình hs để có thể hợp tác với nhau trong việc dạy dỗ các em.
-Biết khoan dung, có nghĩa là gv phải độ lượng
không cố chấp, công bằng và kiên định đối với tất
-Ngay cả khi gv bọc lộ rõ những phẩm chất nói
trên, mối quan hệ tốt vẫn chưa hình thành Người
gv còn cần phải có những hành động cụ thể để
hình thành mối quan hệ tốt đẹp với hs Sau đây là những gợi ý:
Trang 32
+ Cần nắm những đặc điểm của từng hs, như tên tuổi, đặc điểm của hoàn cảnh gia đình,
tình trạng sức khỏe và quá trình học tập,
những sự kiện bất thường (như hs lưu ban
nhiều năm, thiểu năng, mồ côi, cá tính đặc
biệt ) cũng như người lớn hs thích được gọi đúng tên của mình khi giao tiếp
+ Cố gắng hiểu biết càng nhiều về hs càng tốt bằng nhiều nguồn thông tin khác nhau
Nên ghi chép những điều đặc biệt của ừng hs ( như lưu ban, nghịch ngợm, ưa đánh
nhau,cận thị, nói ngọng, nói lắp, trầm
lắng ) Biết thêm cuộc sống ngoài lớp học của hs cũng là điều bổ ích
Trang 33+ Nên dành thời gian để nói chuyện cở
mở với từng hs hay từng nhóm nhỏ Em thích làm gì? Thích học môn nào nhất? Vì sao? Môn nào em không thích? Tại sao?
Em học giỏi môn nào? Em quan tâm điều
gì nhất? Em sống chung với ai? Em thích chơi những trò chơi nào? Thích chơi với những bạn nào? Không thích chơi với bạn nào? Tại sao?
+ Nên tham gia các trò chơi giải trí, hoạt động thể thao, văn nghệ với các em Nếu
gv tỏ ra quan tâm chân thành đến hs,
người đó sẽ dễ dàng xây dựng các mối
quan hệ trong lớp
Trang 34- Tất cả các yếu tố trên sẽ tạo một hình ảnh tốt
đẹp về gv và làm cho các em tin tưởng gv, từ đó
các em sẽ có động cơ học tập tốt hơn và việc học tập của các em sẽ đạt được kết quả tốt đẹp hơn:
+ Nên lưu ý là gv vừa cần bình đẳng với hs, vừa
phải uốn nắn những hành vi không tốt của các em Muốn thế, ngay từ đầu cần quy định rõ nội quy của lớp và tổ chức thực hiện một cách công bằng và
kiên trì Có những quy định đơn giản nhưng nếu
không kiên định cũng khó áp dụng tốt Chẳng hạn:
«phải xếp hàng trước khi vào lớp và trước lúc ra
về» hoặc «Muốn phát biểu cần giơ một tay lên, đợi
gv mời chứ không được tự ý nói nhao nhao lên»
Cần giúp các em giữ được nội quy nhưng không
xúc phạm đến nhân cách của các em.
Trang 353 LÀM CHO MỖI HỌC SINH TỰ TIN VÀ TỰ HÀO VỀ MÌNH
Trong quá trình học tập ở tiểu học, trẻ luôn luôn có nhu cầu trở thành chủ thể của lớp học và xác định tầm quan trọng của bản thân trong lớp học Qua kinh
nghiệm thực tiễn của gv và nghiên cứu khoa học, người ta nhận thấy có mối
quan hệ giữa sự tự tin, tự trọng và kết quả việc hoàn thành nhiệm vụ học tập Công việc giảng dạy của gv trở nên
thuận lợi hơn nếu gv biết cách làm cho mỗi hs tự cảm thấy mình là một người tốt Muốn thế, gv nên thực hiện những điều sau:
Trang 36-Cần gián tiếp làm cho hs trong cả lớp thấy
được mối quan hệ giữa gv và hs không bị ảnh hưởng bởi điểm số các em nhận được;
+ Quan tâm như nhau đến các em, tránh sự
phân biệt đối xử vô thức đối với các em và gia đình các em Hết sức tránh quan tâm quá
nhiều, chớ khen quá nhiều đến một vài hs
Nếu cần hs giúp gv một việc, hãy phân phối
đều cho nhiều hs hơn
Nên biểu dương sự cố gắng của các em dù là
hs bình thường, càng nên biểu dương bất kỳ
kết quả nào của hs yếu Lời khen riêng có tác dụng sâu sắc hơn một lời khen công khai