1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài tiểu luận XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG 35 NĂM KỂ TỪ KHI đổi MỚI

18 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 420,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con người tại hội nghị lần thứ tư của ban chấp hành trung ương khoá VII, Đảng ta đã đề ra và thông qua nghị quyết về việ

Trang 1

B Ộ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

- -

Đề tài tiểu luận  XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG

35 NĂM KỂ TỪ KHI ĐỔI MỚI

Lớp: 2031111013602 – Chiều thứ 3

Nhóm: Titans – Người khổng lồ Thành viên: Lê Nguy ễn Gia Hưng

H ạ Thị Tuyết Ngân

Phạm Nguyễn Gia Hy Đào Hoàng My

(H ọc kì giữa, năm 2021)

Trang 2

M ỤC LỤC

1 Ph ần mở đầu: 3

1.1 Lí do ch ọn đề tài: 3

1.2 M ục tiêu: 4

1.3 Phương pháp: 4

1.4 K ết cấu: 4

2 Ph ần nội dung: 5

2.1 Nh ững quan điểm về con người và phẩm chất con người 5

2.1.1 Nh ững quan điểm của C.Mác và Đảng về con người và bản chất của con người 5

2.1.2 Những phẩm chất cơ bản của con người mới cần được xây dựng 7

2.2 Th ực trạng và một vấn đề đặt ra trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng con người hơn 30 năm sau khi đổi mới 10

2.2.1 Thực trạng phát triển con người ở Việt Nam hiện nay 10

2.2.2 Một số vấn đề đặt ra trong phát triển con người ở Việt Nam hiện nay 12

2.3 Phương hướng và giải pháp xây dựng phát triển con người Việt Nam hi ện nay 13

2.3.1 Phương hướng xây dựng con người 13

2.3.2 Một số giải pháp cho các vấn đề hiện tại 14

3 Ph ần kết luận: 17

Trang 3

1 Phần mở đầu:

1.1 Lí do chọn đề tài:

Người xưa có câu: “Dân vi bản, dân vi quí”, thấm nhuần tư tưởng đó của cha ông chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trên thế giới không có gì mạnh bằng sự đoàn kết của nhân dân, có dân là có tất cả, mất dân là mất tất cả, nước lấy dân làm gốc thì chính quyền nhà nước cũng phải lấy dân làm gốc, dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Do

đó con người là quý nhất, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi và phát triển con người

là mục tiêu cao cả nhất của toàn nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng Trong suốt chiều dài lịch sử con người Việt Nam đã thay đổi không ngừng và ngày càng hoàn thiện để đáp ứng được nhu cầu hội nhập phát triển của đất nước Trên cơ sở vận dụng khoa học và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về con người tại hội nghị lần thứ

tư của ban chấp hành trung ương khoá VII, Đảng ta đã đề ra và thông qua nghị quyết

về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách quyết về việc phát triển con người Việt Nam toàn diện với tư cách là “động lực của sự nghiệp xây  dựng xã hội mới đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Đó là “con người phát triển cao

về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Phát triển con người Việt Nam toàn diện - đó cũng chính là động lực, là mục tiêu nhân đạo của sự đổi mới đất nước mà chúng ta đang từng bước tiến hành Bởi lẽ, người lao động nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong sự phát triển nền kinh tế đất nước theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì chất lượng người lao động là nhân tố quyết định Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Thực tiễn đã chứng tỏ rằng không có người lao động chất lượng cao thì chúng ta không thể phát triển kinh tế, đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này và tạo đà cho bước phát triển tiếp theo của sự nghiệp đổi mới thì một nước đang còn ở tình trạng kém phát triển như nước ta không thể không xây dựng một chính sách phát triển lâu bền, có tầm nhìn xa trông rộng, phát triển con người và nâng cao chất lượng của người lao động

Trang 4

Do nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề con người, đặc biệt là vấn đề xây dựng con người trong thời kỳ đổi mới đất nước, nên nhóm “Titans – Người Khổng Lồ” đã chọn đề tài tiểu luận: XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG 35 NĂM KỂ TỪ KHI ĐỔI MỚI”

1.2 M ục tiêu:

Nghiên cứu tầm quan trọng của con người trong thời kỳ đổi mới (35 năm qua) và từ đó đưa ra các biện pháp xây dựng

1.3 Phương pháp:

Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, ngoài ra còn sử dụng phương pháp

so sánh, phân tích để nghiên cứu vấn đề

1.4 K ết cấu:

2.1 Quan điểm về con người và phẩm chất con người

2.1.1 Những quan điểm của C.Mác và Đảng về con người bản chất của con người

2.1.2 Những phẩm chất cơ bả của con người mới cần được xây dựng

2.2 Thực trạng và một vấn đề đặt ra trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng con người

2.2.1 Thực trạng phát triển con người ở Việt Nam hiện nay 2.2.2 Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng phát triển con người

ở Việt Nam

2.3 Phương hướng và giải pháp xây dựng phát triển con người Việt Nam

2.3.1 Phương hướng xấy dựng con người

2.3.2 Một số giải pháp

Trang 5

2 Phần nội dung:

2.1 Nh ững quan điểm về con người và phẩm chất con người

2.1.1 Nh ững quan điểm của C.Mác và Đảng về con người và bản

ch ất của con người

Quan điểm của C.Mác:

Trong quan niệm của triết học mác - xít, con người là một thực thể trong sự

thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái xã hội Con người sinh ra từ tự nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, đồng thời con người tồn tại và phát triển gắn liền với

sự tồn tại và phát triển của xã hội

Quan niệm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người:

Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội:

luật sinh học chi phối đời sống của cơ thể con người

xã hội, đời sống tinh thần của con người

Hai mặt này có quan hệ khắng khít không thể tách rời nhau, trong đó mặt sinh học là nền tảng vật chất tự nhiên của con người, nhưng không phải là yếu tố quyết định bản chất của con người; mặt xã hội mới là mặt giữ vai trò quyết định bản chất của con người Bởi mặt xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất Lao động sản xuất ra của cải vật chất là yếu tố quyết định hình thành bản chất

xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn luôn bị quyết định bởi hệ thống ba quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau:

Trang 6

Ba hệ thống trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Nó là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người

Trong tính hi ện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ

xã hội

K.C.Mác khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”

- Luận đề trên đã chỉ rõ: Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình

- Trong khi khẳng định bản chất xã hội của con người, triết học Mác - Lênin không phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người, triết học Mác - Lênin chỉ muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người với thế giới động vật trước hết ở bản chất xã hội

Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử

- Con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội

- Với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động, phát triển của

lịch sử xã hội

của chính mình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra

lịch sử của chính bản thân con người Bản chất của con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người

Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, con người cần tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khách nhau Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người

Quan điểm của Đảng:

Trang 7

Con người trong tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn có những định hướng chuẩn giá trị cho việc xây dựng con người Việt Nam Đảng ta luôn coi trọng, đẩy mạnh và đổi mới công tác giáo dục - đào tạo, coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đây là điều kiện để hình thành và phát triển các thế hệ con người Việt Nam khỏe về thể chất, trong sáng về tâm hồn, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngay từ những ngày đầu của sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã nhấn mạnh rằng: con người là vốn quý nhất

và muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa Với những định hướng đúng đắn của Đảng về vị trí, vai trò của nhân tố con người, chúng ta đã xây nên những thế hệ con người Việt Nam có lý tưởng cách mạng vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, có ý thức rõ ràng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Như vậy, đối với Đảng Việt Nam: con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng; Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng

2.1.2 Nh ững phẩm chất cơ bản của con người mới cần được xây

d ựng

người Dựa vào khung chuẩn mực ấy, người ta có thể đánh giá các hành vi của con người tốt hay xấu, lợi hay hại, về những điều được khuyến khích, cấm kị, hoặc về nghĩa vụ của mỗi con người

Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con Người Việt Nam mới theo tư tưởng

Hồ Chí Minh:

M ột là, với đất nước, dân tộc phải: “Trung với nước, hiếu với dân”

Về phẩm chất đạo đức thì trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất đạo đức

cơ bản nhất, quan trọng nhất, bao trùm nhất

Trang 8

Trung, hiếu là những khái nhiệm đã có trong tư tuởng đạo đức truyền thống Việt Nam và phương Đông đã được Hồ Chí Minh sử dụng và đưa vào nội dung mới Trước kia trung là trung quân, là trung thành với vua; trung thành với vua cũng có nghĩa là trung thành với nước vì vua với nước là một, vua là nước, nước là nước của vua Còn hiếu thì chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình, là con cái phải hiếu thảo với cha mẹ

Trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội, phải biết đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của cách mạng lên trên hết, trước hết

Còn Hiếu với dân, có nghĩa là không chỉ hiếu thảo với cha mẹ mình, mà còn

phải hiếu thảo với cha mẹ của người khác, hiếu thảo với nhân dân, gắn bó với nhân dân; bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, bao nhiêu lợi ich đều là vì dân, bao nhiêu lực lượng đều là ở dân… Theo Hồ Chí Minh lãnh đạo phải nắm vững dân tình, hiểu

rõ dân tâm, lại phải thường xuyên quan tâm đến việc cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để nhân dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người làm chủ đất nước, quyền thì hưởng, còn trách nhiệm thì phải làm tròn

Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hi sinh vì độc lập tự do của

Tổ quốc, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị – đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt mà còn lâu dài về sau

Hai là, v ới mọi người phải: “Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình”

Đây là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất Phẩm chất đó là sự

kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tinh thần nhân văn của nhân loại, cùng với sự thể nghiệm của Hồ Chí Minh qua hoạt động cách mạng thực tiễn Nói về tình yêu thương con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần phân tích ở những luận điểm sau:

Trang 9

Tình yêu thương đó đã được thể hiện ở Hồ Chí Minh bằng một ham muốn tột bậc là làm cho nước được độc lập, dân được tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Nếu không có tình yêu thương con người như vậy thì không thể nói đến cách mạng, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

đó là thương yêu nhân dân Người quan tâm tới mọi đối tượng từ các cụ già, bộ đội, phụ nữ, thanh niên, đến các cháu thiếu niên nhi đồng

Yêu thương con người là giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, sống cao đẹp hơn Tuy nhiên, những tình yêu thương đó phải được dựa trên nguyên tắc tự phê bình

và phê bình một cách chân thành và nghiêm túc

Ba là, v ới mình phải thực sự: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh là mối quan hệ “với tự mình” Đây là nét đặc trưng của đạo đức cách mạng theo quan điểm của Người, một phẩm chất đạo đức trung tâm, gắn liền với hoạt động hàng ngày của mỗi người

B ốn là, mở rộng quan hệ yêu thương con người đối với toàn nhân loại, người cách mạng phải có “Tinh thần quốc tế trong sáng”

Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với những người tiến bộ, yêu chuộng hòa bình công lí trên thế giới nhằm mục tiêu lớn của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước các dân tộc

Là tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, nó hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa Sô vanh hay chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Và sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản chính là chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghiã quốc

tế trong sáng

Là một phẩm chất đạo đức, là yêu cầu đạo đức nhằm vào mối quan hệ rộng lớn, vượt qua khuôn khổ của quốc gia dân tộc Không phải bất cứ ai, bất cứ lúc nào

Trang 10

cũng nhận thấy tinh thần đó, nhưng việc giáo dục của Đảng và việc rèn luyện của cá nhân mỗi người về tinh thần quốc tế lại không thể coi nhẹ

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về tình đoàn kết quốc tế trong sáng là sự mở rộng quan hệ đạo đức giữa người với nguời và với toàn nhân loại vì Người không chỉ

là “người Việt Nam nhất” như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định mà còn là

“nhà văn hóa lớn của thế giới”, “chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế”

Đó là bốn phẩm chất chung cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới

2.2 Th ực trạng và một vấn đề đặt ra trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng con người hơn 30 năm sau khi đổi mới

2.2.1 Th ực trạng phát triển con người ở Việt Nam hiện nay

Sau hơn 30 năm đổi mới, phát triển con người ở nước ta theo quan điểm này của Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực, song vẫn có những bất cập, được thể hiện trên một số phương diện, như: Về y tế, chính sách y tế ngày càng được quan tâm Đầu tư cho y tế trong những năm qua ở mức cao là tiền để thực hiện chiến lược chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt được nhiều kết quả to lớn Hệ thống y tế, đặc biệt là y tế ở cơ sở được chăm lo và mở rộng Hầu hết các xã, phường trong cả nước đều có trạm y tế, trên 65% trạm có bác sĩ Ngành y tế cùng với toàn dân đã chăm lo và đẩy lùi một số dịch

bệnh nguy hiểm Tuổi thọ bình quân của dân số nước ta tăng từ 63 tuổi (1990) lên 71,5 tuổi (năm 2005) Chỉ số phát triển con người (HDI) đã được nâng lên từ mức dưới trung bình (0,498 năm 1991) tăng lên mức trung bình (0,688 năm 2002) và năm

2005 nâng lên là 0,704, năm 2008 là 0,733 xếp thứ 100/177, thuộc nhóm trung bình cao Đã hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu Thiên niên kỷ (theo Báo cáo chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người của Việt Nam năm 2005 là 0,704, xếp thứ 108/177 nước, trong khi tại các nước kém phát triển, chỉ số này là 0,518; tại các nước có thu nhập trung bình, chỉ số này là 0,774) Bên cạnh những thành tựu, còn một số tồn tại, như suy dinh dưỡng ở trẻ em, chất lượng khám chữa

bệnh, y đức của đội ngũ y tế Là những vấn đề tồn tại trong thời gian dài mà chưa có giải pháp khắc phục triệt để

Ngày đăng: 21/12/2021, 12:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] GS.TS Hoàng Chí Bảo, Giáo trình Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, khoa Lý lu ậ n Chính tr ị, Trường Đạ i h ọ c Tài Chính – Marketing.❖ Trang web tham kh ả o Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chủ nghĩa Xã hội Khoa học
[1] Nguyễn Văn Sơn, Quan điểm của C.Mác về phát triển con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay,http://elib.vnuf.edu.vn/bitstream/123456789/1579/1/Quan%20diem%20cua%20C.mac%20ve%20phat%20trien%20con%20nguoi%20va%20su%20van%20dung%20o%20Viet%20nam%20hien%20nay.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của C.Mác về phát triển con người và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay
[2] GS.TS H ồ Sĩ Quý (23/10/2018), M ấ y v ấn đề v ề h ệ giá tr ị văn hóa Việ t Nam hiện nay, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/may-van-de-ve-he-gia-tri-van-hoa-viet-nam-hien-nay.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về hệ giá trịvăn hóa Việt Nam hiện nay
[3] PGS.TS. Nguyễn Thế Nghĩa, Phát tri ể n b ề n v ữ ng – M ấ y v ấn đề lý lu ậ n và thực tiễn”, https://css.hcmussh.edu.vn/?ArticleId=0110d158-3dfd-4f92-b635-f8240447521e Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững – Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn”
[4] TS. Bùi Ngọc Thanh (01/09/2011), Nh ữ ng v ấn đề c ầ n kh ắ c ph ụ c trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội , Những v ấn đề c ầ n kh ắ c ph ụ c trong gi ả i quy ế t m ố i quan h ệ gi ữa tăng trưở ng kinh t ế và công bằng xã hội (lapphap.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần khắc phục trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w