đổi này khiến các em cảm thấy mình khác với bạn bè, gây nên hiện tượng tự ti, mặc Trong các giai đoạn phát triển khác nhau sơ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng, loài người dưới sự hướng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
………… o0o…………
Mã sinh viên: 220000228
Trang 2Đề bài
Câu 1: Phân tích quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lý trẻ em,
Câu 2: Phân tích đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học? Từ phân tích đặc điểm
tư duy của học sinh tiểu học, anh (chị) hãy rút ra kết luận sư phạm cần thiết?
Câu 3: Phân tích các con đường hình thành nhân cách của người giáo viên tiểu
thành người giáo viên tiểu học?
Bài làm
Câu 1:
lượng, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật hiện tượng
Ở giai đoạn này, cơ thể các em có những sự thay đổi rõ rệt và đôi khi những sự thay
Trang 3đổi này khiến các em cảm thấy mình khác với bạn bè, gây nên hiện tượng tự ti, mặc
Trong các giai đoạn phát triển khác nhau (sơ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng,
loài người dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của người lớn thông qua hoạt động của bản
trước cũng là sự chuẩn bị cho trình độ sau Yếu tố tâm lý lúc đầu ở vị trí thứ yếu,
trong đời sống tâm lý với bản sắc riêng của mình trên cơ sở chiếm lĩnh các thành tựu
Trang 4c Một số quy luật phát triển tâm lý trẻ em
Quy luật không đồng đều: Trong tiến trình phát triển của mỗi cá thể, các chức năng tâm lí diễn ra có thời điểm Nếu có được những tác động phù hợp thì sự hình thành và phát triển của nó sẽ diễn ra thuận lợi và nhanh chóng Ngược lại, nếu tại thời điểm ấy, một điều kiện nào đấy cản trở sự hình thành và phát triển chức năng đó
thể khác nhau là không như nhau Vì thế, có trẻ phát triển nhanh, có trẻ phát triển chậm hơn so với giai đoạn lứa tuổi
VD: Trong cùng một nhóm trẻ, cháu thì hát rất giỏi đúng nhịp theo sự hướng dẫn của cô, cháu thì hát sai nhịp Có cháu thì học đếm rất nhanh, có cháu lại đang phân vân, bối rối chưa nhận diện được con số
Quy luật về tính toàn vẹn của tâm lí: Trong tiến trình phát triển, tâm lí con người ngày càng có tính trọn vẹn, thống nhất và bền vững Tính trọn vẹn của tâm lí phụ thuộc nhiều vào động cơ chỉ đạo hành vi của trẻ => Động cơ hành vi của trẻ ngày càng trở nên tự giác, có ý nghĩa xã hội và ngày càng bộc lộ rõ trong nhân cách VD: Khuyến khích trẻ kiên trì với công việc trong cuộc sống sẽ hình thành nên tính bền bỉ, kiên nhẫn sau này Hoặc tạo cho trẻ thói quen dọn dẹp bàn học, góc học tập tạo cho trẻ sự gọn gàng, ngăn nắp
Quy luật về tính mềm dẻo và khả năng bù trừ: Ở trẻ, hệ thần kinh rất mềm dẻo
và dựa vào đó mà tác động của giáo dục có thể làm thay đổi tâm lí của trẻ Tính mềm dẻo cũng tạo ra khả năng bù trừ khi một chức năng tâm lí hoặc sinh lí nào yếu thì chức năng khác phát triển mạnh hơn bù đắp hoạt động chức năng trên
VD: có những em bị mù bẩm sinh nhưng lại có đôi tai nhạy bén, có em bị bại liệt nhưng có giọng hát hay, có em bị khiếm khuyết trí tuệ nhưng có khả năng hội họa rất tốt, …
d Kết luận sư phạm rút ra
Trang 5Giáo viên chỉ dạy, uốn nắn những nét tâm lí xấu được hình thành do ảnh hưởng
tự phát của môi trường, có thể dùng biện pháp khen ngợi, khích lệ để bù đắp những thiếu hụt do khuyết tật hoặc bệnh tật mang lại, khiến các em không cảm thấy sự tự ti
vì khác các bạn
Trong giáo dục, giáo viên cần phải thấu hiểu được những đặc điểm tâm lý đặc trưng của trẻ, tránh rập khuôn, máy móc, áp đặt, cần phải tôn trọng cá tính riêng của trẻ và tìm ra cách thức phù hợp nhất để trẻ phát huy tối đa năng lực của mình
Vạch ra cho trẻ chiều hướng cho sự phát triển nhân cách tốt như yêu quê hương
tổ quốc, yêu gia đình, yêu thiên nhiên,… và dẫn dắt sự hình thành, phát triển nhân cách của học sinh theo chiều hướng đó Nên sử dụng hình ảnh và các ví dụ minh họa
để bài giảng truyền đạt đến các em hiệu quả nhất
Trong tiết học, tạo nhiều cơ hội, hoạt động cá nhân lẫn tập thể để bộc lộ và phát huy khả năng của trẻ Cho trẻ chơi trò chơi vừa tạo điều kiện cho các em giao lưu học hỏi lẫn nhau vừa tạo điều kiện giúp trẻ thể hiện bản thân
Liên hệ bản thân: là một sinh viên khoa sư phạm, việc thấu hiểu tâm lý của trẻ
bồi dưỡng lý thuyết và chú trọng vận dụng trong những lần thực tập, rèn luyện tại các cơ sở giáo dục (trường phổ thông, sư phạm) Rút ra kinh nghiệm từ giảng viên
và thầy cô hướng dẫn Đối với các em nhỏ thì thấu hiểu, nhưng phải hiểu tâm lý của từng trẻ là khác nhau và không áp đặt tâm lý của học sinh này lên học sinh kia, việc này có thể gây ra hậu quả khó lường Nghiên cứu tài liệu mới, lối dạy mới, và khảo sát xem học sinh có tập trung và tiếp thu được nội dung học hay không, từ đó sửa đổi
bổ sung giáo án sao cho phù hợp với lớp lứa tuổi
Câu 2:
Trang 6Khái niệm tư duy: là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết
Đặc điểm tư duy của học sinh Tiểu học:
+ Sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể (các khối lớp đầu tiểu học) sang tính trừu tượng, khái quát (các khối lớp sau tiểu học)
Ví dụ: học sinh đầu tiểu học làm toán rất chậm, những phép tính công trừ đều chưa quen và thường phải lấy ngón tay hoặc que tính để hoàn thành bài tập Các em cuối tiểu học lại có thể làm những bài toán khó hơn với phép nhân chia, các em suy nghĩ nhiều hơn và không cần ngón tay, que tính nữa
+ Đến lớp cuối tiểu học, các em đã có khả năng phân biệt dấu hiệu, khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ và sắp xếp vào một hệ thống nhất định tuy nhiên trẻ vẫn gặp khó khăn trong việc tiến hành tổng hợp
Ví dụ: những vốn từ của học sinh khối đầu mang tính khái quát như cây, hoa, quả, chim, …các em học sinh lớp cuối tiểu học có sự đa dạng hơn về vốn từ và biết phân loại các vốn từ theo tư duy phong cách của riêng trẻ: cây phượng, cây hòe thì xếp vào nhóm cây, hoa lan, hoa hồng xếp vào loại hoa,…
+ Tiến hành so sánh chưa đầy đủ Trẻ ở các khối lớp đầu tiểu học nhầm lẫn giữa
so sánh và kể lại, nhưng ở những lớp cuối cấp trẻ đã biết đi tìm sự giống và khác nhau khi so sánh nhưng chỉ là cái giống ở các đối tượng quen thuộc và khác ở đối tượng mới
Ví dụ: khi tập làm văn đã biết sử dụng các biện pháp so sánh như: “răng mẹ đều như bắp”, “nhìn từ xa, cây bàng như một cây nấm khổng lồ”, “đôi mắt bạn long lanh như hạt nhãn”,…các lớp đầu tiểu học có thể sẽ hiểu lầm theo một phương hướng khác khi nghe giảng chẳng hạn như: “răng mẹ vàng như bắp”, “đôi mắt bạn ngon như hạt nhãn”,…
Trang 7+ Ở các lớp đầu, trẻ tiếp nhận các dấu hiệu bên ngoài và mang tính xúc cảm nhưng về sau, các lớp cuối tiểu học, trẻ ngày càng dựa nhiều hơn vào những tri thức
của đối tượng
VD: Các lớp đầu tiểu học, học sinh vẫn dùng định nghĩa “cây” cho mọi thực vật có màu xanh Về sau, các em biết phân loại qua đặc điểm nhận dạng “cây phượng”, “cây chuối”,…
+ Phán đoán từ 1 chiều, mang tính khẳng định (các khối lớp đầu tiểu học) đến dựa vào các dấu hiệu bản chất lẫn không bản chất để phán đoán có tính giả định, đồng thời có thể chứng minh, lập luận cho phán đoán của mình (các khối lớp cuối tiểu học)
VD: Khi nói đến đặc điểm: quả có vị chua
Học sinh những khối lớp đầu đoán là quả chanh
Học sinh khối lớp cuối đoán là có thể là quả chanh hoặc quả quất hay me, + Trong lĩnh hội khái niệm Từ việc dùng các đối tượng cụ thể hay liệt kê các đặc điểm của đối tượng để nêu khái niệm => hiểu khái niệm dựa trên bản chất VD: Khi nêu khái niệm về hoa, học sinh khối đầu tiểu học dựa vào hiểu biết trong cuộc sống liệt kê ra những loại hoa: hoa đào, hoa hồng, hoa lan,…Đối với học sinh khối lớp cuối thì các em có sự khái quát hơn: có mùi thơm, nở theo mùa, ở trên cây, màu sắc sặc sỡ,…
Cần coi trọng việc phát triển tư duy cho học sinh, vì vậy giáo viên cần có các phương pháp dạy học kích thích tư duy của trẻ như xây dựng các tiết học kể chuyện qua tranh ảnh, đặt ra bài tập sáng tạo cốt truyện, nối tên nhân vật với tính cách, đặt
ra cái kết khác cho câu chuyện
Trang 8Mọi tri thức đều mang tính khái quát, nếu không tư duy thì không thực sự tiếp thu, lại không vận dụng được những tri thức đó Vì vậy, giáo viên cần làm phong phú bài giảng nhằm phát triển tư duy trẻ, ví dụ: đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các
em có cơ hội giao lưu kiến thức và phát triển tư duy
Trong giờ thực hành thì giáo viên nên hướng dẫn, làm mẫu cho trẻ, dạy các em
về kĩ năng nhìn, hướng dẫn các em xem xét, biết lắng nghe và tìm ra bản chất của vấn đề, đối tượng
Việc phát triển tư duy phải gắn với việc trau dồi ngôn ngữ Bởi lẽ có nắm vững ngôn ngữ thì mới có phương tiện để tư duy có hiệu quả Trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí, Ngoài có chức năng trau dồi ngôn ngữ, các em dựa vào phần sách báo đó để tăng tính tư duy
Giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành
ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
Việc phát triển tư duy phải gắn liền với việc rèn luyện cảm giác, tri giác, năng lực quan sát và trí nhớ Vì vậy, giáo viên cần dạy trẻ biết nhìn, quan sát đối tượng, biết lắng nghe, biết nhận biết, gọi tên, phân biệt các thuộc tính đặc trưng của sự vật, hiện tượng Điều đó không chỉ thực hiện ở lớp mà còn thực hiện khi đưa học sinh đi tham quan dã ngoại
Liên hệ bản thân: là một sinh viên khoa sư phạm, em phải nghiên cứu phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với tư duy của lứa tuổi tiểu học (ví dụ dễ hiểu, dễ
Trang 9có nội dung liên quan đến bài học, ghi chú trọng tâm, không lan man, đồ dùng học tập màu sắc kích thích não bộ, video hoạt hình hoặc hình ảnh minh họa tăng sự tập trung…), kết hợp với những đặc trưng tâm lý của từng trẻ để đưa ra giáo trình dạy tốt nhất, hiệu quả nhất Học hỏi nhiều hơn từ các thầy cô giảng viên, tận dụng và áp dụng kinh nghiệm bản thân vào thời gian thực tập sư phạm tại các cơ sở giáo dục
Để trở thành một giáo viên giỏi, em sẽ không ngừng trau dồi nâng cao năng lực bản thân, tiếp thu một cách chủ động và có chọn lọc, luyện tập năng lực sư phạm, bồi dưỡng tình yêu thương với trẻ nhỏ, trau dồi nhân cách, phẩm chất đẹp
Câu 3:
Nhân cách của người giáo viên tiểu học bao gồm hệ thống các phẩm chất, năng lực và tri thức, kĩ năng đáp ứng các yêu cầu hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục, hoàn thiện và hoạt động xã hội
Để hình thành phẩm chất nhân cách của người giáo viên thì sinh viên sư phạm được rèn luyện qua 3 giai đoạn như sau:
*Giai đoạn 1: Hoạt động hướng nghiệp ở nhà trường phổ thông
Thời kì học phổ thông, đặc biệt là phổ thông trung học, là thời kì hình thành định hướng nghề giáo viên Hiện nay, trong các nhóm nghề của xã hội, xu hướng nghề dạy học là một trong những nghề được lựa chọn và tìm hiểu nhiều
Chính xu hướng nghề là cơ sở để cá nhân có sự tìm hiểu về nghề mà mình lựa chọn (đặc điểm nghề, yêu cầu của nghề về mọi mặt, trong đó có yêu cầu về nhân cách nghề ), đây chính là cơ sở, tiền đề để hình thành nên định hướng nhân cách nghề thầy giáo sau này của học sinh Lúc này học sinh (người giáo viên tương lai)
có thể thử thách chính mình có hợp với xu hướng nghề sư phạm hay không thông qua các hoạt động xã hội, các hoạt động với học sinh lớp dưới Lựa chọn nghề giáo viên, hình thành xu hướng nghề giáo viên của học sinh chịu ảnh hưởng và sự chi phối
Trang 10của nhiều yếu tố: gia đình (truyền thống gia đình, lời khuyên của cha mẹ), nhà trường với hoạt động hướng nghiệp và xã hội đặc biệt là sự tư vấn nghề nghiệp
Sau khi lựa chọn nghề sư phạm, sinh viên hình thành các phẩm chất của người giáo viên thông qua các hoạt động:
thức cơ bản về nghiên cứu khoa học và rèn luyện các kĩ năng nghiên cứu khoa học (xác định vấn đề nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu, viết bài tập nghiên cứu) bước đầu vận dụng vào nghiên cứu khoa học ở trường sư phạm và ở các cơ sở thực tập sư phạm của sinh viên phục vụ cho công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm của người sinh viên
công tác giáo viên chủ nhiệm, thực tập dạy học ngắn hạn và dài hạn, tập trung tại các trường phổ thông, sư phạm
và tại các cơ sở giáo dục (trường phổ thông, sư phạm) Quá trình rèn luyện này trực tiếp hình thành các phẩm chất, kĩ năng giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu khoa học, năng lực của người giáo viên
Vì vậy, khi còn ở trường sư phạm, sinh viên cần tận dụng mọi điều kiện và cơ hội để học tập, tiếp thu các tri thức khoa học trong chương trình môn học và rèn luyện về chuyên môn, nghiệp vụ, hình thành các sản phẩm cho mình là phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của người thầy giáo hành nghề trong tương lai, đây cũng chính
là cơ sở để phát triển trình độ nghề nghiệp trong giai đoạn sau
*Giai đoạn 3: Tự hoàn thiện nâng cao nhân cách trong hoạt động nghề nghiệp
Trang 11Những sinh viên sư phạm trở thành nhà giáo tuy đã có những kiến thức nền tảng nhưng sinh viên phải luôn phải nâng cao bồi dưỡng năng lực bản thân
qua trường lớp, bài bản như trong thời kì học ở các trường sư phạm, nhưng nó đòi hỏi một nỗ lực cao của cá nhân người giáo viên Cần xây dựng kế hoạch tự học, tự rèn luyện để việc tự học có hiệu quả, căn cứ vào yêu cầu của dạy học và giáo dục, vào việc thực hiện nhiệm vụ cũng như nhu cầu, hứng thú của cá nhân Việc tự học
có thể diễn ra qua:
+ Sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng, tìm hiểu và áp dụng kinh nghiệm sư phạm tốt của đồng nghiệp đi trước, tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động nghiên cứu khoa học
+ Tham gia các lớp học, lớp tập huấn theo hình thức chuyên đề khoa học có liên quan đến môn học, chuyên ngành mình giảng dạy Các hình thức này thường được
tổ chức vào những thời gian thích hợp (hè, ngày nghỉ ) để giáo viên có thể có điều kiện tham gia đầy đủ
+ Tham gia nghiên cứu ở các đề tài khoa học, các hội thảo khoa học về lĩnh vực mình nghiên cứu, giảng dạy ở các cấp độ nghiên cứu khác nhau
cơ sở liên kết đào tạo (trung tâm giáo dục thường xuyên, các cơ sở giáo dục tại địa phương) nhưng phải sắp xếp thời gian học và hình thức học phù hợp với điều kiện
và hoàn cảnh của người giáo viên
*Kết luận sư phạm
nghiệp vụ (tích cực tham gia hội giảng, hội thảo, hội thi ), thường xuyên trau dồi, nâng cao kiến thức về ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục
Trang 12- Người giáo viên tốt phải biết khơi gợi được ở các em yêu thích môn học, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, động viên, khích lệ các em, tạo hứng thú, ham thích, say mê học tập ->Để trở thành người giáo viên tốt thì mỗi sinh viên sư phạm ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường phải học tập, rèn luyện, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ
gương cho học sinh noi theo Có đạo đức nghề nghiệp, chuyên tâm và tâm huyết với nghề trồng người, tận tụy với công việc Giáo viên phải thực sự thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng, văn minh với học sinh
người Lòng yêu nghề vừa là động lực, vừa là mục tiêu giúp người giáo viên tìm ra những phương pháp, biện pháp giảng bài thiết thực
* Liên hệ bản thân: Là sinh viên năm nhất đại học, em tự ý thức được tầm quan trọng của việc trau dồi nhân cách người giáo viên Em tích cực thu nạp kiến thức và
cố gắng vận dụng đưa kiến thức đó vào thực tế Từ đó, không những có thêm kinh nghiệm bổ ích, mà em còn bồi dưỡng tình yêu thương trẻ em, tận tâm với nghề
khoa, của trường, học hỏi kinh nghiệm, cách xử lý những tình huống sư phạm của các thầy cô giảng viên Có thể áp dụng kinh nghiệm dạy học vào em nhỏ trong nhà, luyện tập trau chuốt từ ngữ để quá trình truyền đạt kiến thức không bị ấp úng, gián đoạn làm giảm hiệu năng của việc dạy học
trước hết là cách trình bày bảng và viết bảng đẹp, tiếp theo là hoạt động nghệ thuật khi đứng lớp sau này, kĩ năng thuyết trình cũng không thể thiếu trong công tác giảng dạy, kể chuyện một cách diễn cảm,…