Với những kiến thức và thông tin thiết thực về an ninh môi trường sẽ giúp cho mọi tầng lóp nhân dân nhìn nhận rõ những thách thức về môi trường mà chúng ta đang phải đối mặt, không chỉ tổn hại đến chất lượng cuộc sống mà còn đe dọa đến an ninh của quốc gia. Bảo vệ an ninh môi trường không chỉ là chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam mà còn đòi hỏi sự chung tay và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân. Mời các bạn cùng tham khảo tiếp phần 2 nội dung cuốn sách.
Trang 1Chương 5
ÃRi NIIMH iiô l TRƯỒNG
VÀ KHỦNG BỐ SINH THÁI [7, 22]
Để nghiên cứu về nạn khủng bố môi trường ta cần hiểu rõ
ỉ các động lực, xác định khả năng thương tổn và nguy hại rồi
ra các giải pháp hữu hiệu Vào một thời điểm mà dân số thế đang gia tăng, thì số tài nguyên cơ bản đang có (đất, nước,
s lượng) phải được trải rộng ra để cung cấp cho nhiều người
và được tiêu thụ với một tốc độ nhanh hơn Khi giá trị và sự dễ
*rtg tổn của các tài nguyên này tăng lên thì chúng cũng trở nên dẫn hơn để làm những mục tiêu khủng bố Những kẻ khùng bố
*ng chọn các mục tiêu theo những gì mà chúng tượng trưng
tg hạn các tòa nhà chọc trời và các cao ốc của chính quyền, 'dg kém gì cả hai loại mục tiêu trên về mặt thiệt hại lâu dài cho trước, các tài nguyên môi trường cũng có thể được xem là
dg mục tiêu bị nhắm tới Nạn khủng bố môi trường được định
ta là sự sử dụng bất hợp pháp vũ lực để phá hoại các tài nguyên trường nhằm làm cho dân chúng mất đi những lợi ích mà họ có
•taợc hưởng, hoặc là phá hủy các tài sản khác.
Từ khủng bố sinh thái được áp dụng cho nhà lãnh đạo Irắc ỉarn Hussein, khi ông ta dùng dầu làm một vũ khí trong cuộc
h Irắc và đã đổ khoảng 1,1 tỷ lít dầu thô vào Vịnh Ba Tư Vụ dầu do sự tháo xả này là vụ lớn nhất thế giới - hơn 30 lần c& thảm họa Exxon Valdez năm 1989 ờ Alaska (xem hình
V à s l b )
Trang 2192 A n ninh m ối trxiờnế
a)
(a) Vịnh Ba Tư là nạn nhân của khủng bổ môi trường
trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991.
to
(b) Giếng dầu đang bốc cháy ở Kuvvait
Hình 5 1 Khung bố sinh thái
Trang 3Chương 5 :A n ninh m ôi trường v à khủng bố siĩih193
5.1 VŨ KHÍ THỜI TIẾT
Vũ khí thòi tiết được sử dụng khá sớm trong chiến tranh
- Trong “Tam quốc diễn nghĩa”, Khổng Minh mượn gió đông hỏa thiêu trận Xích Bích Câu chuyện kể lại Khổng Minh sau khi Đông chí mượn luồng gió lạnh tràn xuống phía nam, luồng khí áp cao tràn ra biển; trung và hạ lưu Trường Giang nổi lên gió đông nam, mượn luồng gió này để hỏa công doanh trại Tào Tháo, lấy ít thắng nhiều, gây cho quân Tào đại bại
- Trong đại chiến thế giới thứ hai, năm 1941 quân Nhật Bản dánh lén Trân Châu cảng, hạm đội Nhật Bản đã men theo đường hàng hải phía bắc ở Bắc vĩ độ 40 (gió Tây chảy xiết xuống, khí áp thắp hoạt động mạnh) tránh được mạng lưới cảnh giới của quân đội
Mỹ, hơn nữa trước đó Đài khí tượng Nhật Bản đã dự báo thời tiết dài ngày trên chuyến hàng hải cho nên họ chọn dịp thời tiết tốt nhất
dể tấn công Lúc đó hạm đội Nhật Bản bao gồm hải quân và không quần xuất kích mạnh mẽ, chi 2 giờ sau khiến cho hạm đội Thái
&ình dương của Mỹ thất bại to lớn Hồi đó, đầy trời là những đám Utây yểm trợ cho máy bay Nhật Bản, pháo cao xạ của Mỹ không thế nào bắn trúng Xong sự việc, quân đội Mỹ thừa nhận: “Người Nhật Bản có Đài khí tượng rất xuất sắc và họ đã tận dụng nó một cách khéo léo”
- Ngày 9/8/1945 khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản,
vì dự báo thời tiết không chính xác nên khi máy bay bay đến khu công nghiệp quân sự của Nhật Bản như kế hoạch thì phát hiện rất hhiều mây, tìm không được mục tiêu, buộc phải bay đến vùng khác Nhưng ở vùng này sương mù cũng rất nặng, không tìm thấy mục tiêu Đang lúc lúng túng bỗng nhiên các đám mây tan
ra, phi công nắm chắc thời điểm đó, tìm được mục tiêu và ném kom xuống
Trang 4194 A n ninh m ôi trườnế
Điều kiện thời tiết ảnh hưởng đến súng cao xạ càng rõ rệt hon Sức cản đầu đạn bay là do ảnh hưởng của mật độ và nhiệt độ không khí Gió lớn cũng làm cho đầu đạn bay sai lệch, ví dụ cao xạ pháo lOOm/s khi bắn nếu gặp phải tốc độ gió bay ngược lại lOm/s thì cự ly chiều ngang sẽ bị rút ngắn 140m, đầu đạn đi lệch sang trái hoặc sang phải 114m
- Năm 1943 - 1945 Nhật Bản lợi dụng khinh khí cầu ở độ cao nhất định và gió hơi lệch về phía tây ném bom Napan sang quân
Mỹ đã gây lên những trận cháy rừng lớn Ban đầu người Mỹ không biết lửa từ đâu đến v ề sau căn cứ kết quả nghiên cứu thời tiết mới hiểu được sự việc này
- Thiết kế và bắn tên lửa cũng liên quan mật thiết đến điền kiện khí tượng Ngày 24/3/1999 khối Nato do Mỹ đứng đầu đã tiến hành không kích Nam Tư Trước khi ném bom, Tổng thống Mỹ Bin Clintọn dựa vào những vũ khí tinh xảo nắm trong tay tuyên bô trong hai ngày bắt Nam Tư phải khuất phục Nhưng không kích hơn 1 tháng, khối Nato đã bắn hàng nghìn quả tên lửa, kết quả chì phá hủy được 20% số mục tiêu, trong đó một trong những nguyêí1 nhân quan trọng là trên bầu trời Nam Tư mây mù dày đặc, cho nêơ
dù máy bay và tên lửa rất hiện đại nhưng cũng không thể đạt đưỢc hiệu quả như dự kiến
- Có những lúc con người hòng lợi dụng điều kiện khí tượrtế làm vũ khí giết người hàng loạt Ví dụ dùng phương pháp md3
nhân tạo để tạo nên mưa bão lớn, làm sập đổ cầu cống, đường ^
của đối phương Có người còn định gây mưa nhân tạo axít, nhãh1 làm cho đại pháo, xe tăng của đối phương bị hoen gỉ mà hư hỏnế’ thậm chí có người còn dự định phá một lỗ thủng tần ôzôn để cho
tử ngoại mặt trời giết chết đối phương
Trang 5Chương 5 :A n ninh m ôi tntờ ì và khủng bố sinh195
- Trong thập kỷ 1985 - 1995, NATO đã thừ nghiệm vũ khí
thời tiết để gây ra hạn hán ở Tây Ban Nha, gây khó khăn cho nước
này ngay khi Tây Ban Nha tuyên bố gia nhập EU Ngày 21/8/1969,
Mỹ cho máy bay thả hóa chất để xua tan ccm dông trên vùng trời
biển Caribe và chuyển con dông sang lãnh thổ Panama, Nicaragoa
và Honduras Người ta phát hiện các hóa chất được sử dụng là iốt
bạc, iốt chì và băng khô (CƠ2 đóng băng) Rõ ràng việc sử dụng
thời tiết vào mục tiêu chiến tranh, các siêu cường quân sự trên thế
giới đã can thiệp thô bạo vào môi trường sống của con người [2]
- Ở Việt Nam vũ khí thời tiết cũng đã được sừ dụng khá sớm
trong lịch sử chiến tranh Trong cuộc chiến tranh với nhà Nguyễn
Tây Scrn, Nguyễn Ánh đã biết sử dụng gió mùa, cho chiến thuyền
tiến đánh các tỉnh miền Trung và gây cho nhà Tây Son không ít
thất bại
- Vào những năm 1969 - 1970, CIA đã áp dụng một số biện
pháp tác động lên điều kiện thời tiết để phá hoại các vụ mía - loại
nông sản chủ đạo của Cu Ba Các máy bay Mỹ đã lượn trên vùng
trời Cu Ba, tạo mưa lũ trên những vùng không trồng mía, để rồi
những vùng trồng mía trờ lên khô hạn Một báo cáo của CIA được
tờ Tạp chí Thứ Bảy (Saturday Review) tiết lộ cho thấy một số quốc
gia đứng đầu là Mỹ đã có khả năng điều khiển thời tiết dùng cho
niục đích quân sự Mỹ đã từng gây mưa lũ trên một số vùng tại
Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia để làm hỏng tuyến đường vận
chuyển của miền Bắc vào chiến trường miền Nam
Vũ khí sinh thái gồm hóa chất, thời tiết, vi khuẩn, virút, côn
trùng hay sinh vật biến đổi gen, ngày nay không chỉ đang được
dùng như một vũ khí tiêu diệt hay gây bệnh tật cho con người trong
các cuộc chiến tranh không tuyên bố, hoạt động khủng bố mà có
thể được sử dụng để làm suy yếu nền công nghiệp hay du lịch của
Trang 6Mỹ đã chi đến 1,5 tỷ USD để tạo vũ khí sinh học trong đó có vũ khí gen Họ đã thành công trong việc tăng độc tố của vi khuẩn than, vi khuẩn viên gan A, trực khuẩn tả, lị Nước Nga cũng đang đẩy mạnh nghiên cứu về vũ khí gen Họ đã tạo ra vũ khí gen tiêu chảy
và chảy nước mắt liên tục, các thí nghiệm về sử dụng gen gây viêm
cơ cũng đang được tiến hành trong tính toán chỉ cần 20g chất gây viêm cơ cũng đủ gây tiêu diệt loài người Gen là loại vũ khí công nghệ cao, khó phát hiện và giải mã, dễ sử dụng lại có thể chỉ nhằm vào một nhóm người, một nhóm sinh vật có cơ cấu di truyền nhất định Các nhà khoa học đã nhận xét rằng trong 10 năm tới, vũ khí gen có thể sẽ được sản xuất hàng loạt và “mạnh hơn bon nguyên tử”
Ở Bra-xin những đàn ong mật châu Phi được biến đổi gen
đã làm tăng khả năng tạo mật nhưng đồng thời độ độc của nọc ong cũng tăng lên Đàn ong biến đổi gen này sinh sản nhanh và lan truyền khắp mọi miền châu Mỹ Riêng tại bang Texas (Mỹ), trong vòng vài năm, loài ong độc này đã đốt chết khoảng 15 nghìn người-
Để ngăn chặn sự phát triển của chúng người ta đã bỏ ra hàng chục triệu USD nhưng vẫn không tiêu diệt được
Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) tạo ra giống lúa chứ3 hàm lượng vitamin A cao hơn bình thường mang tên Franken bànế
5.2 VŨ KHÍ GEN
Trang 7Chương 5 : An ninh m ôi trường và khủng bố sinh 197
phương pháp biến đổi gen Mục đích của các nhà khoa học khi tạo
ra giống lúa này nhằm giúp hàng triệu trẻ em trên thế giới tránh được cảnh mù lòa do ăn lương thực, chủ yếu là lúa gạo có hàm lượng vitamin A thấp Nhưng một số nghiên cứu khoa học khác, cho thấy giống lúa này ngoài việc gây rối loạn chuyển hóa trong cơ thể người sử dụng còn tác động không tốt tới môi trường vì giống lúa này đòi hỏi lượng nước tưới nhiều hơn đồng thời phải sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hơn
Bất cứ một saí lầm cơ bản nào trong công nghệ gen cũng có thể dẫn đến thảm họa và có thể gây ra những thay đổi vĩnh viễn trong thế giới tự nhiên Chính vì thế, để phòng tránh những rủi ro tiềm tàng của GMO, các nhà khoa học cần phải trả lời được rất nhiều câu hỏi, chẳng hạn về khả năng kháng thuốc diệt cỏ có thể truyền từ các GMO sang các loài hoang dại hay không? v ề việc các GMO chống sâu bọ có thể gây hại tới các côn trùng có lợi? Hoặc liệu các GMO chống sâu bọ có thể gây hại tới các côn trùng
có lợi? Hoặc liệu các GMO cổ tính cạnh tranh hơn có thể gây hại tới các hệ sinh thái phong phú về đa dạng sinh học? v.v
Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học ra đời nhằm thiết lập các luật lệ và các thủ tục thực tế cho việc chuyển giao, xử
lý và sử dụng an toàn GMO, đặc biệt tập trung vào việc điều tiết sự vận chuyển GMO qua biên giới từ nước này tới nước khác Nghị định thư đã có hiệu lực từ ngày 11/9/2003 nhưng Nghị định này cũng chỉ có thể đảm bảo được việc sử dụng an toàn công nghệ sinh học trên toàn cầu nếu tất cả các nước thúc đẩy tích cực an toàn sinh học ở cấp độ quốc gia
5.3 KHỦNG BÔ MÔI TRƯỜNG [7, 22]
Nạn khủng bố được định nghĩa là sự sử dụng bất hợp pháp vũ lực để phá hoại các tài nguyên môi trường nhằm làm cho dân
Trang 8Tác hại của chiến tranh đối với môi trường tự nhiên thật khủng khiếp, v ề bản chất, chiến tranh là hủy diệt môi trường là một nạn nhân vô tội Trong khi hậu quả chiến tranh đối với môi trường vẫn còn lại với chúng ta suốt nhiều thế kỷ, thì cuộc xung đột 1990 - 1991 ở vùng Vịnh Ba Tư đã minh chứng cho một vai trò mới của môi trường trong cuộc chiến: người ta dùng sự phá hủy môi trường để làm một loại vũ khí.
Từ khủng bố sinh thái được áp dụng cho nhà lãnh đạo Irắc Saddam Hussein, khi ông ta dùng dầu làm một vũ khí trong cuộc chiến Irắc và đã đổ khoảng 1,1 tỷ lít dầu thô vào Vịnh Ba tư Vụ tràn dầu do sự tháo xả này là vụ lớn nhất thế giới (hơn 30 tấn) tầm
cỡ thảm họa Exxon Valdez năm 1989 ở Alaska
Saddam Hussein có lẽ đã nghĩ ra vụ tràn dầu này để ngăn các
kế hoạch liên hợp chiếm đóng Cô-oét bằng hải lục quân, nhưng cũng có thể ông ta đang tìm cách đóng cửa các nhà máy lọc nước mặn - ven bờ biển là những nhà máy cung cấp phần lớn nước ngột cho tỉnh Eatem của A-rập-xê-út Dù cho hậu quả quân sự hay chính trt
có như thế nào thì hậu quả về mặt môi trường cũng to lớn hơn nhiều.Các vùng nước, bờ biển và các đảo ở Vịnh Ba Tư đều có rặng san hô, đầm rừng đước và những dải rong tảo chứa những chủng loai chim, cá, động vật có vú ở biển độc đáo Vịnh này cũng hd1
biệt lập, chỉ có một lối thoát hẹp - eo biển Horuz bề ngang chỉ c°
55km Vịnh này phải mất năm năm mói xả sạch dầu Nhiều chủng loại như cá heo mũi to, hải ngưu, rùa xanh, én biển Capian, vốn đ3
Trang 9Chương 5 :A n ninh m ời trường v à khủng bố sinh thái199
được xếp vào diện bị đe dọa Vụ tràn dầu trong cuộc chiến tranh
vùng vịnh năm 1991 cho ta cơ hội theo dõi hậu quả của dầu loang
trên các sinh vật biển và các cộng đồng hữu sinh
Một hành động sinh thái khác đã diễn ra trong thời gian cuộc
chiến I-rắc - Cô-oét là sự cố tình đốt cháy hàng trăm giếng dầu ở
Cô-oét Sự ô nhiễm không khi sinh ra do việc đốt cháy dầu này lan
ra trên một diện tích rộng Phải mất nhiều tháng mới dập tắt hết các
ngọn lửa của cuộc chiến tranh Sử dụng việc làm thiệt hại cho môi
trường là một loại vũ khí đang là một khái niệm đáng sợ Các hậu
quả về mặt môi trường của những hành động như thế phải mất
nhiều năm mới thấy hết được Dù rằng cuộc chiến vùng Vịnh kéo
dài chưa tới một năm, nhưng hậu quả về mặt môi trường đối với
một số loài có thể là không cứu vãn được
- Không phải là tất cả các hành động khủng bố môi trường
đều là ghê gớm nhưng những hành động trong chiến tranh vùng
Vịnh năm 1991 Các hành động riêng rẽ ảnh hưởng đến một vùng
giới hạn hơn cũng đã được ghi nhận, như vào tháng 7/2000, các
khủng bố ở nhà máy hóa chất Cellatex miền bắc nước Pháp đã đổ
3.000 lít axít suníuric xuống sông Meuse khi các quyền lợi về y tế
của họ bị từ chối
Chẳng may là những lo ngại về việc sử dụng vũ khí sinh học
và hóa học làm phương tiện khủng bố đã trở thành sự thực sau
ngày 11/9/2001 “Tuy nhiên việc sử dụng vũ khí như thế không
Phải là mới Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, một thứ hóa chất
làm rụng lá cây có tên là chất độc Màu da cam được sử dụng rộng
rãi Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nhiều hóa chất đã được
dùng làm hơi độc Lịch sừ có đầy những ví dụ về việc sừ dụng cả
Vũ khí hóa học và vũ khí sinh học Tuy nhiên có sự khác nhau giữa
VŨ khí sinh học và vũ khí hóa học
Trang 10200 A n ninh mớtníờng
Năm 1995 một giáo phái Nhật Bản có tên là Aumm Shiniri
đã xả hơi độc sarin trong một đường xe điện ngầm Họ có ý định giết hàng nghìn người nhưng chỉ có 12 người chết Các nhà nghiên cứu của giáo phái này đã chi tiêu trên 30 triệu USD nhằm sản xuất một loại vũ khí dựa trên sarin nhưng họ đã không vượt qua được ba trở lực chính Họ không sản xuất được hóa chất ấy ở dạng tinh khiết cần thiết Cơ chế phân phối độc chất của họ chi đơn giản là mang những chai nhựa đựng sarin lên tàu và ý tưởng để khởi động
là dùng đầu nhọn cây dù chọc thủng các chai ấy cho chất lòng chảy
ra, rồi chất lỏng này bay hơi như vậy mới chỉ có 12 người chết, cuộc tấn công này đã bị xem như là thất bại
Đặc điểm của vũ khí vi trùng là: (i) Bùng phát thành dịch sau khi rải vi trùng 2-3 tuần, do đó người rải có thể an toàn trở về căn cứ; (ii) không phân biệt đối tượng tấn công, reo rắc khiếp sợ, tấn công tinh thần toàn thể xã hội; (iii) vi trùng, virút, nấm, tế bào là các tác nhân của các vũ khí vi trùng không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nên rất dễ che dấu khi vận chuyển Theo nghiên cứu cùa văn phòng đánh giá công nghệ Mỹ (OTA - 1993) lOOkg bụi bệnh than rải từ máy bay có thể giết chết 1 - 3 triệu người; (iv) Khuôn khổ pháp lý mong manh
Miền Nam nước ta qua cuộc chiến tranh tàn khốc đã phải hứng chịu 100.000 tấn chất độc hóa học, trong đó có ít nhất 194kg đi-ô-xin 15 triệu tân bom đạn đã thả xuống khắp các miên đât nước, không chỉ gây thiệt hại về người mà còn gây ra sự thay đôi
về dòng chảy, tàn phá lóp phủ thực vật, đảo lộn lóp đất canh tác, đẻ
lại nhiều hố bom ở các vùng sản xuất nông nghiệp trù phú Kết quà
là 43% diện tích đất trồng trọt và 44% đất rừng đã bị ảnh hường nghiêm trọng [23]
Trang 11Chương 5 :A n ninh môitntờng và khủng bố sinh201
Chính phủ Mỹ suốt 30 năm đã dùng vũ khí vi trùng để chống
phá cách mạng Cu Ba Tháng 3/1970, Mỹ đã bí mật đưa sang Cu Ba
một hòm chứa virút gây sốt lợn có từ nguồn gốc từ châu Phi, bằng
phương tiện tàu đánh cá 6 tuần sau, bùng nổ đại dịch gia súc ờ
Cu Ba, buộc Cu Ba phải giết trên 500.000 con lợn, bệnh sốt lợn tái
Xuất ở Cu Ba vào năm 1980, lần này còn lây sang người và gây tử
vong Cùng thời gian này, ở Cu Ba bùng phát dịch đau mắt đỏ làm
cho 156 người tử vong Cho đến cuộc khủng bố bằng vi khuẩn than
Xảy ra ở Mỹ sau ngày 11/9/2001, có thể nói việc kiểm soát vũ khí
Vi trùng trên thế giới hiện nay là rất yếu kém [2]
Năm 1972, công ước cấm sản xuất và tàng trữ vũ khí vi trùng
(kể cả chất độc) được soạn thảo và đến năm 2001 đã có 141 nước
thông qua, tuy nhiên tài liệu cho thấy một số nước đã ký nhưng vẫn
hêp tục sản xuất Năm 1972 vụ nổ nhà máy chế tạo vũ khí sinh học
cùa Nga ở Sverdlovsk đã làm bùng phát một trận dịch bệnh than,
^■ất khó có công cụ hoàn hảo cho phép kiểm soát và thanh tra vũ
khí vi trùng, bởi lẽ các tác nhân sinh học được làm vũ khí lại rất có
lch trong những ứng dụng y học vì con người Chính vì thế vào
*hùa hè 2001, hiệp định kiểm soát vũ khí sinh học vừa được soạn
thào đã bị Mỹ phản đối vì sợ làm cản trở công việc kinh doanh của
chc nhà công nghiệp Mỹ
Mustafa Tolba nguyên tổng thư ký chương trình Môi trường
cha Liên hợp quốc nói:
“Nếu phải có một cuộc chiến tranh đó hãy là cuộc
°°n người ra khỏi các vùng đất dưới hình nạn trường.
Nếu phải có chiến tranh thì đó là chiến chống những
kẻ tấn công vào con người cùng các hình khác của sống
Trang 12202 A n ninh m ôi
qua việc lợi trên sự tồn tại cho khả năng hỗ trợ sống cùa thiên nhiên, nếu phải có chiến tranh thì khí là bàn tay chữa lành của
bạn, bàn tay của tuổi trẻ thế giở bảo vệ môi trường
Trong vài thập kỷ vừa qua, cộng đồng thế giới đã đáp ứng với
các vấn đề môi trường xuất hiện bằng những thỏa ước quốc tế chưa
từng có trước đó Đáng kể là Nghị định thư Montreal, Công ước
chung về thay đổi khí hậu, Công ước về Đa dạng sinh học, và Công
ước về Đấu tranh với Hoang mạc hóa Ngoài ra còn có nhiều thỏa
ước khác nữa
Trong quá trình soạn thảo các hiệp ước toàn cầu này, người ta
đã rút ra nhiều bài học quan trọng Như dựa vào kinh nghiệm của
Nghị định thư Montreal Người ta thấy cộng đồng các nhà khoa học
có thể giữ một vai trò quan yếu trên hai phương tiện: thứ nhất là
khẳng định các mối liên hệ giữa hoạt động của con người với các
vấn đề môi trường toàn cầu; thứ hai là cho thấy những gì có thể xảy
đến cho sức khỏe con người và môi trường toàn cầu nếu như người
ta không có hành động gì
Không có một loại chính sách nào, không có một động viêi1
nào, không có một khối lượng thông tin nào có thể thay cho trád1
nhiệm cá nhân khi muốn đảm bảo rằng con cháu chúng ta sau nà)
sẽ hưởng được một chất lượng sống do chất lượng môi trường tạ0
ra Thông tin có thể làm cơ sở cho hành động Sự hình dung và y
tưởng có thể ảnh hưởng trên nhận thức và gợi ý cho sự thay đó1'
Những cách quyết định mới mẻ có thể tạo nên quyền hành cld
những con người muốn giữ vai trò định hướng tương lai Tuy nhid1
tất cả những điều này sẽ thành vô nghĩa nếu như các cá nhân đaíi?
hành động với tư cách công dân, người tiêu thụ Nhà đầu tư,
quản lý, thợ thuyền, nhà chuyên môn, không quyết định rằng đid'
quan trọng là họ cần có những chọn lựa trên cơ sở một cái nh1'1
1
Trang 13Chương 5: An ninh môi trườn và bố 203
rộng hơn, xa hơn cái lợi cho riêng mình để quyết tâm biến sự chọn lựa ấy thành hành động, và quan trọng hơn hết là chịu trách nhiệm
về các việc làm của mình
Sự phối hợp giữa quyết tâm chính trị, sự đổi mới công nghệ
và sự đầu tư thật nhiều tiền của và trí tuệ con người vào việc theo đuổi các mục tiêu môi trường đã tạo nên những lợi ích lớn lao trong hai thập kỷ vừa qua, đây là một thành tích đáng biểu dương Nhưng trong một thế giới luôn luôn sử dụng ngày càng nhiều hơn các vật hệu để làm ra thêm nhiều hàng hóa cho nhiều người hơn thì chúng
ta phải nhận thấy rằng vì tương lai chúng ta còn phải làm nhiều hơn thế nữa Chúng ta phải tiến tới một thế giới trong đó sự không có chất thải sẽ trở thành lý tưởng cho xã hội, cũng như sự không có Phế phẩm đã trở thành lý tưởng cho xí nghiệp vậy Sau hết, chúng
ta phải thừa nhận rằng việc theo đuổi một nhóm mục tiêu này sẽ có ành hưởng đến các nhóm mục tiêu khác và chúng ta phải theo đuổi Phừng chính sách trong đó có sự hòa hợp cả các mục tiêu kinh tế môi trường và xã hội
5.4 XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG [9]
5.4.1 Khái niệm vé xung đột môi trường
Thuật ngữ xung đột môi trường bắt đầu xuất hiện trên thế giới trong những năm gần đây Một số nhà nghiên cứu ưa thích rlùng thuật ngữ “Xung đột môi trường - Evironmentally induced c0nflict” để chỉ các xung đột nhằm mô tả một thực tế là chúng xuất hiện liên quan đến vấn đề môi trường Một số nhà nghiên cứu khác
^ùng thuật ngữ đơn giản hơn là “Xung đột môi trường” hay Tranh chấp môi trường” Thực ra các thuật ngữ trên đêu có chung một nội dung
Trang 14204 A n ninh môtntònể
Trên thế giói, xung đột môi trường được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Nhiều tác giả cho rằng, xung đột môi trường là xung đột giữa quyền lợi của cộng đồng, vị trí nghề nghiệp
và ưu tiên chính trị; là những mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai; giữa bảo tồn và phát triển; và kết quả của xung đột môi trường có thể là xây dựng hoặc phá hủy tùy thuộc vào quá trình quản lý những xung đột đó, hoặc xung đột môi trường là xung đột về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên Ngoài ra, xung đột môi trường còn liên quan đến những cuộc đấu tranh giữa các nhóm xã hội trong việc phân phối lại các nguồn tài nguyên, phong trào đấu tranh bảo vệ môi trường sống, chống lại những tác nhân gây ô nhiễm môi trường; chống lại những nhóm xã hội đã tước đoạt lợi thế về môi trường trước các nhóm xã hội khác
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về xung đột môi trường nhưng hầu hết đều thống nhất là sự xung đột về lợi ích giữa các nhóm xã hội trong khai thác và sử dụng tài nguyên và môi trường-
Sự xung đột về lợi ích có thể là giữa các cộng đồng trong xã hội’ giữa các quốc gia và giữa bảo tồn phát triển mà đại diện là các nhóm khác nhau trong xã hội
Xung đột môi trường thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau từ giai đoạn tiềm ẩn đến giai đoạn cao hơn, gay gắt hơn dẫn đến các hành động đẩu tranh như: mít tinh, biểu tình, khiếu kiện và cao hơn
là các cuộc xung đột có vũ trang làm mất ổn định chính trị và
hội như xung đột về nguồn nước sông Nin ở châu Phi; nguồn nước
ở Trung Đông
5.4.2 Các dạng xung đột môi trường
Trong lĩnh vực môi trường, có thể tồn tại những dạng xunể
đột sau:
Trang 15a X u n g đ ộ t c h ứ c n ă n g m ô i trư ờ n g : Đây là những xung đột
xuất hiện giữa các chức năng môi trường Ví dụ, việc thực hiện
chức năng là nơi sinh sống và chức năng chứa rác thải của môi
trường, vì nơi được dùng để chứa rác thải thường không phù hợp
với nơi để con người cư trú và sinh sống
b X u n g đ ộ t n h ậ n th ứ c : Đây là dạng xung đột đơn giản nhất,
có nguồn gốc từ nhận thức và hiểu biết khác biệt nhau trong hành
động của các nhóm, dẫn đến phá hoại môi trường
c.Xung đ ộ t m ụ c tiê u : Mục tiêu hoạt động của các nhóm dẫn
đến xung đột Ví dụ, người trồng rau phun thuốc trừ sâu để đạt mục
tiêu bảo vệ cây trồng dẫn đến xung đột với mục tiêu bảo vệ sức
khỏe người tiêu dùng
d X u n g đ ộ t lợi íc h : Xung đột lợi ích xuất hiện khi các nhóm
tranh giành nhau lợi thế sử dụng tài nguyên
e X u n g đ ộ t q u y ề n lự c : Nhóm có quyền lực mạnh hơn lấn át
ihóm khác, chiếm lợi thế của nhóm khác, dẫn đến không công
3ằng trong phân phối tài nguyên và rủi ro môi trường
Trên thực tế, mỗi sự kiện xung đột môi trường có thể chi xuất
Jhát từ một loại xung đột, song thường tồn tại một số loại xung đột
'à cuối cùng cái đọng lại lớn nhất là xung đột lợi ích, vì lợi ích vị
tỷ của một nhóm hoặc vì sự thỏa hiệp lợi ích giữa các nhóm, môi
rường bị hủy hoại; nhưng có thể nhờ sự cam kết theo chuẩn mực
hôi trường hoặc sự đấu tranh giữa các nhóm mà môi trường được
>ào vệ
‘•4.3 Nguyên nhân xung đột môi trường
Có thể nhận thấy tính “bất bình đẳng” trong phân bố và tính
•han hiếm của các nguồn tài nguyên chính là những nguyên nhân
Chương 5 :An ninh mới trường và khủng bố 205
Trang 16206 An ninh môti~ường
sâu xa của xung đột môi trường Xã hội càng phát triển, khoa học
và công nghệ càng phát triển thì càng làm tăng nhóm nguyên nhân
xung đột Sự cạnh tranh nguồn tài nguyên khan hiếm, sự gia tăng
khoảng cách giữa giàu và nghèo, sự khác nhau trong nhận thức
Nhìn chung, có một số nguyên nhân cơ bản của xung đột môi
trường là:
a N h ậ n th ứ c k h ô n g đ ầ y đ ủ v ề tà i n g u y ê n d o th iế u th ô n g
h o ặ c k h ô n g n h ậ n th ứ c đ ú n g về g iá tr ị tà i n g u y ê n
Nhận thức không đầy đủ về tài nguyên cũng có thể dẫn đến
sự hiểu biết khác nhau trong hành động, dẫn tới phá hoại môi
trường Cùng một loại tài nguyên như rừng, nếu nhận thức rừng chi
là nguồn cung cấp gỗ thì rất có thể dẫn đến nhữnh hành động khai
thác quá mức, nhưng nếu nhận thức rừng là loại tài nguyên tái tạo
với đầy đủ chức năng kinh tế và sinh thái thì sẽ dẫn tới hành động
hoàn toàn khác đối với tài nguyên rừng
b H ệ th ố n g c á c g iá tr ị k h á c n h a u
Hệ thống các giá trị khác nhau có thể dẫn tới sự khác nhau vê
lợi ích và mục tiêu trong khai thác và sử dụng tài nguyên trong
thiên nhiên giữa các nhóm xã hội Cùng một dòng sông, đối VỚI
một cộng đồng dân cư địa phương thì đó là nguồn cung cấp thúy
sản, nguồn nước tưới tiêu và sinh hoạt Nhưng đối với nhóm xã hộ’
khác thì đó là nơi phát triển thủy điện hoặc là nơi chứa đựng cảc
phế thải
Hệ thống giá trị khác nhau có thể dẫn tới sự bất bình đẳíté
trong phân phối quyền lợi giữa các nhóm xã hội Thế hệ hiện tại c°
thể đánh giá cao nguồn tài nguyên con người mà không đánh g’3
đúng mức giá trị tài nguyên thiên nhiên của những thế hệ tương la*'
Trang 17Chương 5 :An ninh môi trường và khỉmg bố sinh207
c.Thiếu s ự th a m g ia đ ó n g g ó p c ủ a c á c bên q u a n
Xung đột môi trường cũng chính là xung đột lợi ích giữa các
nhóm xã hội Thiếu sự tham gia của các bên liên quan có thể dẫn
đến sự mất công bằng về lợi ích của các nhóm xã hội
d P h â n b ổ q u yển lợikltác n h a u g iữ a c á c n h ó m x ã h ộ i
Trên thế giới, các nước lớn trong nhiều trường hợp đã dùng
tru thế về kinh tế, chính trị và quân sự của mình để có được tài
nguyên với chi phí kinh tế ít nhất Nhật Bản tuy không phải là nước
thiếu gỗ nhưng lại là một nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu gỗ
dựa trên những ưu thế của mình về kinh tế và công nghệ Các nước
phát triển muốn giảm bớt hoặc tránh ô nhiễm trong nước đã chuyển
tthừng xí nghiệp gây ô nhiễm sang những nước đang phát triển Để
bào vệ môi trường sống, các nước phát triển thi hành các chính
sách “nhập siêu” tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu sản xuất
Trong khi đó các nước đang phát triển lại “xuất siêu” nhằm có
dược ngoại tệ mạnh
e C ơ c h ế c h ín h s á c h y ế u k é m
Cơ chế chính sách yếu kém cũng là nguyên nhân làm gia tăng
các xung đột môi trường Trong đó quyền sở hữu/sử dụng các tài
Sản môi trường không được xác định rõ là một nguyên nhân trọng
yếu Sự phát triển của khoa học và công nghệ cũng như sự gia tăng
dân số đã làm tăng tốc độ khai thác tài nguyên Khi quyền sở
hữu/sử dụng không được xác định rõ, tài nguyên sẽ có xu thế trở
thành những “tài sản công cộng”, không khuyến khích được người
dân tự nguyện đầu tư vào bảo vệ và phát triển tài nguyên mà còn
thúc đẩy sử dụng nó một cách quá mức không tính đến lợi ích lâu
dài, lợi ích của cộng đồng và lợi ích của những thế hệ mai sau
hỉgoài ra, chính sách của Chính phủ cũng có thể làm tăng mâu
thuẫn giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế Tỷ lệ lợi nhuận
Trang 185.4.4 Tranh chấp môi ỉrường và tài nguyên
Đã và đang gây ra những xung đột nghiêm trọng về kinh tế, chính trị Như trường hợp tranh chấp nguồn nước sông Nin ở 3 quốc gia Ai Cập, Xu Đăng và Ê-ti-ô-pi-a; hay trường hợp tranh giành nguồn tài nguyên dầu mỏ I-rắc đã cho quân đánh Cô-oét (5/1990), tiếp đó quân đội của nhiều nước đứng đầu là Mỹ đã caP thiệp và dẫn đến cuộc chiến tranh vùng Vịnh kéo dài 42 ngày
5.4.5 Những xung đột liên quan tới nước
Cuộc hội thảo ở Caen (Pháp) (1999) về thông điệp hòa bình
với tên gọi đầy ý nghĩa (cuộc chiến tranh về nước liệu có xảy ỉữ
không?) đã một lần nữa cho thấy ràng nước là một trong nhữnể nguyên nhân chủ yếu gây ra các xung đột hiện nay vấn đề sử dụưể nước trong các khu vực mà sự phát triển kinh tế xã hội hoàn toàP phụ thuộc vào nguồn tài nguyên nhỏ nhoi nhưng lại bị khai thức quá mức đã trở nên hết sức căng thẳng và nước đã trở thành vũ kh1 chiến lược vô cùng quan trọng, mục tiêu tranh giành giữa các qưức gia thượng lưu và hạ lưu sông Tất nhiên cuộc thảo luận sẽ khôưể bao giờ khép lại được giữa những người coi nước là nguồn gốc
Trang 19Chương 5 :An ninh môi trường và khủiìg bố sinh209
các xung đột và những người coi trọng “ngoại giao nước”, coi đây
là một công cụ ngoại giao tuyệt vời để giải quyết xung đột và tranh chấp Dù theo quan điểm này hay quan điểm khác thì thực tế vẫn chỉ là một: nước là trung tâm của các cuộc xứng đột, trở thành một
vũ khí đáng sợ là một trong nhưng thách thức đối vói an ninh quốc gia và là con đường bắt buộc để phát triển
Vùng Trung Đông là một vùng mẫu trong những vùng mà ở
đó nhà thủy văn học trở thành nhà ngoại giao hay nhà quân sự, tóm lại là nằm trong bộ máy quyền lực Rõ ràng một sự quản lý chung
và việc phân chia các nguồn nước qua đàm phán là không thể tách rời với việc giải quyết các xung đột: sẽ không có hòa bình nếu không có phân chia các nguồn nước nhung cũng không có được các giải pháp cho các nguồn nước nếu không có hòa bình Hòa bình
sẽ được thiết lập lâu dài khi mà một tổ chức về nước được thành lập trong vùng Trung Đông để chịu trách nhiệm theo dõi việc áp dụng một tổng thể phức tạp nhưng cần thiết cho các hiệp ước về cung cấp và trao đổi giữa các quốc gia mà nước đã gắn liền số phận của họ với nhau Con đường còn dài để đạt được mục tiêu đó “Cho tới khi phải ném trải khổ đau, con người mới thực sự biết ràng nước là một kho báu”, Lord Byron đã nói với chúng ta điều này
Nguồn: Roche, R, 2001 vấn đề nước thế kỷ
5.4.6 Tranh chấp tài nguyên
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm đã làm cho sự cạnh tranh, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng giữa các nước ngày càng trở nên gay gắt Điều đó rất dễ dẫn đến những nguy cơ về chính trị Trong cuộc tranh giành tài nguyên mới giữa các nước phát triển như Mỹ, các nước Tây Âu và Nhật Bản thì nguy cơ gây ra những xung đột nghiêm trọng về chính trị là rất lớn Khi không giành được những tài nguyên quan trọng và còn gặp
Trang 20210 An ninh môi trường
phải những trở ngại thì các nước đó có thể trắng trợn dùng vũ lực
để đạt được mục đích Tranh chấp tài nguyên gây ra tình trạng bất
ôn định, đặc biệt là ờ những nước đang phát triển Sự bất ổn định này ngày càng có nhiều khả năng diễn ra ở các quốc gia trong khu vực chiến lược then chốt
- Tranh chấp tài nguyên dầu mỏ: Tháng 8/1990, I-rắc cho quân đội xâm lược Cô-oét để giành giật nguồn tài nguyên dầu mỏ Quân đội của nhiều nước đứng đầu là Mỹ trong 42 ngày của chiến tranh vùng Vịnh đã đánh đuổi quân I-rắc về nước Trước khi rút lui, quân I-rắc đã phá hủy hom 700 giếng dầu của Cô-oét gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng Xung đột sắc tộc giữa các nhóm ở
Ni-giê-ri-a cũng xuất phát từ tranh giành dầu mỏ
- Tranh chấp tài nguyên nước ngọt: Hiện nay, trên thế giới có trên 200 con sông chính, hơn 70% trong số đó là do 2 hay nhiều nước cùng sử dụng Sự khan hiếm tài nguyên nước ngọt có thể là ngòi nổ tiềm tàng dẫn đến những xung đột quốc tế Cuộc chiến tranh Israel - Ả rập (1967) là hậu quả của những căng thẳng ngày càng tăng giữa 2 nước sau cuộc tranh chấp nguồn nước từ năm
1965 - 1966 Phần lớn các cuộc tranh chấp về quyền sử dụng và chất lượng của các nguồn nước đă được giải quyết thông qua con đường ngoại giao như các cuộc tranh chấp giữa Hung-ga-ri và cộng hòa Xlô-va-ki-a; Ca-mê-run và Ni-giê-ri-a, Burkina Faso và Mali; Sudan, Ai cập và Ê-thi-ô-pi-a; Thổ Nhĩ Kỳ và I-rắc, Sulia; Pháp và Tây Ban Nha Nhưng liệu các biện pháp hoà bình có còn phá1 huy tác dụng trong việc giải quyết các cuộc tranh chấp về nguôi1 nước ngày càng khan hiếm trong tương lai?
Có tới 2/3 dân số nước ta sống trên lưu vực sông Hồng v0 sông Cửu Long Trung Quốc là quốc gia đầu nguồn của hai coi1 sông lớn này cùa Việt Nam Việc Trung Quốc xây hơn 300 đập
À
Trang 21Chương 5 :An ninh m ô i t n t ờ n và khủng hố sinh211
thủy điện lớn nhỏ, trong đó có những đập cao tới 300m cùng với những hồ chứa sừ dụng 2/3 tổng lượng nước sông Mêkông là con sông có 6 quốc gia sử dụng chung - Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Cam-pu-chia và Việt Nam Nguy cơ này chắc chắn sẽ ảnh hường nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước trong lưu vực, đặc biệt đối với Việt Nam là quốc gia nằm ở hạ lưu sông Mêkông nếu như thiếu một chiến lược hợp tác có hiệu quả của tất cả 6 quốc gia trong việc sử dụng và bảo vệ con sông này Trong khi đó, cho đến nay, Trung Quốc vẫn khước từ không gia nhập ủ y ban sông Mêkông [3]
5.4.7 Tranh chấp tài nguyên đất
Đất đai cư trú là tài nguyên cơ bàn hàng đầu của cuộc sống đối với mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Vì thế những biến động và suy thoái tài nguyên đất thường có ảnh hưởng sâu sắc và trực tiếp đến
an ninh Tuy nhiên, vấn đề an ninh lãnh thổ không chỉ đơn thuần là
an ninh môi trường, nó luôn đan xen với những vấn đề chính trị, dân tộc, tôn giáo, xã hội
Việc các quốc gia tranh giành đất đai diễn ra muôn hình vạn trạng, từ việc lấn dần các vùng ven biên giới đến các cuộc chiến tranh quân sự xâm lược, tranh giành lãnh thổ Cuộc xung đột Palestin và Israen nhiều năm qua là một ví dụ kinh điển về tranh giành vùng đất cư trú Không chỉ ở cấp quốc gia, vấn đề tranh chấp quyền sử dụng đất đai cũng thường bùng nổ thành các xung đột trong nội bộ cộng đồng với những hình thức cũng rất đa dạng Ví
dụ tranh chấp đất đai ở Tây Nguyên là một vấn đề nóng bỏng và nhiều trường hợp bị các thế lực phản động bên ngoài kích động gây mất an ninh trật tự xã hội như trường hợp Tin lành Dega xảy ra năm 2001
Trang 22212 An ninh mồtntờng
Suy thoái, thiếu hụt đất canh tác và mất dần đất ở cũng là một trong những nguyên nhân thúc đẩy quá trình di dân tự do đến những vùng đất mới, tạo ra những xáo trộn xã hội khó kiểm soát
Khu vực Sahara của châu Phi có tốc độ sa mạc hóa đất đai nhanh nhất trên toàn cầu Năm 1985, 10 triệu người châu Phi thuộc
9 quốc gia phải rởi bỏ quê hương và trở thành nạn nhân của môi trường
Một vài số liệu:
+ Suy thoái môi trường ở Băng-la-đét đã đẩy một lượng lớn người tị nạn xuống vùng Assam của Ấn Độ gây ra cuộc xung đột sắc tộc căng thẳng
+ 6 triệu trong tổng số 120 triệu dân Trung Quốc di cư nội bộ
vì lý do môi trường
+ Năm 2005 có nhiều người dân ở New Orleans (Mỹ) phái đi nơi khác sau cơn bão Katrina.[31]
Theo ủy ban Liên Chính phủ về thay đổi khí hậu (OPCC) thì
có 4 khu vực dễ bị ảnh hưởng bởi tình trạng thay đổi khí hậu trái đất, trong đó có những vùng đồng bằng rộng lớn tại châu Á, nơi hàng
tỷ người dang sinh sống vì nguy cơ lụt lội IPCC cũng nêu ra rằng tình trạng nóng lên toàn cầu có thể gây nên việc có hàng triệu dân tị nạn
Trang 23Chương 5 :An ninh môi trường và khủng bố sinh thái 213
ờ Việt Nam, trong giai đoạn 1991 - 2002, cả nước có 287.689 hộ với 1.318.728 nhân khẩu di dân tự do từ các tỉnh phía Bắc vào Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ (tổng kết của Cục định canh, định cư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 26/11/2002) nhưng chúng ta vẫn chưa thể thống kê được có bao nhiêu phần trăm trong số đó di cư vì lý do môi trường
5.4.9 Tội phạm về môi trường [3]
Tình trạng vi phạm pháp luật về Bảo vệ môi trường (BVMT)
ờ nước ta đã và đang diễn ra đa dạng, phổ biến, nghiêm trọng và có chiều hướng gia tăng Nhiều hành vi phá hoại môi trường nghiêm trọng chưa ngăn chặn được triệt để như nạn phá rừng, khai thác thủy sản bằng chất độc, xung điện, chất nổ; săn bắt, buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã quý hiếm; buôn bán, sử dụng bừa bãi các loại hóa chất bảo vệ thực vật, nhập khẩu chất thải, xả thải trái phèp cùng với các sự cố môi trường nảy sinh ngày càng nhiều là những nguyên nhân chủ yếu làm cho môi trường nứớc ta bị xuống cấp một cách nhanh chóng, có nơi bị suy thoái nghiêm trọng
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới phải đương đầu với các loại tội phạm, trong đó tội phạm về môi trường có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm quốc tế ngày càng gia tăng, đặc biệt trong các hoạt động vận chuyển, buôn bán trái phép các loài động vật, thực vật hoang dã quý hiếm; vận chuyển, buôn lậu các loại hóa chất độc hại, chất thải qua biên giới
Mặc dù các vi phạm pháp luật về BVMT đang diễn ra hết sức bức xúc nhưng việc phát hiện, đấu tranh và xử lý vi phạm lại chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Chẳng hạn, tính từ ngày 01/7/1999 đến năm 2005, các Tòa án cấp sơ thẩm trong toàn quốc đã thụ lý tất
cả chì có 28 vụ án về môi trường, với 56 bị cáo Trong đó đã đưa
Trang 24214 An ninh mô trường
22 vụ ra xét xử và trong 22 vụ này chỉ có 2 vụ với 2 bị cáo bị kết án (01 bị phạt tù dưới 7 năm và 01 bị phạt tù và cho hưởng án treo)
Cục Cảnh sát Môi trường thuộc Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an được thành lập ngày 29/11/2006 Cùng với các cơ quan chức năng về BVMT các cấp, lực lượng Cảnh sát môi trường đang
nỗ lực đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống vi phạm và tội phạm
về môi trường nhàm bảo vệ tài nguyên môi trường của đất nước
5.5 ô NHIỄM XUYÊN BIÊN GIỚI THÁCH THỨC AN NINH MÔI TRƯỜNG
Việc vận chuyển các chất thải nguy hại xuyên biên giới đang diễn biến phức tạp và gây ra nhiều thảm họa về sức khỏe và môi trường tại các nước chấp nhận chất thải Lý do chính là tại các nước công nghiệp, lượng chất thải ngày càng nhiều và xử lý rất tốn kém, trong khi các nước nghèo lại cần ngoại tệ mạnh Sự phát triển của xu thế này buộc một số nước phải cấm xuất nhập khẩu các chất thải nguy hại và cộng đồng quốc tế đã thông qua Công ước Basel
về kiểm soát sự vận chuyển và đổ các chất thải nguy hại xuyên biên giới, các quốc gia đang cổ gắng tham gia các công ước quốc tế, các
hiệp ước đa phương hoặc song phương Tuy vậy, kiểm soát ô nhiễm
xuyên biên giới thường vượt quá nguồn lực của những nước nghèo
Hơn tất cả các lĩnh vực an ninh môi trường khác, lĩnh vực an
ninh môi trường liên quan với ô nhiễm xuyên biên giới là lĩnh vực
có cơ sở pháp lý lỏng lẻo nhất Đây chính là mảnh đất làm bùng
phát những vấn đề về môi trường nằm ngoài tầm kiểm soát của
nhiều quốc gia, tuy quốc tế đã có một số quy định
Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới và
tiêu hủy chất thải nguy hiểm được thông qua năm 1989 và có hiệu
lực năm 1992 Cho đến nay đã có 133 quốc gia EU là các Bên tham
gia Công ước Công ước giải quyết các vấn đề nan giải, do hàng
Trang 25năm có đến hàng trăm triệu tấn chất thải nguy hiểm phát sinh trên
thế giới Những chất thải có độc tính, gây ngộ độc, dễ nổ, dễ ăn
mòn, dễ cháy, độc tính sinh thái hay lây nhiễm, được coi rất nguy
hiểm đối với con người và môi trường Công ước quy định việc di
chuyển các chất thải đó và bắt buộc các thành viên của Công ước
phải có nghĩa vụ đảm bảo quản lý và tiêu hủy các chất thải đó một
cách hợp lý về môi trường Công ước khuyến khích các Chính phủ
nên giảm thiểu số lượng chất thải nguy hiểm phát sinh và chuyên
chờ, xử lý và tiêu hủy các chất thải này càng gần nguồn phát sinh
càng tốt
Bắt đầu từ tháng 3/2000, Nghị định thư về trách nhiệm pháp lý
và đền bù hủy hoại do vận chuyển xuyên biên giới và tiêu hủy chất
thải nguy hiểm được để ngỏ để các nước ký kết tại Bem (Thụy Sỹ)
và sau đó sẽ để ngỏ để các nước ký kết tại Trụ sở Liên hợp quốc
New York từ ngày 01/4 đến tháng 12/2000 Nghị định thư này
được đính kèm với Công ước Basel về chuyển chở xuyên biên giới
và tiêu hủy chất thải nguy hiểm, 1989 Công ước Basel là hiệp ước
môi trường đầu tiên xây dựng chế độ ràng buộc pháp lý về trách
nhiệm và đền bù Thụy Sỹ là nước đầu tiên ký Nghị định thư này
Chính phủ các nước sau khi ký sẽ phải phê chuẩn hoặc gia nhập để
trở thành các bên tham gia Nghị định thư sẽ có hiệu lực sau khi
nhận được văn kiện phê chuẩn của 20 nước thành viên Nghị định
thư được thông qua tại cuộc họp thứ 5 của Hội nghị các Bên tham
gia Công ước Basel vào ngày 10/12/1999 Nghị định thư sẽ quy
định chế độ xác định trách nhiệm pháp lý chi tiết và đảm bảo đền
bù nhanh và thỏa đáng trong trường hợp xảy ra các hủy hoại do vận
chuyển xuyên biên giới và tiêu hủy chất thải nguy hiểm, kể cả vận
chuyên bất hợp pháp các loại chất thải đó Nghị định thư còn xác
định trách nhiệm tài chính trong trường hợp gây ra sự cố Mỗi giai
Chương 5 :An ninh môitrxtờng và khủiĩg bố thái 2 1 5
Trang 26216 An ninh mô trường
đoạn chuyên chở xuyên biên giới, từ giai đoạn phát sinh cho đến xuất khẩu, quá cảnh quốc tế, nhập khẩu và tiêu hủy cuối cùng đều được xem xét Cuộc họp thông qua Nghị định thư còn thông qua quyết định giúp các nước đang phát triển và các nước có nền kinh
tế đang chuyển đổi trong các trường hợp khẩn cấp Nghị định thư được thương lượng từ năm 1993 nhằm đáp ứng với các mối quan tâm của các nước đang phát triển về thiếu ngân quỹ và công nghệ
để đối phó với việc đổ bất hợp pháp hay các vụ tai nạn rò rỉ
Việc quản lý tác nhân phóng xạ trong nước đã được quy định trong Pháp lệnh về An toàn và Kiểm soát bức xạ, ban hành ngày 25/6/1996 Pháp lệnh quy định mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng chất phóng xạ phải đăng ký tại cơ quan chức năng của Nhà nước và phải được phép của các cơ quan này
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường không chì nằm trong phạm vi một nước như thủng tầng ôzôn, sự nóng lên của quả đất, mất đa dạng sinh học, mưa axít, nước biển dâng
Vụ ô n h iễ m s ô n g R h in e
Vào tháng 11/1986, một nhà kho chứa 1.246 tấn thuốc bảo vệ thực vật của Công ty Sandos bị cháy Hoạt động phun nước cứu
hỏa đã đẩy khoảng 30 tấn hóa chất diệt cỏ, diệt côn trùng vào sông
Rhine, tạo ra một vết loang dài trên sông, tiêu diệt hầu hết cá, lươn
và nhiều loại thủy sản của sông Rhine trên độ dài gần 200 dặm Anh
(khoảng 330km) Vì Thụy Sỹ ở đầu nguồn sông nên vụ rò rỉ gây
ảnh hưởng tệ hại đến nước Đức ở cuối nguồn Riêng một đoạn sông
Rhine chảy qua một bang của Đức đã đếm được gần 1 triệu con cá
bị chết Công ty Sandos đã phải chi phí 15 tỊ-iệu bảng Anh để đền
bù và khắc phục thảm họa sinh thái này
Ẩ
Trang 27Chương 5 :An ninh môitrườiìg và khủng bố217
Lắng đọng axít có tác động nghiêm trọng đến các hệ sinh thái nước và đất Theo thời gian đất và nước mặt dần dần bị axít hóa Mức axít hóa khi vượt quá ngưỡng sẽ phá hủy quá trình sinh hóa của các cơ thể sống trong đất và nước Các loài nhạy cảm sẽ suy giảm nhanh khi axít phá hủy chu trình sinh sản của chúng Ở Na Uy hiện tượng axít hóa các sông đã làm cá hồi đã làm giảm một nừa sản lượng cá vào năm 1978 và phần còn lại bị giảm 40% sau 5 năm (1983) Mức độ axít hóa đất cũng đạt đến mức báo động ở một số nơi Trong 50 năm qua, diện tích đất rừng bị axít hóa nhiều nước châu Âu đã tăng lên 5 đến 10 lần Sự tăng lên về độ chua sẽ tác dộng xấu đến cán cân dinh dưỡng của cây trồng như các ion canxi, ntagiê, kali Đồng thời độ axít cao cùa đất cũng dẫn đến tăng nhanh lượng nhôm hòa tan làm cho cây bị ngộ độc, gây hại các rễ nhỏ Một vấn đề nữa là mưa axít hòa tan các kim loại nặng và các độc tố khác, gây hại cho thực vật và các vi sinh vật Mức nitơ quá nhiều từ lắng đọng axít có thể kích thích tăng trưởng quá mức và thúc đẩy s\r suy giảm các chất dinh dưỡng Hiện nay các cánh rừng ở châu A.U đã có lượng nitơ cao gấp 4 - 8 lần do lắng đọng axít
M ư a a x ỉt ở V iệt N a m
Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam năm 1994 do Bộ iQioa học - Công nghệ và Môi trường trình Quốc hội đã nêu: “Sự 'ẳng đọng axít trước đây chỉ thấy ở các nước phát triển thì nay đã
Trang 28218 An ninh môtrườnế
lan ra các nước đang phát triển Khu vực xung quanh chúng ta và
cả nước ta cũng đã quan sát được sự lắng đọng axít - đây là nguy
cơ lớn đối với thiên nhiên, sản xuất, môi trường và sức khỏe con người” Báo cáo lần đầu tiên đã tuyên bổ “lắng đọng axít” là một
sự cố môi trường ở Việt Nam Kết quả phân tích thành phần hóa học nước mưa tại các điểm quan trắc Việt Trì, Láng, Cúc Phương) Phủ Liễn, Ninh Bình, Thanh Hóa cho thấy có hiện tượng lắng đọng axít ướt cục bộ: có trận mưa pH = 4,37, có trận pH = 4,58 Đặc biệt
ở Phủ Liễn năm 1991 đã xuất hiện độ pH trung bình tháng cùa nước mưa là: 5,2; 5,4; 5,5; ờ Cúc Phương năm 1990 trong các tháng 1, 2, 3, 4, 5, 10 độ pH = 5,1 đến 5,91 Do cơ sở dữ liệu và lưới quan trắc ít lại chưa tiêu biểu nên chưa thể đánh giá đầy đủ vc
sự lắng đọng axít, nhưng có điều chắc chắn là ờ nước ta đã có dấn hiệu lắng đọng axít cục bộ
Cuối năm 1993 ở khu vực thị trấn Nhà Bè, các xã Phú Xuâf>) Phú Mỹ và một số xã lân cận đã xuất hiện một trận mưa diện rộnể
100 km2 có màu đen lục và mùi hôi, hàm lượng nitrit khá lớn, cộ nhiều tạp chất hữu cơ, lượng cặn không tan cao và sơ bộ có tlĩC khẳng định trận mưa này đã bị axít hóa Báo cáo hiện trạng mớ' trường Việt Nam năm 1997 và năm 1998 cũng khăng định răng, cơ dấu hiệu mưa axít ở thành phố Hồ Chí Minh và phụ cận, Bì^1 Dương, Đồng Tháp; và so sánh năm 1997 và năm 1998 thì hiệt1 tượng này gia tăng - ở xung quanh nhà máy supephotphat LâP1 Thao đất đã bị axít hóa (pH = 1,9 đến 3,5)
M ư a a x ít v à s ư ơ n g k h ó i q u a n g H à N ộ i
Khoảng 21h30’ tối ngày 10/6/2009, khu vực nội đô Hà
đang nóng nực (khoảng 35°C), kết quả của một ngày nắng nóũè'
bỗng dưng trời dịu đi nhưng không có gió, sương mù xuất híệ*1
ngày càng dày, nhiều người kêu khó thở thấy rát phổi, mắt cay &
À
Trang 29khoảng gần 22h00’ trời đổ mưa nhẹ, đo nhanh nước mưa bằng giấy
quỳ cho kết quả độ pH khoảng 5,0 đến 5,5 Đó là mưa axít! Và hiện
tượng quan sát thấy giống hệt hiện tượng trong lý thuyết mà giới
môi trường gọi là sương khói quang hóa - một hiện tượng ô nhiễm khí
Cực kỳ nguy hiểm, mặc dù điều này chi được khẳng định nếu có số
liệu quan ưắc khí đúng lúc Theo dữ liệu ghi chép lại thì năm 2008,
cũng đã xảy ra hiện tượng tưong tự vài ba lần Những quan sát
Sương khói quang hóa tại nội đô Hà Nội vào đêm 10/6/2009 cành
báo về khả năng ô nhiễm khí nội đô Hà Nội đang trở nên tồi tệ hơn,
đòi hỏi cần có các trạm quan trắc tự động và là lời cảnh báo đối với
Cơ quan có trách nhiệm bảo vệ môi trường của thành phố
Nhập lậu rá c thải “n ú p bóng ” nhập phế
Theo báo cáo mới đây cùa Bộ Công an, từ năm 2003 đến
năm 2006, các doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia chuyển khẩu, nhập
khẩu, tạm nhập tái xuất 3.562 công-ten-nơ phế thải vào Việt Nam,
trong đó có 2.278 công-ten-nơ với gần 40.000 tấn ắc-quy chì phế
thải qua cảng Hải Phòng Việc nhập khẩu ắc-quy chì và bàn cực chì
3ã qua sử dụng vi phạm Nghị định số 155/CP của Chính phủ về ban
lành quy chế quản lý chất thải nguy hại và Công ước quốc tế Basel
kiểm soát, vận chuyển xuyên biên giới chất thải nguy hại
Bất chấp các quy định trên, từ tháng 3 đến tháng 6/2007, Hải
luan Hải Phòng vẫn phát hiện ba doanh nghiệp nhập lậu 15
'ông-ten-nơ ắc-quy chì phế thải vào thành phố, sau đó tái xuất mà
'hưa có ý kiến của cơ quan chức năng có thẩm quyền Việc tháo gỡ
ic-quy phế thải lấy bản cực để tái chế hoặc tái xuất sẽ thải ra một
u-ợng axít không nhỏ gây độc hại, ô nhiễm môi trường trầm trọng,
-ó doanh nghiệp ờ Hải Phòng còn nhập lậu cả 10 công-temiơ rác
hài sinh hoạt, khi bị phát hiện đã “bỏ của chạy lấy người”, cơ
ỈUan chức năng đã phải đưa đi xử lý, tốn kém không nhỏ kinh phí
^hà nước
Trang 30220 An ninh môtntờnệ
Từ tháng 6/2007, Cục C36 - Bộ Công an đồng loạt kiểm tra việc nhập khẩu phế liệu của một số công ty tại cửa khẩu, cảng biển thuộc các tỉnh: Hải Dưcmg, Hưng Yên, Thái Bình, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh phát hiện nhiều vụ nhập phế liệu sai phạm nghiêm trọng Điển hình là cuối tháng 10 vừa qua, hon 100 công-ten-nơ chứa đầy rác thải gồm sắt thép phế liệu gỉ sét, bao bì, ống bơ sắt bốc mùi hôi thối nồng nặc, đe dọa ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được nhập về Theo các văn bản quy định của
cơ quan chức năng, mới đây nhất là Thông tư Liên tịch số 02 ngày 30/8/2007 của Liên bộ Công thương và Tài nguyên Môi trường về việc các loại phế liệu phải được làm sạch từ nước ngoài trước khi nhập về Việt Nam, nhưng các doanh nghiệp nhập khẩu đều “bỏ
Việc vận chuyển thất thải phóng xạ, cũng như buôn lậu chất
phóng xạ đang là nỗi nhức nhối của an ninh môi trường toàn cầu 0
châu Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan đều đã sảo xuất điện hạt nhân nhiều năm Bắc Triều Tiên trong quá khứ đấ nhận được hai lò phản ứng hạt nhân phát điện có công suất lớn do
Mỹ trợ giúp và hiện nay đang khởi động sản xuất vũ khí hạt nhân- châu Âu và Bắc Mỹ là hai trung tâm sản xuất điện hạt nhân lớn nhất thế giới với lượng chất thải phóng xạ hàng năm rất lớn TheO nhiều nguồn tin không chính thức, phần lớn chất thải hạt nhân và các chất thải nguy hại khác của các trung tâm này được đưa đêo chôn lấp ở châu Phi, Án Độ và Bắc Triều Tiên do nhu cầu có ngoạJ
tệ mạnh ở khu vực này (Đinh Ngọc Quang, 2002) Sau khi Liên xó
sụp đổ, chất phóng xạ được vận chuyển ra ngoài lãnh thổ theo cáo băng nhóm buôn lậu không kiểm soát được, trờ thành một nguy cd tiềm ẩn toàn cầu
Trang 31Dân số học là khoa học nghiên cứu về dân số loài người cùng những vấn đề có ảnh hường trên dân số này Các nhà dân số học nghiên cứu tỷ lệ giới tính và sự phân bố theo tuổi để tiên đoán sự tàng trưởng trong tương lai Tỷ lệ tăng trưởng dân số và tỷ lệ này -ũng được quyết định bời tử suất của dân số Các điều kiện xã hội kinh tế cũng rất quan trọng bởi vì chúng ảnh hưởng trên sổ trạng con cái mà người phụ nữ muốn sinh, điều này góp phần làm tên tỷ lệ tăng trường cùa dân số Ở các nước phát triển, phụ nữ hường có cơ hội đi làm Các đôi vợ chồng kết hôn muộn hơn và họ luyết định về số con cái sẽ sinh ra dựa trên khoản chi phí để nuôi hột đứa con Ở các nước kém phát triển, phụ nữ lấy chồng sớm, trẻ
;on là những lao động phụ để kiếm tiền, là người chăm sóc cho cha
hẹ sau này
Trang 32222 An ninh môtrườnề
Mô hình chuyển tiếp dân số khiến người ta nghĩ rằng khi một nước được công nghiệp hóa thì dân số nước đó bắt đầu ổn định Tuy nhiên, ít có hi vọng là Trái đất có thể đài thọ nổi cho toàn bộ thế giới theo kiểu của các nước đã phát triển Không chắc là có thê
có đủ các nguôn năng lượng và các tài nguyên thiên nhiên khác đê phát triển các quốc gia kém phát triển hoặc còn có thời gian để kịp thay đổi các xu thế tăng trường dân sổ Các quốc gia phát triển cao
độ nên dự tính đến áp lực gia tăng trong tưomg lai về việc phải chia
sẻ tiền của họ cho các quốc gia kém phát triển hon
6.2 DÂN SỐ VÀ Sự NGHÈO KHÓ - CÁI VÒNG LUẨN QUẨN? [7]
Một điều thấy rõ là những vùng nào trên thế giới có sự tăng trưởng dân số nhanh chóng nhất thì vùng ấy có tiêu chuẩn sống thấp nhất Các khu vực đã phát triển trên thế giói (châu Âu, Bắc Mỹ’ Nhật Bản, Úc và Niu-di-lân) thì có sự sung túc và sự tăng trưởng dân số tưong đối chậm chạp Các quốc gia kém phát triển n châu Phi, châu Mỹ La-Tinh, châu Á thường nghèo và có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao Mặc dù không phải tất cả mọi trường hợp đêu giống nhau nhưng sự nghèo đói, tỷ lệ sinh sản cao, sức khỏe suy giảm và sự thiếu giáo dục thường có liên quan với nhau:
1 Những người nghèo không thể áp dụng biện pháp hạn chẽ sinh sản được vì họ thường không được học nhiều, có thể không đọc nổi những hướng dẫn về cách áp dụng đúng những phương pháp ngừa thai khác nhau, do đó họ có nhiều con hơn sự mong muốn của mình
2 Người nghèo cần có thu nhập bàng nhiều cách Điều nà) thường khiến ho bắt con nghỉ học để làm việc đồng áng hay nhữn£ công việc khác, kiếm thêm thu nhập cho gia đình Những người
học thì không thể được trả lượng cao cho nên họ vẫn chịu cản^1 nghèo khó
Trang 33Chương 6: X óa đói giảm nghèo, hiện pháp hữu hiệu.223
3 Người nghèo thì ít có cơ hội được chăm sóc y tế, do đó họ -ó nhiều khả năng mắc phải những bệnh có thể phòng ngừa, khiến -ho năng lực kiếm tiền của họ bị giảm thấp
4 Phụ nữ ờ các nước nghèo thường ít được học hành nên thông thể có thu nhập riêng Họ phải lệ thuộc vào chồng hoặc vào ỉia đình để sống Phụ nữ không có thu nhập độc lập thì có nhiều 'on hơn là mình muốn vì không thể áp dụng hạn chế sinh sản được
5 Tỷ lệ từ vong cao ở trẻ sơ sinh là do sức khỏe kém, cha mẹ
ại muốn có con nhiều, vì chúng sẽ lo cho cha mẹ khi họ về già Tỷ
ệ tử vong cao ờ trẻ sơ sinh càng khiến cho cha mẹ có nhiều con vì Hột số sẽ chết bớt khi còn bé
Tại Hội nghị Quốc tế của Liên họp quốc về dân số phát triển, riêu tập tại Cairo, Ai Cập, tháng 9 năm 1994, người ta đã chú tâm
>há vỡ các vòng nghèo đói và tỷ lệ sinh trưởng dân số cao này Hội Ighị đã đi đến nhiều kết luận quạn trọng có khả năng giúp ta phá
rò cái vòng này:
1 Mọi người nhìn nhận rằng phúc lợi kinh tế được gắn liền
ới việc giải quyết vấn đề dân số Tuy nhiên khối dân khổng lồ, ăng trưởng nhanh chóng của các nước nghèo không thể hy vọng sẽ trọc tiêu dùng như các nước giàu Ngoài ra, các nước giàu trên thế iới cũng cần giảm mức tiêu thụ của mình
2 Việc nâng cao trình độ giáo dục cho các phụ nữ được huyến khích Điều này sẽ giúp cho người phụ nữ có một địa vị tài hình cao hơn, nhờ đó họ có thể sinh ít con hơn
3 Việc tiếp cận với các biện pháp hạn chế sinh sản và chăm
ác y tế sẽ làm giảm số lượng tử vong ở các bà mẹ và trẻ nhỏ
Thực vậy, nhiều quốc gia đã đề ra các chương trình kiểm soát
ân số nhằm vào việc cải thiện sức khỏe cho phụ nữ và trẻ con, và
Trang 34224 A n ninh môtrườnẻ
làm cho mọi người trên thế giới đều có thể áp dụng biện pháp hạn chế sinh sản
6.3 CÁI ĐÓI, SẢN XUẤT LƯƠNG THựC VÀ SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG [7]
Khi dân số loài người tăng lên thì nhu cầu về thực phẩm cũng tăng lên Người ta phải tự tay trồng trọt lương thực hoặc phải mua lương thực Nhiều người ờ thế giới phát triển mua lấy những gì họ cần và có thừa thực phẩm để ăn Phần lớn người dân ở các nước kém phát triển phải sản xuất ra lương thực cho mình và có rất ít tiền để mua thêm thực phẩm Nói chung những người nông dân
chẳng được dư giả bao nhiêu, nếu mất mùa thì họ bị đói Dù là ở
những nước có dân số cao nhất (Trung Quốc và Án Độ) đa sô người dân đều sống nhờ đất đai và nông trại (62% dân Trung Quốc
và 72% dân Án Độ sống ở vùng nông thôn)
Hình 6 1 Dân số mức dinh dưỡng Dân số càng đông thì càng cần sử dụng nhiều năng lượng $ duy trì dân sổ đó Mỗi khi một sinh vật khác ăn thì có khoảng 9® năng lượng khi mà hoa màu trồng ra được dùng để nuôi súc
Cùng lượng ngũ cốc ấy khi được dùng mức dinh dưỡng loài
Ấ
Trang 35Chương 6: Xóa đói giảm nghèo, biện pháp hữu 225
Cỏ CÓ thể nuôi được một sổ dân đông gấp 10 lần, khi được dùng ở mức loài ăn t h ị t [7].
Khi con người cần có thực phẩm, họ biến đổi các hệ sinh thái
tự nhiên thành hệ sinh thái nông nghiệp do con người quản lý Hỗn hợp tự nhiên cùa các thực vật và động vật bị phá hủy và được thay thế bằng những chủng loại hữu ích cho con người Nếu các hệ sinh thái nông nghiệp này được quản lý kém thì toàn bộ khả năng sản xuất của vùng đó có thể giảm xuống thấp hom khả năng sản xuất của hệ sinh thái nguyên thủy Chảo bụi ở Bắc Mỹ, sự hoang mạc hóa ở châu Phi và những sự phá hủy rừng mưa nhiệt đới là những
ví dụ mà ai cũng biết Ở các quốc gia không có đủ thực phẩm và dân số đang tăng lên thì áp lực để biến đổi các hệ sinh thái tự nhiên còn lại thành vùng nông nghiệp rất là dữ dội Phần nhiều các vùng này không mấy thích hợp cho nông nghiệp và sẽ không cho năng suất cao Tuy nhiên đối với việc dân số đang bị đói thì có được cái lợi trước mắt là điều quan trọng hơn hết Sự lành mạnh lâu dài của môi trường bị hy sinh cho nhu cầu tức thời của dân số
Một hậu quả của nhu cầu cơ bản thực phẩm này là dân chúng
ở các nước kém phát triển thường được ăn ờ mức dinh dưỡng thấp hơn là dân chúng ở các nước phát triển (xem hình 6.1) Biến đổi các Cácbonhiđrát chất lượng kém của thực vật thành protein và chất béo động vật có giá trị dinh dưỡng cao hơn là một quá trình hao tốn Trong quá trình nuôi dưỡng động vật bằng thực vật rồi thu hoạch sản phẩm động vật, khoảng 90% năng lượng ở thực vật nguyên thùy bị mất đi Mặc dù nhiều lề lối canh tác hiện đại ờ các nước phát triển đã giúp người ta đạt được hiệu suất cao hơn nhưng hầu hết dân chúng của thế giới đang phát triển không có khả năng
sử dụng những hệ thống tiên tiến ấy Như vậy, những người dân này đang gây tổn thất khoảng 90% cho hệ sinh thái thiên nhiên Do
Trang 36226 A n ninh m ôi tníờng
đó xét về mặt kinh tế và năng lượng thì dân chúng ở các nước kém phát triển nên tiêu thụ ngay chính thực vật hơn là dùng thực vật cho động vật ăn rồi sau đó mới tiêu thụ các động vật Trong phần lớn trường hợp, nếu cây cỏ được dùng để nuôi súc vật thì con người sẽ phải chết đói Mặt khác, sự thiếu hụt protein trong các chế độ ăn uống chi gồm thực vật là chính có thể dẫn tới suy dinh dưỡng Nhiều người dân ở các nước kém phát triển sẽ phải chịu thiếu protein khiến cho thể xác và trí tuệ họ không phát triển được
Trái lại, ở hầu hết các nước phát triển thì thịt và các nguồn protein động vật khác chiếm một phần quan trọng trong chế độ ăn uống Nhiều người bị thừa dinh dưỡng (vì ăn quá nhiều) và họ bị
“kém dinh dưỡng” theo một nghĩa khác Khoảng 50% dân chúng Bắc Mỹ bị thừa trọng lượng và 25% bị béo phì Hậu quả về mặt sinh thái của một người ăn thịt lớn gấp khoảng 10 lần hậu quả của một người ăn rau Nếu dân chúng ở các nước phát triển giảm bớt lượng protein động vật mà họ ăn vào thì họ sẽ giảm đi đáng kể nhu cầu của họ đổi với tài nguyên của thế giới Hầu như tất cả cải bắp
và đậu nành trồng tại Mỹ đều được dùng để nuôi gia súc Nếu các ngũ cốc này được dùng để cho người ăn thay vì cho thú ăn thì không phải trồng nhiều ngũ cốc đến thế và hậu quả trên đất trồng cũng nhẹ hơn
Ở các quốc gia mà thực phẩm không đủ thì đất nông nghiệp
đã được khai thác hết mức mà vẫn còn cần thêm thực phẩm Điều này khiến cho Mỹ, Ca-na-đa, Ốt-xtrây-li-a, Ác-hen-ti-na, Niu-di-lân,
và Liên minh châu Âu trở thành những nhà xuất khẩu thực phẩm chính hiệu Nhiều quốc gia như Ẩn Độ và Trung Hoa có thể trồng
đủ thực phẩm cho dân chúng của mình nhưng không còn thừa ra để xuất khẩu Các nước khác, gồm nhiều nước thuộc Liên Xô cũ, không thể trồng đủ để đáp ứng nhu cầu của riêng mình, do đó phải nhập khẩu thực phẩm
J
Trang 37Chương 6: X óa đói giảm nghèo, biện pháp hữu hiệu. 227
Tình hình hiện tại về mặt sản xuất thực phẩm và nạn đói trên thế giới rất phức tạp Nó liên quan đến những tài nguyên cần thiết
để sản xuất thực phẩm, như đất trồng trọt được, lao động và máy móc; sự tuyển chọn hoa màu thích đáng và động lực kinh tế Nó cũng liên quan cả đến sự phân bố không đồng đều lương thực trong một nước Đây thường là một vấn đề kinh tế bời vì ở hầu hết các nước, những người nghèo nhất không dễ gì tìm được những thứ cần thiết cơ bản cho sự sống, trong khi người giàu thì có dư thừa thức
ăn cùng các tài nguyên khác Ngoài ra hoạt động chính trị cũng thường có tính quyết định đổi với khả năng có được thực phẩm Chiến tranh, trả nợ nước ngoài, tham nhũng và quản lý kém cũng thường góp phần tạo ra đói kém và suy dinh dưỡng
Nến làm gì cho những quốc gia không thể trồng đủ lương thực cho dân chúng và không có khả năng mua lương thực mà họ đang cần? Đây không phải là chuyện dễ dàng Một giải pháp nhân tạo giàn đơn cho vấn đề này là sự cung cấp lương thực từ các quốc gia phát triển Nhiều tổ chức tôn giáo và nhân đạo đã hoạt động đắc lực qua việc đưa thực phẩm đến cho những người đang cần và đã cứu được nhiều mạng người Tuy nhiên, mục tiêu luôn luôn phải là
sự viện trợ nhất thời, và nhấn mạnh rằng dân chúng trong nước phải tìm ra các cơ chế để giải quyết vấn đề của chính họ Thường khi có các chương trình lương thực khẩn cấp khiến cho một số lớn dân chúng di chuyển từ vùng nông thôn lên thành phố, nơi mà họ không có khả năng tự nuôi sống được Họ ữờ nên lệ thuộc vào thực phẩm cứu trợ và không còn làm để nuôi trồng lương thực cho chính mình Không phải vì không muốn làm việc mà bởi vì họ phải rời bò đồng ruộng để đi đến các trung tâm cấp phát lương thực Nhiều tổ chức nhân đạo giờ đây đã nhận ra sự vô nghĩa của việc nuôi sống người dân bằng quà tặng của những nước phát triển, cái chính phải
là sự tự lực cánh sinh
Trang 38228 A n ninh môtrườĩĩg
D ự đ o á n n h ũ n g th a y đ ổ i g â y ra b ở i tă n g tr ư ở n g d àn s ố liê n tụ c [ 7 ]
Khi dân sổ loài người tiếp tục gia tăng thì sức ép về những nhu cầu cho đời sống ngày càng lớn dần Những khác biệt trong tiêu chuẩn sống giữa các nước phát triển và kém phát triển vẫn còn
to lớn bởi vì dân số sẽ tăng ở hầu hết các nước kém phát triển Nguồn cung cấp nhiên liệu và các tài nguyên khác đang vơi cạn dần Áp lực về những tài nguyên này càng thêm mãnh liệt khi các nước công nghiệp tìm cách duy trì tiêu chuẩn sống hiện nay của họ Người dân ở các nước kém phát triển sẽ tìm thêm đất để trồng hoa màu tự nuôi sống họ trừ khi có sự gia tăng sản lượng đáng kể trên mỗi ha Vì hầu hết những người này sống ở miền nhiệt đới nên các khu rừng nhiệt đới sẽ bị chặt phá để lấy đất trồng Sự sâm thực hoặc thay đổi đất đai sinh ra từ đó sẽ khiến cho các vùng đất này không còn thích họp để trồng trọt hoa màu hoặc trồng rừng nữa Sự chuyển đổi từ hệ sinh thái tự nhiên dạng hệ sinh thái nông nghiệp
có thể gây ra những thay đổi quan trọng trong hệ sinh thái
Các nước phát triển có thể sẽ phải chọn lựa giữa nhiều giải pháp thay thế khác nhau: giúp đỡ cho các nước kém phát triển, qua
đó duy trì tình hữu nghị với họ; cho phép nhập cư nhiều hơn từ các nước đang phát triển; hoặc là nhắm mắt làm ngơ trước những khó khăn của các nước kém phát triển
Không một chính sách nào trên đây có thể ngăn ngừa được một sự thay đổi trong nếp sống khi dân số thế giới gia tăng, tài nguyên của thế giới chỉ có hạn Cho dù các quốc gia công nghiệp tiếp tục sử dụng một phần không cân xứng các tài nguyên của thế giới thì số lượng có thể sử dụng của mỗi người trong họ cũng sẽ giảm xuống khi mà dân số tăng lên, khi dân số thế giới gia tăng thì các khu vực kém phát triển có lẽ sẽ còn duy trì mức sống thấp kém
À
Trang 39Chương 6 :X óa đói giảm nghèo, biện hữu 229
của họ Khó mà hình dung các mức sống ấy có thể thấp xuống hon nữa, vì một số dân ở các vùng này đang phải bị đói sắp chết rồi Nếp sống ở các quốc gia phát triển có lẽ sẽ thay đổi rất ít nhưng có thể bớt đi xu thế tiêu dùng Những gì mà con người hiện nay thấy
là cần thiết (các bữa ăn trong quán, nghỉ hè đến các vùng xa hoặc sắm thêm đồ dùng) có lẽ sẽ trở thành xa xỉ Nhiều người đang hưởng sự tự do của sự di chuyển trong chiếc xe riêng sẽ phải gò bó
sự di chuyển của mình bời vì phưcmg tiện vận tải công cộng sẽ thay thế cho vận tải tư nhân Việc giải trí có thể sẽ không còn dùng đến các loại máy móc đắt tiền, hao tốn năng lượng (xuồng máy, mô tô,
đồ chơi dùng điện) và thay vào đó sẽ được chú trọng vào các hoạt động như đi bộ việt dã, đi xe đạp, và đọc sách Những thay đổi này
sẽ không đến nhanh trừ khi có một thế lực chính trị quan trọng trên toàn thế giới Nhiều khả năng nhất các thay đổi này sẽ chỉ diễn ra khi áp lực kinh tế tác động trên các gia đình Nhiều chuyên gia kinh
tế và tư tưởng gia chính trị thấy rằng khi nền kinh tế trên thế giới gắn bó với nhau hơn và cơ hội việc làm được tự do từ nước này sang nước khác thì tiền của sẽ được phân bố lại từ những nước giàu trước đây sang những nền kinh tế mới trỗi dậy ở các nước đang phát triển Khả năng về một sự tái phân bố như thế đã trở thành một vấn đề chính trị quan trọng tại số đông các quốc gia phát triển trên thế giới
6.4 NGHÈO ĐÓI VẪN LÀ MỘT THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Sau hai thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu nhất định về tiến bộ xã hội, cũng như thịnh vượng
về kinh tế Các chính sách đổi mới đã tạo điều kiện giải phóng những khả năng tiềm tàng và sức sáng tạo của người dân, và Việt Nam đang từng bước vươn lên sánh vai với các nền kinh tế đang phát triển trong khu vực và trên thế giới
Trang 40230 A n ninh môtntờng
Số liệu của điều tra hộ gia đình gần đây cho thấy tỷ lệ nghèo năm 2004 đã giảm hon một nửa so với năm 1993 (từ 58,1% năm
1993 giảm còn 24,1% năm 2‘004) Tỷ lệ người dân sống dưới
1 USD/ngày đã giảm xuống một cách đáng kể (giảm từ 40% xuống còn 11% trong cùng giai đoạn 1993-2004) Tiếp cận với giáo dục
và tỷ lệ biết chữ tiếp tục được cải thiện hon và đạt được những thành quả rất ấn tượng đối với một nước có mức thu nhập như Việt Nam Tăng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn đã cung cấp nước sạch và các tiện ích vệ sinh cho hàng triệu
hộ gia đình [25]
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức lớn Mặc dù tăng trưởng kinh tế nhanh được duy trì trong suốt hai thập kỷ, Việt Nam vẫn là một nước nghèo Hàng triệu người Việt Nam chỉ sống trên mức thu nhập chỉ cao hơn một chút so với chuẩn nghèo Hơn 10 triệu người sống với mức thu nhập trong biên độ 10% của chuẩn nghèo chính thức và những cá nhân và hộ gia đình này rất dễ bị tổn thương nếu những cú sốc kinh
tế xảy ra do những yếu tố bên ngoài hoặc trong nước gây ra Việc lan rộng Hội chứng đường hô hấp cấp (SARS) trong toàn khu vực vào năm 2003 và dịch cúm gia cầm trong năm 2004 và 2005, cũng như tình trạng lạm phát gia tăng như hiện nay là những thí dụ về những rủi ro, bất ổn có thể làm cho một số lượng lớn hộ gia đình rơi vào tình trạng sống dưới chuẩn nghèo
Mối liên hệ đói nghèo - môi trường đã được khẳng định và được nhìn nhận như là một yếu tố quan trọng cần được tính đến trong chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển ở tất cả các cấp
độ Một dự án quốc gia có tên gọi là Dự án Nghèo đói và Môi trường (PEP) do Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện với sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính của UBDP và Bộ Phát triển