1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Đánh giá việc sử dụng công cụ hạn mức tín dụng trong điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam giai đoạn từ 2011 đến nay

16 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 338,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết sẽ tập trung làm rõ thực trạng sử dụng công cụ HMTD của NHNN giai đoạn 2011 – 2014, phân tích những hiệu quả và hạn chế mà công cụ này đem lại, từ đó có những khuyến nghị trong việc sử dụng HMTD trong điều hành CSTT của NHNN.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ HẠN MỨC TÍN DỤNG TRONG

ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN TỪ 2011 ĐẾN NAY

Vũ Thị Kim Xuyến, K14 – NHTMI Nguy ễn Thị Thu Hương, K14 – NHTMK

H ạn mức tín dụng (HMTD) được định nghĩa là việc Ngân Hàng Trung Ương (NHTW) quy định tổng mức dư nợ tối đa mà các tổ chức tín dụng (TCTD) buộc phải tuân

th ủ khi cấp tín dụng cho nền kinh tế0

1 Trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng nóng, tín dụng tăng trưởng quá nhanh những năm 2007 – 2008, Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã sử

d ụng nó như một trong những công cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ (CSTT) Tuy nhiên, HMTD l ại là một công cụ trực tiếp và mang tính hành chính, nó tác động trực tiếp đến lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, vì vậy, không thấy được hiệu quả của cơ chế truy ền tải, đồng thời, mang tính áp đặt và bó buộc cho các ngân hàng thương mại (NHTM), làm gi ảm đi tính chủ động, cạnh tranh trong kinh doanh, làm giảm hiệu quả phân b ổ nguồn vốn, thậm chí, dễ dẫn đến những tiêu cực nằm ngoài tầm kiểm soát của NHNN Chính vì v ậy, việc NHNN có nên sử dụng HMTD trong điều hành CSTT tại Việt Nam hay không luôn là v ấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà điều hành thời gian qua Bài vi ết sẽ tập trung làm rõ thực trạng sử dụng công cụ HMTD của NHNN giai đoạn 2011 – 2014, phân tích những hiệu quả và hạn chế mà công cụ này đem lại, từ đó

có nh ững khuyến nghị trong việc sử dụng HMTD trong điều hành CSTT của NHNN

1 B ối cảnh kinh tế từ năm 2011 đến nay

1.1 B ối cảnh kinh tế thế giới

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 với khởi đầu là chấn động mạnh trên thị trường bất động sản và chứng khoán Mỹ đã dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế nặng nề trên phạm vi toàn cầu GDP năm 2009 giảm 5.826 tỷ USD so với năm 2008, và là năm đầu tiên GDP toàn cầu tăng trưởng âm trong vòng 20 năm trở lại Tốc độ tăng trưởng bình quân giảm từ 4,04%/năm giai đoạn 2001-2007 bị kéo xuống còn 3,2% tính chung

1Theo Ths Đặng Thị Việt Đức - Ths Phan Anh Tuấn

Trang 2

cho cả giai đoạn 2001-2010 Thời kì này, hầu hết các nước đều có tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với giai đoạn trước khủng hoảng Đặc biệt, kinh tế Nhật Bản được xem là một

mảng tối trong nền kinh tế chung của thế giới với sự thiếu hiệu quả của chính sách kinh

tế Abenomics Kế đến là sự trì trệ của khu vực Đồng tiền chung Châu Âu, hay sự cấm

vận của Mĩ với Nga liên quan đến vấn đề Crimea… Điểm sáng kinh tế thời kì này phải

kể đến khu vực Châu Á, khu vực năng động nhất thế giới khi mà tốc độ tăng trưởng tuy

có giảm, nhưng vẫn ở mức cao (khoảng 6 – 8%)

Trước tình trạng đó, Mỹ đã tung ra các gói QE thông qua nghiệp vụ thị trường mở

với việc mua vào và hoán đổi kỳ hạn trái phiếu nhằm duy trì mức lãi suất siêu thấp 0-0,25% để kích thích nền kinh tế Cũng trong thời gian trên, vấn đề nợ công Châu Âu với

xuất phát điểm là Hy Lạp, sau đó là Cộng Hòa Síp, Tây Ban Nha….đã dẫn đến khủng

hoảng niềm tin, rồi sau đó là suy giảm kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp cao… Trước tình trạng

đó, hàng loạt các gói cứu trợ được tung ra kèm theo điều kiện thắt chặt chi tiêu đã giúp các nước Châu Âu thoát khỏi nguy cơ đổ vỡ Tuy nhiên, nền kinh tế về tổng thể vẫn chưa

có nhiều khởi sắc

Bước sang năm 2011, kinh tế Thế Giới đã cho thấy những dấu hiệu lạc quan về

phục hồi và phát triển, tuy nhiên vẫn còn lại nhiều hệ lụy tiêu cực Trong đó, có ba vấn đề chính nổi lên là: (i) rủi ro khủng hoảng nợ công; (ii) rủi ro rủi ro trở lại vòng luẩn quẩn

“thất nghiệp cao – tiêu dùng thấp – đầu tư ít – thất nghiệp cao”; (iii) rủi ro giảm sút sự

phối hợp chính sách phục hồi kinh tế các quốc gia1

2 Cùng với đó là những tác động từ sự bất ổn về chính trị của nhiều nước trên thế

giới đã đẩy kinh tế Việt Nam đứng trước những khó khăn và thách thức không hề nhỏ Giai đoạn 2013-2014, lạm phát và thất nghiệp đã giảm thiểu một cách đáng kể, kinh tế

thế giới cũng đã có những dấu hiệu phục hồi tích cực, tạo cơ sở cho sự phục hồi nền kinh

tế Việt Nam

1.2 B ối cảnh kinh tế trong nước

2 Theo Hoàng Th ị Tư, 2010 “Kinh tế Thế giới sau khủng hoảng, tình hình nợ công và tái cấu trúc nền kinh tế”

Trang 3

Trước những ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh

tế toàn cầu năm 2008, kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2014 suy giảm đáng kể so với giai đoạn từ đầu thập kỉ đến năm 2010 (trung bình 5.58% so với 7.25%)

Trước thực trạng đó, Chính phủ, cùng với các cơ quan chức năng, trong đó, đặc

biệt là NHNN đã thực hiện những giải pháp nhằm kích thích tăng trưởng, ổn định kinh tế

vĩ mô, ổn định tỷ giá và giá trị đồng tiền bằng các công cụ như lãi suất, tỷ giá, hạn mức tín dụng hay nghiệp vụ thị trường mở, Nhờ vậy, chỉ số lạm phát đã được kiểm soát ở

mức một con số Trung bình giai đoạn 2011 – 2014, CPI hàng năm duy trì tương đối ổn định ở mức 8.32% trong khi giai đoạn 2008 – 2010 là 13.01% (Hình 1.1)

Hình 1.1: Di ễn biến tăng trưởng tín dụng, GDP và CPI của Việt Nam 2000-2014

Ngu ồn: IMF, Tổng cục thống kê

Cùng với việc ổn định giá trị đồng tiền thông qua chỉ số lạm phát, tăng trưởng tín

dụng nền kinh tế giai đoạn này cũng đã chững lại Năm 2014, tăng trưởng tín dụng đạt cao nhất so với các năm trong giai đoạn, nhưng cũng duy trì ở mức 12.62%, nếu so với

mức 51.39% năm 2007 (Hình 1.1) Tuy nhiên, cần nhìn nhận một điều là, tăng trưởng tín

dụng tuy giảm, nhưng không đồng nghĩa với việc suy giảm chất lượng do đã hạn chế được những ảnh hưởng của việc tăng trưởng nóng, mở rộng tín dụng quá mức, tạo ra tình

trạng bong bóng như thời kì trước khủng hoảng

Bên cạnh đó, tỷ giá được duy trì ổn định với những cam kết của NHNN đã tạo điều kiện cho sự gia tăng dự trữ ngoại hối quốc gia cũng như tình trạng thặng dư cán cân

Trang 4

thương mại (Hình 1.2) Tất cả những yếu tố đó đã tạo thành điểm sáng trong kinh tế Việt Nam thời kì phục hồi kinh tế sau khủng hoảng

Hình 1.2: T ỷ giá năm 2014 (VND/USD)

Ngu ồn: HSC

Thực trạng trên đã đặt ra những yêu cầu trong điều hành CSTT của NHNN trong

thời gian tới là cần tiếp tục ổn định lạm phát, tỷ giá, đồng thời góp phần thúc đẩy kinh tế

vĩ mô, đưa đất nước bước thoát khỏi suy thoái

2 Th ực trạng sử dụng công cụ hạn mức tín dụng trong điều hành chính sách tiền

t ệ từ năm 2011 đến nay

2.1 M ục tiêu điều hành CSTT của NHNN

CSTT là một trong những chính sách quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó NHTW sử

dụng các công cụ, biện pháp nhằm đạt được những mục tiêu của mình, bao gồm mục tiêu

hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng

Mục tiêu cuối cùng của CSTT là mục tiêu dài hạn mà NHTW muốn đạt được trong việc điều hành chính sách Ở Việt Nam, giai đoạn 1997-2009, NHNN theo đuổi

CSTT đa mục tiêu như được thể hiện rõ trong luật NHNN 1997: “Chính sách tiền tệ quốc

gia là m ột bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân” Tuy nhiên, việc điều hành CSTT

gặp rất nhiều khó khăn do các mục tiêu đều là dài hạn, khó định lượng, đặc biệt, tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai mục tiêu khó có thể đạt được đồng thời trong ngắn hạn

Trang 5

Từ năm 2010 trở đi, CSTT đã chuyển hướng sang điều hành đơn mục tiêu là “ổn định giá

tr ị đồng tiền bằng chỉ tiêu lạm phát” (luật NHNN 2010)

Mục tiêu trung gian mà NHNN lựa chọn nhằm đánh giá và kiểm soát việc thực

hiện CSTT là chỉ tiêu mức tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (M2) và chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng Thực tế cho thấy hai chỉ tiêu trên đã có tác dụng phản ánh chính xác diễn

biến của tỷ lệ lạm phát

B ảng 2.1: Tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng cung tiền và tín dụng giai đoạn 2005-2014

Đơn vị %

Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014

L ạm phát 8.4 6.6 12.6 19.9 6.5 11.8 18.13 6.81 6.04 1.85

Tăng trưởng

cung ti ền (M2)

29.7 33.6 46.1 20.3 29.0 33.3 12.5 22.38 18.5 15.99

Tăng trưởng

dư nợ tín dụng

31.7 25.4 53.9 25.4 39.6 32.4 14.5 8.9 12.5 12.6

Ngu ồn: Tổng cục thống kê, Ngân Hàng Nhà Nước

Giai đoạn 2011-2014, trước những diễn biến bất lợi của kinh tế Thế giới và khó khăn của nền kinh tế trong nước, NHNN đã sử dụng một cách chủ động, linh hoạt các công cụ của CSTT nhằm đạt được mục tiêu của mình, trong đó có việc áp dụng trở lại rất nhiều các công cụ trực tiếp sau một thời kỳ dài tự do hóa nhằm tác động nhanh, mạnh lên

nền kinh tế như HMTD, trần lãi suất huy động,… bên cạnh những công cụ gián tiếp truyền thống như nghiệp vụ thị trường mở Trong đó, HMTD được điều hành rất mạnh

mẽ và quyết liệt, thể hiện tham vọng của các nhà hoạch định chính sách trong việc bình

ổn kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát

HMTD là công cụ mang tính áp đặt, hành chính của NHTW sử dụng để khống chế

mức tăng trưởng tín dụng của hệ thống TCTD ra nền kinh tế, điều chỉnh khả năng tạo tiền

của các TCTD phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế HMTD thường được sử

dụng trong trường hợp lạm phát cao, trong khi các công cụ gián tiếp không phát huy hiệu

quả do thị trường tiền tệ chưa phát triển, do mức cầu tiền tệ không nhạy cảm với sự biến động của lãi suất, hay NHTW không có khả năng khống chế và kiểm soát được sự biến

Trang 6

động của lượng vốn khả dụng trong hệ thống NHTM nhằm khống chế trực tiếp và nhanh chóng lượng tín dụng cung ứng Vì vậy, đây được xem là công cụ quan trọng trong điều hành CSTT tại Việt Nam thời kì hậu khủng hoảng Bài viết sẽ tập trung làm rõ quá trình điều hành HMTD, hiệu quả và hạn chế của công cụ này đối với nền kinh tế nước ta giai đoạn 2011 – 2014

2.2 Th ực trạng sử dụng HMTD trong điều hành CSTT tại Việt Nam

Giai đoạn 2004 - 2011, tỷ lệ lạm phát thực tế vượt xa so với định hướng điều hành

của Chính phủ do sự tăng trưởng nóng của nền kinh tế Mức độ chênh lệch lớn nhất là khoảng thời gian 2007-2008 với cột mốc Việt Nam gia nhập WTO và đầu năm 2011, khi tăng trưởng kinh tế giảm dần, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm lại, hàng loạt doanh nghiệp phá sản, giải thế Tỷ lệ thất nghiệp cao; tổng cầu yếu; tình trạng thâm hụt ngân sách,… thực sự đã đặt ra bài toán khó cho NHNN trong việc đưa nền kinh tế chuyển sang

quỹ đạo tăng trưởng ổn định, bền vững

Hình 2.1: L ạm phát: Mục tiêu và kết quả thực hiện giai đoạn 2004-2012

Ngu ồn: Ngân Hàng Nhà Nước

Năm 2011, mức lạm phát mục tiêu được đặt ra là dưới 7%, thấp hơn nhiều so với

mức bình quân của 3 năm trước đó (12.73%), cho thấy kỳ vọng lớn của Chính Phủ trong

việc nhanh chóng ổn định kinh tế vĩ mô Điều này gây áp lực rất lớn cho điều hành CSTT Vì vậy, NHNN đã buộc phải sử dụng các công cụ, biện pháp mang tính hành chính, ngắn hạn, gây sốc cho nền kinh tế nhằm can thiệp nhanh, mạnh và kịp thời Trong

đó, công cụ HMTD đã được sử dụng trở lại sau 13 năm bị NHNN dỡ bỏ, với những điểm

nhấn nổi bật sau:

Trang 7

HMTD được quy định theo từng năm

Hàng năm, NHNN đều ban hành các chỉ thị và Nghị quyết nhằm xác định mục tiêu cũng như các biện pháp điều hành CSTT, và vì vậy, HMTD cũng được quy định theo

từng năm, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thực trạng lạm phát của nền kinh tế Cụ

thể:

Năm 2011, Chỉ thị 01/CT-NHNN ngày 01/03/2011 và Nghị quyết 11 ngày 24/2/2011 đặt mục tiêu kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng dưới 20%, mức rất

thấp so với mức trung bình 32% của 10 năm trước đó Tuy nhiên, kết quả thực hiện cả

nền kinh tế chỉ đạt 12%, thấp hơn nhiều so với kế hoạch đặt ra HMTD đối với lĩnh vực phi sản suất được nghiêm túc thực hiện

Năm 2012, mục tiêu TTTD được đặt ra là 15-17% và tiến hành phân nhóm giao

chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các NHTM nhằm đảm bảo mức tăng trưởng chung của

nền kinh tế Kết thúc năm 2012, TTTD thực tế chỉ đạt 8.91%, nguyên nhân là so tổng cầu

thấp, nền kinh tế không hấp thụ được tín dụng, do đó công cụ HMTD không phát huy được hiệu quả

Bước sang năm 2013, nền kinh tế vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, HMTD được giảm xuống không quá 12% Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng thực tế cả năm 2013 chỉ đạt 5.03%, thấp hơn rất nhiều hạn mức đã đặt ra Như vậy, trong vòng 3 năm, từ năm 2011 đến 2013, việc áp dụng HMTD tỏ ra không phát huy được tác dụng do không phù hợp với sức khỏe của nền kinh tế

Năm 2014, tăng trưởng tín dụng hoàn thành kế hoạch đặt ra 12-14% với mức 12.62% Tăng trưởng tín dụng tăng mạnh thể hiện sự tăng lên của tổng cầu và sự chỉ đạo đúng hướng của NHNN

Đến năm 2015, NHNN vẫn tiếp tục sử dụng HMTD với định hướng tăng trưởng tín dụng trong khoảng 13-15%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình thực tế

Tín d ụng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên

Nhằm hạn chế tăng trưởng tín dụng ồ ạt, đặc biệt vào các lĩnh vực phi sản xuất như giai đoạn 2006 – 2010, từ 2012 đến nay, NHNN đã yêu cầu các TCTD thực hiện chuyển hướng tập trung cơ cấu tín dụng và tiến hành cho vay với lãi suất ưu đãi đối với

Trang 8

các lĩnh vực ưu tiên là nông nghiệp nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp phụ

trợ, DNVVN, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao Ngoài ra, các ngân hàng cũng đã triển khai nhiều chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi, như chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp, chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, cho vay phát triển nhà ở xã hội… Đây là những lĩnh vực quan trọng, tạo động

lực lớn, bền vững cho sự phát triển của đất nước

Bên cạnh đó, trong năm 2011, NHNN thắt chặt tín dụng đối với lĩnh vực phi sản xuất, như: bất động sản, chứng khoán, vay tiêu dùng khác đến ngày 31/12/2011 còn tối

đa 16% Đây là một quyết định rất đúng đắn nhằm hạn chế dòng vốn vào khu vực phi sản xuất không hiệu quả, mức độ rủi ro cao, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn vĩ mô cho nền kinh tế

HMTD được quy định cho các NHTM theo từng nhóm

Một trong những cách sử dụng HMTD của NHNN là áp mức tăng trưởng theo

từng nhóm ngân hàng Từ năm 2012 đến nay, hàng năm, NHNN đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, sau đó kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng thông qua phân nhóm các TCTD và theo đó giao chỉ tiêu tăng trưởng sao cho phù hợp với mức tăng trưởng toàn ngành Việc đánh giá phân loại dựa trên các tiêu chí: chất lượng tài sản nợ, tài sản có, quy mô vốn, năng lực quản trị điều hành, quản trị rủi ro, chất lượng nhân lực

và tuân thủ các quy định Theo đó, các TCTD được chia thành 4 nhóm, 1,2,3,4, tương ứng với các mức tăng trưởng tín dụng tối đa 17%, 15%, 8% và không tăng trưởng Tuy nhiên, các giới hạn tăng trưởng này không hoàn toàn cứng nhắc, NHNN có thể xem xét

nới rộng room tín dụng nếu các NHTM thực sự có nhu cầu, khả năng và phù hợp với diễn

biến tiền tệ, tín dụng Thực tế đã có một số ngân hàng được chấp nhận mức tăng trưởng tín dụng tối đa lên tới 17-30%, thể hiện mức độ linh hoạt nhất định của chính sách

Việc giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD thay vì việc cào bằng cho toàn ngành trước đó đã giúp các TCTD có định hướng rõ ràng trong hoạt động của mình

Việc điều hành của NHNN cũng theo đó được thực hiện nghiêm túc và nhất quán, nâng cao hiệu quả cơ chế giám sát, kiểm tra rất chặt chẽ, tránh để các NH bắt tay nhau, lách

luật, dưới nhiều hình thức gây rối loạn hệ thống, đảm bảo tuân thủ hạn mức tín dụng đã

cấp

Trang 9

Bên cạnh đó, việc giao chỉ tiêu tín dụng có thể xem như một quá trình đánh giá, sàng lọc trong hệ thống TCTD, phân cấp các TCTD để tiến hành tái cơ cấu hệ thống TCTD hiệu quả Nhóm 1 gồm các TCTD tương đối lành mạnh, ổn định, hiệu quả, trong khi nhóm 2 và 3 ở mức độ tương đối thấp hơn và nhóm 4 là các TCTD yếu kém, cần phải

cơ cấu lại Do vậy, cần khuyến khích mở rộng tín dụng đối với những TCTD lành mạnh, trong khi những TCTD yếu kém hơn do không được tăng trưởng tín dụng nên phải tập trung giải quyết các khoản nợ trước đó, thu hồi nợ, giảm tỷ lệ nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng thì mới có thể tiến hành cho vay mới Điều này khuyến khích các NHTM định hướng kinh doanh, thận trọng trong quy trình tín dụng và tạo động lực cho các NHTM nâng hạng

H ạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ

Các chính sách quản lý ngoại hối rất quan trọng trong việc ổn định hóa môi trường

vĩ mô, lành mạnh hóa hệ thống tiền tệ ngân hàng, thực hiện các mục tiêu của CSTT Chính sách tín dụng ngoại tệ cũng cần phải tiếp tục được điều chỉnh theo hướng hạn chế khoảng cách lợi ích của tín dụng ngoại tệ với tín dụng VND, xem đây là một trong hệ

thống các giải pháp xử lý vấn đề đô la hóa nền kinh tế

Tín dụng ngoại tệ giúp thúc đẩy tăng trưởng của thương mại và tài chính quốc tế, giúp cho vốn di chuyển một cách dễ dàng giữa các quốc gia, góp phần thúc đẩy quá trình

hội nhập và quốc tế hóa của nền kinh tế Tuy nhiên, việc sử dụng một lượng lớn ngoại tệ trong hoạt động tín dụng đồng thời gây trở ngại trong điều hành CSTT như: tăng tình

trạng Đô-la hóa, tăng áp lực và chi phí can thiệp của NHNN, tăng rủi ro (rủi ro ngoại hối) đối với doanh nghiệp và ngân hàng, thị trường chợ đen…

Chính vì vậy, nhằm hạn chế những tác động tiêu cực từ việc tăng trưởng quá mạnh tín dụng ngoại tệ, năm 2010, NHNN đã thực hiện thắt chặt quy định về tín dụng ngoại tệ

ở Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 6/4/2010 Nghị quyết quy định rõ: (i) số dư nợ cho vay bằng ngoại tệ thấp hơn số dư vốn huy động bằng ngoại tệ từ các tổ chức kinh tế và dân

cư, đảm bảo khả năng an toàn thanh toán; (ii) Kiểm soát chặt chẽ hạn mức tín dụng, thời hạn cho vay tương ứng với thời hạn huy động vốn bằng ngoại tệ, không để xảy rủi ro kỳ hạn và thanh khoản; (iii) các biện pháp đảm bảo khả năng thu hồi nợ bằng ngoại tệ từ

Trang 10

nguồn thu xuất khẩu; (iv) đảm bảo khả năng thu hồi nợ bằng ngoại tệ (v) Thực hiện đúng theo chỉ đạo của NHNN; (vi) Đầu tư, nâng cấp công nghệ quản trị kinh doanh (Core Banking) để quản trị có hiệu quả kỳ hạn, lãi suất, tỷ giá và thanh khoản bằng ngoại tệ

Cùng với đó, NHNN thực hiện tăng dự trữ bắt buộc và giảm lãi suất huy động USD nhằm hạn chế nhu cầu vay ngoại tệ của nền kinh tế

Nhờ vậy, tín dụng bằng ngoại tệ thời gian qua đã giảm đáng kể nếu đặt trong mối tương quan với tín dụng nội tệ (Hình 2.2, 2.3)

Hình 2.2: Tăng trưởng tín dụng

n ội tệ NHTM và toàn ngành

giai đoạn 2011 – Q2/2014

Hình 2.3: Tăng trưởng tín dụng ngo ại tệ NHTM và toàn ngành giai đoạn 2011 – Q2/2014

Ngoại trừ năm 2014, tín dụng ngoại tệ lại tăng mạnh trở lại do xuất phát từ thực tế lãi suất vay ngoại tệ (USD) chỉ bằng ½ lãi suất vay nội tệ trong khi doanh nghiệp có kỳ

vọng về tỷ giá được duy trì ổn định nhờ sự ổn định của các yếu tố vĩ mô và cam kết từ phía NHNN Ngoài ra, đối tượng được vay tín dụng ngoại tệ theo quy định tại Thông tư 29/2013/TT-NHNN ngày 6/12/2013 được mở rộng hơn so với quy định tại Thông tư 25/2009/TT-NHNN, bao gồm cả cho vay để nhập khẩu xăng dầu và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Như vậy, khi lãi suất VND giảm nhanh và cân bằng với lãi suất USD cộng

với phần bù rủi ro tỷ giá thì tình hình tăng trưởng tín dụng ngoại tệ có thể sẽ trầm lắng hơn

Ngày đăng: 21/12/2021, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w