1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

5 CHUYEN DE TRIET HOC mác lê nin nâng cao ( thạc sỹ)

51 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề 5 Chuyên Đề Triết Học Mác Lê Nin Nâng Cao
Thể loại thạc sỹ
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 515,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học là môn học có tính khái quát, trừu tượng cao, nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực, từ tự nhiên, xã hội đến tư duy làm cho sinh viên thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình học, nhất là các khái niệm, phạm trù, quy luật,…thường khó nhớ và dễ nhầm lẫn. Chưa kể đến những từ ngữ này còn ít gặp nên khi học sinh viên mới đọc và tìm hiểu khái niệm của chúng. Từ đó dẫn đến việc tiếp thu bài giảng chậm lại, thậm chí là chậm hơn nhiều so với những môn ứng dụng khác.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ I CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG - CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC

I THẾ GIỚI QUAN VÀ THẾ GIỚI QUAN TRIÊT HỌC

1 Thế giới quan và các hình thức cơ bản của thế giới quan

a Khái niệm thế giới quan

Nhận thức về thế giới, về bản thân trong mối quan hệ với thế giới để điểu chỉnh hoạt động của mình là mộtnhu cầu nhận thức của con người Đó cũng quá trình hình thành thế giới quan

Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về cuộc sống và vai trò của con người đối với thế giới.

Sự hình thành và phát triển thế giới quan đều thông qua hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn xã hội.Nội dung của thế giới quan phản ánh thế giới và vai trò của con người ở ba phương diện:

1) Khách thể (các đối tượng bên ngoài chủ thể - đối tượng nhận thức);

2) Chủ thể (con người dưới các hình thức là cá nhân hoặc cộng đồng xã hội – chủ thể nhận thức);

3) Mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể

Nội dung của thế giới quan, một mặt phản ánh hệ thống những quan điểm, quan niệm của con người về thếgiới; mặt khác cũng phản ánh vai trò của con người đối với thế giới Nội dung cơ bản của thế giới quancũng là việc giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Xét về cấu trúc, thế giới quan bao gồm nhiều yếu tố: tình cảm, niềm tin, lý tưởng, tư tưởng, tri thức Trong

đó có hai yếu tố cơ bản là tri thức và niềm tin Tri thức là cơ sở trực tiếp hình thành thế giới quan, khi nó làniềm tin để hình thành lý tưởng, động cơ thôi thúc con người hành động

Như vậy, một thế giới quan khoa học là thế giới quan có sự thống nhất giữa tri thức và niềm tin có ý nghĩađịnh hướng cho hoạt động của con người khi phản ánh thế giới, khi xác định thái độ, cách thức hoạt động

và hình thành nhân sinh quan nói chung của con người

Thế giới quan có các chức năng: chức năng nhận thức, đánh giá, xác định giá trị, điều chỉnh hành vi…

Khái quát lại, chức năng quan trọng nhất của thế giới quan là chức năng định hướng cho toàn bộ hoạt

động sống của con người

b Những hình thức cơ bản của thế giới quan

Sự hình thành và phát triển của thế giới quan về cơ bản có ba hình thức: thế giới quan huyền thoại, thế giớiquan tôn giáo và thế giới quan triết học

- Thế giới quan huyền thoại là thế giới quan có nội dung kết hợp một cách tự nhiên (không tự giác) giữa thực và ảo.

Thế giới quan huyền thoại đặc trưng nhận thức về thế giới, đánh giá giá trị của xã hội, được thể hiện thôngqua các chuyện thần thoại của công xã nguyên thủy Thế giới quan huyền thoại chứa đựng sự kết hợp mộtcách tự nhiên (Có nghĩa là hoà hợp, hoà đồng, đơn thuần, chưa có phân ly, phân biệt giữa tự nhiên – xã hội,giữa thần linh và con người; vì con người chưa có ý thức phản tỉnh Với con người sơ khai, tư tưởng, suynghĩ, cảm nghĩ, cảm xúc chỉ là một) giữa thực và ảo, giữa người và thần Sự kết hợp này, như Ph.Ăngghen nhận định, là kết quả tất yếu của trình độ nhận thức thấp, khi con người chưa hiểu nguồn gốc, bảnchất và qui luật của các sự vật, hiện tượng của thế giới và chính bản thân con người nên họ đã nhân cáchhoá các vị thần hoặc bán thần trong thần thoại Các vị thần trong thần thoại Hy Lạp, Trung Quốc hoặc ẤnĐộ… là kết quả của sự nhân cách hoá đó

Yếu tố thực và ảo của thế giới quan huyền thoại thoại không chỉ nhân cách hoá thần, với tính cách

là các lực lượng siêu nhiên có sức mạnh và quyền năng huyền bí, mà còn thể hiện ý thức về cội nguồn đểhình thành lý tưởng xã hội của người nguyên thủy ở trong thần thoại Đó là các thiên thần thoại anh hùng

ca tối cổ đã thể hiện lý tưởng hướng về mẫu người chiến thắng muốn tách mình ra khỏi giới tự nhiên, chinh

phục lại tự nhiên Chẳng hạn, hình mẫu người công dân anh hùng như Hécto, như Axin, vinh quang như

Trang 2

thần chiến thắng Biểu tượng con người giành được ngọn lửa thiêng trong tay thần linh1[1], con người khôngcòn run rẩy trước tự nhiên mà có khả năng chinh phục tự nhiên Tuy muốn tách mình ra khỏi tự nhiên,người nguyên thủy không muốn đổi lấy sức mạnh của mình với sức mạnh của tự nhiên, mà chỉ đem sứcmạnh của mình gia nhập vào tự nhiên

Tóm lại, thế giới quan huyền thoại nguyên thủy đều giải thích vai trò các lực lượng siêu nhiên trongtưởng tượng và nhờ trí tưởng tượng; và đều truy tìm nguồn gốc thị tộc đã có trước thần thoại do chinh bảnthân thị tộc sáng tạo ra với các vị thần và bán thần; cũng đều là cái hiện thực cuộc sống đã qua phản ánhhoang tưởng vào những câu chuyện của người nguyên thủy

Huyền thoại không do suy luận trừu tượng, cũng không phải là một nhận thức thuần tuý nhưng làmột thái độ sống cụ thể, một quan niệm về cuộc đời sống động mà không hề biết có quan niệm đó Người

cổ xưa đồng hoá với những quan niệm về cuộc đời Và bởi vì cuộc đời thần thoại có tính chất thần linh nênthái độ sống này có tính chất tôn giáo Người ta sống niềm tin thần thoại và biểu lộ nó bằng một nghi lễ cótính chất tôn giáo

Cố nhiên, trí tưởng tượng trong thế giới quan huyền thoại, không tách khỏi thần thoại và thông quathần thoại nó có ý nghĩa đối với quá trình hình thành phong tục tập quán truyền thống văn hoá của các dântộc

- Thế giới quan tôn giáo là thế giới quan có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của lực lượng siêu nhiên đối với thế giới, đối với con người, được thể hiện thông qua hoạt động có tổ chức để suy tôn, sùng bái các lực lượng siêu nhiên.

Sự ra đời của thế giới quan tôn giáo có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức Nguồn gốc xã hội

do sự bất lực của con người trước những lực lượng xã hội gây ra nhiều tai họa cho con người làm nảy sinh

ra tín ngưỡng tôn giáo2[2] với những ước mơ, khát vọng vào cuộc sống sau khi đã chết Nguồn gốc về mặtnhận thức, do tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, tách ý thức ra khỏi con người, mặt khác còn do sự bất lựccủa con người trước các hiện tượng tự nhiên dẫn đến thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên, hình thànhbiểu tượng và tình cảm, niềm tin và lý tưởng tôn giáo

Sự hình thành và phát triển của thế giới quan tôn giáo đều gắn liền với với quá trình hình thành vàphát triển của tôn giáo

Tôn giáo xuất hiện rất sớm trong xã hội nguyên thủy, lúc đầu nó gắn liền với đạo đức và nghệ thuật, thầnthọai và các truyền thuyết… Ở các thời đại về sau, tư tưởng tôn giáo phát triển thành những giáo lý tôngiáo trở thành thế giới quan tôn giáo được thể hiện theo quan điểm của những giai cấp khác nhau Sự tồntại và phát triển của tôn giáo tương ứng với những nhu cầu tinh thần của con người Tuy nhiên, tính kháchquan của bản thân nhu cầu đó không có nghĩa là tính chân lý của những phương tiện tôn giáo nhờ đó mànhu cầu được thỏa mãn Ph.Ăngghen đã nêu ra một định nghĩa kinh điển về tôn giáo: “tất cả mọi tôn giáochẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của người – của những lực lượng bên ngoài chi phốicuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức mạnh ở trần thế đã mang hình thứcsức mạnh siêu trần thế”3[3]

Đặc trưng chủ yếu của thế giới quan tôn giáo là niềm tin cao hơn lý trí, trong đó niềm tin vào một thế giới

“siêu trần thế” hoàn thiện, hoàn mỹ mà con người sau khi chết Đó cũng là niềm tin về tâm linh, đời sốngtâm linh của con người Cho nên, tôn giáo ảnh hưởng rất lớn đến đối với đời sống xã hội Sự ảnh hưởng đó

là sự phủ nhận khả năng nhận thức và vai trò của con người đối với hiện thực khách quan Làm cho con

1 [1] Prômêtê đã lấy lửa của thần Hêphaistôt mang cho loài người (trong thần thoại Hy Lạp)

2[2]Tôn giáo hay đạo, đôi khi đồng nghĩa với tín ngưỡng, thường được định nghĩa là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quan đến niềm tin đó.

3 [3] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.20, tr 437

Trang 3

người sống theo an phận, thủ tiêu đấu tranh xã hội và nó bị lạm dụng bởi lợi ích của các thế lực phản động

và của các giai cấp bóc lột trong lịch sử Tuy nhiên, mặt khác tôn giáo cũng có khả năng “định hướng” cáithiện và làm việc thiện của con người trong một chừng mực nhất định nào đó khi nó quan hệ với đạo đức,quan hệ giữa cái thiện và cái ác dù là ở trong tư tưởng của tôn giáo Và hơn thế nữa, thế giới quan tôn giáo

là một trong những nguồn gốc hình thành phong tục tập, truyền thống văn hoá của các dân tộc

- Thế giới quan triết học là hệ thống những quan điểm có tính khái quát về thế giới về vai trò của con người đối với thế giới thông qua hệ thống các khái niệm, phạm trù, qui luật.

Quá trình hình thành và phát triển của thế giới quan triết học gắn liền với lịch sử hình thành và phát triểncủa triết học

Phân biệt thế giới quan triết học khác với thế giới quan khác, nhất là thế giới quan tôn giáo, C.Mác viết:

“… các vị hướng về tình cảm, triết học hướng về lý trí, các vị nguyền rủa, than vãn, triết học dạy bảo; các

vị hứa hẹn thiên đường và toàn bộ thế giới, triết học không hứa hẹn gì cả ngoài chân lý; các vị đòi hỏi tintưởng tín ngưỡng của các vị, triết học không đòi hỏi tin tưởng vào kết luận của nó, nó đòi hỏi kiểm nghiệmcác điều hoài nghi; các vị doạ dẫm, triết học an ủi Và thật thế, triết học biết cuộc sống khá đầy đủ để rằngnhững kết luận của nó không bao dung sự khao khát hưởng lạc và lòng vị kỷ - của cả thiên giới lẫn thế giớitrần tục”4[4]

Thế giới quan triết học có thể phân chia thành thế giới quan duy vật, duy tâm, thế giới quan khoa học vàphản khoa học Trong đó, thế giới quan khoa học có ý nghĩa định hướng cho hoạt động của con người trên

cơ sở tổng kết những thành tựu của quá trình nghiên cứu khoa học, thực nghiệm khoa học và dự báo khoahọc

Triết học là cơ sở lý luận, hạt nhân của thế giới quan Bởi vì, vấn đề chủ yếu của mọi thế giới quan cũng làvấn đề cơ bản của triết học, đó là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức dưới các quan điểm, quanniệm khác nhau Triết học làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kếtkinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại Đó là chức năng thế giới quan của triết học Chủnghĩa duy vật, chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan triết học đối lập nhau

2 Thế giới quan duy tâm, thế giới quan duy vật, thế giới quan duy vật biện chứng

a Thế giới quan duy tâm

- Thế giới quan duy tâm thừa nhận bản chất của thế giới là tinh thần, - cái có trước, cái có vai trò quyếtđịnh đối với thế giới vật chất và con người

Thế giới quan duy tâm được thể hiện thông quan hai hình thức Đó là thế giới quan duy tâm chủ quan vàthế giới quan duy tâm khách quan Sự khác nhau giữa hai hình thức này là sự khác nhau trong quan niệm

về tinh thần Thế giới quan duy tâm chủ quan coi tinh thần là tình cảm, ý chí, tư tưởng; ngược lại thế giớiquan duy tâm khách quan coi tinh thần là một bản nguyên tinh thần như “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối”

Sự hình hành, phát triển của thế giới quan duy tâm gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của chủnghĩa duy tâm trong lịch sử triết học Về cơ bản, thế giới quan duy tâm phủ nhận tính khách quan và quiluật khách quan của thế giới vật chất và con người; ngược lại thế giới quan duy tâm thừa nhận ý thức, tưtưởng hoặc “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước, cái quyết định đối với thế giới vật chất và conngười Theo đó, thế giới quan duy tâm phủ nhận tính năng động, tích cực của con người trong cuộc sống.Như vậy, thế giới quan duy tâm có khuynh hướng đối lập với thế giới quan khoa học, phụ thuộc nhận thứccủa con người và điều kiện lịch sử nhất định Theo nhận định của C.Mác và Ph.Ăngghen: “Tất cả các nhàduy tâm, cả về triết học lẫn tôn giáo, cả cũ và mới, đều tin vào linh cảm, khải thị, chúa cứu thế, người sángtạo kỳ diệu; sự tín ngưỡng ấy mang hình thức thô sơ, tôn giáo hay hình thức văn minh, triết học, thì điều đóphụ thuộc vào trình độ giáo dục của họ…”5[5]

b Thế giới quan duy vật

4 [4] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr 159

Trang 4

Thế giới quan duy vật thừa nhận bản chất của thế là vật chất, vật chất quyết định ý thức và thừa nhận vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực.

Thế giới quan duy vật định khẳng định thế giới thống nhất ở tính vật chất, thế giới vật chất không do lựclượng siêu nhiên hoặc tinh thần của con người sinh ra và không tự mất đi, nó tồn tại vĩnh viễn, vô hạn, vôtận

Thế giới quan duy vật cũng khẳng định sự hình thành, vận động và phát triển của xã hội đều phụ thuộc vàocác qui luật khách quan, ý thức, tinh thần là sự phản ánh của bộ não con người về hiện thực khách quan; ýthức, tinh thần có nguồn gốc vật chất, bị quyết định bởi vật chất, nhưng nó có tính naa8ng động và sángtạo…

Như vậy, cơ sở lý luận để xác định thế giới quan duy tâm, thế giới quan duy vật và sự khác nhau giữa thếgiới quan duy tâm và thế giới quan duy vật, xét cho cùng đều thông qua việc giải quyết vấn đề cơ bản củatriết học của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật

c Thế giới quan duy vật biện chứng

Sự ra đời của phép biện chứng duy vật do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được Lênin phát triển làkết quả của sự kế thừa mang tính phê phán các quan niệm về thế giới trước đó, trực tiếp là quan điểm duyvật của Phoiơbách, phép biện chứng của Hêghen và khái quát những thành tựu của khoa học, trước hết làthành tựu của vật lý và sinh học Như Ph.Ăngghen nhận định: thành tựu của khoa học tự nhiên giữa thế kỷXIX cho con người không những khắc phục hoàn toàn tính siêu hình máy móc của thế kỷ XVIII, mà ngaybản thân khoa học tự nhiên, nhờ chứng minh được những mối liên hệ tồn tại trong bản thân giới tự nhiên đãtạo ra bước chuyển từ khoa học kinh nghiệm chủ nghĩa thành khoa học lý luận và nhờ những kết quả đã đạtđược mà đã trở thành một hệ thống nhận thức duy vật về thế giới trong sự vận động, biến đổi không ngừngcủa nó6[6]

II NỘI DUNG CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

1 Vật chất

a Khái quát các quan niệm về vật chất trong lịch sử triết học trước Mác

Trong lịch sử triết học trước Mác, mỗi một trường phái triết học đều có những quan niệm khác nhau về vậtchất; nhưng chủ yếu vẫn là cuộc đấu tranh giữa triết học duy vật và duy tâm

Chủ nghĩa duy tâm coi bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi sự tồn tại (tự nhiên – xã hội và tư duy)

là tinh thần Vật chất chỉ là sản phẩm của bản nguyên tinh thần Ví dụ: Bản nguyên tinh thần theo Platôn (nhà triết học duy tâm khách quan Hy Lạp cổ đại) là “ý niệm”, Hêghen (nhà triết học duy tâm khách quan triết học cổ điển Đức) là “ý niệm tuyệt đối”; Béccơly (nhà triết học duy tâm chủ quan thời cận đại) là cảm giác chủ quan của con người Ông cho rằng: “vật chất là sự phức hợp của cảm giác” hoặc “tồn tại tức là

được cảm giác”

Như vậy, chủ nghĩa duy tâm phủ nhận tính khách quan của vật chất, coi vật chất chỉ là sản phẩm của các

lực lượng siêu nhiên và ý muốn chủ quan của con người

Chủ nghĩa duy vật trước Mác quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiên của mọi sự tồn tại (tự nhiên –

xã hội và tư duy) là thực thể vật chất cụ thể – cái bản nguyên vật chất, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng và

những thuộc tính của chúng Ví dụ: trong triết học Trung quốc cổ đại đã coi vũ trụ được hình thành bởi tháicực, ngũ hành; triết học Hy lạp cổ đại theo Talét là nuớc; Anaximen là không khí; Hêracơlít là lửa và Lơxíp

và Đêmôcrít là nguyên tử

5 [5] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.3, tr 780

6[6] Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.673 – 678

Trang 5

Thuyết nguyên tử cổ đại là một bước phát triển của chủ nghĩa duy vật trước Mác, nó mang tính khái quát

và trừu tượng hơn; nhưng do những điều kiện hạn chế có tính chất lịch sử, nên nó cũng chỉ là phỏng đoángiả định và không thoát khỏi tình trạng qui vật chất thành dạng vật thể

Đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, vật lý học đã có bốn phát minh quan trọng đem lại những hiểu biếtmới, sâu sắc hơn về nguyên tử, về cấu trúc thế giới vật chất đã phê phán quan niệm về nguyên tử trước đó:

- 1895 Rơnghen phát hiện ra tia X (đó là sóng điện từ có bước sóng rất ngắn );

- 1896 Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ Đã chứng tỏ rằng nguyên tử không phải là bất biến, là

cái không phải là không phân chia được và không thể chuyển hóa cho nhau, mà là cái có thể phân chia vàgiữa chúng có khả năng chuyển hóa cho nhau;

- 1897 Tômxơn phát hiện ra điện tử Điện tử là một trong những yếu tố tạo nên nguyên tử Cho nên nguyên

tử không phải là đơn vị cuối cùng tạo nên thế giới vật chất;

- 1901 Kaufman phát hiện ra hiện tượng khi vận động khối lượng của điện tử tăng khi vận tốc của nó tăng

đã bác bỏ quan niệm cho rằng khối lượng là bất biến

Những phát minh trên, một mặt, đem lại những hiểu biết mới, sâu sắc hơn về nguyên tử, về cấu trúc vậtchất của thế giới; nhưng mặt khác cũng dẫn đến sự khủng hoảng về thế giới quan trong vật lý học, trongtriết học duy vật trước Mác về nguyên tử làm cơ sở cho chủ nghĩa duy tâm chống lại chủ nghĩa duy vật khi

họ cho rằng “vật chất đã tiêu tan, vì nguyên tử không bất biến” V.I.Lênin chỉ ra rằng: không phải “vật chất tiêu tan ”, mà chỉ có giới hạn hiểu biết của con người về vật chất là tiêu tan, nghĩa là cái mất đi không

phải là vật chất, mà chỉ là giới hạn của nhận thức của con người và kết cấu của nó mà thôi

Chủ nghĩa duy vật trước Mác có ý nghĩa to lớn trong cuộc đấu tranh chống lại quan niệm của chủ nghĩaduy tâm, tôn giáo coi cơ sở đầu tiên của tất cả mọi tồn tại là ý thức, là linh hồn hoặc lực lượng siêu nhiên.Song, chủ nghĩa duy vật trước Mác cũng không nêu lên được thuộc tính chung và phổ biến nhất của vậtchất, mà ngược lại họ đã đồng nhất vật chất vào một dạng cụ thể, thuộc tính cụ thể của nó

b Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, trên cơ sở phân tích cuộc cách

mạng của khoa học tự nhiên đầu thế kỷ XX và phê phán chủ nghĩa duy tâm trong triết học cũng như kếthừa mang tính phê phán với đối với quan niệm của triết học duy vật về vật chất, V.I.Lênin đã phát biểu

định nghĩa vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

- Vật chất là một phạm trù triết học?

Khi định nghĩa phạm trù vật chất, V.I.Lênin cho rằng cần phải phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù

triết học khác với “khái niệm” vật chất của khoa học tự nhiên Vật chất với tính cách là phạm trù triết học

nó chỉ vật chất nói chung, vô tận, vô hạn, không sinh không mất đi, còn đối tượng vật chất trong các khoahọc cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn Đó là các đối tượng sự vật cụ thể, ở các tính độ kết cấu và tổ chứckhác nhau

V.I.Lênin cũng chỉ ra rằng phương pháp định nghĩa vật chất với tính cách là một phạm trù khái quát trừutượng và rộng nhất của hệ thống các phạm trù chung nhất, nên khi định nghĩa vật chất phải đối lập vật chấtvới ý thức và chỉ ra đặc tính chung và phổ biến nhất của vật chất là thực tại khách quan, ý thức là thực tạichủ quan để phân biệt sự khác nhau căn bản giữa vật chất và ý thức

- Vật chất là “thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”?

Vật chất là tất cả những gì có thuộc tính tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người vàkhi tác động vào giác quan con nguời thì sinh ra cảm giác (ý thức) Điều đó có nghĩa là, đòi hỏi con người

về mặt nguyên tắc phải thừa nhận sự tồn tại khách quan của của mọi đối tượng vật chất trong hoạt độngnhận thức Vật chất không tồn tại một cách vô hình, thần bí mà tồn tại một cách hiện thực, được ý thức củacon người phản ánh Do đó, về nguyên tắc không thể có đối tượng vật chất mà con người không thể biết

Trang 6

được, mà chỉ có những đối tượng vật chất con người chưa nhận thức được Vật chất tồn tại khách quan làtồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng vật chất cảm tính cụ thể, và khi tác động vào giác quan con ngườithì sinh ra cảm giác (ý thức)

Từ sự phân tích trên, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:

(1) Vật chất - cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức không phụ thuộc vào ý thức;

(2) Vật chất - cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó (trực tiếp hoặc gián tiếp) tác độngnên giác quan của con người làm xuất hiện ý thức của con người;

(3) Vật chất - cái mà cảm giác, tư duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó;

2 Nguồn gốc và bản chất của ý thức

Trước triết học Mác, quan niệm duy tâm và tôn giáo coi ý thức là sản phẩm thuần túy của lực lượng siêu

nhiên, hoặc là “linh hồn” của con người Ngược lại, quan niệm duy vật coi ý thức là sự phản ánh hiện thực

khách quan của bộ não người, nhưng họ cũng cho rằng ý thức còn có thể tồn tại ở một số loài động vật cấpcao khác Hơn nữa, họ lại lầm lẫn giữa tâm lý động vật và ý thức hoặc đồng nhất ý thức với bộ não, coi óctiết ra ý thức như gan tiết ra mật

Triết học duy vật biện chứng coi ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người, hoặc là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Khác với vật chất là cái tồn tại khách quan, ý

thức là sự tồn tại chủ quan, đó là năng lực phản ánh của bộ não con người về hiện thực khách quan

a Nguồn gốc của ý thức

- Nguồn gốc tự nhiên

Nghiên cứu nguồn gốc tự nhiên của ý thức, trước hết nghiên cứu phản ánh là thuộc tính chung của vật chất

và nghiên cứu mối quan hệ giữa bộ não của con người và ý thức để thấy được sự hình thành năng lực phản

ánh của bộ não người là một quá trình lịch sử tự nhiên Trong đó, sự hình thành, phát triển của bộ nãongười là điều kiện tiền khách quan cho sự ra đời của ý thức

+ Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất

Phản ánh là sự tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất, đó là năng lực tái hiện, giữ lại và biến đổi của

hệ thống vật chất này sang hệ thống vật chất khác Phản ánh dưới hình thức đơn giản nhất được thể hiệntrong giới vô sinh như phản ánh qua những biến đổi cơ, lý, hóa dẫn đến sự thay đổi về kết cấu, vị trí, sựbiến dạng và phá hủy trong hiện thực khách quan

Phản ánh trong giới hữu sinh cao hơn, đó là sự tiến hóa từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Hìnhthức thấp nhất của phản ánh sinh vật là tính kích thích, mang tính chọn lọc của thực vật Ở động vật cấpthấp phản ánh thể hiện ở tính cảm ứng (năng lực có cảm giác) do việc xuất hiện hệ thần kinh Phản ánh tâm

lý gắn liền với quá trình phản xạ có điều kiện ở động vật cấp cao có hệ thần kinh trung ương Sự phản ánhtâm lý ở động vật cấp cao sẽ tiến hoá làm xuất hiện phản ánh ý thức của con người, khi vượn chuyển hóathành người

+ Bộ não người và ý thức Bộ não của con người hiện đại là sản phẩm tiến hóa lâu dài về mặt sinh vật - xã

hội, và có cấu tạo phức tạp bao gồm 15 - 17 tỷ tế bào thần kinh có khả năng thu nhận, truyền dẫn điềukhiển toàn bộ hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới xung quanh

Về nguyên tắc, ý thức của con người chỉ xuất hiện khi có sự tác động của hiện thực khách quan vào bộ nãongười và bị qui định bởi hoạt động thực tiễn Cho nên, năng lực phản ánh của ý thức là năng lực hoạt độngcủa bộ não Không thể tách ý thức ra khỏi sự hoạt động của bộ não người; nhưng ý thức chỉ là một thuộctính của bộ não người, nó không đồng nhất với chính bộ não người

- Nguồn gốc xã hội

+ Lao động là hoạt động có ý thức, mục đích, có phương pháp của con người làm biến đổi hiện thực khách

quan, nhằm đáp ứng những nhu cầu của con người Lao động không chỉ là nguồn gốc trực tiếp hình thànhbản thân con người, mà còn hoàn thiện khả năng phản ánh của bộ não con người Về vấn đề này,Ph.Ăngghen khẳng định: “Hàng chục vạn năm - thời gian này trong lịch sử trái đất cũng tương đương nhưmột giây đồng hồ trong một đời người - đã trôi qua, truớc khi xã hội loài người xuất hiện từ đàn vượn leo

Trang 7

trèo trên cây giữa đàn vuợn và xã hội loài người có sự khác nhau đặc biệt gì? Đó là lao động Lao độngbắt đầu cùng với việc chế tạo ra công cụ”7[7].

+ Lao động của con người làm cho giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, những qui luật vận động và khi

tác động vào giác quan của con người thì sinh ra ý thức Sự xuất hiện ngôn ngữ trong quá trình lao động đãtrở thành phương tiện vật chất để đáp ứng những nhu cầu khách quan về quan hệ giao tiếp, trao đổi nhữngkinh nghiệm của con người

+ Ngôn ngữ là vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, là yếu tố quan trọng để phát triển

tâm lý, tư duy của con người Ph.Ăngghen cho rằng: “Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời vớilao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm cho bộ

óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc của con người”8[8] Nhờ ngôn ngữ, kinh nghiệm và sự hiểu biết củacon người mới được hình thành, vận động và phát triển, đồng thời nó trở thành phương tiện trao đổi về mặt

xã hội và trở thành công cụ của hoạt động ý thức

b Bản chất của ý thức

Bản chất của ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ não con người có tính năng động và sáng tạo

Để hiểu được bản chất của ý thức, trước hết, chúng ta đều thừa nhận vật chất và ý thức đều là hiện thực,

nghĩa là đều tồn tại Nhưng về nguyên tắc, trong nhận thức luận, theo V.I.Lênin thì ranh giới giữa vật chất

và ý thức mang tính đối lập tuyệt đối Đó là sự đối lập giữa cái khách quan và cái chủ quan Ý thức là tồntại chủ quan, là cái phản ánh; vật chất là tồn tại khách quan là cái được phản ánh, là đối tượng của nhậnthức con người

Thứ hai, ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, thì đó không phải là sự phản ánh đơn giản, thụ động về hiện thực khách quan mà nó có tính năng động sáng tạo theo nhu cầu thực tiễn xã hội của con người Tính năng động và sáng tạo của ý thức được thể hiện ngay từ khi con người xác định đối tượng,

mục tiêu, phương hướng hoạt động cũng như việc lựa chọn cách thức, phương pháp thực hiện mục tiêu đã

đề ra Theo C.Mác, ý thức “chẳng qua là vật chất được di chuyển vào bộ não con ngườỉ và được cải biến đitrong đó”9[9]

Tính năng động và sáng tạo của ý thức là quá trình cải biến các đối tượng vật chất đã được di chuyển vào

bộ não con người, thành cái tinh thần, cái khách thể tinh thần Quá trình ý thức là quá trình thống nhất 3mặt sau:

Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh Sự trao đổi này có tính hai chiều, có định

hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết trên cơ sở hiện thực khách quan để xác định tính mục đích củahoạt động người Bởi vì, hoạt động của con người là hoạt động có mục đích

Hai là, mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần Đây là quá trình mã hoá các đối

tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất Đây là quá trình biến đổi hiện thực khách quantrong bộ não người, theo nghĩa đó, cũng là quá trình hình thành tri thức và vấn đề định hướng cho việc vậndụng tri thức trong hoạt động nói chung của con người để thực hiện tính mục đích của hoạt động người

Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện thực hoá tư tưởng, thông

qua hoạt động thực tiễn chuyển hoá tư tưởng thành thực tại, hoặc vật chất hoá tư tưởng của con người dướidạng vật chất ngoài hiện thực Trong giai đoạn này con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện,công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình

3 Nội dung mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý trong hoạt động thực tiễn

7[7] Ph Ăngghen: Biện chứng của tự nhiên, Nxb ST, Hà Nội, 1971, tr.260-261.

8[8] Sách đã dẫn, tr 259.

9[9] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, t 23, tr 35.

Trang 8

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, V.I.Lênin cho rằng: Vật chất là thực tại khách quan, nghĩa là tất cả những gì có thuộc tính tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức của con người, độc

lập với ý thức của con người Vật chất tồn tại khách quan là tồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng, các hệthống vật chất và mối liên hệ giữa chúng trong một chỉnh thể thống nhất là thế giới vật chất

Xét theo tính hệ thống, thế giới vật chất bao gồm: thế giới vật chất vô cơ, hữu cơ và vật chất dưới dạng xã hội.

Vật chất dưới dạng xã hội, theo nghĩa chung nhất là tồn tại xã hội, là đời sống vật chất của xã hội, - đó

cũng là các nhân tố vật chất (nhân tố vật chất, nhân tố khách quan) như điều kiện hoàn cảnh vật chất, hoạtđộng vật chất của xã hội và các qui luật khách quan vốn có trong đời sống vật chất của xã hội

Ý thức trong hoạt động thực tiễn, theo nghĩa chung nhất là ý thức xã hội, là đời sống tinh thần của xã hội,

-đó cũng là các nhân tố tinh thần (nhân tố tinh thần, nhân tố chủ quan) như tình cảm, ý chí, tư tưởng… hoặc

là các lĩnh vực chính trị, pháp quyền, đạo đức… kể cả đường lối chính sách của một nhà nước hay sự pháttriển của khoa học…

Xuất phát từ việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học và quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vềvật chất về ý thức, nên nội dung mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trong hoạt động thực tiễn,

- đó là sự khẳng định vai trò quyết định của vật chất (đời sống vật chất, nhân tố vật chất) đối với ý thức(đời sống tinh thần, nhân tố tinh thần) và tính năng động, sáng tạo của ý thức

a Vai trò của vật chất đối với ý thức trong hoạt động thực tiễn

Xuất phát từ quan điểm cho rằng vật chất có trước quyết định ý thức, ý thức, tinh thần là cái có sau, cái

phụ thuộc vật chất Cho nên, toàn bộ hoạt động tinh thần của con người xét cho cùng đều là sự phản ánhhiện thực khách quan và bị qui định bởi hoạt động thực tiễn của xã hội Ví dụ: nghiên cứu lịch sử hìnhthành và phát triển của các học thuyết chính trị, pháp quyền, đạo đức nào đó, thì chúng ta phải căn cứ vàonhững điều kiện kinh tế - xã hội tương ứng của nó trên cơ sở quan điểm lịch sử cụ thể

Trong hoạt động tinh thần của con người nói chung, kể cả ý thức cá nhân hay ý thức xã hội hoặc đường lốichủ trương chính sách của một nhà nước hay sự phát triển của khoa học cũng dựa trên cơ sở hiện thựckhách quan, thì mới có thể làm cho khả năng khách quan trở thành hiện thực Điều đó, cũng sẽ đúng nếunhư chúng ta cho rằng đường lối phát triển kinh tế - xã hội do nghị quyết của Đại hội đại biểu lần thứ XIcủa Đảng ta đã phản ánh đúng thực trạng và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta phù hợp với quiluật kinh tế thị trường, theo định hướng xã hội chủ nghĩa và điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam hiện nay

Tự thân nó, ý thức tư tưởng của con người không thể thực hiện được sự biến đổi nào trong hiện thực, nếu

nó không thông qua các nhân tố vật chất C.Mác từng nhấn mạnh rằng: chỉ có lực lượng vật chất đánh bạibởi một lực lượng vật chất Điều này cũng sẽ đúng ngay cả khi ý thức của con người đã phản ánh đúng vềhiện thực khách quan

b Vai trò của ý thức trong hoạt động thực tiễn

Xuất phát từ quan điểm cho rằng ý thức là tính thứ hai phụ thuộc vào vật chất và con người có khả năng

nhận thức được hiện thực khách quan Sự phản ánh của ý thức về hiện thực khách quan, không phải là sựphản ánh thụ động, đơn giản mà nó có tính năng động và sáng tạo Nhất là vai trò của tri thức khoa học,theo C.Mác: một khi lý luận xâm nhập vào hoạt động của quần chúng sẽ trở thành lực lượng vật chất trựctiếp Về vấn đề này, V.I.Lênin cũng đã nhấn mạnh: không có lý luận cách mạng sẽ không có phong tràocách mạng

Trong những điều kiện khách quan nhất định, ý thức của con người có thể giữ vai trò quyết định đến kếtquả của hoạt động thực tiễn Điều này có nghĩa là ý thức, tư tưởng của con người với sự nhận biết đúng đắn

và ý chí của mình, con nguời có thể phát huy được năng lực tối ưu của các nhân tố vật chất và nhân tố tinhthần trong những điều kiện khách quan nhất định để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động thực tiễn.Hẳn trong chúng ta cũng thường đặt ra những câu hỏi là tại sao trong những điều kiện khách quan nhấtđịnh nào đó mà ranh giới giữa cái chết và cái sống… có những con người có thể vượt lên chính mình bằngsức mạnh của lý trí, của niềm tin với nghị lực và bản lĩnh để làm một việc gì đó mà mọi người cho là không

Trang 9

tưởng, nhưng lại thành công Nhưng xét về quá trình lâu dài thì nhân tố vật chất bao gìơ cũng giữ vai tròquyết định đối với nhân tố tinh thần.

III NỘI DUNG, Ý NGHĨA NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

1 Tôn trọng khách quan

Tôn trọng khách quan, xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở, phương tiện cho hoạtđộng là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng khi giải quyết mối quan hệ giữa vật chất

và ý thức

Trong hoạt động nhận thức phải bảo đảm nguyên tắc tính khách quan trong sự xem xét Đây là nguyên tắc

cơ bản của phương pháp nhận thức biện chứng duy vật Nguyên tắc này đòi hỏi xem xét các sự vật, hiệntượng không xuất phát từ ý muốn chủ quan, mà phải xuất phát từ đối tượng trên cơ sở hiện thực khách quanvốn có để phản ánh đúng đắn và xây dựng mô hình lý luận phù hợp với đối tượng Nguyên tắc tính kháchquan của sự xem xét là hệ quả tất yếu của quan điểm duy vật mácxít, khi giải quyết mối quan hệ giữa vậtchất - ý thức, giữa khách quan - chủ quan

Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trong nhận thức và hành động phải xuất phát từ bản thân sự vật, từ hiệnthực khách quan, phản ánh sự vật đúng với những gì vốn có của nó, không lấy ý muốn chủ quan của mìnhlàm chính sách, không lấy ý chí chủa quan áp đặt cho thực tế, phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quannóng vội, phiến diện, định kiến… Yêu cầu của nguyên tác tính khách quan còn đòi hỏi phải tôn trọng vàhành động Vai trò tích cực của ý thức, tư tưởng theo qui luật khách quan

2 Phát huy tính năng động chủ quan

- Xuất phát từ quan điểm cho rằng ý thức là tính thứ hai phụ thuộc vào vật chất và con người có khả năngnhận thức được hiện thực khách quan Cho nên, sự phản ánh của ý thức về hiện thực khách quan, khôngphải là sự phản ánh thụ động, đơn giản mà nó có tính tích cực, năng động và sáng tạo

Vai trò tích cực của ý thức, tư tưởng không phải ở chỗ nó trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà

là nhận thức thế giới và từ đó làm cho con người hình thành được mục đích, phương hướng, biện pháp và ýchí cho hoạt động của mình Chính vì vậy, kết quả của sự phản ánh đúng về hiện thực bao gìơ cũng có ýnghĩa định hướng chung cho hoạt động thực tiễn và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của hoạt động thựctiễn

Vai trò tích cực của ý thức, tư tưởng còn được thể hiện thông qua vai trò của tri thức khoa học Khoa học làmột hiện tượng của đời sống xã hội - với tính cách là một hình thái của ý thức xã hội - là hệ thống tri thứcchân thực về thế giới đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn Đối tượng nghiên cứu của khoa học là tất cả cáchiện tượng và các quá trình của tự nhiên, xã hội và kể cả tư duy con người Hình thức biểu hiện chủ yếucủa tri thức khoa học là phạm trù, định luật và qui luật

Sự phát triển và vai trò của khoa học đối với đời sống xã hội không ngừng tăng lên là tính qui luật quantrọng nhất của sự phát triển khoa học Đồng thời vai trò của nó cũng được thể hiện thông qua quá trình pháttriển của khoa học đặc biệt trong thời đại ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khi

mà tri thức khoa học đã kết tinh trong mọi nhân tố của lực lượng sản xuất vật chất của xã hội Không chỉ cókhoa học tự nhiên và kỹ thuật mà ngay cả các khoa học xã hội cũng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp

- Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức phát huy nhân tố con người Nguyên tắc tính khách quan

không những không bài trừ, mà trái lại còn đòi hỏi phải phát huy tính sáng tạo của ý thức Ý thức không phải là sự phản ánh thụ động, đơn giản mà có tính tích cực, năng động và sáng tạo Tính tích cực, năng

động và sáng tạo của nhân tố tinh thần được thể hiện ngay từ khi con người xác định đối tượng, mục tiêu,

phương hướng hoạt động cũng như việc lựa chọn cách thức, phương pháp thực hiện mục tiêu đã đề ra Sức mạnh của ý thức còn tùy thuộc vào mức độ sự xâm nhập của tri thức khoa học vào hoạt động của quần

chúng

Trang 11

CHUYÊN ĐỀ II PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT - PHƯƠNG PHÁP LUẬN NHẬN THỨC KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

I KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁT TRỂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý,

qui luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn Phép biện chứng đã xuất hiện từ thời kỳ cổ đại và phát triển qua ba hình thức cơ bản: Phép biện chứng chấtphác cổ đại; phép biện chứng duy tâm của Hêghen và phép biện chứng duy vật của triết học Mác

Âm dương – ngũ hành là hai phạm trù cơ bản trong tư tưởng triết học trung Hoa cổ đại, là những khái niệm

có tính khái quát, trừu tượng đầu tiên trong quan niệm của cổ nhân về sự sản sinh, biến hoá của vũ trụ Đâycũng là một bước tiến bộ hình thành quan niệm duy vật và biện biện chứng sơ khai về vũ trụ của ngườitrung Hoa cổ đại

Tư tưởng triết học về ngũ hành có xu hướng phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởinguyên với những tính chất khác nhau, nhưng tương tác với nhau Năm yếu tố này không tồn tại biệt lậptuyệt đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng Sinh – Khắc với nhau

- Tư tưởng biện chứng trong triết học Ấn Độ cổ đại là tư tường về “Vô ngã”, “Vô thường”, “Nhân duyên”

Tư tưởng này để thể hiện trong thế giới quan và nhân sinh quan của Phật giáo

- Tư tưởng biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại là tư tưởng của Arixtốt về các hình thức của tư duybiện chứng hoặc của Hêracơlít về sự tồn tại, vận động và biến đổi của các sự vật và hiện tượng thừa nhận

sự tồn tại của sự vật hiện tượng thông qua những mối liên hệ, sự vận động, sự thay đổi chuyển hoá chonhau Theo như cách đánh giá của Ăngghen đó là phép biện chứng nguyên thủy, ngây thơ cơ bản là đúngnhưng chưa đạt đến kết quả của những sự nghiên cứu và thực nghiệm khoa học Hạn chế đó do nhiềunguyên nhân, nhưng trong đó phải nói đến tính lịch sử của sự phát triển khoa học thời kỳ này

2 Phép biện chứng duy tâm của Hêghen

với quan điểm cơ bản đã coi biện chứng của thế giới khách quan là sự phát triển của “ý niệm tuyệt đối”.Trong quá trình phát triển ấy sự “tự tha hoá” của “ý niệm tuyệt đối” trong tự nhiên, xã hội và tư duy sau đólại trở về với ý niệm tuyệt đối Hêghen là người đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và lànguời đã trình bày có hệ thống những phạm trù, qui luật của phép biện chứng Mặc dù phép biện chứng củaông là duy tâm và còn chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn mà chính Hêghen không tự mình giải quyết được

Trang 12

“Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến11[2]” hoặc theo Lênin: “Phép biện chứng, tức là họcthuyết về sự phát triển…”12[3].

Phép biện chứng duy vật là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống cácnguyên lý, qui luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức vàthực tiễn Đó là: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển; các cặp phạm trù: Cáichung và cái riêng; Nguyên nhân và kết quả; Tất nhiên và ngẫu nhiên; Nội dung và hình thức; Bản chất vàhiện tượng; Khả năng và hiện thực; các qui luật: Qui luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫnđến thay đổi về chất và ngược lại; Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; Qui luật phủ địnhcủa phủ định và lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Phép biện chứng duy vật xác lập trên nền tảng thế giới quan duy vật khoa học Phép biện chứng duy vậtkhác với với thế giới quan duy vật chất phác (trực quan, ngây thơ và chất phác) cổ đại và thế giới quan duytâm trong phép biện chứng của Hêghen

Phép biện chứng duy vật bao hàm sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan (duy vật biện chứng) vàphương pháp luận (biện chứng duy vật), nó không chỉ giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức vàcải tạo thế giới Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng khác với phép biện chứng chấtphác cổ đại và phép biện chứng duy tâm của Hêghen Vì, trong hai phép biện chứng đó đều bao hàm mâuthuẫn giữa thế giới quan và phương pháp luận

II NỘI DUNG PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật

1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Đối lập với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình coi sự tồn tại của các sự vật và hiện tượng trongthế giới là những cái tách rời nhau, giữa chúng không có sự liên hệ tác động qua lại, không có sự chuyểnhóa lẫn nhau và nếu có chỉ là sự liên hệ mang tính chất ngẫu nhiên, gián tiếp Ngược lại, phép biện chứngduy vật cho rằng, sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng của thế giới không phải là sự tồn tại tách rời và cô

lập lẫn nhau, mà chúng là một thể thống nhất Trong thể thống nhất đó những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc và phụ thuộc, qui định lẫn nhau, chuyển hoá cho nhau

Ví dụ: tự nhiên theo nghĩa rộng, là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan Xã hội chỉ là một bộ phậnđặc thù của giới tự nhiên Sự xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển của xã hội một mặt, phụ thuộc vàocác qui luật tự nhiên, nhưng mặt khác còn phụ thuộc vào những qui luật xã hội, trong đó con người là chủthể của lịch sử xã hội Do đó, xã hội không thể là cái gì khác, mà chính là một bộ phận đặc thù, được tách

ra hợp qui luật của tự nhiên, là hình thức tổ chức vật chất cao nhất của vật chất trong quá trình tiến hoá liêntục, lâu dài của tự nhiên

Tính chất của mối liên hệ: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.

Tính khách quan của mối liên hệ là mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, dù thể hiện dưới

hình thức nào cũng cũng là sự qui định, tác động và chuyển hoá lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng độc lập

và không phụ thuộc vào ý thức con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đótrong hoạt động thực tiễn xã hội Ví dụ: con người không thể tùy tiện lựa chọn chủ quan một hình thức xãhội này hay một hình thức xã hội khác Với tư cách là chủ thể của lịch sử thông qua hoạt động thực tiễn củamình thì con người có thể nhận thức, vận dụng thành công các qui luật khách quan để khẳng định vai tròcủa con người trong quá trình biến đổi hiện thực khách quan

Tính phổ biến của mối liên hệ là không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới tồn tại tuyệt đối biệt lập mà

bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ vốn có của sự vật, hiện tượng như một cấu trúcmang tính hệ thống và sự tương tác và biến đổi lẫn nhau trong tự nhiên, xã hội và tư duy Những hình thứcriêng biệt, cụ thể của mối liên hệ là đối tượng nghiên cứu của từng ngành khoa học cụ thể, còn phép biện

11

12

Trang 13

chứng duy vật thì nghiên cứu những mối liên hệ phổ biến của tự nhiên xã hội và tư duy Vì vậy,Ph.Ăngghen đã viết: “Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến”13[4]

Tính đa dạng phong phú của mối liên hệ là các sự vật, hiện tượng đều có những mối liên hệ cụ thể khác

nhau gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định Căn cứ tính đa dạng phong phú của mối liên hệ

có thể phân chia các mối liên hệ theo từng cặp như mối liên hệ bên trong và bên ngoài, trực tiếp và giántiếp, mối liên hệ cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng… Sự phân chia các cặp của các mối liên hệcũng mang tính tương đối, vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận của mối liên hệ phổbiến và giữa chúng đều có khả năng chuyển hoá cho nhau, tùy theo những điều kiện khách quan nhất định Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có ý nghĩa đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn của con người Cho nên, khi nghiên cứu mối liên hệ phổ biến phải có quan điểm toàn điện, quan điểmlịch sử cụ thể

Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích về sự vật phải đặt nó trong mối quan hệ với sự vật

khác Đồng thời, phải nghiên cứu tất cả những mặt, những yếu tố, những mối liên hệ vốn có của nó Qua đó

để xác định được mối liên hệ bên trong, bản chất, qui luật của sự vật, hiện tượng Ví dụ: Cơ sở hạ tầngtrong thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các thành phần kinh tế, tức là các kiểu tổ chức kinh tế, các kiểuquan hệ sản xuất với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau, cũng tồn tại trong một nềnkinh tế quốc dân thống nhất Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủnghĩa Có nghĩa là có sự thống nhất ở mức độ nhất định về mặt lợi ích, nhưng nó cũng tồn tại những mâuthuẫn nhất định…

Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật phải thấy sự tồn tại vận động và phát triển của bản

thân các sự vật và hiện tượng là một quá trình có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể Khi phân tích tính toàndiện về các mối liên hệ của sự vật phải đặt nó trong mối quan hệ cụ thể, với những điều kiện lịch sử cụ thểcủa các mối quan hệ đó Ví dụ: Nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạnphát triển tư bản chủ nghĩa, không có nghĩa là xóa bỏ các quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, màchỉ phát triển sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất Hiện nay trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Nên việc duy trì và phát triển hình thức sở hũu tư nhân về tư liệusản xuất là một yêu cầu khách quan mang tính qui luật

Phê phán quan điểm siêu hình coi sự tồn tại của các sự vật và hiện tượng trong thế giới là những cái tách

rời nhau, giữa chúng không có sự liên hệ tác động qua lại, không có sự chuyển hóa lẫn nhau và nếu có chỉ

là sự liên hệ mang tính chất ngẫu nhiên, gián tiếp

2.1 Nguyên lý về sự phát triển

Đối lập với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển Bởi vì, họ tuyệt đối hóa sự

ổn định tương đối của sự vật và hiện tượng, chứ không thấy được vận động, sự thay đổi chuyển hóa cũngnhư sự phát triển của sự vật và hiện tượng Nếu có thừa nhận sự phát triển thì theo họ chẳng qua chỉ là sựtăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng, chứ không phải về mặt chất lượng hoặc không có sự ra

đời của cái mới cao và hoàn thiện hơn cái cũ Ngược lại, phép biện chứng duy vật cho rằng Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp từ cái chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

và phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật và hiện tượng

Cần phân biệt giữa khái niệm vận động và khái niệm phát triển Khái niệm vận động hiểu theo nghĩa chungnhất là sự biến đổi nói chung và là phương thức tồn tại của vật chất Điều đó, có nghĩa là có những hìnhthức vận động bao hàm sự phát triển và có hữnng hình thức vận động không bao hàm sự phát triển Ngượclại, khái niệm phát triển thì không khái quát mọi sự vận động nói chung, nó chỉ khái quát những vận động

đi lên, sự xuất hiện cái mới theo một chiều hướng chung là từ đơn giản đến phức tạp, từ cái chưa hoànthiện đến hoàn thiện so với cái cũ hoặc quá trình trước đó

Như vậy, sự phát triển bao hàm sự vận động, sự xuất hiện cái mới theo chiều hướng đi lên Nhưng không

phải bất kỳ sự vận động nào cũng bao hàm sự phát triển Không nên hiểu phát triển không phải bao giờ

13

Trang 14

cũng diễn ra một cách đơn giản, thẳng tắp; mà là con đường quanh co, phức tạp Xét từng trường hợp cábiệt thì có những vận động đi lên tuần tự và đồng thời có những vận động đi xuống, hoặc thụt lùi Nhưng

về quá trình và trong phạm vi rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hướng tất yếu Chính vì vậy, pháttriển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật và hiện tượng

Tính chất của sự phát triển: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú.

Tính khách quan của sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, dù thể hiện dưới hình thức nào

cũng cũng là quá trình giải quyết mâu thuẫn vốn có của các sự vật, hiện tượng độc lập và không phụ thuộcvào ý thức con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng khuynh hướng chung của sự phát triểntrên cơ sở phân tích, giải quyết các mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong hoạt động thực tiễn xã hội

Tính phổ biến của sự phát triển là không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là không vận động mà phát

triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật, hiện tượng Vì vậy, phát triển là một quátrình vận động đi lên diễn ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Trong đó, sự xuất hiện conngười cũng chỉ là một quá trình lịch sử tự nhiên

Tính đa dạng phong phú của sự phát triển được thể hiện trong các sự vật, hiện tượng đều gắn liền với

những điều kiện khách quan nhất định Căn cứ tính đa dạng phong phú của sự phát triển có thể phân chia

sự phát triển như một quá trình xuất hiện cái mới có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể của nó Sự xuất hiệncái mới luôn gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định Trong đó, cái mới phù hợp với qui luậtvận động phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy là tiêu chuẩn của sự pháttriển Bởi, có những cái mới là cái khác với cái cũ hoặc quá trình trước đó, nhưng không là tiêu chuẩn của

sự phát triển vì nó không phù hợp với qui luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và

tư duy

Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, giúp cho chúng ta nhận thức được rằng, muốn nắm được bản chất

của sự vật, hiện tượng, nắm được khuynh hướng vận động tất yếu của chúng, phải có quan điểm phát triển

và quan điểm lịch sử cụ thể

Quan điểm phát triển với yêu cầu khi phân tích một sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong sự vận động để

phát hiện được xu hướng biến đổi, chuyển hóa của chúng Điều đó, có nghĩa là khi nghiên cứu sự tồn tại,vận động của sự vật, hiện tượng phải thấy được phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của sựvật, hiện tượng; đồng thời cũng phải nhận thức đúng tính khách quan, phổ biến, tính đa dạng phong phúcủa sự phát triển vận dụng trong hoạt động thực tiễn xã hội

Quan điểm phát triển còn đòi hỏi chúng ta phải có quan điểm đúng về cái mới, cái mới là tiêu chuẩn của sự phát triển Sự xuất hiện cái mới là một quá trình, nhưng là cái tất yếu thay thế cái cũ, nhưng sự kế thừa

những mặt tích cực của cái cũ là điều kiện tiền đề cho sự phát triển của cái mới

Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi khi nghiên cứu sự vật phải thấy sự tồn tại vận động và phát triển của bản

thân các sự vật và hiện tượng là một quá trình có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể Khi phân tích quá trìnhvận động của các sự vật, hiện tượng phải xem xét nó trong mối quan hệ cụ thể, với những điều kiện lịch sử

cụ thể của các mối quan hệ đó

Phê phán quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển Bởi vì, họ tuyệt đối hóa sự ổn định tương đối của sự

vật và hiện tượng, chứ không thấy được vận động, sự thay đổi chuyển hóa cũng như sự phát triển của sựvật và hiện tượng Nếu có thừa nhận sự phát triển thì theo họ chẳng qua chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi đơnthuần về mặt số lượng, chứ không phải về mặt chất lượng hoặc không có sự ra đời của cái mới là cái caohơn và hoàn thiện hơn cái cũ

2 Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

2.1 Cái riêng và cái chung

- Khái niệm cái riêng cà cái chung

Cái riêng chỉ một sự vật, hiện tượng hay một quá trình riêng lẻ của hiện thực khách quan ví dụ: như một

nguyên tố, một thái dương hệ, một con người, một chế độ xã hội, một quá trình vận động, phát triển kinh tếhay tư tưởng của một xã hội nhất định

Trang 15

Cái riêng còn được hiểu là cái đơn nhất, đó là chỉ những mặt, những thuộc tính chỉ riêng có ở trong một

sự vật, hiện tượng hay một quá trình riêng lẻ và không được lặp lại ở bất cứ một sự vật, hiện tượng hayquá trình riêng lẻ nào khác Ví dụ: Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam, một mặt có những đặc điểmchung của giai cấp công nhân thế giới, nhưng mặt khác giai cấp công nhân Việt Nam lại ra đời trước giaicấp tư sản Việt Nam hoặc nhân cách là bản sắc độc đáo của mỗi cá nhân

Cái chung chỉ những mặt, những thuộc tính, những mối quan hệ giống nhau được lặp lại ở trong nhiều sự

vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ Ví dụ: Bất cứ một dạng vật chất cụ thể nào cũng có những thuộc tínhchung như - tính khách quan, vận động, không gian, thời gian, phản ánh

- Biện chứng giữa cái chung và cái riêng

Triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, trong sự tồn tại và phát triển của các sự vật, hiện tượng củahiện thực khách quan, đều bao hàm sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng Cái chung và cái riêng đềutồn tại khách quan, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau

+ Cái chung và cái riêng tồn tại khách quan Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Cáiriêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung Ví dụ: Qui luật đồng hoá – dị hoá, biến dị và di truyền làcái chung của của các thực thể sống, nó không tồn tại thuần túy bên ngoài các thực thể sống Ngược lại, cácthực thể sống đều tồn tại thông qua cái chung là chịu sự qui định và tác động của qui luật đồng hoá, biến dị

và di truyền

+ Cái chung là bộ phận của cái riêng, nhưng sâu sắc hơn cái riêng; cái riêng phong phú hơn cái chung Vídụ: Qui luật đồng hoá – dị hoá, biến dị và di truyền là cái chung của của các thực thể sống, nó tồn tại trongcác thực thể sống là cái riêng, nhưng không đồng nhất với cái riêng mà chỉ là bộ phận của cái riêng Quiluật đồng hoá – dị hoá, biến dị và di truyền có ý nghĩa quyết định với tất cà các thực thể sống Vì nó là quiluật chung và phổ biến của sinh học Ngược lại, ngoài đặc điểm chung do sự tác động của qui luật đồnghoá, biến di và di truyền trong trong mỗi thực thể sống đều có cái đơn nhất, nên nó đa dạng phong phú hơncái chung

Cái chung và cái riêng có thể chuyển hóa lẫn nhau Trong những điều kiện nhất định, cái riêng có thểchuyển hóa thành cái chung và ngược lại Ví dụ: Cách mạng tư sản Hà Lan là cái riêng, mở đầu cho quátrình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản trong xã hội phong kiến ở Tây âu những năm 40 của thế

kỷ XVII; nhưng cách cuộc cách mạng tư sản ở thế kỷ XIX là cái chung trong quá trình phát triển của chủnghĩa tư bản ở tây Âu…

- Ý nghĩa phương pháp luận

Muốn nhận thức được cái chung, phải nghiên cứu cái riêng và ngược lại muốn nhận thức được cái riêng,một mặt phải nghiên cứu cái đơn nhất, nhưng đồng thời cũng phải nghiên cứu cái chung, để thấy được vaitrò quyết định của cái chung với cái riêng

Muốn vận dụng cái chung cho từng trường hợp của cái riêng, nếu không chú ý đến những tính cá biệt vàđiều kiện lịch sử của cái riêng thì cũng chỉ là nhận thức giáo điều, áp dụng rập khuôn máy móc Nhưngngược lại, trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên lý chung, phổ biến thì hoạt độngcủa con người cũng mang tính mù quáng, kinh nghiệm và cảm tính

Phê phán những quan điểm phủ nhận sự tồn tại khách quan của cái chung và cái riêng, tuyệt đối hóa cái

chung hoặc cái riêng, không thấy được mối quan hệ biện chứng giữa cái chung cái riêng, đó là phái duy thực và duy danh 14 [5] trong lịch sử triết học.

2.2 Nguyên nhân và kết quả

- Khái niệm nguyên nhân và kết quả

Nguyên nhân chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt (thuộc tính) trong một sự vật, hiện tượng, hay giữa các

sự vật, hiện tượng dẫn đến sự biến đổi nhất định Ví dụ: Lao động và vai trò của lao động là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến sự hình thành ngôn ngữ và ý thức của con người Cần phân biệt nguyên nhân

với nguyên cớ và điều kiện Nguyên cớ và điều kiện không sinh ra kết quả, mặc dù nó xuất hiện cùng với

14

Trang 16

nguyên nhân Ví dụ: cái gọi là “sự kiện vịnh Bắc bộ” tháng 8 năm 1964 là nguyên cớ để Mỹ tiến hành cuộcchiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân đối với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Nhưng thựcchất, đó là quá trình leo thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, nhằm hạn chế những thất bại của Mỹ ởchiến trường miền Nam…

Kết quả chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhau của những mặt trong một sự vật hay giữa các

sự vật với nhau Hoặc nói một cách khác, kết quả là những biến đổi do sự tác động của các yếu tố thuộcnguyên nhân Ví dụ: Cách mạng xã hội chủ nghĩa là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp côngnhân và giai cấp tư sản trong chủ nghĩa tư bản

- Đặc điểm và mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

Triết học duy vật biện chứng, cho rằng trong sự tồn tại vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượngcủa hiện thực khách quan, đều có mối quan hệ nhân quả

Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả Tuy nhiên, không phải sự tiếpnối nào theo thời gian cũng là mối liên hệ nhân quả Cần phân biệt tính nhân quả với sự tiếp nối về thờigian là ở chỗ giữa nguyên nhân và kết quả còn có quan hệ sản sinh, quan hệ trong đó nguyên nhân sinh rakết quả

+ Tùy theo những điều kiện và hoàn cảnh khách quan nhất định, mà một nguyên nhân có thể sinh ra nhiềukết quả hoặc ngược lại Ví dụ: Sự phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay ởnước ta là nguyên chủ yếu dẫn đến những thành tựu phát triển kinh tế, chính trị văn hoá xã hội hiện nay ởnước ta

+ Phân biệt sự thay đổi vị trí giữa nguyên nhân và kết quả mang tính tương đối Thành tựu phát triển kinh

tế hiện nay ở Việt Nam là kết quả của đường lối chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta trong quátrình vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở nước

ta Song, đến lượt nó những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta lại là nguyên nhân dẫnđến những thành tựu phát triển chính trị, văn hoá xã hội…

+ Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữ vai trò độc lập đối với nguyênnhân, trái lại, nó tác động trở lại nguyên nhân theo những hướng khác nhau

+ Các hình thức của mối quan hệ nhân quả, mang tính đa dạng và phong phú Về cơ bản nó được thể hiện:Nguyên nhân chủ yếu - thứ yếu, bên trong - bên ngoài, khách quan - chủ quan

- Ý nghĩa phương pháp luận

Cần phải phân biệt các loại nguyên nhân và những điều kiện khách quan lịch sử cụ thể của nó, cũng nhưphân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và điều kiện

Muốn xóa bỏ một sự vật, hiện tượng và một kết quả nào đó, thì cần loại bỏ các nguyên nhân sinh ra nó(thông qua qui luật khách quan vốn có của nó) Ngược lại, muốn làm xuất hiện một sự vật, hiện tượng vàmột kết quả nào đó, thì phải phát hiện nguyên nhân, tạo điều kiện cần thiết cho nguyên nhân sinh ra nó pháthuy được tác dụng

Phê phán những quan điểm duy tâm, siêu hình về mối quan hệ nhân quả

2.3 Tất nhiên và ngẫu nhiên

- Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên

Tất nhiên chỉ cái do nguyên nhân bên trong của sự vật, hiện tượng quyết định và trong những điều kiện

nhất định thì nó phải xảy ra như thế, chứ không thể khác Ví dụ: Theo quan điểm của C.Mác thì đấu tranhgiai cấp nhất dịnh sẽ dẫn đến chuyên chính vô sản Sự ra đời của chuyên chính vô sản (nhà nước xã hội chủnghĩa) mang tính khách quan và là một qui luật thông qua quá trình đấu tranh của giai cấp công nhân thếgiới chống lại giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản

Ngẫu nhiên chỉ cái không do bản chất, mối liên hệ bên trong quyết định mà nó ngẫu hợp của những hoàn

cảnh bên ngoài quyết định Ví dụ: Sự xuất hiện các vĩ nhân (lãnh tụ) là một yêu khách quan để giải quyếtnhững nhiệm vụ nhất định của lịch sử; nhưng sự xuất hiện của một vĩ nhân (lãnh tụ) là A, B… để giảiquyết những nhiệm vụ lịch sử ấy mang tính ngẫu nhiên Song, việc xuất hiện nhựng vĩ nhân (lãnh tụ) như

Trang 17

vậy là tất yếu, nếu xét mối quan hệ giữa các vĩ nhân (lãnh tụ) khác nhau trong những điều kiện khách quannhất định.

2 Biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

Triết học duy vật biện chứng cho rằng nếu cái tất nhiên có tác dụng chi phối sự phát triển của sự vật, thì cáingẫu nhiên cũng ảnh hưởng đến sự phát triển đó, có thể làm cho tiến trình phát triển đó diễn ra nhanh hoặcchậm

Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan và có mối quan hệ thống nhất hữu cơ với nhau Bởi vì, cáitất nhiên bao giờ cũng có ý nghĩa định hướng chung cho sự vận động và phát triển của sự vật, thông qua vôvàn những cái ngẫu nhiên Ngược lại, cái ngẫu nhiên là các hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, xét theonhững mối quan hệ nhất định

Tất nhiên và ngẫu nhiên có khả năng chuyển hoá cho nhau tuỳ theo những điều kiện khách quan nhất định

Ví dụ: việc trao đổi vật phẩm lao động này lấy vật phẩm lao động khác trong xã hội nguyên thủy, lúc đầumang tính ngẫu nhiên Vì khi đó lực lượng sản xuất thấp kém, không có của cải dư thừa Nhưng về sau,nhờ có sự phát triển của lực lượng sản xuất mới tạo ra của cải dư thừa, thì sự trao đổi sản phẩm trở nênthường xuyên hơn và trở thành một hiện tượng tất nhiên của xã hội Tuy nhiên, phân biệt sự khác nhaugiữa cái tất nhiên và ngẫu nhiên cũng chỉ mang tính chất tương đối, tuỳ theo những mối liên hệ nhất định

3 Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động thực tiễn, phải căn cứ vào cái tất nhiên, chứ không thể dựa vào cái ngẫu nhiên và dừng lại

ở cái ngẫu nhiên Bởi vì, cái tất nhiên là cái tất yếu phải xảy ra thì ngược lại, cái ngẫu nhiên là cái có thểxảy ra hoặc không

Muốn nhận thức được cái tất nhiên, phải nghiên cứu vô số cái ngẫu nhiên Bởi vì, cái tất nhiên thể hiện rabên ngoài qua cái ngẫu nhiên, định hướng cho sự phát triển của mình đi qua vô số cái ngẫu nhiên

2.4 Nội dung và hình thức

- Khái niệm nội dung và hình thức

Nội dung chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật Ví dụ: Nội dung

của một tác phẩm nghệ thuật, là toàn bộ các yếu tố như tư tưởng của tác phẩm, bố cục, hình tượng nghệthuật đã phản ánh, và giải quyết những vấn đề nào đó của cuộc sống hiện thực Hoặc, nội dung của một cơthể sống là toàn bộ các yếu tố vật chất, như tế bào, khí quan, quá trình sống

Hình thức chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững

của nó Ví dụ: Hình thức của một tác phẩm nghệ thuật văn chương, được thể hiện thông qua phương thứcdiễn đạt nội dung của tác phẩm là cách sắp xếp trình tự các chương, mục, cách diễn đạt, hình dáng, mầusắc trang trí của tác phẩm

- Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức

Triết học duy vật biện chứng cho rằng sự tồn tại, vận động và phát triển ở các sự vật đều bao hàm sự thốngnhất, sự tác động qua lại lẫn nhau giữ nội dung và hình thức Trong mối quan hệ biện chứng giữa nội dung

và hình thức, thì nội dung quyết định hình thức, hình thức có tính độc lâp tương đối

- Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức được thể hiện là không có hình thức nào lại không chứa đựngnội dung và không có một nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức nhất định Tuy nhiên, khôngphải lúc nào nội dung và hình thức cũng phù hợp với nhau Bởi vì, không phải một nội dung bao giờ cũngchỉ được thể hiện ở một hình thức nhất định, nội dung trong điều kiện phát triển khác nhau, lại được thểhiện ở dưới nhiều hình thức khác nhau Cũng như cùng một hình thức, có thể biểu hiện những nội dungkhác nhau

Ví dụ: chủ đề, hoặc tư tưởng của một tác phẩm nghệ thuật là nội dung của tác phẩm nghệ thuật đó Nhưngnội dung của tác phẩm nghệ thuật đó lại được thể hiện dưới nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau như vănhọc, thơ ca, kịch, sân khấu, điện ảnh…

+ So với hình thức, nội dung luôn giữ vai trò quyết định quá trình phát triển của sự vật, nó là yếu tố động

và luôn thay đổi Còn hình thức, là yếu tố tương đối ổn định của sự vật Vì vậy, sự biến đổi và phát triển

Trang 18

của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ nội dung, còn sự biến đổi của hình thức thì chậm hơn; nhưng luôn cókhuynh hướng phù hợp với nội dung Ví dụ: Lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hìnhthức của một phương thức sản xuất vật chất nhất định Khi lực lượng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuấtcũng thay đổi theo, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất phụ thuộc vào lựclượng sản xuất.

+ Hình thức do nội dung quyết định, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nộidung Sự tác động trở lại của hình thức với nội dung có thể thúc đẩy sự phát triển hoặc kìm hãm sự pháttriển của nội dung Ví dụ: sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất về cơ bản cóhai khuynh hướng chung Đó là quan hệ sản xuất có thể thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất mới,nếu như nó phù hợp với sự thay đổi của lực lượng sản xuất Ngược lại, quan hệ sản xuất có thể kìm hãm sựphát triển của lực lượng sản xuất, nếu như nó không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất mới

- Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động thực tiễn cần chống những khuynh hướng tách rời nội dung với hình thức, hoặc tuyệt đốihóa nội dung hay hình thức Phải thấy được sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức ở trong

sự vật

Muốn hình thức thay đổi, trước hết phải chú ý đến sự thay đổi của nội dung; mặt khác, phải biết sử dụnghình thức phù hợp với nội dung, tác động tích cực đến nội dung, phục vụ cho sự phát triển của nội dungtheo yêu cầu của thực tiễn

Phê phán những quan điểm tuyệt đối hoá nội dung hoặc hình thức không thấy được mối quan hệ biệnchứng giữa chúng Nhất là chủ nghĩa hình thức coi thường nội dung trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

xã hội

2.5 Bản chất và hiện tượng

- Khái niệm bản chất và hiện tượng

Bản chất là sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong sự

vật, qui định sự vận động và phát triển của sự vật Bản chất gắn liền với cái chung Bởi vì cái tạo nên bảnchất của một lớp các sự vật, thì đồng thời là cái chung của các sự vật đó Ví dụ: bản chất của con người làtổng hoà những mối quan hệ xã hội

Bản chất cùng một loại với qui luật Bởi vì, nói đến bản chất của sự vật là nói đến qui luật vận động pháttriển của nó Nhưng phạm trù bản chất rộng hơn, phong phú hơn phạm trù qui luật Bởi mỗi một qui luậtthường chỉ biểu hiện một mặt, một khiá cạnh của bản chất Ví dụ: bản chất của con người là tổng hoànhững mối quan hệ xã hội được phản ánh thông qua các qui luật trong từng mối quan hệ xã hội nhất địnhnhư kinh tế, chính trị và văn hoá xã hội Hơn nữa, bản chất của con người không chỉ là bản chất xã hội còn

có bản chất sinh học…

Hiện tượng là sự biểu hiện bên ngoài của bản chất Ví dụ: Các hiện tượng xã hội, như hiện tượng kinh tế,

chính trị, tư tưởng, hoặc quan hệ và hoạt động kinh tế của con người hay xã hội v.v đều là sự thể hiện bênngoài của bản chất con người hoặc bản chất của xã hội

Hiện tượng dù thể hiện dưới hình thức nào, dù đa dạng phong phú bao nhiêu cũng mang tính bản chất,không có hiện tượng phi bản chất

2 Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng

Triết học duy vật biện chứng khẳng định bản chất và hiện tượng thống nhất biện chứng với nhau ở trong sựvật Bản chất bao giờ cũng được bộc lộ thông qua hiện tượng, và hiện tượng bao giờ cũng là biểu hiện củabản chất Không có bản chất thuần túy ở bên ngoài hiện tượng Cũng như không có hiện tượng nào lạikhông phải là sự biểu hiện của một bản chất nhất định

Sự thống nhất biện chứng giữa bản chất và hiện tượng ở trong sự vật, là sự thống nhất của hai mặt đối lập,mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng Sự đối lập giữa cái bên trong và cái bên ngoài Sự đối lập giữa cái

ổn định với cái thường xuyên thay đổi Hiện tượng phong phú hơn bản chất, vì tùy theo sự biến đổi của

Trang 19

điều kiện và hoàn cảnh mà hiện tượng có những biểu hiện khác nhau; còn bản chất sâu sắc hơn hiện tượng,

vì bản chất phản ánh cái bên trong, cái ổn định của sự vật

Ví dụ: bản chất kinh tế - xã hội của chủ nghĩa tư bản là một chế độ bóc lột giá trị thặng dư của lao động.Mặc dù, các hiện tượng xã hội của chủ nghĩa tư bản luôn thay đổi phù hợp với những giai đoạn phát triểncủa chủ nghĩa tư bản, nhưng nó vẫn thể hiện bản chất kinh tế - xã hội của chủ nghĩa tư bản là một chế độ xãhội bóc lột

3 Ý nghĩa phương pháp luận

Muốn nhận thức được bản chất của sự vật, phải đi từ hiện tượng đến bản chất Nhưng không dừng ở mộtvài hiện tượng, mà phải nghiên cứu tất cả các hiện tượng vốn có của sự vật Đồng thời phải phân biệt đượckhác nhau giữa các hiện tượng, vì có các hiện tượng thường “xuyên tạc” hoặc “che dấu” cái bản chất Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, chỉ có thể phát hiện cái bản chất, trên cơ sở nghiêncứu tổng hợp các hiện tượng của sự vật

2.6 Khả năng và hiện thực

1 Khái niệm khả năng và hiện thực

Khả năng chỉ cái hiện chưa có, chưa tới, nhưng sẽ tới, sẽ có khi có các điều kiện thích hợp Hiện thực chỉ

cái hiện đã có, hiện đang tồn tại thật sự Khả năng là cái hiện chưa có Nhưng khả năng đó đang tồn tại Phân biệt khả năng với hiện thực là ở chỗ khả năng là cái hiện chưa có, chưa tới, còn hiện thực là cái hiện

đã có, đã được thực hiện Cần phân biệt khả năng với tiền đề Tiền đề là những điều kiện tiên quyết sơ bộcủa một cái gì đó, đều là những cái hiện đang tồn tại thật sự, tức đều là hiện thực và trên cơ sở các tiền đềhay điều kiện ấy xuất hiện cái mới Chính cái mới này trong trạng thái tiềm thế mới là khả năng

Cần phân biệt khả năng với ngẫu nhiên Sự khác nhau ở chỗ, một bên khả năng là cái hiện chưa có, nhưng

sẽ có, sẽ tới, sẽ xảy ra khi có kiều kiện tương ứng Còn cái ngẫu nhiên là cái có thể xảy ra, cũng có thểkhông, có thể xảy ra như thế này, hoặc như thế khác

2 Biện chứng giữa khả năng và hiện thực

Khả năng và hiện thực có quan hệ thống nhất biện chứng, giữa chúng có sự chuyển hóa lẫn nhau Bởi vì,hiện thực được chuẩn bị bởi khả năng, còn khả năng biến thành hiện thực Hiện thực do sự vận động nội tạicủa nó lại nảy sinh ra những khả năng mới, cứ như vậy tạo ra một quá trình vô tận của sự chuyển hóa lẫnnhau giữa khả năng và hiện thực

Cùng trong những điều kiện nhất định, ở cùng một sự vật có thể tồn tại một số khả năng, chứ không phảichỉ có một khả năng Bởi vì, ngoài những khả năng vốn có sẵn, khi có thêm những điều kiện mới bổ sungthì sự vật xuất hiện những khả năng mới Thực chất, là một hiện thực mới phức tạp hơn đã xuất hiện do sựtác động qua lại giữa sự vật cũ với điều kiện mới vừa được bổ sung Như vậy, ngay cả một khả năng cũng

có sự thay đổi, vì nó phụ thuộc vào sự biến đổi của sự vật trong những điều kiện cụ thể

3 Ý nghĩa phương pháp luận

Trong hoạt động thực tiễn phải trên cơ sở hiện thực, chứ không phải khả năng Tuy nhiên, không phải hoàntoàn bỏ qua, hoặc coi thường khả năng, mà phải tính đến các khả năng Ví dụ: để có thể đưa ra chủ trương,chính sách và kế hoạch cho đúng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội thì Đảng và nhà nước ta phải xétnhững khả năng có tính khả thi để khả năng trở thành hiện thực trong sự nghiệp đổi mới đất nước Nhất làkhả năng hội nhập phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Trong nhận thức, nhất là nhận thức khoa học phải tìm ra, xác định cho được các khả năng phát triển của sựvật ở trong chính bản thân nó, và căn cứ vào tương quan lực lượng giữa các mặt bên trong với những điềukiện bên ngoài Không nên tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, hoặc xem thường vai trò ấy trongviệc biến đổi khả năng thành hiện thực

3 Các qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

Qui luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các sự vật và hiện tượng hoặc giữa các mặt, các thuộc tính của mỗi sự vật và hiện tượng Ví dụ: qui luật đồng hoá – dị hoá; qui luật biến dị - di

truyền hoặc qui luật đấu tranh giai cấp…

Trang 20

Qui luật mang tính khách quan, không có qui luật mang tính chủ quan Nội dung và vai trò của các qui luậtkhách quan đều phụ thuộc vào những điều kiện khách quan đã sinh ra nó Tùy theo những mối liên hệ vàđiều kiện khách quan cụ thể mà ở mỗi qui luật đều có sự qui định về không gian, thời gian và có vai trò cụthể khác nhau đối với các sự vật, hiện tượng của thế giới

Qui luật hết sức đa dạng và phong phú, về cơ bản có thể phân chia thành các qui luật phổ biến, qui luật chung và qui luật riêng

Qui luật phổ biến là những qui luật tác động trong mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy Ví dụ các

qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật như qui luật thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi chất và ngượclại; qui luật thông nhất và đấu tranh của các mặt đối lập và qui luật phủ định của phủ định

Qui luật chung có phạm vi tác động rộng hơn so với luật riêng và hẹp hơn so với qui luật phổ biến Chẳng

hạn, qui luật bảo toàn chuyển hoá năng lượng hoặc qui luật đấu tranh các loài trong sinh học…

Qui luật riêng biểu hiện những mối liên hệ đặc trưng cho một phạm vi nhất định Chẳng hạn, như qui luật của sản xuất vật chất hay đấu tranh giai cấp trong chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, phân biệt sự khác nhau giữa các loại qui luật mang tính tương đối, tùy theo những mối liên hệ và những điều kiện khách quan nhất định.

Qui luật mang tính khách quan không phụ thuộc vào ý thức, nhưng về nguyên tắc con người có khả năngnhận thức và vận dụng được những qui luật khách quan

Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những qui luật phổ biến tác động trongtất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy

Hệ thống các qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật:

1 Qui luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất và ngược lại nghiên cứu phương thức

(cách thức) chung, phổ biến của các quá trình vận động và phát triển;

2 Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nghiên cứu nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến

của các quá trình vận động và phát triển;

3 Qui luật phủ định của phủ định nghiên cứu khuynh hướng cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động

và phát triển

3.1 Qui luật những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi chất và ngược lại

Qui luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại nghiên cứu nghiên cứu phươngthức (cách thức) chung, phổ biến của các quá trình vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy

1 Khái niệm chất và lượng

Bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới cũng bao gồm sự thống nhất giữa chất và lượng

Chất là tính qui định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính cấu thành

nó, phân biệt nó với cái khác

Mỗi sự vật, hiện tượng của thế giới đều là những chất cụ thể để khẳng định sự vật, hiện tượng đó là gì vàphân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác Con người khác với động vật là do tính qui định về chất của conngười và là khả năng chế tạo và sử dụng công cụ lao động và có ý thức

Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính có thể là một chất Do đó, mỗi sự vật có thể là một chất,

có thể là nhiều chất tuỳ theo những mối liên hệ nhất định Ví dụ: Con người là một thực thể tư nhiên có đặctính xã hội là một để khẳng định con người là gì và phân biệt con người với các sự vật, hiện tượng kháctrong tự nhiên Nhưng theo một nghĩa khác, con người bao gồm hai thuộc tính chung nhất là thuộc tínhsinh học và thuộc tính xã hội và tương ứng với hai thuộc tính đó cũng được coi là một chất cụ thể khácnhau của con người Cho nên, phân biệt sự khác nhau giữa chất và thuộc tính cũng chỉ mang tính chấttương đối, tuỳ theo những mối liên hệ nhất định

Chất có tính ổn định tương đối để khẳng định sự vật là gì và là tiêu chuẩn để phân biệt nó với sự vật khác

Lượng cũng là tính qui định khách quan vốn có của sự vật biếu thị số lượng, qui mô, trình độ, nhịp điệu (tốc độ) của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như của các thuộc tính của sự vật.

Trang 21

Mỗi sự vật, hiện tượng của thế giới đều là những chất cụ thể được thể hiện thông qua lượng Do đó, lượng

của sự vật là sự biểu hiện chất của sự vật dưới các hình thức khác nhau như số lượng, qui mô, trình độ, nhịp điệu (tốc độ) của sự vận động và phát triển của sự vật Ví dụ, tính qui định về chất (bản chất) của con

người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội Theo đó, lượng của (bản chất) con người là từng quan hệ xãhội cụ thể…

Như vậy, chất và lượng là phương diện (mặt) khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng hay một quá trìnhnhất định của thế giới Chất và lượng mang tính khách quan, chất của sự vật thể hiện thông qua lượng,lượng biểu thị dưới các hình thức khác nhau của chất; nhưng phân biệt sự khác nhau giữa chất và lượng chỉmang tính tương đối Ví dụ: Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay là một chất, đó là cơ sở

hạ tầng xã hội chủ nghĩa, nhưng nó thông qua lượng là bao gồm các thành phần kinh tế, tức là các kiểu tổchức kinh tế, các kiểu quan hệ sản xuất với các hình thức sở hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau, cũngtồn tại trong một nền kinh tế quốc dân thống nhất Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Có nghĩa là nếu xem xét mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế, thì mỗi mộtthành phần kinh tế có thể được coi là một chất cụ thể nhất định…

2 Biện chứng giữa chất và lượng

Trong các sự vật, hiện tượng cũng là một thể thống nhất giữa chất và lượng ở giới hạn độ nhất định

Độ là liên hệ qui định lẫn nhau giữa chất và lượng, nó là giới hạn mà trong đó sự vật vẫn là nó, nó chưa trở

thành cái khác, nhưng đồng thời trong giới hạn độ hai mặt chất và lượng tác động qua lại lẫn nhau làm cho

sự vật vận động và biến đổi Ví dụ: sinh viên là những người đang học ở các trường cao đẳng và đại học,nhưng họ chưa tốt nghiệp; mặc dù trong quá trình học tập, họ có sự tích lũy tín chỉ các môn học dưới nhiềuhình thức khác nhau Đó là giới hạn độ thể hiện sự qui định giữa chất là lượng của quá trình đào tạo, mà họvẫn là sinh viên, họ chưa phải là kỹ sư, cử nhân…

Sự vận động và biến đổi của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ quá trình thay đổi về lượng, nhưng sự thay đổi

về chất chỉ xảy ra khi đã kết thúc một quá trình thay đổi về lượng, sự thay đổi đó đạt giới hạn của điểm nút Điểm nút là giới hạn mà ở đó sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, vượt qua giới hạn độ để dẫn đến bước nhảy (nhảy vọt về chất) Ví dụ: những sinh viên đã tích lũy đầy đủ các tín chỉ theo yêu cầu đào

tạo, họ có thể bảo vệ luận văn, hoặc thi tốt nghiệp để trở thành kỹ sư, cử nhân… đó là giới hạn của điểmnút và khi họ bảo vệ thành công luận văn hoặc đạt kết quả thi tốt nghiệp trở thành kỹ sư, cử nhân… đó làbước nhảy về chất

Bước nhảy (nhảy vọt về chất) kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng nhưng nó không chấm dứt sự vận

động, nó chỉ chấm dứt một dạng tồn tại của vận động Đó là quá trình sự vật cũ, chất cũ mất đi làm xuất

hiện sự vật mới, chất mới Xét về hình thức của bước nhảy diễn ra dưới hai hình thức: bước nhảy dần dần

và bước nhảy đột biến

Bước nhảy dần dần diễn ra trong một thời gian dài, sự tích lũy biến đổi về lượng dẫn đến sự chuyển hoá

dần dần từ chất này sang chất khác; đó cũng là sự biến đổi bộ phận của sự vật để dẫn đến sự biến đổi toàn

bộ toàn bộ sự vật làm sự vật cũ, chất cũ mất đi, xuất hiện sự vật mới, chất mới Ví dụ: sự xuất hiện conngười là một quá trình thông qua nhiều giai đoạn và nhiều hình thức khác nhau trong sự tiến hoá lâu dàicủa lịch sử tự nhiên

Bước nhảy đột biến diễn ra trong một thời gian rất ngắn, sự tích lũy, biến đổi về lượng và đồng thời với nó

là quá trình bước nhảy về chất toàn bộ của sự vật Ví dụ như một vụ nổ nguyên tử hoặc là những tia lửađiện của hiện tượng sấm chớp trong tự nhiên…

Sự thay đổi lượng dẫn đến thay đổi chất bao gìơ cũng được xem xét bởi những điều kiện khách quan nhất

định Bởi vì, trong điều kiện khách quan này sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi vế chất, thì ngược lạitrong điều kiện khách quan khác cũng vẫn sự biến đổi về lượng như vậy nhưng không có sự biến đổi vềchất Ví dụ: sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam, một mặt phụ thuộc sựvận dụng các qui luật của kinh tế thị tường; nhưng mặt khác và chủ yếu là sự vận dụng các qui luật kinh tếthị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện lịch sử, cụ thể ở Việt Nam hiện nay

Trang 22

Qui luật thay đổi lượng dẫn đến thay đổi chất không chỉ nói lên một chiều là sự biến đổi về lượng dẫn đến

sự biến đổi về chất, mà còn có chiều ngược lại Đó là quá trình hình thành sự vật mới, chất mới và chất mớiqui định lượng mới của nó Khi sự vật mới ra đời bao hàm chất mới, nó lại tạo ra một lượng mới phù hợpvới nó và trong sự vật mới lại lặp lại quá trình thay đổi lượng dẫn đế thay đổi chất như là phương thứcchung, phổ biến của mọi sự vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy

3 Ý nghĩa

Cần phân biệt sự khác nhau giữa tính qui định về chất và lượng Tính qui định về chất mang tính khẳngđịnh sự vật là gì và phân biệt sự khác nhau giữa các sự vật Chất là cái tương đối ổn định, là cái quyết địnhđối với lượng và bản thân sự vật Ngược lại, lượng không có ý nghĩa khẳng định sự vật là gì, không là tiêuchuẩn phân biệt sự khác nhau giữa các sự vật, là cái thường xuyên thay đổi và phụ thuộc vào chất…

Xem xét quá trình thay đổi về chất phải nghiên cứu quá trình tích lũy về lượng, biến đổi về lượng gắn liền

với những điều kiện khách quan nhất định Bởi vì, trong điều kiện khác quan này lượng thay đổi sẽ dẫn đến

thay đổi chất, nhưng trong điều kiện khách quan khác vẫn sự thay đổi về lượng như vậy có thể không dẫn

sự thay đổi về chất

Phê phán những khuynh hướng tuyệt đối việc thay đổi chất mà không chú ý đến quá trình thay đổi lượng

và ngược lại

3.2 Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Qui luật thống nhất và đấu tranh của những mặt đối lập nghiên cứu nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi sự vận động và phát triển

Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập còn gọi là qui luật mâu thuẫn, đó là “hạt nhân củaphép biện chứng” V.I.Lênin viết: “Có thể định nghĩa văn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thốngnhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng có điều đòi hỏi phải

có sự giải thích và một sự phát triển thêm”15[6]

1 Mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn

Đối lập với phép biện chứng, quan điểm siêu hình đều phủ nhận mâu thuẫn bên trong của các sự vật vàhiện tượng, mà chỉ thừa nhận sự khác biệt, đối lập, giữa các sự vật, hiện tượng nhưng không phải là mâuthuẫn hoặc nếu có mâu thuẫn thì đó chỉ là những mâu thuẫn bên ngoài Phép biện chứng duy vật khẳngđịnh mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan

- Mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng

Trong các sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất của các mặt đối lập, những mặt đối lập này liên hệ tácđộng qua lại và ràng buộc lẫn tạo thành mâu thuẫn Ví dụ: mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp địachủ trong xã hội phong kiến; giữa tình cảm và lý trí trong hoạt động nhận thức; giữa lực hút và lực đẩy củanam châm Sự khác nhau, đối lập và mâu thuẫn không phải là những khái niệm đồng nhất Sự khác nhau

có thể dẫn đến sự đối lập, nhưng không phải sự khác nhau nào cũng dẫn đến sự đối lập (ngày – đêm, trên –dưới, trong – ngoài v.v )

Các sự vật, hiện tượng là những thể thống nhất có rất nhiều mặt đối lập, nên nó có nhiều loại mâu thuẫn,nhưng một mâu thuẫn được hình thành bởi hai mặt đối lập.Ví dụ: Mâu thuẫn giữa giai cấp giữa tư sản –công nhân; giữa đồng hóa - dị hóa; biến dị - di truyền…

- Các tính chất chung của mâu thuẫn Mâu thuẫn có tính khách quan và tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú

Tính khách quan của mâu thuẫn khẳng định mọi sự vật, hiện tượng của thế giới đều bao hàm mâu thuẫn,

độc lập và không phụ thuộc vào ý thức con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mâuthuẫn của sự vật, hiện tượng trong hoạt động thực tiễn xã hội

15 [6] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb, Tiến bộ, Mát xcơva, 1981, t,29,tr.240.

Trang 23

Tính phổ biến của mâu thuẫn, một mặt, khẳng định mâu thuẫn không chỉ tồn tại trong các sự vật, hiện

tượng của tự nhiên, xã hội và tư duy; mặt khác còn khẳng định quá trình giải quyết mâu thuẫn là nguồngốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng

Tính đa dạng phong phú của mâu thuẫn được thể hiện trong các sự vật, hiện tượng đều gắn liền với những

điều kiện khách quan nhất định Căn cứ tính đa dạng phong phú của mâu thuẫn trong hiện thực, phép biện

chứng duy vật nêu lên các loại mâu thuẫn như: mâu thuẫn bên trong bên ngoài; mâu thuẫn cơ bản không cơ bản; mâu thuẫn chủ yếu - mâu thuẫn thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng – mâu thuẫn không đối kháng

-v -v

2 Quá trình vận động của mâu thuẫn

Trong mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau và đấu tranh với nhau, đó cũng là quá trình vậnđộng của mâu thuẫn trong các sự vật, hiện tượng của thế giới Ví dụ: sự hình thành, vận động và phát triểncủa chủ nghĩa tư bản cũng là một quá trình tự thân của sự hình thành, vận động những mâu thuẫn xã hộivốn có của chủ nghĩa tư bản Đó cũng là sự thống nhất, đấu tranh trong quá trình giải quyết những mâuthuẫn xã hội của chủ nghĩa tư bản dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau

Thống nhất các mặt đối lập hiểu theo nghĩa chung nhất đó là những mặt đối lập tạo thành những mâu thuẫn

và đồng thời cũng tạo thành bản thân các sự vật và hiện tượng Trong một mâu thuẫn, hai mặt đối lập liên

hệ với nhau trong một thể thống nhất, - đó là thống nhất của những mặt đối lập Đó cũng là sự ràng buộc vàqui định lẫn nhau, mặt đối lập này lấy mặt đối lập kia làm điều kiện tồn tại cho mình hoặc không có mặtđối lập này thì không có mặt đối lập kia Ví dụ: không có đồng hoá sẽ không có dị hoá hoặc ngược lại trongquá trình trao đổi chất giữa các thực thể sinh học đối với môi trường hoặc không có giảng dạy sẽ không họctập trong giáo dục…

Khái niệm về sự “thống nhất” và sự “đồng nhất” của các mặt đối lập theo một nghĩa nào đó, đều là sự

thừa nhận những khuynh hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau trong tất cả các sự vật và hiện tượng Tuy nhiên,khái niệm về sự đồng nhất còn bao hàm sự chuyển hoá các mặt đối lập Điều đó, có nghĩa là không có sựđồng nhất thuần tuý trừu tượng hoặc mang tính tuyệt đối trong hiện thực khách quan

Đấu tranh của các mặt đối lập là khuynh hướng phát triển đối lập nhau của các mặt đối lập dẫn đến sự bài

trừ, phủ định và chuyển hóa giữa các mặt đối lập Đấu tranh của các mặt đối lập còn là quá trình giải quyếtnhững mâu thuẫn trong các sự vật và hiện tượng khách quan nói chung, nhưng không nên hiểu theo nghĩađen của từ này như người ta thường hiểu chỉ là đấu tranh giai cấp, bạo lực Ví dụ: Cuộc đấu tranh giữa giaicấp tư sản và công nhân trong chủ nghĩa tư bản Cuộc “đấu tranh” giữa lực hút và lực đẩy, giữa đồng hóa

và dị hóa, giữa biến dị và di truyền; giữa cái thiện và cái ác trong đạo đức của con người

Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của những mặt đối lập về thực chất là thể hiện sự thống nhất

biện chứng của các mâu thuẫn của các sự vật và hiện tượng

Thống nhất của các mặt đối lập mang tính tương đối, tạm thời Vì nó luôn là cái cụ thể có tính chất lịch sử

giống như sự “đứng im” tương đối của sự vật và hiện tượng Trong thể thống nhất đó, luôn diễn ra quátrình đấu tranh của các mặt đối lập, chuyển hóa các mặt đối lập dưới nhiều hình thức khác nhau Ví dụ: sựhình thành phát triển của chủ nghĩa tư bản là một chỉnh thể thống nhất các mặt đối lập và là một xã hội cụthể Nhưng trong quá trình phát sinh, tồn tại và phát triển của nó luôn diễn ra quá trình đấu tranh các mặtđối lập, chuyển hoá các mặt đối lập làm xuất hiện những điều kiện chín muồi của cách mạng xã hội chủnghĩa sẽ dẫn đến việc xoá bỏ chủ nghĩa tư bản xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đấu tranh của các mặt đối lập mang tính tuyệt đối Bởi vì, nó là nguồn gốc, động lực bên trong của sự phát

triển Đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình lâu dài phức tạp, thể hiện dưới nhiều hình thức khácnhau, với những giai đoạn khác nhau Khi mâu thuẫn phát triển đến mức độ gay gắt, đến điều kiện chín

muồi thì xảy ra sự chuyển hóa của các mặt đối lập và khi đó thì mâu thuẫn được giải quyết Kết quả là thể thống nhất cũ, sự vật cũ mất đi, thể thống nhất mới, sự vật mới xuất hiện và bao hàm những mâu thuẫn mới.

Trang 24

Chuyển hóa các mặt đối lập được thể hiện trong quá trình giải quyết mâu thuẫn của sự vật cũ làm xuất hiện

sự vật mới, trong đó các mặt đối lập trước đây đã không còn đồng nhất với chính nó mà đã có sự thay đổihoặc bị xóa bỏ thông qua sự chuyển hóa của các mặt đối lập Ví dụ: Sự chuyển hóa các mặt đối lập trongquá trình giải quyết mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ - nông dân trong chế độ phong kiến và giai cấp tư sản– công nhân trong chế độ tư bản chủ nghĩa, không có nghĩa là giai cấp địa chủ trở thành giai cấp nông dân

và ngược lại hoặc giai cấp tư sản thành giai cấp công nhân và ngược lại; thực chất, trong sự chuyển hóa đómỗi giai cấp có sự thay đổi và sự thay đổi đó dẫn đến giải quyết mâu thuẫn làm xuất hiện một xã hội mớicao hơn

3 Phân loại mâu thuẫn

- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.

Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn diễn ra giữa các sự vật hiện tượng của hiện thực khách quan Mâu thuẫn

bên trong giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự vận động phát triển của sự vật, hiện tượng Ngược lại,mâu thuẫn bên ngoài tác động gián tiếp đối với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng

- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn qui định bản chất và sự phát triển của sự vật, hiện tượng ở tất cả các giai

đoạn của sự vật, hiện tượng, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn cơ bảnđược giải quyết thì sự vật, hiện tượng sẽ thay đổi căn bản về chất Ví dụ: Mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa

tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân

Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một một phương diện nào đó của sự vật, hiện

tượng, nó không qui định bản chất của sự vật, hiện tượng; mà chỉ qui định một mặt nào đó của sự vật, hiệntượng Ví dụ: mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp công nhân, hoặc giữa giai cấp tư sản với giaicấp tiểu tư sản trong chủ nghĩa tư bản

- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.

Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật, nó chi

phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó Ví dụ: mâu thuẫn chủ yếu của quá trình phát triển kinh tế xãhội hiện nay ở Việt Nam là mâu thuẫn giữa nền kinh tế tiểu nông và nền kinh tế công nghiệp, giải quyếtmâu thuẫn này để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự vật, nhưng nó không

đóng vai trò chi phối và bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu góp phần vào việcgiải quyết từng bước mâu thuẫn chủ yếu Ví dụ: từng bước giải quyết mâu thuẫn giữa nền kinh tế tiểu nông

và kinh tế công nghiệp hiện nay ở nước ta

- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.

Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người có lợi ích căn bản đối lập

nhau Ví dụ: mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân và giai cấp địa chủ trong xã hội phong kiến, giữa giai cấp tưsản và giai cấp công nhân trong chủ nghĩa tư bản Việc giải quyết mâu thuẫn đối kháng trong xã hội thôngthường bằng bạo lực

Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người có lợi ích căn bản

thống nhất với nhau Ví dụ: mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và nông dân hiện nay ở Việt Nam

4 Ý nghĩa phương pháp luận

Khi phân tích mâu thuẫn của sự vật và hiện tượng về nguyên tắc, phải thừa nhận tính khách quan, tính phổbiến và tính riêng biệt của mâu thuẫn Đặc biệt, là tính riêng biệt của mâu thuẫn Bởi vì, sự vật, hiện tượngkhác nhau có mâu thuẫn khác nhau; trong một sự vật, hiện tượng có rất nhiều loại mâu thuẫn khác nhau;trong một mâu thuẫn là một quá trình mang tính giai đoạn, lịch sử cụ thể nên phải có phương pháp giảiquyết phù hợp với từng loại mâu thuẫn

Khái quát tính đa dạng phong phú của mâu thuẫn trong hiện thực, phép biện chứng duy vật nêu lên các loạimâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản…cho nên, phải

Trang 25

có các phương pháp giải quyết khác nhau phù hợp với từng loại mâu thuẫn Trong đó, mâu thuẫn bêntrong, mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu là các loại mâu thuẫn quan trọng.

Phê phán những quan niệm duy tâm siêu hình về mâu thuẫn

3.3 Qui luật phủ định của phủ định

Qui luật phủ định của phủ định nghiên cứu về khuynh hướng cơ bản, phổ biến của các quá trình vận động

và phát triển

1 Phủ định biện chứng

a Phủ định là gì?

Phủ định hiểu theo nghĩa chung nhất là sự thay thế, chuyển hóa giữa các sự vật và hiện tượng của thế giới

khách quan nói chung Sự phủ định ở trong hiện thực khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,

nhưng phép biện chứng duy vật không có ý nói đến bất kỳ sự phủ định nào, mà chỉ chỉ nói đến sự phủ định làm tiền đề tạo điều kiện cho sự phát triển, cho sự xuất hiện cái mới, cái cao hơn và hoàn thiện hơn cái cũ hoặc quá trình trước đó

Trong sự thay thế, chuyển hoá giữa các sự vật, hiện tượng có sự phủ định không làm tiền đề, tạo điều kiệncho sự phát triển như nghiền nát một hạt thóc, xéo chết một con sâu, hoặc tác hại của thiên nhiên đối với

con nguời và sinh vật nói chung Đó là sự phủ định thông thường (do sự tác động bên ngoài hoặc do ngẫu nhiên) không do nguyên nhân bên trong các sự vật, hiện tượng và nó không bao hàm yếu tố kế thừa để

khẳng định khuynh hướng tất yếu của sự phát triển

b Phủ định biện chứng

Phủ định biện chứng là sự phủ định tự thân Đó là sự phủ định do việc giải quyết những mâu thuẫn bên

trong các sự vật và hiện tượng làm xuất hiện cái mới Ví dụ: Sự thay đổi, chuyển hóa giữa các hình thứcphản ánh của vật chất theo một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp như: từ phản ánh vô cơ

- hữu cơ - từ phản ánh tâm lý ở động vật đến sự xuất hiện ý thức con người

Phủ định biện chứng có hai đặc điểm:

Tính khách quan Sự xuất hiện cái mới trong phủ định biện chứng đều là kết quả của quá trình giải quyết

những mâu thuẫn bên trong các sự vật và hiện tượng theo những qui luật khách quan vốn có của nó, độclập với ý thức Ví dụ: Sự xuất hiện các học thuyết khoa học ngày càng phát triển cao hơn, đều là kết quảcủa quá trình phủ định trong sự hoàn thiện khả năng nhận thức của con người về hiện thực khách quan

Tính kế thừa Sự xuất hiện cái mới trong phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, đoạn tuyệt với cái cũ, mà là cái mới xuất hiện trên cơ sở cái cũ, bao hàm tính kế thừa với cái cũ Yếu tố kế thừa

của cái mới đối với cái cũ, không phải là sự kế thừa tất cả nguyên vẹn, mà chỉ kế thừa những mặt tích cựcnhất của cái cũ và nó cũng đã thay đổi cho phù hợp với cái mới, tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triểncủa cái mới Bởi vì, xét về thực chất phát triển là sự biến đổi mà giai đoạn sau còn bảo tồn tất cả những gìtích cực đã được tạo ra ở giai đoạn trước

Đối lập với phép biện chứng những người theo quan điểm siêu hình coi phủ định chỉ là sự thay đổi đơn

giản, hoặc phủ định hoàn toàn loại bỏ cái cũ, không có tác dụng gì trong quá trình hình thành cái mới (phủđịnh sạch trơn) Điều đó, dẫn đến tính chất máy móc, đơn giản, phiến diện khi phân tích bản chất về sự phủđịnh

2 Bản chất phủ định của phủ định

Trong sự vận động và phát triển mang tính chất vô tận của thế giới, đều thông qua phủ định biện chứng, cáimới phủ định cái cũ và cái mới này lại bị cái mới sau phủ định, tạo nên những chu kỳ vận động nhất định ởtrong hiện thực khách quan Có thể nói, chu kỳ vận động của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực kháchquan, kể cả ý thức của con người đều thông qua các hình thức vận động cơ bản của vật chất Chính vì vậy,

có những chu kỳ cơ học, hoá học, vật lý, sinh học, xã hội…dưới nhiều hình thức khác nhau

Trong các sự vật, hiện tượng luôn bao gồm hai mặt, mặt khẳng định và mặt phủ định Hai mặt này vừa thểhiện khẳng định sự tồn tại, nhưng đồng thời lại bao hàm khả năng sự biến đổi và chuyển hóa Từ khẳngđịnh đến phủ định và phủ định cái phủ định, đó là quá trình xuất hiện cái mới dường như quay lại cái cũ

Ngày đăng: 21/12/2021, 08:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w